Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tinh Hoa Nikāya - Cảm Thọ Dẫn Dắt Thế Giới

2026-03-03 00:52:26
Tinh Hoa Nikāya

Cảm Thọ Dẫn Dắt Thế Giới

Thích Minh Thành

Ngày 02 tháng 09 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cảm thọ PAGEREF _Toc115709351 \h 1

II. Tâm từ PAGEREF _Toc115709352 \h 5

III. Như Lý Tác Ý PAGEREF _Toc115709353 \h 13

I. Cảm thọ

Rõ biết trước mặt, tầm nhìn rộng mở, cảm nhận hơi thở, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, biết rõ những hình bóng, những suy nghĩ, những cảm thọ trong tâm. Con xin nhắc lại chúng ta ba pháp là: Rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Kính thưa các bậc hiền trí, Tăng Ni và quý Phật tử. Chúng ta có được mấy phút để ôn bài trước khi đi vào buổi giảng. Chúng ta đọc định nghĩa ngũ uẩn:

“Thân người là sắc

Cảm giác là thọ

Hình bóng là tưởng

Suy nghĩ là hành

Rõ biết là thức”

Mấy vị mới ai thuộc xung phong lên đọc lại ạ. Con thưa cái này rất quan trọng, trước khi quý vị xuống núi, con muốn đem món quà pháp bảo vô giá cho quý vị. Quý vị về xài đến chết cũng dùng không hết, cho đến khi nào thành tựu Thánh quả mới thôi. Cố gắng phải thuộc cái này như là cháo, như Chú Vãng Sanh, Chú Đại Bi vậy nha, đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai trả bài tiếp nè, cảm giác dễ chịu có tham, cảm giác khó chịu có sân, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu si. Mình thuộc hết là bây giờ biết chỗ ở của tham, sân, si rồi đó. Hôm nay con đổi đề tài trong chương trình giảng để thích hợp cho chúng ta tiếp tục học về trí tuệ căn bản Nikāya, tiếp nối buổi hồi chiều này, buổi này chúng ta sẽ nghe tiếp.

Chúng ta nhớ thật là kỹ, luôn luôn nhìn lại cái suy nghĩ của mình, mình phải thường xuyên đọc cuốn sách sống nơi nội tâm của mình. Lắng nghe thọ, tưởng, hành thật là kỹ, phải thường xuyên để ý, nhìn lại cảm xúc của mình, trong mọi lúc mọi nơi, nhất là trong những lúc tức giận. Nếu bình thường mà mình không để ý, dòm ngó, chăm sóc, thì tới lúc giận lên, thì mình sẽ bị cơn giận đồng hóa. Mà mình không có biết lúc đó là đang có cái thọ sân hận. Cho nên do mình có tu cảm giác toàn thân thường xuyên, nên lúc giận lên là mình biết liền, mình tách ra khỏi cơn giận, là cái người nhìn cơn giận, chứ không phải mình là cơn giận. Thành ra cái này đó là lợi lạc rất nhiều chúng ta phải ngắm kỹ. Trong khi mình tham muốn cũng vậy, trong khi mình sanh khởi cái bản ngã.

Kính thưa các bậc hiền trí, Tăng Ni và quý Phật tử, hôm nay chúng ta có buổi chia sẻ về tinh hoa Nikāya, lần sau chúng ta sẽ tiếp chủ đề về nghiệp. Hôm nay chúng ta điểm những phần tinh hoa, trọng yếu về pháp hành trong kinh tạng Nikāya. Trong bài kinh “Cội Rễ Của Sự Vật”, Tăng Chi Bộ, Đức Thế Tôn nói: “Này các Tỳ-kheo, tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ”, tức là tất cả mọi thứ nó đều quy tụ, hội tụ, nhóm họp trong cảm giác ở nơi thân tâm của chúng ta. Chính vì vậy, mà sự tu học của chúng ta đặt nền tảng trong sự nhìn lại thân mình, nhìn lại những cảm giác, cảm thọ nơi nội tâm của mình. Để mình có một sự quán sát, xem xét, dò xét, soi xét, soi rọi, để mình chỉnh sửa cho cảm giác của mình nó được ngọt ngào, lắng dịu, dễ chịu, hiền hòa, tươi mát, thanh lương. Đó là cái trọng tâm trong sự tu học, hành trì ở trong kinh tạng Nikāya.

Do đó trong “Mười Sáu Hơi Thở” chúng ta sẽ bắt gặp có một chỗ Đức Phật gọi là: “Thở vào, thở ra, cảm giác toàn thân là vị ấy tập”, bốn chữ “cảm giác toàn thân” này là cánh cửa, nền tảng, căn bản, cốt lõi ở trong sự hành trì của tất cả cư sĩ hay là tu sĩ. Bởi vì sao? Lấy một cái ví dụ để chúng ta thấy nó rõ. Khi chúng ta nhìn thấy một cái ấm nước được đun sôi lên, khi nó quá sôi thì cái nắp nồi, nắp bình hay nắp ấm nó sẽ lắc lư, rung lắc. Và trong này là những bọt nước trào ra, tuôn ra, tràn ra, thậm chí là nó làm hất tung cái nắp nồi, nắp ấm hay nắp bình. Vậy thì cái sự hất tung đó và những bong bóng nước nó trào, nó tuôn ra đó là nguyên do đó từ đâu? Là từ sự nung đốt ở phía dưới bằng lửa ga, bằng lửa than, lửa củi hay là bằng loại lửa gì đó. Như vậy thì sở dĩ mà nó có cái hiện tượng bung nắp, trào những bọt nước ra ngoài, là do đốt lửa ở phía dưới. Cái ví dụ này để nói lên cái gì? Ở trong con người chúng ta tích tụ từ vô lượng, vô biên kiếp đến nay là một cảm thọ. Mà nói xa, nói sâu là cảm thọ vô minh, tham ái, tham, sân, si. Rồi ở dưới này, nó luôn luôn ở trong một trạng thái đun sôi. Chỉ có người nhận diện được ngũ uẩn, tu tập thiền định một cách chính xác, từ Chánh tri kiến cho đến Chánh niệm, thì mới có thể phát giác, phát hiện được căn nguyên, nguồn cội, gốc rễ của cảm thọ.

Con nói thí dụ chúng ta sẽ thấy rất rõ, hàng ngày tất cả mọi sự đi, đứng, ngồi, nằm, nói, nín, động tịnh, cãi lộn, chửi lộn, đánh lộn, đập lộn, chém lộn, giết lộn, mà bao nhiêu dòng nước mắt, chiến tranh, máu lửa trên cuộc đời này đều xuất phát từ ở trong cái cảm thọ hết. Con lấy thí dụ, “tại sao mình đi nhanh nhanh?”, mình đi lẹ lẹ, hấp ta hấp tấp. Vì ở trong con người mình là một cảm giác thúc giục, mà mình không có biết, mình cứ nghĩ “tôi gấp, tôi nhanh, tôi lẹ lắm”, mình không biết rằng lúc đó là trong mình có một cảm giác đang thúc đẩy, thúc giục, thúc bách, nó làm cho cái chân, cái thân của mình phải đi nhanh. Rồi từ cái đi nhanh, chạy nhanh, nói nhanh, làm nhanh, những cái đó để làm cho mình bị sơ suất, lỗi lầm, hối hận hoặc là tai nạn, thậm chí là tai họa. Thí dụ đi xe nhanh chúng ta thấy không, bây giờ tai nạn giao thông mới có một ngày lễ thôi mà chết với bị thương gần 30 người. Nếu như những người đó họ có biết thực tập cảm giác an tịnh, lắng dịu, thì bớt tai nạn rất là nhiều, đó là mình nói một cái lĩnh vực về giao thông thôi.

Bây giờ khi mình nói chuyện qua nói chuyện lại có nói nhanh không ạ? Có giành nói không? Có ham nói không? Có muốn nói hơn, hay hơn người ta không? Thì trong này là một cảm giác thúc dục, cộng với cái bản ngã muốn thể hiện cái tôi của mình “tôi là hay. Tôi là giỏi. Tôi là hơn”, rồi giành nói, ham nói, muốn nói. Thì trong cái nói đó thể hiện cho người ta biết, như bị công an giao thông thổi dừng xe, bước xuống hỏi “có biết tôi là ai không?” Nghe vậy bị phạt nặng lên thêm nữa. Thì như vậy, trong đó là tất cả những thi vi, động tác, ăn, nói, làm của chúng ta trong các suy nghĩ, trong cảm thọ, trong tư tưởng và trong nhận thức đều là từ nơi cảm thọ, thọ thủ uẩn này nó nung từ ở dưới lên, mà chúng ta không có biết. Sau khi chúng ta nói nhanh, nói lẹ, nói mau, nói giành phần phải về mình, thì vợ chồng cự cãi, chị em bất hoà, thậm chí huynh đệ sân si với nhau, có khi tương tàn. Khi lúc nói đó, mình nói trong cái cảm thọ gì mình không có biết, là cái gì trong đó nó đang thúc giục, bực bội, bức xúc, bực tức trong này. Thì lúc đó mình nói ra những lời nó rơi vô 4 cái giới của miệng, là lúc đó mình sẽ nói những lời khó nghe, chua cay, thô ác.

Tất cả là cảm thọ nó điều khiển hết, nhưng mà cái đau đớn thay cho chúng ta, là chúng ta không biết cái đó là thọ. Chính vì vậy, bước đầu tiên chúng ta tu về tinh thần kinh tạng Nikāya, là chúng ta phải thực tập cảm giác toàn thân một cách hết sức thận trọng, kỹ lưỡng, tinh vi, tinh tế, nhỏ nhiệm, đầy đủ, minh bạch, tường tận và rõ ràng về cảm giác toàn thân. Nếu mình bỏ qua cái bước này, thì sau này tu mình sẽ mất cái nền tảng, căn bản. Từ cái ăn, cái nói, cái đứng, cái đi, đi cho gấp rồi trượt chân, bó bột 6 tháng. Thậm chí đi cho gấp, cho lẹ mau, rồi đập cái đầu trúng vô một cái, u một cục, máu chảy xuống. Mà không phải là người bình thường, ngay cả người có tu, mà lên núi tu luôn đó. Ngồi ở dưới bếp, đứng lên một cái đập cái đầu vô cửa tủ lạnh, choáng váng, say xẩm mặt mày hết, mà không phải một lần, còn đụng thêm lần thứ hai nữa. Thì ở trong này là một sự thúc giục, mình không có thực tập một cảm giác an tịnh, lắng dịu, cho nên mọi cái hành xử của mình là nó trong sự thô tháo, vọng động. Mà hễ nó càng động nhiều chừng nào, thì phiền não, sân, si, hơn thua nó nhiều chừng đó.

Cho nên đặc biệt trong đạo tràng Nikāya, quý vị coi cuốn “Nghi Thức Tu Học” thì cái niệm an tĩnh, lắng dịu là trở thành nề nếp, gia phong của đạo tràng Nikāya. Trăm người ăn cơm mà không nghe một tiếng động của cái đũa, cái muỗng. Sau này quý vị có dự thì quý vị sẽ thấy, bây giờ mới, thành ra để nhẹ nhẹ, từ từ thôi, căng quá thì đứt. Thì trong cái “Chánh quán thọ thực” của đạo tràng Nikāya, thì quý vị sẽ được ăn cơm bằng cách học tập theo cách ăn cơm của Đức Phật và các vị Tỳ-kheo thời Thế Tôn còn tại thế. Khi ăn mình sẽ quán, Chánh quán là mình nhìn cái cảm thọ trong khi mình ăn, kiểm soát cảm thọ trong khi ăn, khi nhai, khi gắp, khi nuốt, khi múc, từng cử chỉ, động tác, mình phải kiểm tra, kiểm soát hết. Thì trong cuốn “Nghi Thức Tu Học Nikāya”, quý vị đọc sẽ thấy cách ăn của Đức Phật ở trong đó. Để mình thấy rằng, khi mình đọc trong đó rồi, mình thấy Đức Phật gần gũi với chúng ta lắm. Mình ứng dụng được cái này, mình thấy có những lúc mình nghĩ rằng mình được cận kề Đức Thế Tôn, Phật không có xa đối với mình.

II. Tâm từ

Tại vì lần này chúng ta lên núi thời gian ít, thì chưa có vấn đề gọi là thiền hành. Những đợt sau chúng ta có thời gian, thì chúng ta sẽ có tập thiền hành để mình cảm nhận bước chân, mà mình làm cho cái cảm thọ mình an tịnh, lắng dịu trong bước chân. Đi không có vội vàng, hấp tấp, lăn xăn, đi không có phải là lẹ lẹ để đến chỗ nào đó. Mà trong sự đi đó, mình tập cho cảm thọ mình an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, thảnh thơi, ung dung và thư thái trong mỗi bước chân của mình. Rồi khi mình nói: “À, mình tập bước thảnh thơi”, nhưng mà mình không biết cảm thọ, thì mình chỉ tập cái ngọn của thảnh thơi thôi. Mình không biết được cái gốc tại sao nó thảnh thơi? Tại sao nó ung dung như vậy? Là tại vì cái cảm thọ của người tu là an tịnh, lắng dịu. Cho nên mình tu một thời gian về cái cảm thọ, sau này tự nhiên không cần phải kiềm chế, mà tự động người này sẽ có phong thái ung dung, thư thái, tự tại. Mà không phải chỉ lúc bình thường, mà kể cả lúc tai nạn “đặc biệt không? Chịu không?”

Lúc người ta chửi mà mình vẫn thương, cái này mới đặc biệt chứ. Người ta thương mình, mình thương lại là bình thường. Người ta chửi mà mình không có giận cái đó cũng đặc biệt. Còn tới lúc người ta mắng chửi, mà trong người của mình dào dạt một tình thương, mình muốn đem trái tim thương của mình trang trải đến người đang chửi mình, mình thấy tội nghiệp lắm, mình không có chút nào sân hận họ, tại vì mình đã tu tập được một tình thương thâm sâu về tuệ giác. Cái thương từ bi của Đạo Phật không phải là cái thương ở trên cái thương. Cái từ bi của Đạo Phật là cái thương như hồi sáng chúng ta ngồi trải tâm từ đó “tâm thương là tâm hiểu”, phải hiểu thì mới thương. Mà phải hiểu cái gì? Không phải là hiểu người đó làm cái nghề ăn xin, nghề buôn bán hay bất động sản gì đó, không phải hiểu cái đó. Mà hiểu được mình là nạn nhân của tham, sân, si. Là hiểu được chúng sanh, cái người đang chửi mình đó, họ cũng là nạn nhân của tham, sân, si, của cơn giận, họ đang bị thiêu đốt, họ đang bị những cảm giác rực lửa, họ đang rơi trong hố than hừng, họ đang bị bốc cháy, tim, gan, con mắt, lỗ tai, cái miệng, gương mặt, toàn thân họ đang bị bốc cháy, làm sao mà mình tức giận một người đang bị bốc cháy được. Hiểu là hiểu như vậy đó, hiểu rằng tự thân mình là nạn nhân của tham, sân, si.

Chúng sanh kia, ngũ uẩn kia cũng giống y như ngũ uẩn này, đều nạn nhân của tham, sân, si. Và ngũ uẩn ấy, ngay giờ phút này, đang bị ngọn lửa của những cảm thọ sân hận đốt cháy “quý vị thấy thương không?” Bây giờ người đó là kẻ thù của mình, mình ghét dữ lắm, nhưng mà người đó đang bị phỏng toàn thân như vậy, mà kế bên mình có nước, “mình có giúp người ta không hay để cho chết luôn?” Tuy là bình thường mình ghét họ, nhưng mà bây giờ họ gặp nguy hiểm như vậy, mình giúp được là mình giúp. Thì cũng vậy, một khi quý vị thành tựu được Chánh kiến, thấy đúng về ngũ uẩn này, về tất cả ngũ uẩn chúng sanh, quý vị sẽ có một tình thương tự nhiên, nhi nhiên, dào dạt, sung mãn, bao la, thấm đẫm toàn cầu này. Quý vị nhìn ai cũng thương hết. Tại vì:

“Mỗi người một nỗi khổ, mỗi loài một niềm đau,

Xin cùng nhau thấu hiểu, những đau khổ trong nhau.”

Mình hiểu ra được mỗi người một nỗi khổ, mình hiểu ra được mỗi loài một niềm đau. Mỗi người một nỗi khổ là sao? Bà chủ có nỗi khổ của bà chủ, người làm có nỗi khổ của người làm, ông thầy tu có nỗi khổ của ông thầy tu “hỏi hòa thượng coi có không?” “Có chứ”. Một người đi ăn xin ở ngoài, mình nghĩ người ta khổ không? Rất là khổ. Mà có người nói: “Là giả đó, đừng có cho”. Như con thì con không nghĩ vậy, con thấy người khổ con cứ giúp, còn cái chuyện họ gian dối, thật giả, cái đó quả báo họ chịu, mình cứ giúp. Giờ con hỏi thật các cô, các chú ngồi đây, giờ cho các cô chú làm ăn xin một ngày hay một giờ thôi chịu không? Người ta làm ăn xin là do khổ lắm người ta mới đi làm như vậy, chứ người ta không có muốn làm như vậy. Cho nên mọi người một nỗi khổ, từ người ăn xin cho đến người địa vị cao nhất trên cuộc đời này. Mình cứ sống trong ảo tưởng mình nghĩ: “Tôi bây giờ nghèo khổ, chắc bà kia giàu bả sướng lắm”, sai rồi. Chúng ta đã có bài thiền quán “Giải Thoát Trí” “nhớ không ạ?”

“Nghèo thì ao ước, giàu hả hê.

Giàu nghèo gì cũng ê chề tham, sân”.

Rồi có một người này không có địa vị nào trên xã hội hết, người này đi làm công, làm mướn, ở đợ.  Người này ngẩng lên nhìn bà chủ, thì người này ảo tưởng “bà chủ này sung sướng, hạnh phúc lắm”. Nhưng mà người này không biết, trong lòng của bà chủ bây giờ cũng rối tơ vò trăm mối, trăm công ngàn chuyện, bao nhiêu đứa nhân viên nó quậy, rồi phải cạnh tranh với cái này, cái kia, bao nhiêu những thứ trong đó. Cho nên nghèo có cái khổ của nghèo, giàu có cái khổ của giàu, người không có địa vị thấp hèn có cái khổ của người không địa vị thấp hèn, mà người địa vị cao tột đỉnh có nỗi khổ lo lắng, đi đâu cũng bảo vệ họ hết trơn, vì sợ. “Mỗi người một nỗi khổ” là như vậy đó.

Rồi “mỗi loài một niềm đau”, con chó có cái khổ của con chó, con giòi có cái khổ của con giòi, con tắc kè có cái khổ của con tắc kè, con ong có cái khổ của con ong, con muỗi có cái khổ của con muỗi, nếu chích mà bị đập cái bốp là đỏ quét, vì cái miếng ăn của nó thôi, mà nó phải đem cái mạng của nó đánh đổi. Cho nên “mỗi loài một niềm đau, xin cùng nhau thấu hiểu, những đau khổ trong nhau”. Câu này mà nó thấm vô tới trong tim, gan, tủy, não của mình, đó là bài thiền quán hồi sáng chúng ta ngồi thiền đó. Khi mình hiểu ra được điều đó rồi, thì mình mới thấy được khổ Thánh trí, trí huệ của bậc Thánh về đau khổ trên cuộc đời này, đó là khổ Thánh đế, khổ Thánh trí. Chứ không phải khổ là nghèo, cái đó chỉ là một phương diện nhỏ thôi. Cái khổ lớn nhất là vô minh, không thấy được bản chất của ngũ uẩn, mê lầm, không thấy sự thật của thân tâm, rồi từ đó mới có tham ái, ham thích. Rồi từ ham thích mới sanh ra sự nắm giữ, nắm giữ cho tôi, cho của tôi. Và từ cái nắm giữ đó, nắm giữ không được thì sầu, bi, khổ, ưu, não. Tại vì nó vốn là cái thứ biến hoại, làm sao nắm giữ được.

Khi chúng ta thành tựu được trí tuệ về khổ của bậc Thánh, thì chúng ta mới nhìn thấy dưới gầm trời này, dù cho mang một hình thái nào, dù là hình thức của chư thiên cũng là khổ đau. Thì lúc đó mới thành tựu khổ Thánh trí, mới là Chánh kiến của đạo Phật. Chứ không phải người nghèo mới khổ, người giàu là sướng, không phải. Mà cái khổ này là cái khổ của bản chất: Già nua sẽ cướp đi tuổi trẻ, bệnh tật sẽ cướp đi sức khỏe, tử vong sẽ cướp đi mạng sống. Tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ, đó là Thánh trí huệ của Đức Phật, trong kinh tạng Nikāya. Chính nhìn thấy cái khổ này, thì những tình thương đó mới lan tỏa cùng khắp, đây mới gọi là “từ vô lượng tâm”. Khi mình nhìn thấy được cái khổ đó, xin thưa các bậc hiền trí người mình thương nhất là ai? Người mình thương nhất hành tinh là chính là mình đó ạ, con thưa các Ngài. Mình là người đáng thương nhất, con có bài đó, mời các vị về nghe. Mình đừng có nghĩ mình thương người này, mình thương người kia, giúp người này, cứu người nọ, mình mới là người đáng thương nhất. Chừng nào mình thương được mình rồi, thì mình thương người khác mới đúng ý nghĩa.

Tại sao và mình thương mình như thế nào? Cái tham muốn đòi hỏi, sự thúc giục này làm cho mình khổ, nó đòi hoài, nó hỏi hoài, nó mong, nó muốn, nó tìm, nó khao khát hoài, mà Đức Phật dùng từ là “khát ái” trong Nikāya. Tại sao mình là người khổ nhất hành tinh? Cái cảm thọ bực bội, bức xúc này nó bị sanh, mình không có muốn nó sân, nhưng rồi nó cũng sân lên, mình đâu có muốn nó giận đâu, nhưng mà nó cứ giận, mình cũng đâu có muốn nó tham. Con xin hỏi các vị, gia đình vợ chồng đàng hoàng, êm ấm, đẹp đẽ, giàu sang thì ai muốn đi ngoại tình? Không ai muốn như vậy hết. Nhưng mà cảm thọ dục ở trong này nó thúc đẩy, sai khiến, xâm chiếm, áp đảo, xúi giục, thì người này vì cái cảm giác dục đó mà tan nhà, nát cửa, thân bại, danh liệt. Thì mình nhìn ra được cái cảm giác tham, dục, sân, hận, si mê, bản ngã này là cái đáng thương nhất, mình thương mình,

“Thương lâu rồi ta sống,

Bỏ quên cảm thọ này,

Để tham, sân hành hạ,

Ta để mình khổ đau,

Thương lâu rồi ta thiếu,

Thương hiểu cảm thọ này.”

Mình phải thương cái cảm thọ của mình, mình không thương cái cảm thọ của mình, thì mình đừng nói mình thương ai hết. Mình thấy cái cơn giận nó có hành hạ mình không, con thưa các bậc hiền trí? Mình nghĩ mình giận mình nói cho nó hả dạ, nhưng mà thật sự giận lên là nó làm khổ mình trước rồi phải không? Mình chưa kịp nói là nó đốt trong tim, gan mình trước rồi. Cho nên trong bài “Quán Thân Trống Rỗng” có câu:

“Thân trống rỗng không ai trong đó,

Chỉ có tâm chấp ngã, hơn thua,

Ngày đêm thiêu đốt tim, gan, máu

Đốt cháy tâm can trong giận, sân.”

“Thân trống rỗng không ai trong đó”. Chỉ cần tắt cái hơi thở, chỉ cần nhiễm một chút dịch bệnh, chỉ cần lên tăng xông, tai biến một cái thôi, tích tắc thôi, vậy đó, nó vô thường, tạm bợ, mong manh, ngắn ngủi, nhỏ bé, tan biến, biến hoại, vô ngã, trống rỗng, bất an như vậy mà đầy rẫy tham, sân, si trong này. Đầy rẫy là sự ích kỷ, ganh tị, đố kỵ, hơn thua, bản ngã, đó là sự thật của ngũ uẩn này. Từ đó làm khổ mình, khổ người, hại mình, hại người, hại bao nhiêu chúng sanh. Chúng ta nhìn thế giới ngày hôm nay, chiến tranh là từ một ý nghĩ sân hận lên thôi là chết ngàn ngàn, vạn vạn, triệu triệu người. Một ý nghĩ thôi là bao nhiêu dòng nước mắt, bao nhiêu dòng máu, bao nhiêu sanh mạng. “Ngày đêm thiêu đốt tim, gan, máu.

Đốt cháy tâm can trong giận, sân.”

Cho nên Thánh pháp Nikāya là lột tả tất cả, phơi bày những cái gì che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để cho người có mắt có thể nhìn thấy sắc. Chỉ đường cho người lạc hướng, đó là công năng, tác dụng của Chính pháp Nikāya. Cho nên Chánh pháp Nikāya là sẽ lột tả, phơi bày hết tất cả vô lượng, vô số, vô tỉ, vô biên kiếp mình đã bị che mờ. Và hôm nay Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác sẽ phơi bày sự thật vô lượng kiếp của chúng ta. Khi chúng ta nhìn thấy được cái đó, gọi là pháp nhãn sanh, trí sanh, minh sanh, quán sanh, tuệ sanh. Là con mắt pháp của mình sẽ được mở ra để nhìn thấy sự thật trong vô lượng, vô số, vô biên kiếp vừa qua mà mình chưa từng thấy, rồi mình sẽ được thấy. Trong khi mình biết cách nhận diện ngũ uẩn, mình sẽ thấy, sẽ đọc được tâm của mình. Mình sẽ nhìn được thực tướng của thân tâm này, bản chất của đời sống này. Mình sẽ nhìn ra được nguồn cội và tất cả những gì vận hành trong đời sống, thế giới này, sẽ được nhìn thấy trong ngũ uẩn của tự thân chúng ta.

Khi chúng ta nhìn thấy như vậy rồi, thì chúng ta sẽ bình thản trước mọi tham , sân, si, hơn thua, giành giật, đấu đá trong cuộc đời này, chúng ta thấy đó chỉ là trò trẻ con, những vở tuồng của ngũ uẩn, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, chỉ đưa lại kết quả của nước mắt, khổ đau, sầu, bi, ưu não, không có gì để đáng bận lòng với nó. Nãy giờ chúng ta nói một chút về tâm từ, giờ trở về vấn đề, trước khi chúng ta muốn tập tâm từ rộng lớn, thì chúng ta tu tập cái tâm hiền trước, hiền trước rồi mới tới từ. Mới vô mà mình đòi tu từ vô lượng tâm liền thì không nổi đâu, giống như mới đi học mà đòi học đại học vậy đó. Cho nên bây giờ quay trở lại pháp hội tụ nơi cảm thọ, thì bây giờ chúng ta luôn luôn để ý cảm giác trong người của mình, đó là cái thứ nhất mà chúng ta đã được hướng dẫn thực tập. Cái tiếp theo là mình cố gắng thực tập cảm thọ, cảm giác, cảm xúc hiền lành, hiền hòa, hiền hậu, hiền lương, hiền nhân, hiền hậu, hiền từ, hiền thiện, hiền đức, hiền trí.

Cho nên, đây chính là cái nguyên nhân tại sao mà những người nữ quy y Tam Bảo ở đây, là con lấy cái chữ Hiền kết hợp với tên sẽ thành pháp danh. Những người nam quy y Tam Bảo ở đây là lấy chữ Trí, kết hợp với tên sẽ thành pháp danh. Đó là từ chữ trong kinh Nikāya là bậc Hiền trí. Thì bây giờ mình nói: “Ủa thưa thầy, bộ con không hiền sao mà kêu con tu hiền vậy thầy?”, thì cái câu đó là dữ rồi đó “mô Phật”. Mà câu đó là lúc mới đầu con được hướng dẫn tu tập, con nói “ủa sao cái này kêu mình tu trời? Mình tu gần 30 năm nay bộ mình bộ dữ sao kêu mình tu hiền?” Nhưng bây giờ mình thấy dữ thiệt, mình còn dữ lắm. Trong cái cảm thọ của mình nó còn tháo động, động loạn, còn những phản ứng, phản kháng, chống đối lắm. Con nói thí dụ, mình kéo cái ghế mình kéo cái rột vậy đó, mình để cái chén mà mình để như nhiều khi mình vô tiệm, nhà hàng hay quán ăn chay, mà cái ông hay là cô phục vụ để cái chén mình hết hồn luôn. Thì cái đó là trong này còn gay gắt, thô động lắm.

Cho nên con thưa với đại chúng là ở trong đạo tràng Nikāya, tu cái tâm hiền là từng chút một, con thưa do mình tu chậm, tu dở, cho nên mình tu kỹ “mình nhất trí không ạ?” Con nhắc tất cả từ trên xuống dưới ngay cả bản thân con, là con để ý cái này từ ngày xuất gia tới bây giờ, khép cái cánh cửa cũng phải khép nhẹ, để cái đôi dép phải để ngay thẳng, bước cái bước chân của mình cũng không phải bước đi giống như thùng phi chuyển động. Mình tu rồi, mình phải có thân, hành, niệm, có niệm oai nghi, chứ không phải mình đi mà từ đằng xa là mình nghe tiếng lẹp xẹp, mình kéo lê đôi dép, như vậy là mình chưa có tu cái tâm an tịnh, lắng dịu, hiền hòa. Cái hiền ở đây không có đơn giản là không cự cãi là hiền đâu, không phải. Mà là nhất cử nhất động, mình phải tập một sự an tịnh, lắng dịu.

Tại sao mình phải tập cái này? Tại vì nếu bình thường mình không tập, thì khi mình nổi nóng lên thì có ai đỡ nổi không? Chính là mình tập lúc bình thường, thì khi hữu sự mình mới nhiếp phục, chế ngự được cái cảm thọ của mình. Vậy chứ con hỏi quý vị, bình thường quân lính tập dợt làm chi, tới chừng đánh giặc đem ra đánh luôn chứ tập làm chi mất công, tập 15, 20 năm rồi mới có một trận đánh, như vậy 15, 20 năm đó là uổng hả. Cho nên nhiều Phật tử nói: “Thầy ơi, sao mà tu nhẫn nhục cho tới lúc giận kìm hoài không được vậy thầy?” Vì bình thường có kìm đâu, thì tới lúc giận sao kìm được. Thì như vậy, bình thường mình tu cái cảm thọ của mình là một cái cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. (Rồi bây giờ cho nhóm mới, nhóm cũ trả bài nha). Đưa tay lên ngực, vuốt xuống “an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào” 3 lần, đó là những câu tác ý, rất quan trọng.

Trong kinh “Cõi Rễ Của Sự Vật” lúc nãy con nói còn một câu nữa là “tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”. Tác ý là sự tác động tâm ý đúng như chân lý. Thì mình muốn cái tâm của mình theo cái chiều hướng nào, thì mình nhắc nó hoài, nó sẽ đi theo. Giống y như mình dạy con vậy đó, mình cứ nói riết thì nó sẽ nghe, mình nói một cách uyển chuyển, có lúc thì cứng rắn, có lúc mềm mại, có lúc mình ngọt ngào, có lúc thì mình cho roi, cho vọt, có lúc thì mình cho ngọt, cho bùi. Mình giáo huấn cái cảm thọ của mình, con thưa quý vị cái đó gọi là tu tâm, tu tâm là điều chỉnh cái cảm xúc. Hồi xưa nay cái cảm xúc của mình là một cái cảm xúc mà Đức Phật gọi là “tâm hoang vu”, tức là Đức Phật nói: “Chúng sanh trong vòng luân hồi, sanh tử, vô thủy kiếp tới nay là một cái tâm hoang vu, rừng rậm, chưa có khai phá”. Cái cảm thọ của mình nó còn chưa được mình nhìn ra mà, càng chưa được trông coi, quản lý hay tu tập, thì làm sao mình kêu nó là nó ngọt ngào, nó dễ chịu ngay được.

Cho nên mình phải khai phá rừng hoang, dọn dẹp cỏ gai, để cho mảnh vườn đất tâm của mình nó trống trải, thì mình mới trồng bông, trồng hoa, trồng sầu riêng, măng cụt, nhãn, chồng chôm, cam, quýt, ổi... được chứ phải không? Rồi bây giờ là dọn cái tâm hoang sơ này bằng cách tu tập những cảm thọ hiền thiện, ngọt ngào. Là mình cứ nhắc hoài, cứ kêu: “An tịnh đi, lắng dịu đi, dễ chịu, ngọt ngào nha, đừng kiếm chuyện quậy nha”. Mình mới nhìn thấy cái gì làm mình bực bội, mình muốn cự rồi: “Thôi, an tịnh, lắng dịu xuống đi, dễ thương đi, đừng có quậy, đừng có kiếm chuyện nữa”, được không quý vị? Đó là mình tu tâm, mình đang huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ tâm, đó là mình đang tu cảm thọ đó. Thành ra mình phải thường tác ý, thường xuyên nhắc nhở tâm mình. Mình muốn tâm mình theo chiều hướng nào, mình cứ tác ý cái đó hoài, là nó sẽ đi theo cái chiều hướng đó. Mình thấy đứa trẻ mình hỏi nó: “Con lớn lên làm cái gì? Dạ, con làm bác sĩ”, sau đó mình thấy vài bữa nó tìm hiểu về ngành y, rồi riết lớn lên nó thành bác sĩ. Cái suy nghĩ đó hoài, nó cứ nhắc cái đó hoài, nó cứ theo chiều hướng tâm đó hoài. Rồi hỏi: “Con lớn lên làm cái gì? Con đi tu giống như thầy Minh Thành”. Gặp mấy thầy nó cứ thích, nó cứ theo loanh quanh, rồi nó thích tụng kinh, gõ mõ, thích mặc áo tràng, rồi riết mai mốt lớn nó đi tu. Cứ tác ý theo chiều hướng đó hoài thì nó đi tu.

III. Như Lý Tác Ý

Thì cũng vậy, “tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, mình muốn cái tâm mình nó ngọt ngào, an tịnh, dễ chịu, dễ thương thì mình phải tác ý. Xin thưa quý vị là phải tác ý, nhắc nhở tâm mình thường xuyên. Ví dụ nó đi nhanh quá, thì mình kêu: “Chậm lại, an tịnh, lắng dịu đi, biết đang ở đâu không? Đang ở Linh Quy Pháp Ấn, đạo tràng Nikāya, chứ không phải ở chợ bến Thành”, mình nhắc nó. Lâu lâu mình hỏi: “Ủa đang làm cái gì vậy sắc uẩn, ngồi có lưng ngay cổ thẳng không? Có trang nghiêm cái dáng ngồi không? Rồi có an tịnh, lắng dịu không?” Thì đó là mình niệm thân đó. Rồi mình nói chuyện một hồi, mình thấy hơi hố, mình kêu: “An tịnh, lắng dịu đi. Đang làm gì đó chị hai? Chị đang nói cái gì vậy?”, mình hỏi lại như vậy đó. Mình tác ý, quay ngược lại mình độc thoại, mình đối thoại với tâm của mình, cái đó gọi là quán tâm ở nơi tâm, Tứ Niệm Xứ đó, chứ đâu có cái gì xa xôi đâu. “Chị đang nói gì đó chị? Chị nói những lời đó có ngọt ngào, dễ thương không? Cái này không dễ thương à nha, mình coi lại à nha”, được không quý vị? Dễ tu không? Chứ đâu có xa xôi gì đâu, xem lại thân mình, xem lại cảm thọ của mình, xem lại tâm của mình, coi xem bên trong nó có cái gì? Có tham, sân, si, hơn thua, thị phi không? Dễ thương hay là không dễ thương? Thì đây là Tứ Niệm Xứ.

Cho nên cái quan trọng đầu tiên, xin thưa đại chúng là tu tâm hiền. Và trong đạo tràng Nikāya, con đang cung thỉnh các bậc hiền trí của chúng con tu 8 tháng cái tâm hiền, và có những vị về đây tu thời gian nửa tháng, 2 tháng, 3 tháng, có vị bữa nay gần 2 năm (là lên đây có 10 ngày thôi, xong ở luôn gần 2 năm rồi), ngồi kế cuối cùng phía đằng sau, nhìn hiền lành. Thì có rất nhiều vị lên cảm nhận được khi tu tâm hiền đó, thì những vị này thấy rõ ràng là những cảm thọ trong người thay đổi. Nó thay đổi một cách rõ rệt và chính mình nhìn thấy, chứ không phải để kêu ai nhìn hết, chính mình thấy rõ mình hơn ai hết. Mình thấy mình ngọt ngào, dễ chịu, hiền lành, hiền từ hơn ngày xưa. Cho nên tôi cái tâm hiền này tuyệt vời lắm, mình tu cái tâm hiền lương, hiền hòa, hiền hậu, hiền lành, hiền đức, hiền diệu này nó đẹp lắm, cái con người mình nó đẹp vô cùng, đây là thẩm mỹ viện của Phật giáo, chính là cái tâm hiền đó quý vị. Nào giờ chỉ biết thẩm mỹ viện ở ngoài, quý vị chưa biết thẩm mỹ viện tâm linh, bữa nay con giới thiệu thêm cho quý vị cái thẩm mỹ viện tâm linh chính là tâm hiền.

Mình thấy con mắt mình chưa hiền, nhìn liếc ngang, liếc dọc, mình nói: “Sao mình nhìn kỳ vậy, mắt thương nhìn cuộc đời đi”, đó là mình đang đi thẩm mỹ viện mắt đó. Mình nói lời nói mà mình thấy: “Mình nói ra bữa nay kỳ quá vậy ta? Sao bữa nay mình ăn nói kỳ vậy?” thì mình chỉnh lại cái lời nói của mình, cái đó là mình đang thẩm mỹ viện cái môi đó. Bây giờ mình thấy cách hành xử của mình: “Sao mà thô tháo, bản ngã quá, mình thấy cái này không được, cái này phải điều chỉnh lại” đó là mình đang thẩm mỹ viện toàn thân. Hôm nay con đưa quý vị đến thẩm mỹ viện tâm linh của Phật giáo ở tại Linh Quy đó, đi về nhớ đẹp hơn một chút nha, về phải đẹp lên, tại bữa nay lên thẩm mỹ viện tâm linh của Phật giáo mới về. Chứ còn mới đi chùa về 5 ngày, 7 ngày, vô nhà cái mặt chằm dằm, một đống, con hỏi: “Má đi chùa mới về hả má?” rồi tằng hắng giọng “tao đi về tao mệt à nha”, vậy là rồi xong luôn, vậy con mình nó dám tu không? “Đâu có dám.”

Cho nên cái sự tu Nikāya này nó tuyệt vời lắm, cái gì mình tu được, người chung quanh mình sẽ cảm nhận được. Mình đừng có ảo tưởng mình tu ở đâu đó, mình tu ngay trong cuộc sống đó quý vị. Từ ánh mắt, lời nói, bước đi, cách hành xử của mình trong thường nhật, thì chỗ đó là chỗ thành tựu, chỗ tu tập, cũng là chỗ hạ thủ công phu của mình. Chứ không phải chỉ tu trên bồ đoàn, tu trên chánh điện, mà ra ngoài là không có tu, vậy là không phải. Mà trong nhất cử, nhất động của mình phải an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương. “Từ ngày tu Nikāya về có thấy dễ thương hơn không?” Rất là nhiều gia đình lên trên này, hai mẹ con ôm nhau khóc, quỳ lạy với nhau ở trước chư Tăng. Hai mẹ con hồi xưa mâu thuẫn rất là sâu đậm, không thể nói chuyện với nhau. Nhưng từ ngày tu Nikāya “Sám hối diệt ngã” mẹ quỳ xuống lại con, con quỳ lạy mẹ, ôm nhau khóc nhận lỗi. Và từ đó về sau, đứa con thay đổi 180 độ, trở thành đứa con hiếu thảo, ngọt ngào. Rất là nhiều gia đình như vậy, quý vị về coi những bài “Thiền biết ơn”.

Thành ra cái tuyệt vời trong đây là thay đổi cảm thọ, cảm xúc, cảm giác, thì tự nhiên ngôn ngữ, hành vi, ứng xử, lời nói của mình sẽ thay đổi. Mà muốn vậy mình phải thường xuyên dòm ngó, chăm sóc, tưới tẩm, tu tập, huấn luyện cái cảm xúc của mình. Như vậy thì tu cái tâm hiền là hết sức quan trọng, từ trong sâu thẳm ở bên trong cảm thọ, suy nghĩ, ở trong cái tưởng của mình, khi mình nhìn vô gương mình xem cái mặt của mình, mình thấy: “Bữa nay hiền nhìn được”, mà lâu lâu mình nhìn: “Ủa sao bữa nay nhìn hơi ớn vậy ta? Sao mình nhìn cái mặt mình cũng sợ vậy? Cái này coi bộ nguy hiểm à” Mình nhìn, mình phải thấy hiện lên chữ hiền lành, hiền hòa, hiền lương, hiền hậu, hiền đức, hiền từ, hiền trí. Những chữ này con có giải thích trong bài thiền quán hết, quý vị về nghe bài “Vô Lượng Tâm”, con có giải thích. Mỗi một từ như vậy là có một góc độ, khía cạnh của tâm hiền.

Ở thời Đức Phật còn tại thế, các vị Tỳ-kheo gọi nhau là chư hiền, hiền giả. Hiền giả là gì? Là bậc hiền, là người hiền, là các bậc hiền hậu, hiền thiện, hiền trí. Cho nên đạo tràng chúng ta gọi với nhau là hiền giả, chư hiền, nhằm nhắc lại “chị có hiền chưa?”, “người ta kêu mình là hiền đó, mình có hiền chưa?”. Rồi quay lại nhìn liền, xem có hiền chưa? Nhắc nhau nhiều. Khi có gặp nhau kêu bằng hiền giả không? Tập về kêu như vậy, thì tự nhiên mình dữ là mình mắc cỡ, không dám nhìn ai hết trơn, kêu mình hiền giả mà mình nhìn cái mặt sân si như vậy làm sao dám nhìn ai, phải không? Cho nên cái chữ đó cũng có tác dụng lợi lạc lắm. Từ việc mình tu cảm thọ hiền đó, khi cái hiền này nó thuần thục, nó lắng dịu, ngọt ngào, bắt đầu mình tu cái tâm từ.

Thì cái tâm từ nó thâm sâu hơn cái tâm hiền, hồi nãy con nói là phải hiểu được khổ Thánh trí của mình với chúng sanh. Thì khi đó tình thương của mình sẽ lan tỏa bình đẳng, đối với tất cả ngũ uẩn, thì lúc đó mình mới tu tập “Từ vô lượng tâm” như sáng nay chúng ta mới thực tập. Như vậy thì hôm nay chúng ta có buổi chia sẻ về tinh hoa Nikāya, thì quý vị nhớ “tất cả các pháp hội tụ ở trong cảm thọ”, quay lại nhận diện cảm xúc, cảm giác của mình, tu tập cái cảm thọ ngọt ngào, dễ chịu, mát dịu. Đó cũng chính là cái cốt lõi, cái cội gốc của pháp hành trong kinh tạng Nikāya. Đó cũng là suối nguồn bình an, hạnh phúc, cho tự thân, cho gia đình, cho tha nhân, cho xã hội và cho muôn loài chúng sanh. Kính chúc tất cả quý vị luôn an trú trong một cảm giác hiền thiện, ngọt ngào, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương.