SOI SÁNG VƯỢT QUA SỢ HÃI
Soi Sáng
VƯỢT QUA SỢ HÃI
-Thích Minh Thành-
…Về núi yên tu, lòng ngậm ngùi
Xót thương tham dục kẻ hủi cùi
Chạy tìm hố than hừng nóng bức
Hơ để tìm vui, bao giờ nguôi?
Về núi yên tu, lòng xót thương
Nhìn toàn thế giới cảnh chiến trường
Tranh giành, tranh đấu, tranh chiến mãi
Gây ra thảm họa đầy tai ương.
Hôm nay, đại chúng có cảm thọ như thế nào?
Sư cô Hạnh Đức:
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên sư phụ, kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Kính bạch sư phụ, thật sự nãy giờ cảm thọ của con rất bình an, nhưng tự nhiên nghe được ba câu trong bài của sư phụ, con chợt thức tỉnh, chúng ta đi tìm cầu Thánh Tăng trên khắp hành tinh, nhưng khi thấy được ngũ uẩn mới hiểu ra rằng Thánh Tăng đó chính là mình. Tới lúc đó con mới hiểu, sự bình an thật sự này có cảm xúc rất lạ, sau đó con quay về ngay lập tức, một sự thọ nhận có cái dục, cái tham ở trong, con lập tức đánh nó ra, quán thọ này là vô thường, không được an trú trong đó, nhưng vẫn chưa tan được. Sau đó, con rõ biết thọ khởi, rõ biết thọ an trú, rõ biết thọ chấm dứt, tự nhiên lúc đó ở trong con thật sự có một cảm giác nhẹ nhàng. Cho nên con thật sự cám ơn sư phụ, thật sự Thánh Tăng chính là mình, quay về tìm trong đó mới thấy được Chánh Pháp, thấy được rõ nội tâm của chính mình.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư phụ: Dục ở trong cảm thọ là dục gì?
Sư cô Hạnh Đức: Cái dục, nó thúc giục thích cảm giác bình an.
Sư phụ: Có hỷ lạc không?
Sư cô Hạnh Đức: Dạ có.
Sư phụ: Vậy đừng diệt, cứ để nó sung mãn.
Khi tu học, có những cảm thọ hỷ lạc, hoan hỷ, hạnh phúc dào dạt, lan tỏa thì mình hãy làm cho cảm thọ đó bung ra, rộng lớn ra, tăng trưởng quảng đại, thấm nhuần hết từ đỉnh đầu đến gót chân, làm cho nó lan tỏa ra khắp khoảng không gian trời đất, chứ cái thọ đó không cần bỏ. Thật ra con muốn cho đại chúng có hỷ thọ nên con mới mở bài Về núi yên tu để cho sanh khởi hỷ lạc trong sự tu học mà mình đang thực tập. Cho nên khi sanh khởi lạc thọ, đừng kiềm chế, đừng đánh đuổi, rất cần những cảm giác hỷ lạc, hãy làm cho nó sung mãn, làm cho nó tràn ngập, thấm nhuần, thắm đượm khắp tất cả châu thân của mình. Hãy để cho cảm giác bình an, hỷ lạc, an tịnh trong sự hoan hỷ của pháp, của viễn ly được sung mãn.
Sư cô Tuệ Đức:
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch quý thầy, quý sư cô, cùng toàn thể đại chúng. Khi ngồi dưới thất của sư phụ, nghe được bài “về núi yên tu thật tuyệt vời”, cảm thọ của con cảm thấy rất an bình. Con suy nghĩ đây là một cảm thọ con khao khát, cũng như ý tưởng của con đã thành sự thật. Nhờ những câu tác ý của sư phụ làm phát sanh khởi niềm hoan hỷ, sách tấn chúng con tu tập trong hiện tại.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư Cô Tuệ Tâm:
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính thưa sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Thưa sư phụ, lúc này, ngồi ở đây được nghe bài tác ý của sư phụ, trong tâm con rất hoan hỷ. Trong tưởng của con quay về những hình ảnh về ngồi chùa ngày xưa con ở, con so với hình ảnh bây giờ, hiện tại con được ngồi ở nơi này, ngay vùng đất, vùng núi này. Con cảm thấy rằng con rất hạnh phúc, rất bình an, có pháp của sư phụ dạy dỗ đúng như con mong ước. Cho nên con cảm thấy rất viên mãn, hoan hỷ và hạnh phúc. Con cám ơn sư phụ.
Phật tử Như Ý:
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con cũng có tìm hiểu, đi thiền viện một số nơi, nhưng từ khi con lên núi này, đến nay đã được 12 ngày, ngày nào con cũng nhận ra được một số điều mà con cảm giác là không bao giờ con nhìn nhận ra được từ tu học đến đời sống. Ở đây, con cảm nhận được một tình yêu luôn thấm nhuần trong người con, tràn ngập trong tâm hồn sự yên bình và con thấy dễ chịu. Trên bước đường tu tập, thuận theo giáo pháp của Như Lai, qua sự hướng dẫn của sư phụ, quý thầy và quý sư cô và đại chúng ở đây, con thấy mình tiến bộ hơn rất nhiều. Con biết nhìn nhận những cảm giác và có thêm sức mạnh nội tâm để kiềm chế những cảm giác tiêu cực, những đam mê và sân hận của con. Trên phương diện ngồi thiền, đây là khoảng thời gian con ngồi thiền nhiều nhất, con ngồi kiết già được kỷ lục là 45 phút, cũng là nhờ sự tinh cần của đại chúng đã làm cho con có động lực để cố gắng hơn. Con có từng nghĩ, sau này nếu xuống núi con sẽ gói ghém những ngày ở đây thành một hành trang, đây là một trong những ngày hạnh phúc nhất cuộc đời con, mang theo để hướng thượng trên cuộc đời này. Con cũng nghĩ, nếu không có những ngày ở đây thì con không nhận ra những điều hay ý đẹp, không được nuôi dưỡng, phát triển. Con cảm giác không lên đây thì con dễ đi theo bước đường không tốt, đi theo sự cám dỗ. Con xin tri ân sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư cô Liên Trụ:
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con kính thưa sư phụ, trong thời gian qua, con được về ngôi chùa ở đây tu tập, thật sự trong tâm con rất hạnh phúc, rất hoan hỷ. Con thấy trong tâm con rất thích tu tập trong môi trường này. Thầy đã tổ chức, hướng dẫn, cho chúng chỗ ở. Con thấy mình được ở trong một đại chúng tu tập, có kỉ cương, thanh quy, phép tắc, đời sống có giới luật, có đức hạnh, biết phòng hộ, biết sống oai nghi, biết quay về tâm mình để tu sửa. Con thật sự rất thích, rất quý một môi trường tốt như thế này. Con có một điều khó theo, bản thân con từ nhỏ trong người có bệnh, con không có sức khỏe tốt, con kính xin sư phụ trong bốn thời theo đại chúng tu học, những lúc như thế này trong người con không được khỏe lắm, con xin Sư phụ cho con được nghỉ một thời trong buổi sáng. Nếu hôm nào con khỏe con xin cố gắng theo đủ bốn thời. Thưa đại chúng, đây là điều khó khăn con gặp phải, xin sư phụ từ bi hoan hỷ chấp nhận cho con. Con cũng kính xin quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng từ bi hoan hỷ chấp nhận cho con. .
Con cũng kính thưa sư phụ, lúc nãy con có hỏi chú cắt cỏ ở tháp sư cô Hạnh Trí, con có một lỗi lầm, con kính xin sám hối. Ngày hôm qua, điện thoại của sư cô Hạnh Trí không tìm thấy, sư cô nhờ con gọi có tiếng chuông để tìm, khi con gọi thì điện thoại khóa máy, không có nghe tiếng chuông, sư cô nói tìm cũng không thấy điện thoại từ sáng đến giờ. Xong rồi, trong tâm con rất nhanh có khởi lên tâm nghi, con nghĩ điện thoại này khi tìm không thấy, gọi thì cũng khóa máy, con hỏi sư cô, “điện thoại sư cô sáng có khóa máy hay không?”, sư cô nói không, khi đó con khởi lên tâm nghi ngờ, chắc là cái điện thoại đã mất rồi. Lúc đó, con có tâm nghi ngờ, từ sáng đến giờ xung quanh đây không có ai, chỉ có chú cắt cỏ thôi, con đã khởi lên suy nghĩ như vậy. Sau đó sư cô Hạnh Trí tìm được điện thoại, con rất tội lỗi khi khởi lên tâm nghi như vậy, đó là một tâm bất thiện. Xin sư phụ và toàn thể đại chúng chứng minh cho con, con sẽ cố gắng tu tập để từ bỏ những tâm bất thiện nơi tâm con. Lúc nãy con có hỏi chú cắt cỏ là ai, thì mới biết chú cũng có mặt ở đây, con bây giờ xin đảnh lễ sám hối với chú, xin chú tha lỗi, con đã khởi lên tâm bất thiện nghi ngờ chú.
Sư cô Hạnh Đức:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Bạch sư phụ, con có hai vấn đề hiện gặp chướng ngại, xin sư phụ từ bi chỉ dạy cho con. Thứ nhất, lúc nhỏ con có một nỗi sợ ăn rất sâu, cho nên hiện tại con đang điều tiết hơi bị khó khăn là con sợ con rắn. Lúc nhỏ con sờ trúng nó, từ lúc đó ấn tượng của con sâu sắc. Trưa nay, con gặp nó ở đống củi, lúc đó cái sợ của con bật ra, con biết nếu sợ như vậy thì không được vì con biết sau này ở đây lâu thì sẽ còn gặp nó nữa. Lúc đó con tác ý không được sợ, con đứng nhìn nó một lúc lâu, và tác ý, nhưng cái nỗi sợ thì vẫn như vậy. Nếu có những nỗi sợ quá sâu sắc như thế thì dùng cách gì để điều tiết lại và tác ý như thế nào để bớt sợ, xin sư phụ chỉ dạy cho con.
Thứ hai, sư phụ có chỉ dạy cách giữ lại, con xin hỏi đôi khi có lòng xót thương hay lòng từ mà trong đó con thấy có niệm lưu luyến thì lúc đó mình phải xét trong đó thật sự có từ tâm hay như thế nào, nên giữ lại hay nên tác ý cho nó tan đi. Con xin cảm ơn sư phụ.
***
Trong mỗi người, có rất nhiều nỗi sợ hãi, ngoài đời người ta sợ nghèo, sợ xấu, sợ bị chê, sợ bệnh, sợ tai nạn, sợ già, sợ chết, sợ thua người khác... Tất cả những nỗi sợ đều có liên hệ với nhau, trong đó có những nỗi sợ hiện ra rõ rệt nhất. Trong buổi pháp thoại vừa rồi con có đọc bài kệ:
Nhân ái sanh ưu,
Nhân ái sanh bố,
Biệt ly ưu ái,
Hà ưu hà bố.
Vì có sự tham ái mà mình lo, mình sợ. Như vậy, nếu lìa tham ái thì không còn lo sợ. Ái ở đây là ái với tự ngã, mình sợ những con đó hại mình, sợ bị người ta chê, sợ người ta nói mình không giỏi giang, sợ đứng lên phát biểu bị run, bị chê dở, mình muốn mình nói giỏi, nói hay… Tất cả những nỗi sợ bắt nguồn từ tham ái, sâu vào nữa là bản ngã. Thứ nhất, phải quán xét rằng con rắn là ngũ uẩn, mình cũng là ngũ uẩn. Do ác nghiệp, nó có một hình dáng ngũ uẩn gớm ghiếc, xấu xa, xấu xí. Vì trả nghiệp hiện ra tướng xấu xí, ác độc, đáng sợ như vậy. Điều đáng sợ thật sự không phải là hình dáng của con rắn mà là ác nghiệp trong ngũ uẩn, vì ác nghiệp nên mới hiện ra thân như thế. Thay vì sợ hình tướng con rắn, mình hãy sợ ác nghiệp tạo ra hình tướng đó. Bước thứ hai, trải tâm từ đối với nó, xót thương chính mình và xót thương tất cả những chúng hữu tình, tất cả những thân ngũ uẩn phải gánh chịu đời sống không chân, bò sát, trốn chui trốn nhủi, người ta gặp thì đập, giết, hoảng sợ… Mình xót thương, chuyển tâm sợ thành tâm thương. Tâm thương này là một tâm bi mẫn, trắc ẩn, xót thương, trong đó có mình, có ngũ uẩn của con rắn đó và có vô lượng ngũ uẩn khác trong vòng ác nghiệp, trong vòng nhân quả luân hồi, trong vòng tâm ác nghiệp tạo ra thân có độc. Đáng sợ và xót thương cho cái tâm, cho ngũ uẩn ác độc, trải tình thương, trải lòng từ, trải lòng bi mẫn, nguyện cho tự thân mình lìa khỏi những tâm ác, tâm độc. Nguyện cho thân của con rắn ngũ uẩn đó được thoát khỏi những tâm niệm ác độc. Nguyện cho khắp tất cả hữu tình chúng sanh xuất ly ra khỏi tâm ác độc, không còn tấm thân không chân bò sát đáng sợ, đáng ghê tởm.
Nếu Minh Thành không tu tâm từ, Minh Thành cũng bị rắn cắn nhiều lần rồi. Lúc ở Vũng Tàu, con đem bộ Hán Tạng, Đại Tạng lên trên núi nhập thất. Ngày xưa Hòa thượng Thanh Từ, Hòa thượng Nhất Hạnh có nhập thất ở đó – chùa Quán Âm Phật Đài ở bãi giữa Vũng Tàu, trên núi. Chỗ đó có nhiều rắn độc và có người từng bị cắn chết, Minh Thành nghĩ: “Thôi kệ, mình tu, nếu đúng nghiệp quả thì mình chịu thôi, mình đi tìm chỗ tu chứ đâu có muốn hại các chúng sanh đó.” Khi lên tu, có một buổi trưa, nghỉ trưa trên võng, con rắn nó đùng đùng trên nóc nhà, Minh Thành kệ nó, cũng nhắm mắt, không mở mắt ra. Sau đó, nó đùng đùng trên mái nhà hai ba lần nữa, Minh Thành mở mắt ra xem thử, thì nhìn thấy một con dài hơn 1,5m, hỏi lại mới biết là rắn rồng. Minh Thành nói: “Kệ, trên nóc nhà chớ đâu phải dưới này đâu”, nhưng cũng không yên, một lát mở mắt nhìn thử, xem có đi ra ngoài chưa, vẫn chưa đi. Minh Thành lấy cái cây động động ở mẫy chỗ gần gần để đuổi đi, khi đó mình trải tâm từ. Từ xưa đến nay, bất cứ gặp loài vật nào, Minh Thành đều nói ba pháp quy y và trải tâm từ hết. Bất cứ lúc nào gặp con vật, nhất là lỡ đạp trúng hay gì đó, là phải dừng lại, nói ba pháp quy y và trải tâm từ.
Rồi một hôm, giữa đêm đi vệ sinh, cái thất riêng, toilet riêng, phải đi ra ngoài khoảng 7m, lúc đó cầm cái đèn pin mà pin đã gần hết, mờ mờ, chỉ cầm cho có. Minh Thành bước đi, tự nhiên chân lạnh lạnh, nhìn xuống thấy con rắn ngóc đầu lên. Hỏi lại thì biết đó là rắn độc, mổ trúng là chết liền, vì vùng đó là vùng rắn độc. Lúc đó Minh Thành tiếp tục nói ba pháp quy y và trải tâm từ.
Lần thứ ba cũng trên thất đó, đồ dơ để bên góc giường, có khi mấy ngày mới giặt một lần, có khi cũng không thay đồ, thấy cần thiết lắm mới thay chứ không phải mỗi ngày mỗi thay. Hôm đó Minh Thành cầm đồ đi giặt, để xuống, con rít bò ra, to bằng ngón chân cái trong bộ đồ, Minh Thành tiếp tục nói ba pháp quy y và trải tâm từ. Có một thầy huynh đệ cũng đi lên phụ dịch kinh, thầy này rất tha thiết xin Minh Thành phụ dịch sách Tịnh Độ. Thầy ngủ dưới đất ngoài chánh điện, ổng ngủ nghe cộm cộm ở vai, giũ mạnh thì một con rít to rơi ra, mà thầy đó tâm rất từ, con rít dài hai tấc mà không cắn gì hết.
Ngày xưa Minh Thành đi lang thang, nhập thất hết chỗ này đến chỗ kia. Trước khi thành lập Linh Quy Pháp Ấn, Minh Thành nhập nhất nhiều chỗ lắm, nơi nào yên tĩnh, có núi trên cao là Minh Thành đến xin nhập thất. Và trước khi nhập thất thì Minh Thành đi cầu đạo khắp mọi nơi. Về trên đây, khi lên tới đây, đầu tiên là phải trải tâm từ và ba pháp quy y cho khắp hết thảy tất cả chúng sanh, phi nhơn, hữu tình. Lần nào gặp rắn cũng nói hết, xin thưa đại chúng, ở đây mười lăm, mười sáu năm, có rắn nhưng không ai bị gì hết. Nhiều lần gặp, không phải một lần, hình như ba lần, con đi dưới đường xuống thất, không biết loại gì, màu vàng nhưng trên đỉnh đầu màu đỏ, đang bò, con đi tới, nói ba pháp quy y và trải tâm từ thì dừng lại, không bò nữa, nói xong hết rồi mới bò tiếp, thì mình biết nó có linh tính, cảm nhận được lòng từ của mình. Mà không phải chỉ một lần, nhiều lần như vậy lắm. Cho nên, mình phải tin ngũ uẩn mình và ngũ uẩn của nó giống nhau. Nếu lòng thương của mình chan rải, lan tỏa một cách chân thành, chân chánh, đúng pháp thì chúng sanh hữu tình sẽ cảm nhận được.
Có một lần ở Úc Châu, bên Sydney, đang giảng pháp mấy trăm người, một con mèo khổng lồ nhảy lên pháp tòa, mọi người quýnh quáng đuổi, Minh Thành nói: “Thôi kệ, để nó nghe pháp.” Cũng bên Úc Châu, về 44’00.., chỗ đó nhiều bác sĩ, họ tu về Tứ Niệm Xứ. Hôm đó con đang đi bộ dọc bờ biển cùng các bác sĩ và nhóm Phật tử, có một cô người Úc, dẫn con chó rất to, cô ấy đang nắm dây dẫn đi như vậy, bỗng nó giật sợi dây khỏi cô chủ, chạy ào lại, ai cũng sợ không biết chuyện gì, con cũng hơi giật mình; nó chạy lại, quẩy đuôi quấn quanh. Con cũng nói ba pháp quy y và trải tâm từ cho nó. Vẫn còn tấm hình chụp, cô chủ cũng rất bất ngờ, tất cả bác sĩ rất lấy làm lạ. Không phải chỉ một chuyện, mà rất nhiều lần như thế. Và có một điều đặc biệt, lúc về giảng pháp ở chùa Pháp Đăng của Sư ông, có chú Minh Phú chứng kiến, chú nhắc Minh Thành mới nhớ. Mọi người đang ngồi trong giảng đường nghe pháp, giảng được khoảng mười phút, ổng từ ngoài cửa sổ bò vô, nhảy xuống, đại chúng hết hồn, nói đó là rắn độc. Ổng đưa cái cổ cao lên, mọi người sợ hãi, kêu đuổi đi, con nói “Thôi kệ”. Giảng hết thời pháp, mọi người đi ra hết, ổng mới từ từ bò ra.
Cho nên, tất cả chúng sanh đều có tánh linh, có tâm thức, mình phải tin tưởng vào pháp. Mình sợ là sợ lòng tin vào pháp chưa vững mạnh, vì pháp là nhân quả, là nghiệp báo. Nếu không có nghiệp quả thì không ai hại mình được. Phải tin chắc vào nhân quả nghiệp báo, tin chắc vào từ tâm có thể hóa giải được oan gia trái chủ thì tự nhiên nỗi sợ của mình sẽ lắng dịu xuống. Mỗi ngày mình thực tập trải tâm từ, trải tới những đối tượng làm mình sợ, mỗi ngày thực tập một chút. Từ khi thành lập Linh Quy Pháp Ấn đã 15-16 năm đến nay, không có một người nào bị vấn đề về rắn.
Đức Phật dạy các Tỳ-kheo vào thời Ngài còn tại thế là trải tâm từ khi ở một mình ở trong rừng vắng, trong hang động, núi sâu, những chỗ có phi nhân (bây giờ mình nói là ma quái). Các Ngài trải tâm từ thì các Ngài được bình an; chúng sanh, những phi nhân đó cũng được bình an, và dân chúng cả vùng đó cũng được bình an. Tâm từ tuyệt diệu lắm, hóa giải nghiệp chướng, cởi mở oan gia trái chủ và dập tắt sợ hãi, mang về sự bình an, an ổn, yên lành cho chúng sanh. Một người có tâm từ đầy đủ, tập tâm từ cho sung mãn, thành cỗ xe, thành căn cứ địa, thì người này có thể xóa sạch hết mọi sợ hãi. Khi nào thấy sợ hãi thì biết là tâm từ của mình chưa đủ, cần phải tiếp tục trải tâm từ, tiếp tục tu tâm từ. Thực tập được tâm từ thì rất vi diệu, bình an.
Minh Thành ngày xưa nhà ở ngoài chợ, có đèn điện sáng đầy đủ, lúc 17 tuổi đi tu ở chùa sâu trong vườn, không có điện. Đêm đến mắc tiểu, Minh Thành không dám đi. Lúc mở cửa ra, bên ngoài đen thùi lùi, tối thui, lạnh nổi da gà, còn nhỏ nên mình sợ. Nhưng từ khi tu tập tâm từ, Minh Thành ở chỉ có một mình, ở trên rừng cao hơn nữa. Cho nên, mình phải thực tập để nhiếp phục, hóa giải các dòng cảm thọ; nếu chưa đủ mạnh mẽ để đối diện thì khoan hãy đối diện trực tiếp. Phải biết mình ở mức độ nào và từ từ tu tập, đừng vội đối diện. Những điều cần thiết là: nói ba pháp quy y, trải tâm từ, quán chiếu về các ác nghiệp. Mình sợ hãi về các ác nghiệp chứ không phải sợ hãi thân hình con rắn đó, tin vào nhân quả nghiệp báo, tin phải thật chắc chắn vào lòng từ và pháp thì sẽ được bình an.
Câu hỏi thứ hai, thấy tâm từ mà trong đó có sự luyến ái thì phải tác ý và trừ diệt. Ví dụ dễ thấy, cầm ly nước uống nhưng có con kiến trong đó, mình uống luôn con kiến hay bỏ ra? Cũng vậy, nhìn lại tâm mình chỉ có từ bi, tình thương không dính mắc thì mới sử dụng, còn nếu trong đó có dính mắc thì phải xem kỹ, phải bỏ nó ra, chứ không bỏ tâm từ. Phải nhớ điều này: bỏ sự dính mắc chứ không phải bỏ tâm từ. Mình hay bị cực đoan, khi bị dính mắc thì bỏ luôn tâm từ. Nếu tiếp xúc mà có dính mắc thì tránh xúc, cắt duyên xúc, cắt luôn được thì tốt, còn không thì hạn chế tối đa. Sân cũng vậy, biết trước người đó hay bị sân, thig ít tiếp xúc lại, hoặc tránh luôn, hoặc buộc phải tiếp xúc thì hết sức hạn chế, hết sức chánh niệm, tỉnh giác, cẩn thận khi tiếp xúc với người đó. Phải thấy chỗ nào sanh khởi ra si. Biết giờ thiền buổi khuya hay sanh khởi ra si thì phải tuyệt đối cẩn trọng, thấy chỗ nào nhúc nhích là phải trị, đưa nòng súng vô ngay chỗ đó, lên cò thường trực; chỗ nào thấy mình bị sơ hở, tiêu cực, thấy chỗ nào mình còn bị dở thì phải đề phòng hết sức cẩn thận. Còn thấy rồi cứ để như vậy thì khi nào mới xong, chừng nào mới hoàn thiện?
Lúc nãy sư cô sám hối là rất tốt, sự xúc cảm rơi lệ, đó là sự xúc cảm của trí huệ, của giác ngộ. Cô nhìn thấy được thân tâm, nếu điều đó cô không nói ra thì đâu ai biết, chỉ trong tâm mình thôi. Như Lai tuyên bố: “Này các Tỳ-kheo, tư duy tác ý tức là nghiệp”. Mặc dù chưa tỏ ra hành động, thậm chí chưa tỏ ra lời nói nhưng mình có suy nghĩ, nếu không có sự sám hối, nhìn nhận, tẩy rửa thì suy nghĩ đó cũng là một ác bất thiện pháp của ý nghiệp. Suy nghĩ đó lâu ngày sẽ thành quen, nghiệp là thói quen, khi gặp chuyện như vậy là sẽ suy nghĩ như vậy, mà suy nghĩ rồi thì sẽ phát ra lời nói, toát ra hành động, như vậy sẽ có quả báo. Cho nên nhìn thấy được trong suy nghĩ như vậy là rất tốt, đó không phải là xấu, mà đó là chánh niệm, sự tỉnh giác, đó là cảm xúc của trí huệ, của sự tàm quý, của thiện pháp. Đó là chúng ta được nuôi lớn, lớn mạnh trong pháp và luật của Đức Như Lai. Thế nên, chỉ sợ người có lỗi mà cứ trơ trơ, người ta nói đến thì sân si ngược lại, như vậy là quá tệ.
Người tu, mình nhớ có ba hạng người: không đợi người khác nói, đợi người khác chỉ, tự mình thường trực soi rọi lại thân, thọ, tâm, pháp.
Người thường trực soi rọi lại thân thể, hành vi, cử chỉ, oai nghi, thường trực soi rọi cảm giác, cảm xúc, cảm thọ, những suy nghĩ trong tâm, thường soi rọi ở bên trong những thọ, tưởng, hành, những cảm giác nghĩ tưởng có ác bất thiện pháp hay không.., để tẩy sạch, đoạn tận, nhiếp phục, trừ diệt mà không phải đợi người khác nói, tự mình biết, tự mình nỗ lực làm. Người đó là bậc thượng. Người mà để thầy nói, sư đệ, sư huynh, sư tỷ nhắc nhở thì mới làm, có khóa tu mới tu, không có khóa tu thì không tu, đến giờ đại chúng tu mình mới tu, đại chúng không tu thì mình không tu, đó là bậc trung. Còn bậc thượng là không phải giờ tu mà người đó cũng tu, không đợi đến thời pháp đến mới tu, đó là bậc thượng. Còn người đến thời khóa thì trốn, ví dụ bệnh, mệt thì không nói, điều đó bình thường, ở dưới vẫn có thể tu, còn đằng này là kiếm chuyện, bỏ thời khóa, hay là người ta chỉ lỗi thì không nhận lỗi để cám ơn mà còn sân hận, trách móc tại sao nói như vậy. Còn người hiềm hận, oán trách, trách móc, sân hận, phẫn nộ khi được chỉ bảo thì dạng đó là bậc hạ, không thể tu tiến được. Không nói mà mà là bậc thượng, nói mới làm là bậc trung, còn nói mà cũng không làm thì đó là bậc hạ. Đó là ngu, hiền và trí. Người tự thấy, tự biết mình, tự chăm sóc mình, tự phấn đấu, tự nỗ lực, tự tâm, tự cường, tự lập, tự tiến, tự vượt lên chính mình, đó là người trí. Người được chỉ dẫn, nhắc nhở thì làm theo, nghe theo, đó là dạng người hiền; còn có người chỉ mà cũng không thèm nghe, cứng đầu cứng cổ, đó là dạng người ngu.
Trong sự tu của mình, phải thường trực soi rọi lại thân tâm, thường xuyên, thường luôn, không phải đợi đến thời khóa. Tuy nhieen phải nhờ đến thời khóa buộc mình lại, vì mình mới tu nếu không có thời khóa là cứ sống với tập khí, cho nên chính thời khóa là cái đà lúc ban đầu. Nếu chúng ta không có thời khóa dày như vậy thì đại chúng rất khó tiến tu, thế nào cũng có chuyện. Thời khóa ít, lâu lâu là có phiền não, vì tiếp xúc với nhau, xúc sẽ sanh thọ, xúc sanh dục, xúc sanh nghiệp. Còn ở đây cho vào thời khóa, tức là xúc với pháp, xúc với tuệ, với thánh trí, xúc với chân lý, với thiện cho nên mình mới được an ổn.
Ví dụ, bây giờ mạnh ai nấy tu, không có thời khóa vô chung gì với nhau cả thì sẽ khác. Trừ bậc thượng, bậc trí mới được, còn những người trung trung là phải có thời khóa, nó mới kềm cọng, đưa vô khung, giúp mình hoàn thiện thân tâm. Cho nên, thời khóa đặt ra là vì tình thương, sự lợi ích cho tự thân mình, cho mọi người, cho đại chúng và cho những người tương lai về sau họ đến đây tu tập, chứ không phải chỉ là hình thức, bề ngoài, hay là do mình khó khăn. Đại chúng thấy, mình tu tha thiết, hiểu pháp, chân thành, bỏ này, bỏ nọ, bỏ chùa, bỏ học ở nước ngoài, bỏ bệnh hoạn khó khổ, bỏ thầy tổ, huynh đệ, bỏ gia đình, cha mẹ… nhưng có khi đến giờ tu cũng chống đối lại bỏ tu: “thôi, mệt quá, nghỉ đi”. Nếu trường hợp thật sự mệt thì được, còn vẫn có thể tu được nhưng ở bên trong lại bị con ma dục, con ma làm biếng, con ma buông lung phóng dật, nó vẫn xúi giục.
Cho nên, như lời Phật dạy: “Phải tự mình thắp đuốc lên mà đi, tự mình nương tựa chính mình”, tức là người trí. Luôn luôn sống quán thân trên thân, quán cảm thọ, cảm giác ở trong cảm giác, quán nội tâm mình xem trong nội tâm, cảm giác, thân thể có gì trong đó, cấu nhiễm hay thiện pháp. Cấu nhiễm thì đoạn diệt, thiện pháp thì tăng trưởng, đó là quán pháp trên pháp, nói gọn là như vậy. Nghĩa là mình xem thân thể, hành vi, cử chỉ có phù hợp với oai nghi, giới hạnh học pháp hay không, từ bên trong cảm giác của thân, nội tâm, trạng thái của tâm như thế nào; ở bên trong tâm đó có cấu nhiễm, lậu hoặc hay không, nếu có là mình trừ diệt; có trí huệ, thiện pháp hay không, có thì mình phát huy tăng trưởng… đó là quán Tứ Niệm Xứ.
Suốt ngày phải nhìn thân thể, nhìn nội tâm của mình, một người biết nhìn nội tâm thì mới thấy được nghi ngờ của mình là bất thiện pháp, mới sám hối, mới cảm xúc. Còn người không quán tâm, không quán những cảm giác, nghĩ tưởng của mình thì người đó suy nghĩ rất là bình thường: “thấy vậy thì nói vậy, có gì đâu mà tội”, đó là vô văn phàm phu. Nếu nhìn thấy được những bất thiện pháp, nó nhỏ nhiệm như vậy thì là Đa văn Thánh đệ tử. Điểm khác biệt giữa vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử là không nhìn thấy thân tâm mình và nhìn thấy thân tâm mình.
Sư cô Tuệ Đức:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch Sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con pháp danh Tuệ Đức, xin trình pháp. Thưa Sư phụ, trong những giờ tu tập của con có nhiều khuyết điểm, xin thầy hoan hỷ, từ bi khai thị và chỉ dạy khuyết điểm đó cho con. Trên đường tu tập trong mấy hôm nay, cái tưởng của con hay về quá khứ, mà khi con tưởng về quá khứ thì nó có một sự xót xa do bản ngã con còn xâm chiếm, con chưa buông xả được, con tác ý phải đi ra, phải hỷ xả và xem như làm lại từ đầu. Khi tác ý mạnh, con có sự hỷ lạc. Xin thưa sư phụ, sự hỷ lạc của con có được nuôi dưỡng lâu không?
***
“Này các Tỳ-kheo, sắc, thọ, tưởng, hành, thức từ quá khứ, hiện tại, tương lai, thắng lược, thô tế, sai lệch, tất cả đều phải quán nó là vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng, tan hoại, hoại diệt, bại hoại, tiêu tan, tan nát, hủy hoại.” Có hai trường hợp để mình nhớ về quá khứ. Một trường hợp là cái tưởng về quá khứ hiện ra: những sắc tưởng, hình bóng, những cảm giác những suy nghĩ, nhận thức… của quá khứ mình đã trải qua, đã kinh qua, nó hiện về, kéo về, thì điều đó là mình không chủ động, nhưng tự động nó sanh khởi, đó là khác. Còn trường hợp do mình chủ động khởi lên để mang hết quá khứ ra để quán chiếu, lại là khác. Trường hợp của cô là trường hợp mình bị động chứ không chủ động, tức là nó tự sanh khởi ra. Những người lớn tuổi thường sống với quá khứ, trong những điều họ đã kinh qua, nếm qua, đi qua, trải qua. Thêm nữa là tâm thức quen với nghiệp thức, có những người quen sống với quá khứ hơn là với hiện tại.
Khi đó, mình phải biết và dùng Như Lý Tác Ý, dùng sự quán chiếu, tác ý: “Quá khứ đã đi qua, đã chết, quá khứ chỉ là ảo ảnh, mộng ảo, tan biến thành hư không hết rồi, đừng để những hình bóng, cảm giác, nghĩ tưởng đó ám ảnh, đeo bám, xâm chiếm, áp đảo thân tâm của mình. Có đáng hay không khi để những điều đó xâm chiếm nội tâm, nó áp đảo, giày xéo, tàn phá nội tâm của mình? Quá khứ đã chết, đã qua, đã hoại diệt rồi, đeo bám, vướng bận, mang vác để làm gì.” Mình tác ý nhiều phương diện, sử dụng luôn những hình ảnh đó để làm đề mục quán chiếu: “Đây là khổ, là nguyên nhân của khổ; đây là những thứ vô thường tan hoại, tan biến, trống rỗng, tham sân si, vô minh, bản ngã, chỉ là dục, ái thôi, không có gì trong này cả, không có gì để cho mình lưu luyến, mang vác, đeo đẳng, để làm gánh nặng cho mình”. Tác ý thường xuyên và liên tục để buông bỏ nó.
Sau khi tác ý mà những tưởng quá khứ tan, mình có hỷ lạc thì tốt, thì hãy xem hỷ lạc đó là thiện pháp hay có dục, tham ái, bản ngã trong đó? Nếu sau khi tác ý, mình nhiếp phục, thoát ra được và có hỷ lạc, thấy vui thì đó là thiện pháp. Mình cứ cho phép hỷ lạc đó dâng trào, tràn ra thấm đượm thân tâm của mình, vì đó là bổ dưỡng, thuốc bổ tinh thần trong sự tu. Còn suốt ngày chỉ thấy khổ, lậu hoặc, khóc hoài, quỳ lạy, sám hối hoài, lúc nào cũng tội lỗi.., như vậy là không có chất bổ dưỡng của tâm linh, mình sẽ tu không lâu, không có an lạc, hỷ lạc.
Do đó, ngoài những trí huệ để thấy được lậu hoặc và nhiếp phục, thì mình phải có một dòng hỷ lạc liên tục và thường trú trong đó sau khi mình đã đánh gục phiền não, lậu hoặc. Chiến thắng được một tên giặc thì cho phép mình vui lên: đẩy tan được một cái dục, đánh tan được một cái sân, làm cho nó lắng dịu xuống, hay phá tan được một cái sanh khởi bản ngã, thì sau đó mình cho phép mình vui, hoan hỷ, hỷ lạc, hạnh phúc và sung sướng. Y như một người vừa làm xong một công việc, họ sẽ được nghỉ ngơi, ăn uống, cũng vậy sự hỷ lạc hết sức cần thiết. Lâu lâu phải lấy những bài trong kinh Pháp Cú, kinh Nikāya, hay trong mấy bài tác ý của Minh Thành để đọc hoặc mở lên nghe:
Khả ái thay núi rừng,
Chỗ người phàm không ưa,
Vị ly tham ưa thích,
Vị không tìm dục lạc.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm A La Hán)
Ngồi thiền một mình ngoài trời, đọc bài đó lên, tác ý cảm thấy hạnh phúc, hoan hỷ với cảnh núi rừng này, đời sống này, với con đường Thánh đạo này, làm cho mình dâng trào lên cảm giác hỷ lạc, vui sướng trong sự tu tập. Núi rừng là nơi để các bậc Thánh, bậc Tôn giả, Hiền Thánh cư ngụ, là trú xứ của chư Thiên và các bậc Thánh, của các bậc ly tham. Cho phép lâu lâu mình được tác ý như vậy là hỷ lạc hết cả nguyên một thời. Thỉnh thoảng cho nguyên một thời ngồi ngoài trời, xem mây bay, chim hót, trúc lay, xem bình minh, tự cho mình hưởng thụ cảm giác viễn ly, xuất ly, xả ly xuất thế tục, một đời sống thanh cao, thanh thoát, cao thượng, thánh thiện mà mình đang sống. Đời sống này là đời sống hy hữu, hiếm có, khó gặp, khó được, đời sống mà ngay cả chư Thiên còn phải khát ngưỡng, mình được nếm trải sống đời sống này thì còn hạnh phúc nào bằng. Mình cứ cho hỷ lạc trào dâng, tràn ra khỏi lồng ngực, tràn lên đỉnh đầu, thấm nhuần, giống như nhảy xuống biển, thấm ướt hết từng lỗ chân lông, thấm hỷ lạc đời sống viễn ly, xả ly, xuất ly. Bài Về núi yên tu là để cho đại chúng phát triển hỷ lạc, nhớ bài đó khi ngồi thiền, hãy tác ý:
“Hạnh phúc cho ta, hoan hỷ, vui sướng thay cho ta khi giờ này ta ngồi ở nơi núi cao, rừng vắng, dưới chân ta là mây bồng bềnh, trên đầu ta là bầu trời vô tận, và tâm thức của ta là đượm nhuần Thánh Trí, Thánh Pháp của giác ngộ. Đời sống này là một đời sống cuối cùng, không còn khổ hữu nữa, sự quyết định về núi này rất tuyệt diệu. Một cú nhảy của ta là siêu thế, một quyết định của ta là tuyệt diệu, tối thượng, tối tôn, tối thắng, không thông minh nào bằng thông minh này, sự thông minh khi từ bỏ tất cả, lên núi cao để thực hành Thánh Pháp. Sung sướng, hạnh phúc thay cho ta, tối thượng, cùng cực sự hạnh phúc là đây, trong khi cha mẹ ta đang đau khổ trong nước mắt vì cơm áo gạo tiền, bạn bè ta mấy đứa con, bao nhiêu người ngoài kia gần mười hai triệu người đang nhiễm bệnh, bao nhiêu người phải chết.”
Lúc nãy trên đường Minh Thành đi về đây, có người bị tai nạn phải đắp chiếu, máu mủ chảy ra gần hai mét. Hôm qua ở thành phố cũng có tai nạn khủng khiếp. Ngoài kia đang khốn khổ, quằn quại, chìm ngập trong biển ái, dục, tham; đang bị thiêu đốt trong ngọn lửa sân hận ngục tù, đang bị gọng cùm kềm kẹp của bản ngã, vô minh, chấp thủ. Còn bây giờ chúng ta đang sống trong đời sống thoát ly, có chim hót, mây bay, có Thánh Pháp, có không khí, trong lành… còn hạnh phúc nào bằng.
“Tại sao không vui với đời sống này, tại sao không thấy vừa đủ, không thấy thỏa mãn, yêu thích đời sống này, không thấy hân hoan phấn khởi, tại sao?”
Mình phải tác ý mạnh như thế, thường trực tác ý. Khi tâm mình thoái thất, lười biếng hay muốn thoái lui, kiếm cớ để xuống núi.., thì phải tác ý thật nhiều. Phải biết tác ý hỷ lạc, đó là sự hưởng thụ của người tu, uống thuốc bổ của tinh thần. “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, nếu không tác ý thì pháp sao sanh khởi được, mình cứ nghĩ về cái vui, tham, dục, ái ở bên ngoài mà không biết cái vui khác. Đức Phật nói có cái vui khác, đó là cái vui của xuất ly, viễn ly, xả ly, thoát ly… đó là cái vui khi mình đang sống và thực tập Chánh Pháp.
Cho nên, Minh Thành thường cho đại chúng ngồi ngoài trời, sương lạnh một chút cũng không sao, cảm nhận trời cao đất rộng, cảm nhận tâm mình bao la, mở rộng tâm mình ra, cảm nhận tất cả một cách hết sức sâu sắc, trọn vẹn, bằng tất cả trái tim của mình trong sự tu học. Chúng ta phải cảm thấy hứng thú, vui sướng, hạnh phúc, phấn khởi, tràn đầy sinh lực sung mãn trong sự tu học, trong mình là một nội lực dào dạt, sung mãn, viên mãn. Còn tu mà cái mặt nhìn thảm, cứ than bệnh này bệnh kia, không tha thiết, hình tướng của bệnh rất nhiều, nghe pháp là nằm ngay tại chỗ giảng luôn. Phải dám bán mạng, hy sinh thân mạng của mình để tu học, cứ sợ bệnh sợ chết hoài thì sao mà tu. Chết ngay tại chỗ nghe pháp mới sanh Thiên, nhập Thánh, không được sợ. Ngay chỗ giảng pháp, thiền quán, đang trú trong pháp mà chết là mình sanh Thiên hoặc nhập Thánh trong tâm thái đó, cho nên chỉ sợ đi chơi mà chết, còn tu thì không có sợ chết.
Vì thế, phải Như Lý Tác Ý, biết tác ý rồi thì mình vui lắm. “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, phải thường xuyên, siêng năng tác ý. Mỗi lần thấy tâm mình động nhiều thì phải chỉ, thấy tâm trì trệ nhiều thì mình phải quán, phải tác ý. Cho nên sức của đại chúng mạnh tốt thì sẽ giúp mình nhiều, còn ở nhà thì mình sẽ tu không được như vậy. Tu từ 4 giờ sáng, ngồi nghe pháp đến 8-9 giờ sáng mà ngồi cười toe toét, hỷ lạc. Có mấy vị sư cô ở trường Trung cấp nói: “Trong đời tu chưa bao giờ chứng kiến thời khóa nào dài như vậy”, nhưng khi xong thời khóa thì mặt tươi tắn, khỏe không mệt. Cho nên chú Đức phải ráng lên, nam tử hán mà thua nữ nhi là không được, đó là chỗ tranh đua, tranh đua trong sự tu chứ không phải hơn thua. Người nữ nhưng người ta ngồi thẳng băng, sáng suốt như vậy, còn mình là nam vô ngồi cứ cà gật gà gật gưỡng. Khi ngồi thiền, tác ý, “Đáng thương cho mình, thê thảm cho mình, đau khổ cho mình, tại nạn cho mình, khốn nạn, khổ nạn, ách nạn cho mình, tại sao lên ngồi bồ đoàn là cứ ngủ”, cứ tác ý từ đầu đến cuối như vậy, hết ngủ thì mới hết la.
Sự tu rất phong phú, nhiều thể loại, nhiều phương pháp. Mình có thể tác ý hỷ lạc, hoặc la mắng mỗi khi nó cứng đầu cứng cổ, lui sụt… có rất nhiều phương pháp rất thiện xảo, rất thù thắng. Giống như trong nghệ thuật đóng phim, bộ phim hay có bao nhiêu cung bậc cảm xúc, chứ cứ đều đều thì làm sao lấy tiền người ta. Tu tập cũng vậy, vô số thiện xảo trong Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo, mình phải vận dụng, làm cho tâm mình được cân bằng, biết lúc nào sử dụng quán, hoặc chỉ, lúc nào sử dụng tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, biết lúc nào là xả, hỷ, biết lúc nào niệm giác chi. Thất Giác Chi phải được sử dụng tinh xảo, điêu luyện, làm cho nó thành cỗ xe, làm cho thành căn cứ địa, đây là bảy yếu tố giác ngộ. Phải khéo léo sử dụng, biết mình đang ở trạng thái của giác chi nào: trạch pháp giác chi hay niệm giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi. Đó gọi là quán pháp trên pháp, và pháp này là thiện pháp. Khi nào trong tâm mình có dục, ái, tham, sân, si, bản ngã thì phải biết mình ở trong dạng nào, ở mức độ nào, lúc đó là mình phải quán pháp trên pháp, ở đây là quán về bất thiện pháp. Còn tâm của mình, nhưng mình không biết gì hết, cứ ở trong trạng thái vô minh, si ám, ngơ ngơ ngáo ngáo, bên ngoài nói hoài mà còn không hiểu, huống chi bên trong không nói gì hết. Cho nên mình cần phải tinh tường, đó gọi là kỹ sư tâm hồn, là nhà kiến trúc sư vĩ đại của tâm linh và mình là một nhà lãnh đạo, đại tướng quân đại tài để điều hành một trận chiến tâm linh vô tướng, vô hình.
Tu không phải là ngồi đó nhắm mắt, nghe tiếng chuông “bong” là hết giờ thì đi xuống, tu là cần phải thao lược, tinh anh, sắc bén, rộng lớn, từ tâm, thiện xảo, khéo léo, vận dụng các pháp. Tất cả đề là tự mình thôi, quan trọng là mình phải muốn. Minh Thành hay nhắc về Tứ Như Ý Túc – tức là mình phải muốn, làm cho cái muốn đó mạnh lên, nỗ lực, để tâm trong cái muốn đó, tìm mọi cách thực hiện cho bằng được cái muốn đó. Có bốn cái đó tức là vạn sự như ý, có đầy đủ bốn điều đó là mình làm gì cũng được, tất cả pháp đều theo ý mình. Cái mình làm là diệt tham, sân, si, vô minh, bản ngã; cái mình làm là phá được vô minh uẩn, trừ được thân kiến, phá hoài nghi và giới cấm thủ. Chúng ta sẽ làm được nếu mình có bốn điều mạnh mẽ đó, có sự nỗ lực, để tâm, tìm đủ mọi cách để thực hiện cho bằng được, cộng với Chánh Tri Kiến của mình, như vậy là tứ đại thiên vương. Bao nhiêu thần lực dồn vô đánh một trận lớn, đánh thân tâm chính mình, chứ ngồi thiền mà buồn ngủ thì không được gì hết. Phải đập, tống con ma ngủ ra khỏi thân tâm mình. Chuyện đó có gì đâu mà làm không được.
Ở ngoài đời, mấy đứa trẻ 7-8 tuổi đi ở đợ, đi móc bọc, nhặt những đồ phế thải sáng đêm. Còn mình ngồi một tiếng không được là nhục nhã, phải lấy những hình ảnh đó để tác ý, quán chiếu. Phải tác ý, phải nỗ lực, trí huệ sanh là do tác ý. Những người đơ đơ, khờ khờ là do bên trong có cái si nặng, vô minh nhiều, tuệ quán không đầy đủ. Vì vậy phải tác ý thật nhiều cho nó bén nhạy, sắc bén lên, chứ không phải lúc nào cũng hiền hết. Có những lúc phải dùng hết sức mạnh của trí huệ, đại hùng đại lực, đại trí huệ, đại từ bi. Chứ đâu phải tu là chỉtừ bi không thôi, mà phải chiến thắng được những trận chiến ác liệt của tâm linh. Còn mình tu mà trơ trơ, tu trên hình thức, giờ giấc, tu bên ngoài thôi thì cuối cùng là một tấm thân đầy rẫy những lậu hoặc, cấu uế, không có thay đổi, tiến bộ.
Sư cô Tuệ Tâm:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Khi con đến chùa Linh Quy Pháp Ấn này, con thấy tâm hoan hỷ của con rất nhiều. Đôi khi con không kềm chế được, có những lúc, trong ngày đó con cảm giác con tu tập an lạc, cảm thấy hoan hỷ, tối đó con về làm thơ, đăng trên mạng, sau khi xong con rất vui cũng rất lo. Sư phụ cho con hỏi, con làm thơ như vậy con có bị phạm tam quy hay phạm điều gì không? Thơ của con là con thể hiện tâm hoan hỷ, cả ngợi pháp, nhưng tâm con sợ một là bị phạm oai nghi, hai là tâm tu của con thấp, còn sơ cơ, làm như vậy thì không biết có đúng không? Sư phụ cho con hỏi là con có nên bỏ thói quen này không?
Sư phụ: Đọc bài thơ cho đại chúng nghe đi.
Sư cô Tuệ Tâm: Kính bạch sư phụ, con không nhớ, và con cũng không đem theo điện thoại.
Sư phụ: Ý, nội dung của bài thơ đó là như thế nào?
Sư cô Tuệ Tâm: Lúc đầu là con cám ơn đời đã cho con nhiều đau khổ và thử thách. Chính những đau khổ và thử thách này mà nay con thấy được pháp, con thấy con có những bước tiến, con viết hơi dài nên không nhớ nhưng nội dung là con muốn ca tụng dòng pháp Nikāya, có chữ Nikāya trong bài thơ.
***
Tu tập có hỷ lạc để diễn lại thành những bài thơ thì điều đó tốt, không có lỗi, nhưng đăng thì khoan hãy đăng, từ từ đăng sau, vì khi đăng lên sẽ có like, thả tim gì ở dưới… ít nhiều gì mình sẽ vui buồn theo cái đó. Ví dụ như hôm nay được nhiều người thả tim thì mình vui, hôm sau đăng bài rồi ít người thả tim quá, như vậy là mình bị những cái bên ngoài tác động. Thêm nữa, trong giai đoạn này mình còn mới, cần tu tập cho vững chắc. Những gì cảm nhận được cứ để lại, để dành đó, lâu lâu mở ra đọc để nuôi dưỡng cảm thọ cảm giác hỷ lạc, tiến tu. Sau này đủ duyên chia sẻ thì lúc đó mình sẽ cúng dường cho đại chúng, còn bây giờ thì không vội.
Nói điều này Minh Thành mới nhớ, đại chúng còn thiếu nợ những bài thu hoạch, bài trình pháp, kêu viết mà không thấy ai nộp bài. Mấy sư cô Bình Định dự khóa tu có viết bài rồi, mai mốt làm quyển nhật ký là Kỷ Yếu Linh Quy, vì vậy chúng ta nên viết bài. Điều này rất tốt để giữ lại những cảm xúc, những sự thấy biết trong thời gian, khoảnh khắc đã tu học. Sau này đọc lại mới thấy sao lúc đó mình được hay như vậy còn bây giờ thì sa sút; hoặc sau này tiến hơn, khi đọc lại, thấy lúc đó cái này mình chưa được thấu đáo, còn bây giờ thì đã có thay đổi. Mình viết bài, tập viết, ghi chép lại, hay biết làm thơ, có cảm xúc thì cứ làm, nhưng nhớ làm thơ pháp thì được, đó cũng gọi là một cái Chánh Ngữ, chia sẻ pháp thì tốt, không sao, nhưng đừng đưa lên mạng vì lúc này chưa phù hợp.
Mấy hôm nay tâm chú Như Ý về pháp như thế nào? Đối với sự đóng góp vào công cuộc ban văn hóa Pháp Ấn để in ấn kinh sách thì chú có suy nghĩ mới, tiến triển gì không?
Phật tử Như Ý:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.
Ban đầu con lên đây để tìm được sự an tịnh, một phần là cầu đạo nhưng cũng có một phần tìm sự an tịnh để sau này về dưới đó con tiến triển hơn trong công việc. Trong công việc của con hằng ngày phải đối mặt với sự tham lam, vui buồn, sợ hãi, tức giận, chờ đợi, hy vọng. Công việc của con là đầu tư ngoại hối, giống như đầu tư chứng khoán, lúc nào mình cũng chấp vào, mong cầu, hy vọng là nó đi theo mình, nó không đi thì mình tức giận, nó không đi thì mình chờ đợi, hy vọng; có khi sợ hãi, có khi mình bản ngã, rằng mình quá giỏi trong thị trường này. Khi lên đây, con tìm hiểu về thiền, con lại thấy sợ cái áp lực dưới đó. Khi gặp khách hàng, lời không con nói thành có, con phải dẫn dụ để người ta bỏ tiền ra cho con đầu tư kiếm lãi; con tự lừa mình, tin vào cách đầu tư sẽ sinh lãi, cho nên mình đã vẽ ra một viễn cảnh tươi đẹp cho người ta thấy, người ta sẽ bỏ tiền cho mình đầu tư. Sau khi lên đây được sư phụ hướng cho sự biên tập, thưa sư phụ, con lại thấy ra một con đường mới, một con đường cho tương lai của con, được tiếp xúc với thiện pháp sau khi xuống núi, không phải làm ác nghiệp, nói lời không đúng với người ta. Khi lên đây, con được nghe chỉ dạy sư phụ, của mọi người và đọc sách của sư phụ, con dấy lên một sự hổ thẹn về mình khi đã quá vô tâm với gia đình, con lại có sự mong muốn khi xuống núi có nhiều thời gian để báo hiếu ba mẹ và chăm sóc gia đình. Tình cờ sư phụ cho con một con đường thuận cả ba hướng. Thứ nhất, khi xuống núi con sẽ tiếp tục biên tập cho sư phụ, con vẫn trang trải được cuộc sống; thứ hai là con có thời gian chăm sóc gia đình và báo hiếu cha mẹ; thứ ba là khi con không tạo ác nghiệp nữa, con vẫn tu tập trên con đường này, con sẽ tự đầu tư bằng chính bản thân con, bằng năng lực thật sự của con, con vẫn tiếp tục trong công việc trước đây của con. Con hạnh phúc khi nhận ra được con đường toàn vẹn cho cả mình, gia đình của mình và giúp được trong công việc hoằng pháp. Tâm của con rất hạnh phúc, thưa sư phụ.
Sư phụ: chú Thiện có muốn chia sẻ gì không?
Phật tử Thiện:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.
Thưa sư phụ, con đi chùa chỉ có một mục đích, trước đây cuộc sống của con có nhiều biến cố, nên con lên đây để tìm sự yên tĩnh, nhìn lại mình muốn gì, mình đã làm những gì.., để có thời gian nhìn lại mình và sẽ tiếp tục trong công việc của mình. Con chưa biết về đạo tràng Nikāya, con chưa biết sư phụ và những bài pháp của sư phụ. Nhưng nhờ phước báu, con có duyên gặp được sư phụ, gặp được những bài pháp của sư phụ, biết được đạo tràng Nikäya. Từ đó con mới nhìn được chính sự ngũ uẩn, con học được nhiều bài học từ pháp của sư phụ. Con nhìn được ngũ uẩn, nhìn được trong thâm tâm con cái bản ngã và sự tham sân, dục vọng, si mê của con rất cao. Con biết được, để hạ thấp đi bản ngã của mình, hạ đi dục vọng si mê của mình thì không phải là chỉ mười ngày tu tập, mà là cả một quá trình dài tu tập. Con biết sau khi xuống núi, càn phải áp dụng được lời dạy của sư phụ, trong cuộc sống, con sẽ phát triển nhiều hơn trên công việc cũng như thân tâm của mình. Điều hay nhất con học được chính là tâm từ. Cám ơn sư phụ đã cho con nhiều bài học quý giá để làm hành trang trong cuộc sống của con.
Con xin chia sẻ những khó khăn của con trong mười ngày qua, con chưa hiểu những ngôn từ trong Phật Pháp, cho nên gây ra sự khó khăn của con trong sự hiểu biết. Những bài pháp của sư phụ dạy con chỉ hiểu được 50%. Con mong sau khi quay về, con sẽ có nhiều cơ hội để lên đây học tập, con cám ơn sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng.
***
Chúng ta cùng trải tâm từ đến những người khốn khổ, nước cuốn trôi cả một thôn làng, chết chóc, tai nạn, chiến tranh, động đất mang theo tang tóc, tang thương khắp hành tinh, những điều đang diễn ra chưa từng có trong lịch sử. Nguyện cho hết thảy chúng sanh vượt qua kiếp nạn này, bình an, quay về với Chánh Pháp. Nạn cháy rừng, cả hàng ngàn người mới dập tắt được. Trong nước, ngoài nước, trên cả thế giới đang ngập chìm trong những tai nạn lớn. Chúng ta hãy trải tình thương đến hết tất cả muôn loài khốn khổ./.
VƯỢT QUA SỢ HÃI
-Thích Minh Thành-
…Về núi yên tu, lòng ngậm ngùi
Xót thương tham dục kẻ hủi cùi
Chạy tìm hố than hừng nóng bức
Hơ để tìm vui, bao giờ nguôi?
Về núi yên tu, lòng xót thương
Nhìn toàn thế giới cảnh chiến trường
Tranh giành, tranh đấu, tranh chiến mãi
Gây ra thảm họa đầy tai ương.
Hôm nay, đại chúng có cảm thọ như thế nào?
Sư cô Hạnh Đức:
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên sư phụ, kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Kính bạch sư phụ, thật sự nãy giờ cảm thọ của con rất bình an, nhưng tự nhiên nghe được ba câu trong bài của sư phụ, con chợt thức tỉnh, chúng ta đi tìm cầu Thánh Tăng trên khắp hành tinh, nhưng khi thấy được ngũ uẩn mới hiểu ra rằng Thánh Tăng đó chính là mình. Tới lúc đó con mới hiểu, sự bình an thật sự này có cảm xúc rất lạ, sau đó con quay về ngay lập tức, một sự thọ nhận có cái dục, cái tham ở trong, con lập tức đánh nó ra, quán thọ này là vô thường, không được an trú trong đó, nhưng vẫn chưa tan được. Sau đó, con rõ biết thọ khởi, rõ biết thọ an trú, rõ biết thọ chấm dứt, tự nhiên lúc đó ở trong con thật sự có một cảm giác nhẹ nhàng. Cho nên con thật sự cám ơn sư phụ, thật sự Thánh Tăng chính là mình, quay về tìm trong đó mới thấy được Chánh Pháp, thấy được rõ nội tâm của chính mình.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư phụ: Dục ở trong cảm thọ là dục gì?
Sư cô Hạnh Đức: Cái dục, nó thúc giục thích cảm giác bình an.
Sư phụ: Có hỷ lạc không?
Sư cô Hạnh Đức: Dạ có.
Sư phụ: Vậy đừng diệt, cứ để nó sung mãn.
Khi tu học, có những cảm thọ hỷ lạc, hoan hỷ, hạnh phúc dào dạt, lan tỏa thì mình hãy làm cho cảm thọ đó bung ra, rộng lớn ra, tăng trưởng quảng đại, thấm nhuần hết từ đỉnh đầu đến gót chân, làm cho nó lan tỏa ra khắp khoảng không gian trời đất, chứ cái thọ đó không cần bỏ. Thật ra con muốn cho đại chúng có hỷ thọ nên con mới mở bài Về núi yên tu để cho sanh khởi hỷ lạc trong sự tu học mà mình đang thực tập. Cho nên khi sanh khởi lạc thọ, đừng kiềm chế, đừng đánh đuổi, rất cần những cảm giác hỷ lạc, hãy làm cho nó sung mãn, làm cho nó tràn ngập, thấm nhuần, thắm đượm khắp tất cả châu thân của mình. Hãy để cho cảm giác bình an, hỷ lạc, an tịnh trong sự hoan hỷ của pháp, của viễn ly được sung mãn.
Sư cô Tuệ Đức:
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch quý thầy, quý sư cô, cùng toàn thể đại chúng. Khi ngồi dưới thất của sư phụ, nghe được bài “về núi yên tu thật tuyệt vời”, cảm thọ của con cảm thấy rất an bình. Con suy nghĩ đây là một cảm thọ con khao khát, cũng như ý tưởng của con đã thành sự thật. Nhờ những câu tác ý của sư phụ làm phát sanh khởi niềm hoan hỷ, sách tấn chúng con tu tập trong hiện tại.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư Cô Tuệ Tâm:
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính thưa sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Thưa sư phụ, lúc này, ngồi ở đây được nghe bài tác ý của sư phụ, trong tâm con rất hoan hỷ. Trong tưởng của con quay về những hình ảnh về ngồi chùa ngày xưa con ở, con so với hình ảnh bây giờ, hiện tại con được ngồi ở nơi này, ngay vùng đất, vùng núi này. Con cảm thấy rằng con rất hạnh phúc, rất bình an, có pháp của sư phụ dạy dỗ đúng như con mong ước. Cho nên con cảm thấy rất viên mãn, hoan hỷ và hạnh phúc. Con cám ơn sư phụ.
Phật tử Như Ý:
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con cũng có tìm hiểu, đi thiền viện một số nơi, nhưng từ khi con lên núi này, đến nay đã được 12 ngày, ngày nào con cũng nhận ra được một số điều mà con cảm giác là không bao giờ con nhìn nhận ra được từ tu học đến đời sống. Ở đây, con cảm nhận được một tình yêu luôn thấm nhuần trong người con, tràn ngập trong tâm hồn sự yên bình và con thấy dễ chịu. Trên bước đường tu tập, thuận theo giáo pháp của Như Lai, qua sự hướng dẫn của sư phụ, quý thầy và quý sư cô và đại chúng ở đây, con thấy mình tiến bộ hơn rất nhiều. Con biết nhìn nhận những cảm giác và có thêm sức mạnh nội tâm để kiềm chế những cảm giác tiêu cực, những đam mê và sân hận của con. Trên phương diện ngồi thiền, đây là khoảng thời gian con ngồi thiền nhiều nhất, con ngồi kiết già được kỷ lục là 45 phút, cũng là nhờ sự tinh cần của đại chúng đã làm cho con có động lực để cố gắng hơn. Con có từng nghĩ, sau này nếu xuống núi con sẽ gói ghém những ngày ở đây thành một hành trang, đây là một trong những ngày hạnh phúc nhất cuộc đời con, mang theo để hướng thượng trên cuộc đời này. Con cũng nghĩ, nếu không có những ngày ở đây thì con không nhận ra những điều hay ý đẹp, không được nuôi dưỡng, phát triển. Con cảm giác không lên đây thì con dễ đi theo bước đường không tốt, đi theo sự cám dỗ. Con xin tri ân sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư cô Liên Trụ:
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con kính thưa sư phụ, trong thời gian qua, con được về ngôi chùa ở đây tu tập, thật sự trong tâm con rất hạnh phúc, rất hoan hỷ. Con thấy trong tâm con rất thích tu tập trong môi trường này. Thầy đã tổ chức, hướng dẫn, cho chúng chỗ ở. Con thấy mình được ở trong một đại chúng tu tập, có kỉ cương, thanh quy, phép tắc, đời sống có giới luật, có đức hạnh, biết phòng hộ, biết sống oai nghi, biết quay về tâm mình để tu sửa. Con thật sự rất thích, rất quý một môi trường tốt như thế này. Con có một điều khó theo, bản thân con từ nhỏ trong người có bệnh, con không có sức khỏe tốt, con kính xin sư phụ trong bốn thời theo đại chúng tu học, những lúc như thế này trong người con không được khỏe lắm, con xin Sư phụ cho con được nghỉ một thời trong buổi sáng. Nếu hôm nào con khỏe con xin cố gắng theo đủ bốn thời. Thưa đại chúng, đây là điều khó khăn con gặp phải, xin sư phụ từ bi hoan hỷ chấp nhận cho con. Con cũng kính xin quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng từ bi hoan hỷ chấp nhận cho con. .
Con cũng kính thưa sư phụ, lúc nãy con có hỏi chú cắt cỏ ở tháp sư cô Hạnh Trí, con có một lỗi lầm, con kính xin sám hối. Ngày hôm qua, điện thoại của sư cô Hạnh Trí không tìm thấy, sư cô nhờ con gọi có tiếng chuông để tìm, khi con gọi thì điện thoại khóa máy, không có nghe tiếng chuông, sư cô nói tìm cũng không thấy điện thoại từ sáng đến giờ. Xong rồi, trong tâm con rất nhanh có khởi lên tâm nghi, con nghĩ điện thoại này khi tìm không thấy, gọi thì cũng khóa máy, con hỏi sư cô, “điện thoại sư cô sáng có khóa máy hay không?”, sư cô nói không, khi đó con khởi lên tâm nghi ngờ, chắc là cái điện thoại đã mất rồi. Lúc đó, con có tâm nghi ngờ, từ sáng đến giờ xung quanh đây không có ai, chỉ có chú cắt cỏ thôi, con đã khởi lên suy nghĩ như vậy. Sau đó sư cô Hạnh Trí tìm được điện thoại, con rất tội lỗi khi khởi lên tâm nghi như vậy, đó là một tâm bất thiện. Xin sư phụ và toàn thể đại chúng chứng minh cho con, con sẽ cố gắng tu tập để từ bỏ những tâm bất thiện nơi tâm con. Lúc nãy con có hỏi chú cắt cỏ là ai, thì mới biết chú cũng có mặt ở đây, con bây giờ xin đảnh lễ sám hối với chú, xin chú tha lỗi, con đã khởi lên tâm bất thiện nghi ngờ chú.
Sư cô Hạnh Đức:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Bạch sư phụ, con có hai vấn đề hiện gặp chướng ngại, xin sư phụ từ bi chỉ dạy cho con. Thứ nhất, lúc nhỏ con có một nỗi sợ ăn rất sâu, cho nên hiện tại con đang điều tiết hơi bị khó khăn là con sợ con rắn. Lúc nhỏ con sờ trúng nó, từ lúc đó ấn tượng của con sâu sắc. Trưa nay, con gặp nó ở đống củi, lúc đó cái sợ của con bật ra, con biết nếu sợ như vậy thì không được vì con biết sau này ở đây lâu thì sẽ còn gặp nó nữa. Lúc đó con tác ý không được sợ, con đứng nhìn nó một lúc lâu, và tác ý, nhưng cái nỗi sợ thì vẫn như vậy. Nếu có những nỗi sợ quá sâu sắc như thế thì dùng cách gì để điều tiết lại và tác ý như thế nào để bớt sợ, xin sư phụ chỉ dạy cho con.
Thứ hai, sư phụ có chỉ dạy cách giữ lại, con xin hỏi đôi khi có lòng xót thương hay lòng từ mà trong đó con thấy có niệm lưu luyến thì lúc đó mình phải xét trong đó thật sự có từ tâm hay như thế nào, nên giữ lại hay nên tác ý cho nó tan đi. Con xin cảm ơn sư phụ.
***
Trong mỗi người, có rất nhiều nỗi sợ hãi, ngoài đời người ta sợ nghèo, sợ xấu, sợ bị chê, sợ bệnh, sợ tai nạn, sợ già, sợ chết, sợ thua người khác... Tất cả những nỗi sợ đều có liên hệ với nhau, trong đó có những nỗi sợ hiện ra rõ rệt nhất. Trong buổi pháp thoại vừa rồi con có đọc bài kệ:
Nhân ái sanh ưu,
Nhân ái sanh bố,
Biệt ly ưu ái,
Hà ưu hà bố.
Vì có sự tham ái mà mình lo, mình sợ. Như vậy, nếu lìa tham ái thì không còn lo sợ. Ái ở đây là ái với tự ngã, mình sợ những con đó hại mình, sợ bị người ta chê, sợ người ta nói mình không giỏi giang, sợ đứng lên phát biểu bị run, bị chê dở, mình muốn mình nói giỏi, nói hay… Tất cả những nỗi sợ bắt nguồn từ tham ái, sâu vào nữa là bản ngã. Thứ nhất, phải quán xét rằng con rắn là ngũ uẩn, mình cũng là ngũ uẩn. Do ác nghiệp, nó có một hình dáng ngũ uẩn gớm ghiếc, xấu xa, xấu xí. Vì trả nghiệp hiện ra tướng xấu xí, ác độc, đáng sợ như vậy. Điều đáng sợ thật sự không phải là hình dáng của con rắn mà là ác nghiệp trong ngũ uẩn, vì ác nghiệp nên mới hiện ra thân như thế. Thay vì sợ hình tướng con rắn, mình hãy sợ ác nghiệp tạo ra hình tướng đó. Bước thứ hai, trải tâm từ đối với nó, xót thương chính mình và xót thương tất cả những chúng hữu tình, tất cả những thân ngũ uẩn phải gánh chịu đời sống không chân, bò sát, trốn chui trốn nhủi, người ta gặp thì đập, giết, hoảng sợ… Mình xót thương, chuyển tâm sợ thành tâm thương. Tâm thương này là một tâm bi mẫn, trắc ẩn, xót thương, trong đó có mình, có ngũ uẩn của con rắn đó và có vô lượng ngũ uẩn khác trong vòng ác nghiệp, trong vòng nhân quả luân hồi, trong vòng tâm ác nghiệp tạo ra thân có độc. Đáng sợ và xót thương cho cái tâm, cho ngũ uẩn ác độc, trải tình thương, trải lòng từ, trải lòng bi mẫn, nguyện cho tự thân mình lìa khỏi những tâm ác, tâm độc. Nguyện cho thân của con rắn ngũ uẩn đó được thoát khỏi những tâm niệm ác độc. Nguyện cho khắp tất cả hữu tình chúng sanh xuất ly ra khỏi tâm ác độc, không còn tấm thân không chân bò sát đáng sợ, đáng ghê tởm.
Nếu Minh Thành không tu tâm từ, Minh Thành cũng bị rắn cắn nhiều lần rồi. Lúc ở Vũng Tàu, con đem bộ Hán Tạng, Đại Tạng lên trên núi nhập thất. Ngày xưa Hòa thượng Thanh Từ, Hòa thượng Nhất Hạnh có nhập thất ở đó – chùa Quán Âm Phật Đài ở bãi giữa Vũng Tàu, trên núi. Chỗ đó có nhiều rắn độc và có người từng bị cắn chết, Minh Thành nghĩ: “Thôi kệ, mình tu, nếu đúng nghiệp quả thì mình chịu thôi, mình đi tìm chỗ tu chứ đâu có muốn hại các chúng sanh đó.” Khi lên tu, có một buổi trưa, nghỉ trưa trên võng, con rắn nó đùng đùng trên nóc nhà, Minh Thành kệ nó, cũng nhắm mắt, không mở mắt ra. Sau đó, nó đùng đùng trên mái nhà hai ba lần nữa, Minh Thành mở mắt ra xem thử, thì nhìn thấy một con dài hơn 1,5m, hỏi lại mới biết là rắn rồng. Minh Thành nói: “Kệ, trên nóc nhà chớ đâu phải dưới này đâu”, nhưng cũng không yên, một lát mở mắt nhìn thử, xem có đi ra ngoài chưa, vẫn chưa đi. Minh Thành lấy cái cây động động ở mẫy chỗ gần gần để đuổi đi, khi đó mình trải tâm từ. Từ xưa đến nay, bất cứ gặp loài vật nào, Minh Thành đều nói ba pháp quy y và trải tâm từ hết. Bất cứ lúc nào gặp con vật, nhất là lỡ đạp trúng hay gì đó, là phải dừng lại, nói ba pháp quy y và trải tâm từ.
Rồi một hôm, giữa đêm đi vệ sinh, cái thất riêng, toilet riêng, phải đi ra ngoài khoảng 7m, lúc đó cầm cái đèn pin mà pin đã gần hết, mờ mờ, chỉ cầm cho có. Minh Thành bước đi, tự nhiên chân lạnh lạnh, nhìn xuống thấy con rắn ngóc đầu lên. Hỏi lại thì biết đó là rắn độc, mổ trúng là chết liền, vì vùng đó là vùng rắn độc. Lúc đó Minh Thành tiếp tục nói ba pháp quy y và trải tâm từ.
Lần thứ ba cũng trên thất đó, đồ dơ để bên góc giường, có khi mấy ngày mới giặt một lần, có khi cũng không thay đồ, thấy cần thiết lắm mới thay chứ không phải mỗi ngày mỗi thay. Hôm đó Minh Thành cầm đồ đi giặt, để xuống, con rít bò ra, to bằng ngón chân cái trong bộ đồ, Minh Thành tiếp tục nói ba pháp quy y và trải tâm từ. Có một thầy huynh đệ cũng đi lên phụ dịch kinh, thầy này rất tha thiết xin Minh Thành phụ dịch sách Tịnh Độ. Thầy ngủ dưới đất ngoài chánh điện, ổng ngủ nghe cộm cộm ở vai, giũ mạnh thì một con rít to rơi ra, mà thầy đó tâm rất từ, con rít dài hai tấc mà không cắn gì hết.
Ngày xưa Minh Thành đi lang thang, nhập thất hết chỗ này đến chỗ kia. Trước khi thành lập Linh Quy Pháp Ấn, Minh Thành nhập nhất nhiều chỗ lắm, nơi nào yên tĩnh, có núi trên cao là Minh Thành đến xin nhập thất. Và trước khi nhập thất thì Minh Thành đi cầu đạo khắp mọi nơi. Về trên đây, khi lên tới đây, đầu tiên là phải trải tâm từ và ba pháp quy y cho khắp hết thảy tất cả chúng sanh, phi nhơn, hữu tình. Lần nào gặp rắn cũng nói hết, xin thưa đại chúng, ở đây mười lăm, mười sáu năm, có rắn nhưng không ai bị gì hết. Nhiều lần gặp, không phải một lần, hình như ba lần, con đi dưới đường xuống thất, không biết loại gì, màu vàng nhưng trên đỉnh đầu màu đỏ, đang bò, con đi tới, nói ba pháp quy y và trải tâm từ thì dừng lại, không bò nữa, nói xong hết rồi mới bò tiếp, thì mình biết nó có linh tính, cảm nhận được lòng từ của mình. Mà không phải chỉ một lần, nhiều lần như vậy lắm. Cho nên, mình phải tin ngũ uẩn mình và ngũ uẩn của nó giống nhau. Nếu lòng thương của mình chan rải, lan tỏa một cách chân thành, chân chánh, đúng pháp thì chúng sanh hữu tình sẽ cảm nhận được.
Có một lần ở Úc Châu, bên Sydney, đang giảng pháp mấy trăm người, một con mèo khổng lồ nhảy lên pháp tòa, mọi người quýnh quáng đuổi, Minh Thành nói: “Thôi kệ, để nó nghe pháp.” Cũng bên Úc Châu, về 44’00.., chỗ đó nhiều bác sĩ, họ tu về Tứ Niệm Xứ. Hôm đó con đang đi bộ dọc bờ biển cùng các bác sĩ và nhóm Phật tử, có một cô người Úc, dẫn con chó rất to, cô ấy đang nắm dây dẫn đi như vậy, bỗng nó giật sợi dây khỏi cô chủ, chạy ào lại, ai cũng sợ không biết chuyện gì, con cũng hơi giật mình; nó chạy lại, quẩy đuôi quấn quanh. Con cũng nói ba pháp quy y và trải tâm từ cho nó. Vẫn còn tấm hình chụp, cô chủ cũng rất bất ngờ, tất cả bác sĩ rất lấy làm lạ. Không phải chỉ một chuyện, mà rất nhiều lần như thế. Và có một điều đặc biệt, lúc về giảng pháp ở chùa Pháp Đăng của Sư ông, có chú Minh Phú chứng kiến, chú nhắc Minh Thành mới nhớ. Mọi người đang ngồi trong giảng đường nghe pháp, giảng được khoảng mười phút, ổng từ ngoài cửa sổ bò vô, nhảy xuống, đại chúng hết hồn, nói đó là rắn độc. Ổng đưa cái cổ cao lên, mọi người sợ hãi, kêu đuổi đi, con nói “Thôi kệ”. Giảng hết thời pháp, mọi người đi ra hết, ổng mới từ từ bò ra.
Cho nên, tất cả chúng sanh đều có tánh linh, có tâm thức, mình phải tin tưởng vào pháp. Mình sợ là sợ lòng tin vào pháp chưa vững mạnh, vì pháp là nhân quả, là nghiệp báo. Nếu không có nghiệp quả thì không ai hại mình được. Phải tin chắc vào nhân quả nghiệp báo, tin chắc vào từ tâm có thể hóa giải được oan gia trái chủ thì tự nhiên nỗi sợ của mình sẽ lắng dịu xuống. Mỗi ngày mình thực tập trải tâm từ, trải tới những đối tượng làm mình sợ, mỗi ngày thực tập một chút. Từ khi thành lập Linh Quy Pháp Ấn đã 15-16 năm đến nay, không có một người nào bị vấn đề về rắn.
Đức Phật dạy các Tỳ-kheo vào thời Ngài còn tại thế là trải tâm từ khi ở một mình ở trong rừng vắng, trong hang động, núi sâu, những chỗ có phi nhân (bây giờ mình nói là ma quái). Các Ngài trải tâm từ thì các Ngài được bình an; chúng sanh, những phi nhân đó cũng được bình an, và dân chúng cả vùng đó cũng được bình an. Tâm từ tuyệt diệu lắm, hóa giải nghiệp chướng, cởi mở oan gia trái chủ và dập tắt sợ hãi, mang về sự bình an, an ổn, yên lành cho chúng sanh. Một người có tâm từ đầy đủ, tập tâm từ cho sung mãn, thành cỗ xe, thành căn cứ địa, thì người này có thể xóa sạch hết mọi sợ hãi. Khi nào thấy sợ hãi thì biết là tâm từ của mình chưa đủ, cần phải tiếp tục trải tâm từ, tiếp tục tu tâm từ. Thực tập được tâm từ thì rất vi diệu, bình an.
Minh Thành ngày xưa nhà ở ngoài chợ, có đèn điện sáng đầy đủ, lúc 17 tuổi đi tu ở chùa sâu trong vườn, không có điện. Đêm đến mắc tiểu, Minh Thành không dám đi. Lúc mở cửa ra, bên ngoài đen thùi lùi, tối thui, lạnh nổi da gà, còn nhỏ nên mình sợ. Nhưng từ khi tu tập tâm từ, Minh Thành ở chỉ có một mình, ở trên rừng cao hơn nữa. Cho nên, mình phải thực tập để nhiếp phục, hóa giải các dòng cảm thọ; nếu chưa đủ mạnh mẽ để đối diện thì khoan hãy đối diện trực tiếp. Phải biết mình ở mức độ nào và từ từ tu tập, đừng vội đối diện. Những điều cần thiết là: nói ba pháp quy y, trải tâm từ, quán chiếu về các ác nghiệp. Mình sợ hãi về các ác nghiệp chứ không phải sợ hãi thân hình con rắn đó, tin vào nhân quả nghiệp báo, tin phải thật chắc chắn vào lòng từ và pháp thì sẽ được bình an.
Câu hỏi thứ hai, thấy tâm từ mà trong đó có sự luyến ái thì phải tác ý và trừ diệt. Ví dụ dễ thấy, cầm ly nước uống nhưng có con kiến trong đó, mình uống luôn con kiến hay bỏ ra? Cũng vậy, nhìn lại tâm mình chỉ có từ bi, tình thương không dính mắc thì mới sử dụng, còn nếu trong đó có dính mắc thì phải xem kỹ, phải bỏ nó ra, chứ không bỏ tâm từ. Phải nhớ điều này: bỏ sự dính mắc chứ không phải bỏ tâm từ. Mình hay bị cực đoan, khi bị dính mắc thì bỏ luôn tâm từ. Nếu tiếp xúc mà có dính mắc thì tránh xúc, cắt duyên xúc, cắt luôn được thì tốt, còn không thì hạn chế tối đa. Sân cũng vậy, biết trước người đó hay bị sân, thig ít tiếp xúc lại, hoặc tránh luôn, hoặc buộc phải tiếp xúc thì hết sức hạn chế, hết sức chánh niệm, tỉnh giác, cẩn thận khi tiếp xúc với người đó. Phải thấy chỗ nào sanh khởi ra si. Biết giờ thiền buổi khuya hay sanh khởi ra si thì phải tuyệt đối cẩn trọng, thấy chỗ nào nhúc nhích là phải trị, đưa nòng súng vô ngay chỗ đó, lên cò thường trực; chỗ nào thấy mình bị sơ hở, tiêu cực, thấy chỗ nào mình còn bị dở thì phải đề phòng hết sức cẩn thận. Còn thấy rồi cứ để như vậy thì khi nào mới xong, chừng nào mới hoàn thiện?
Lúc nãy sư cô sám hối là rất tốt, sự xúc cảm rơi lệ, đó là sự xúc cảm của trí huệ, của giác ngộ. Cô nhìn thấy được thân tâm, nếu điều đó cô không nói ra thì đâu ai biết, chỉ trong tâm mình thôi. Như Lai tuyên bố: “Này các Tỳ-kheo, tư duy tác ý tức là nghiệp”. Mặc dù chưa tỏ ra hành động, thậm chí chưa tỏ ra lời nói nhưng mình có suy nghĩ, nếu không có sự sám hối, nhìn nhận, tẩy rửa thì suy nghĩ đó cũng là một ác bất thiện pháp của ý nghiệp. Suy nghĩ đó lâu ngày sẽ thành quen, nghiệp là thói quen, khi gặp chuyện như vậy là sẽ suy nghĩ như vậy, mà suy nghĩ rồi thì sẽ phát ra lời nói, toát ra hành động, như vậy sẽ có quả báo. Cho nên nhìn thấy được trong suy nghĩ như vậy là rất tốt, đó không phải là xấu, mà đó là chánh niệm, sự tỉnh giác, đó là cảm xúc của trí huệ, của sự tàm quý, của thiện pháp. Đó là chúng ta được nuôi lớn, lớn mạnh trong pháp và luật của Đức Như Lai. Thế nên, chỉ sợ người có lỗi mà cứ trơ trơ, người ta nói đến thì sân si ngược lại, như vậy là quá tệ.
Người tu, mình nhớ có ba hạng người: không đợi người khác nói, đợi người khác chỉ, tự mình thường trực soi rọi lại thân, thọ, tâm, pháp.
Người thường trực soi rọi lại thân thể, hành vi, cử chỉ, oai nghi, thường trực soi rọi cảm giác, cảm xúc, cảm thọ, những suy nghĩ trong tâm, thường soi rọi ở bên trong những thọ, tưởng, hành, những cảm giác nghĩ tưởng có ác bất thiện pháp hay không.., để tẩy sạch, đoạn tận, nhiếp phục, trừ diệt mà không phải đợi người khác nói, tự mình biết, tự mình nỗ lực làm. Người đó là bậc thượng. Người mà để thầy nói, sư đệ, sư huynh, sư tỷ nhắc nhở thì mới làm, có khóa tu mới tu, không có khóa tu thì không tu, đến giờ đại chúng tu mình mới tu, đại chúng không tu thì mình không tu, đó là bậc trung. Còn bậc thượng là không phải giờ tu mà người đó cũng tu, không đợi đến thời pháp đến mới tu, đó là bậc thượng. Còn người đến thời khóa thì trốn, ví dụ bệnh, mệt thì không nói, điều đó bình thường, ở dưới vẫn có thể tu, còn đằng này là kiếm chuyện, bỏ thời khóa, hay là người ta chỉ lỗi thì không nhận lỗi để cám ơn mà còn sân hận, trách móc tại sao nói như vậy. Còn người hiềm hận, oán trách, trách móc, sân hận, phẫn nộ khi được chỉ bảo thì dạng đó là bậc hạ, không thể tu tiến được. Không nói mà mà là bậc thượng, nói mới làm là bậc trung, còn nói mà cũng không làm thì đó là bậc hạ. Đó là ngu, hiền và trí. Người tự thấy, tự biết mình, tự chăm sóc mình, tự phấn đấu, tự nỗ lực, tự tâm, tự cường, tự lập, tự tiến, tự vượt lên chính mình, đó là người trí. Người được chỉ dẫn, nhắc nhở thì làm theo, nghe theo, đó là dạng người hiền; còn có người chỉ mà cũng không thèm nghe, cứng đầu cứng cổ, đó là dạng người ngu.
Trong sự tu của mình, phải thường trực soi rọi lại thân tâm, thường xuyên, thường luôn, không phải đợi đến thời khóa. Tuy nhieen phải nhờ đến thời khóa buộc mình lại, vì mình mới tu nếu không có thời khóa là cứ sống với tập khí, cho nên chính thời khóa là cái đà lúc ban đầu. Nếu chúng ta không có thời khóa dày như vậy thì đại chúng rất khó tiến tu, thế nào cũng có chuyện. Thời khóa ít, lâu lâu là có phiền não, vì tiếp xúc với nhau, xúc sẽ sanh thọ, xúc sanh dục, xúc sanh nghiệp. Còn ở đây cho vào thời khóa, tức là xúc với pháp, xúc với tuệ, với thánh trí, xúc với chân lý, với thiện cho nên mình mới được an ổn.
Ví dụ, bây giờ mạnh ai nấy tu, không có thời khóa vô chung gì với nhau cả thì sẽ khác. Trừ bậc thượng, bậc trí mới được, còn những người trung trung là phải có thời khóa, nó mới kềm cọng, đưa vô khung, giúp mình hoàn thiện thân tâm. Cho nên, thời khóa đặt ra là vì tình thương, sự lợi ích cho tự thân mình, cho mọi người, cho đại chúng và cho những người tương lai về sau họ đến đây tu tập, chứ không phải chỉ là hình thức, bề ngoài, hay là do mình khó khăn. Đại chúng thấy, mình tu tha thiết, hiểu pháp, chân thành, bỏ này, bỏ nọ, bỏ chùa, bỏ học ở nước ngoài, bỏ bệnh hoạn khó khổ, bỏ thầy tổ, huynh đệ, bỏ gia đình, cha mẹ… nhưng có khi đến giờ tu cũng chống đối lại bỏ tu: “thôi, mệt quá, nghỉ đi”. Nếu trường hợp thật sự mệt thì được, còn vẫn có thể tu được nhưng ở bên trong lại bị con ma dục, con ma làm biếng, con ma buông lung phóng dật, nó vẫn xúi giục.
Cho nên, như lời Phật dạy: “Phải tự mình thắp đuốc lên mà đi, tự mình nương tựa chính mình”, tức là người trí. Luôn luôn sống quán thân trên thân, quán cảm thọ, cảm giác ở trong cảm giác, quán nội tâm mình xem trong nội tâm, cảm giác, thân thể có gì trong đó, cấu nhiễm hay thiện pháp. Cấu nhiễm thì đoạn diệt, thiện pháp thì tăng trưởng, đó là quán pháp trên pháp, nói gọn là như vậy. Nghĩa là mình xem thân thể, hành vi, cử chỉ có phù hợp với oai nghi, giới hạnh học pháp hay không, từ bên trong cảm giác của thân, nội tâm, trạng thái của tâm như thế nào; ở bên trong tâm đó có cấu nhiễm, lậu hoặc hay không, nếu có là mình trừ diệt; có trí huệ, thiện pháp hay không, có thì mình phát huy tăng trưởng… đó là quán Tứ Niệm Xứ.
Suốt ngày phải nhìn thân thể, nhìn nội tâm của mình, một người biết nhìn nội tâm thì mới thấy được nghi ngờ của mình là bất thiện pháp, mới sám hối, mới cảm xúc. Còn người không quán tâm, không quán những cảm giác, nghĩ tưởng của mình thì người đó suy nghĩ rất là bình thường: “thấy vậy thì nói vậy, có gì đâu mà tội”, đó là vô văn phàm phu. Nếu nhìn thấy được những bất thiện pháp, nó nhỏ nhiệm như vậy thì là Đa văn Thánh đệ tử. Điểm khác biệt giữa vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử là không nhìn thấy thân tâm mình và nhìn thấy thân tâm mình.
Sư cô Tuệ Đức:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch Sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con pháp danh Tuệ Đức, xin trình pháp. Thưa Sư phụ, trong những giờ tu tập của con có nhiều khuyết điểm, xin thầy hoan hỷ, từ bi khai thị và chỉ dạy khuyết điểm đó cho con. Trên đường tu tập trong mấy hôm nay, cái tưởng của con hay về quá khứ, mà khi con tưởng về quá khứ thì nó có một sự xót xa do bản ngã con còn xâm chiếm, con chưa buông xả được, con tác ý phải đi ra, phải hỷ xả và xem như làm lại từ đầu. Khi tác ý mạnh, con có sự hỷ lạc. Xin thưa sư phụ, sự hỷ lạc của con có được nuôi dưỡng lâu không?
***
“Này các Tỳ-kheo, sắc, thọ, tưởng, hành, thức từ quá khứ, hiện tại, tương lai, thắng lược, thô tế, sai lệch, tất cả đều phải quán nó là vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng, tan hoại, hoại diệt, bại hoại, tiêu tan, tan nát, hủy hoại.” Có hai trường hợp để mình nhớ về quá khứ. Một trường hợp là cái tưởng về quá khứ hiện ra: những sắc tưởng, hình bóng, những cảm giác những suy nghĩ, nhận thức… của quá khứ mình đã trải qua, đã kinh qua, nó hiện về, kéo về, thì điều đó là mình không chủ động, nhưng tự động nó sanh khởi, đó là khác. Còn trường hợp do mình chủ động khởi lên để mang hết quá khứ ra để quán chiếu, lại là khác. Trường hợp của cô là trường hợp mình bị động chứ không chủ động, tức là nó tự sanh khởi ra. Những người lớn tuổi thường sống với quá khứ, trong những điều họ đã kinh qua, nếm qua, đi qua, trải qua. Thêm nữa là tâm thức quen với nghiệp thức, có những người quen sống với quá khứ hơn là với hiện tại.
Khi đó, mình phải biết và dùng Như Lý Tác Ý, dùng sự quán chiếu, tác ý: “Quá khứ đã đi qua, đã chết, quá khứ chỉ là ảo ảnh, mộng ảo, tan biến thành hư không hết rồi, đừng để những hình bóng, cảm giác, nghĩ tưởng đó ám ảnh, đeo bám, xâm chiếm, áp đảo thân tâm của mình. Có đáng hay không khi để những điều đó xâm chiếm nội tâm, nó áp đảo, giày xéo, tàn phá nội tâm của mình? Quá khứ đã chết, đã qua, đã hoại diệt rồi, đeo bám, vướng bận, mang vác để làm gì.” Mình tác ý nhiều phương diện, sử dụng luôn những hình ảnh đó để làm đề mục quán chiếu: “Đây là khổ, là nguyên nhân của khổ; đây là những thứ vô thường tan hoại, tan biến, trống rỗng, tham sân si, vô minh, bản ngã, chỉ là dục, ái thôi, không có gì trong này cả, không có gì để cho mình lưu luyến, mang vác, đeo đẳng, để làm gánh nặng cho mình”. Tác ý thường xuyên và liên tục để buông bỏ nó.
Sau khi tác ý mà những tưởng quá khứ tan, mình có hỷ lạc thì tốt, thì hãy xem hỷ lạc đó là thiện pháp hay có dục, tham ái, bản ngã trong đó? Nếu sau khi tác ý, mình nhiếp phục, thoát ra được và có hỷ lạc, thấy vui thì đó là thiện pháp. Mình cứ cho phép hỷ lạc đó dâng trào, tràn ra thấm đượm thân tâm của mình, vì đó là bổ dưỡng, thuốc bổ tinh thần trong sự tu. Còn suốt ngày chỉ thấy khổ, lậu hoặc, khóc hoài, quỳ lạy, sám hối hoài, lúc nào cũng tội lỗi.., như vậy là không có chất bổ dưỡng của tâm linh, mình sẽ tu không lâu, không có an lạc, hỷ lạc.
Do đó, ngoài những trí huệ để thấy được lậu hoặc và nhiếp phục, thì mình phải có một dòng hỷ lạc liên tục và thường trú trong đó sau khi mình đã đánh gục phiền não, lậu hoặc. Chiến thắng được một tên giặc thì cho phép mình vui lên: đẩy tan được một cái dục, đánh tan được một cái sân, làm cho nó lắng dịu xuống, hay phá tan được một cái sanh khởi bản ngã, thì sau đó mình cho phép mình vui, hoan hỷ, hỷ lạc, hạnh phúc và sung sướng. Y như một người vừa làm xong một công việc, họ sẽ được nghỉ ngơi, ăn uống, cũng vậy sự hỷ lạc hết sức cần thiết. Lâu lâu phải lấy những bài trong kinh Pháp Cú, kinh Nikāya, hay trong mấy bài tác ý của Minh Thành để đọc hoặc mở lên nghe:
Khả ái thay núi rừng,
Chỗ người phàm không ưa,
Vị ly tham ưa thích,
Vị không tìm dục lạc.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm A La Hán)
Ngồi thiền một mình ngoài trời, đọc bài đó lên, tác ý cảm thấy hạnh phúc, hoan hỷ với cảnh núi rừng này, đời sống này, với con đường Thánh đạo này, làm cho mình dâng trào lên cảm giác hỷ lạc, vui sướng trong sự tu tập. Núi rừng là nơi để các bậc Thánh, bậc Tôn giả, Hiền Thánh cư ngụ, là trú xứ của chư Thiên và các bậc Thánh, của các bậc ly tham. Cho phép lâu lâu mình được tác ý như vậy là hỷ lạc hết cả nguyên một thời. Thỉnh thoảng cho nguyên một thời ngồi ngoài trời, xem mây bay, chim hót, trúc lay, xem bình minh, tự cho mình hưởng thụ cảm giác viễn ly, xuất ly, xả ly xuất thế tục, một đời sống thanh cao, thanh thoát, cao thượng, thánh thiện mà mình đang sống. Đời sống này là đời sống hy hữu, hiếm có, khó gặp, khó được, đời sống mà ngay cả chư Thiên còn phải khát ngưỡng, mình được nếm trải sống đời sống này thì còn hạnh phúc nào bằng. Mình cứ cho hỷ lạc trào dâng, tràn ra khỏi lồng ngực, tràn lên đỉnh đầu, thấm nhuần, giống như nhảy xuống biển, thấm ướt hết từng lỗ chân lông, thấm hỷ lạc đời sống viễn ly, xả ly, xuất ly. Bài Về núi yên tu là để cho đại chúng phát triển hỷ lạc, nhớ bài đó khi ngồi thiền, hãy tác ý:
“Hạnh phúc cho ta, hoan hỷ, vui sướng thay cho ta khi giờ này ta ngồi ở nơi núi cao, rừng vắng, dưới chân ta là mây bồng bềnh, trên đầu ta là bầu trời vô tận, và tâm thức của ta là đượm nhuần Thánh Trí, Thánh Pháp của giác ngộ. Đời sống này là một đời sống cuối cùng, không còn khổ hữu nữa, sự quyết định về núi này rất tuyệt diệu. Một cú nhảy của ta là siêu thế, một quyết định của ta là tuyệt diệu, tối thượng, tối tôn, tối thắng, không thông minh nào bằng thông minh này, sự thông minh khi từ bỏ tất cả, lên núi cao để thực hành Thánh Pháp. Sung sướng, hạnh phúc thay cho ta, tối thượng, cùng cực sự hạnh phúc là đây, trong khi cha mẹ ta đang đau khổ trong nước mắt vì cơm áo gạo tiền, bạn bè ta mấy đứa con, bao nhiêu người ngoài kia gần mười hai triệu người đang nhiễm bệnh, bao nhiêu người phải chết.”
Lúc nãy trên đường Minh Thành đi về đây, có người bị tai nạn phải đắp chiếu, máu mủ chảy ra gần hai mét. Hôm qua ở thành phố cũng có tai nạn khủng khiếp. Ngoài kia đang khốn khổ, quằn quại, chìm ngập trong biển ái, dục, tham; đang bị thiêu đốt trong ngọn lửa sân hận ngục tù, đang bị gọng cùm kềm kẹp của bản ngã, vô minh, chấp thủ. Còn bây giờ chúng ta đang sống trong đời sống thoát ly, có chim hót, mây bay, có Thánh Pháp, có không khí, trong lành… còn hạnh phúc nào bằng.
“Tại sao không vui với đời sống này, tại sao không thấy vừa đủ, không thấy thỏa mãn, yêu thích đời sống này, không thấy hân hoan phấn khởi, tại sao?”
Mình phải tác ý mạnh như thế, thường trực tác ý. Khi tâm mình thoái thất, lười biếng hay muốn thoái lui, kiếm cớ để xuống núi.., thì phải tác ý thật nhiều. Phải biết tác ý hỷ lạc, đó là sự hưởng thụ của người tu, uống thuốc bổ của tinh thần. “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, nếu không tác ý thì pháp sao sanh khởi được, mình cứ nghĩ về cái vui, tham, dục, ái ở bên ngoài mà không biết cái vui khác. Đức Phật nói có cái vui khác, đó là cái vui của xuất ly, viễn ly, xả ly, thoát ly… đó là cái vui khi mình đang sống và thực tập Chánh Pháp.
Cho nên, Minh Thành thường cho đại chúng ngồi ngoài trời, sương lạnh một chút cũng không sao, cảm nhận trời cao đất rộng, cảm nhận tâm mình bao la, mở rộng tâm mình ra, cảm nhận tất cả một cách hết sức sâu sắc, trọn vẹn, bằng tất cả trái tim của mình trong sự tu học. Chúng ta phải cảm thấy hứng thú, vui sướng, hạnh phúc, phấn khởi, tràn đầy sinh lực sung mãn trong sự tu học, trong mình là một nội lực dào dạt, sung mãn, viên mãn. Còn tu mà cái mặt nhìn thảm, cứ than bệnh này bệnh kia, không tha thiết, hình tướng của bệnh rất nhiều, nghe pháp là nằm ngay tại chỗ giảng luôn. Phải dám bán mạng, hy sinh thân mạng của mình để tu học, cứ sợ bệnh sợ chết hoài thì sao mà tu. Chết ngay tại chỗ nghe pháp mới sanh Thiên, nhập Thánh, không được sợ. Ngay chỗ giảng pháp, thiền quán, đang trú trong pháp mà chết là mình sanh Thiên hoặc nhập Thánh trong tâm thái đó, cho nên chỉ sợ đi chơi mà chết, còn tu thì không có sợ chết.
Vì thế, phải Như Lý Tác Ý, biết tác ý rồi thì mình vui lắm. “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, phải thường xuyên, siêng năng tác ý. Mỗi lần thấy tâm mình động nhiều thì phải chỉ, thấy tâm trì trệ nhiều thì mình phải quán, phải tác ý. Cho nên sức của đại chúng mạnh tốt thì sẽ giúp mình nhiều, còn ở nhà thì mình sẽ tu không được như vậy. Tu từ 4 giờ sáng, ngồi nghe pháp đến 8-9 giờ sáng mà ngồi cười toe toét, hỷ lạc. Có mấy vị sư cô ở trường Trung cấp nói: “Trong đời tu chưa bao giờ chứng kiến thời khóa nào dài như vậy”, nhưng khi xong thời khóa thì mặt tươi tắn, khỏe không mệt. Cho nên chú Đức phải ráng lên, nam tử hán mà thua nữ nhi là không được, đó là chỗ tranh đua, tranh đua trong sự tu chứ không phải hơn thua. Người nữ nhưng người ta ngồi thẳng băng, sáng suốt như vậy, còn mình là nam vô ngồi cứ cà gật gà gật gưỡng. Khi ngồi thiền, tác ý, “Đáng thương cho mình, thê thảm cho mình, đau khổ cho mình, tại nạn cho mình, khốn nạn, khổ nạn, ách nạn cho mình, tại sao lên ngồi bồ đoàn là cứ ngủ”, cứ tác ý từ đầu đến cuối như vậy, hết ngủ thì mới hết la.
Sự tu rất phong phú, nhiều thể loại, nhiều phương pháp. Mình có thể tác ý hỷ lạc, hoặc la mắng mỗi khi nó cứng đầu cứng cổ, lui sụt… có rất nhiều phương pháp rất thiện xảo, rất thù thắng. Giống như trong nghệ thuật đóng phim, bộ phim hay có bao nhiêu cung bậc cảm xúc, chứ cứ đều đều thì làm sao lấy tiền người ta. Tu tập cũng vậy, vô số thiện xảo trong Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo, mình phải vận dụng, làm cho tâm mình được cân bằng, biết lúc nào sử dụng quán, hoặc chỉ, lúc nào sử dụng tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, biết lúc nào là xả, hỷ, biết lúc nào niệm giác chi. Thất Giác Chi phải được sử dụng tinh xảo, điêu luyện, làm cho nó thành cỗ xe, làm cho thành căn cứ địa, đây là bảy yếu tố giác ngộ. Phải khéo léo sử dụng, biết mình đang ở trạng thái của giác chi nào: trạch pháp giác chi hay niệm giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi. Đó gọi là quán pháp trên pháp, và pháp này là thiện pháp. Khi nào trong tâm mình có dục, ái, tham, sân, si, bản ngã thì phải biết mình ở trong dạng nào, ở mức độ nào, lúc đó là mình phải quán pháp trên pháp, ở đây là quán về bất thiện pháp. Còn tâm của mình, nhưng mình không biết gì hết, cứ ở trong trạng thái vô minh, si ám, ngơ ngơ ngáo ngáo, bên ngoài nói hoài mà còn không hiểu, huống chi bên trong không nói gì hết. Cho nên mình cần phải tinh tường, đó gọi là kỹ sư tâm hồn, là nhà kiến trúc sư vĩ đại của tâm linh và mình là một nhà lãnh đạo, đại tướng quân đại tài để điều hành một trận chiến tâm linh vô tướng, vô hình.
Tu không phải là ngồi đó nhắm mắt, nghe tiếng chuông “bong” là hết giờ thì đi xuống, tu là cần phải thao lược, tinh anh, sắc bén, rộng lớn, từ tâm, thiện xảo, khéo léo, vận dụng các pháp. Tất cả đề là tự mình thôi, quan trọng là mình phải muốn. Minh Thành hay nhắc về Tứ Như Ý Túc – tức là mình phải muốn, làm cho cái muốn đó mạnh lên, nỗ lực, để tâm trong cái muốn đó, tìm mọi cách thực hiện cho bằng được cái muốn đó. Có bốn cái đó tức là vạn sự như ý, có đầy đủ bốn điều đó là mình làm gì cũng được, tất cả pháp đều theo ý mình. Cái mình làm là diệt tham, sân, si, vô minh, bản ngã; cái mình làm là phá được vô minh uẩn, trừ được thân kiến, phá hoài nghi và giới cấm thủ. Chúng ta sẽ làm được nếu mình có bốn điều mạnh mẽ đó, có sự nỗ lực, để tâm, tìm đủ mọi cách để thực hiện cho bằng được, cộng với Chánh Tri Kiến của mình, như vậy là tứ đại thiên vương. Bao nhiêu thần lực dồn vô đánh một trận lớn, đánh thân tâm chính mình, chứ ngồi thiền mà buồn ngủ thì không được gì hết. Phải đập, tống con ma ngủ ra khỏi thân tâm mình. Chuyện đó có gì đâu mà làm không được.
Ở ngoài đời, mấy đứa trẻ 7-8 tuổi đi ở đợ, đi móc bọc, nhặt những đồ phế thải sáng đêm. Còn mình ngồi một tiếng không được là nhục nhã, phải lấy những hình ảnh đó để tác ý, quán chiếu. Phải tác ý, phải nỗ lực, trí huệ sanh là do tác ý. Những người đơ đơ, khờ khờ là do bên trong có cái si nặng, vô minh nhiều, tuệ quán không đầy đủ. Vì vậy phải tác ý thật nhiều cho nó bén nhạy, sắc bén lên, chứ không phải lúc nào cũng hiền hết. Có những lúc phải dùng hết sức mạnh của trí huệ, đại hùng đại lực, đại trí huệ, đại từ bi. Chứ đâu phải tu là chỉtừ bi không thôi, mà phải chiến thắng được những trận chiến ác liệt của tâm linh. Còn mình tu mà trơ trơ, tu trên hình thức, giờ giấc, tu bên ngoài thôi thì cuối cùng là một tấm thân đầy rẫy những lậu hoặc, cấu uế, không có thay đổi, tiến bộ.
Sư cô Tuệ Tâm:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Khi con đến chùa Linh Quy Pháp Ấn này, con thấy tâm hoan hỷ của con rất nhiều. Đôi khi con không kềm chế được, có những lúc, trong ngày đó con cảm giác con tu tập an lạc, cảm thấy hoan hỷ, tối đó con về làm thơ, đăng trên mạng, sau khi xong con rất vui cũng rất lo. Sư phụ cho con hỏi, con làm thơ như vậy con có bị phạm tam quy hay phạm điều gì không? Thơ của con là con thể hiện tâm hoan hỷ, cả ngợi pháp, nhưng tâm con sợ một là bị phạm oai nghi, hai là tâm tu của con thấp, còn sơ cơ, làm như vậy thì không biết có đúng không? Sư phụ cho con hỏi là con có nên bỏ thói quen này không?
Sư phụ: Đọc bài thơ cho đại chúng nghe đi.
Sư cô Tuệ Tâm: Kính bạch sư phụ, con không nhớ, và con cũng không đem theo điện thoại.
Sư phụ: Ý, nội dung của bài thơ đó là như thế nào?
Sư cô Tuệ Tâm: Lúc đầu là con cám ơn đời đã cho con nhiều đau khổ và thử thách. Chính những đau khổ và thử thách này mà nay con thấy được pháp, con thấy con có những bước tiến, con viết hơi dài nên không nhớ nhưng nội dung là con muốn ca tụng dòng pháp Nikāya, có chữ Nikāya trong bài thơ.
***
Tu tập có hỷ lạc để diễn lại thành những bài thơ thì điều đó tốt, không có lỗi, nhưng đăng thì khoan hãy đăng, từ từ đăng sau, vì khi đăng lên sẽ có like, thả tim gì ở dưới… ít nhiều gì mình sẽ vui buồn theo cái đó. Ví dụ như hôm nay được nhiều người thả tim thì mình vui, hôm sau đăng bài rồi ít người thả tim quá, như vậy là mình bị những cái bên ngoài tác động. Thêm nữa, trong giai đoạn này mình còn mới, cần tu tập cho vững chắc. Những gì cảm nhận được cứ để lại, để dành đó, lâu lâu mở ra đọc để nuôi dưỡng cảm thọ cảm giác hỷ lạc, tiến tu. Sau này đủ duyên chia sẻ thì lúc đó mình sẽ cúng dường cho đại chúng, còn bây giờ thì không vội.
Nói điều này Minh Thành mới nhớ, đại chúng còn thiếu nợ những bài thu hoạch, bài trình pháp, kêu viết mà không thấy ai nộp bài. Mấy sư cô Bình Định dự khóa tu có viết bài rồi, mai mốt làm quyển nhật ký là Kỷ Yếu Linh Quy, vì vậy chúng ta nên viết bài. Điều này rất tốt để giữ lại những cảm xúc, những sự thấy biết trong thời gian, khoảnh khắc đã tu học. Sau này đọc lại mới thấy sao lúc đó mình được hay như vậy còn bây giờ thì sa sút; hoặc sau này tiến hơn, khi đọc lại, thấy lúc đó cái này mình chưa được thấu đáo, còn bây giờ thì đã có thay đổi. Mình viết bài, tập viết, ghi chép lại, hay biết làm thơ, có cảm xúc thì cứ làm, nhưng nhớ làm thơ pháp thì được, đó cũng gọi là một cái Chánh Ngữ, chia sẻ pháp thì tốt, không sao, nhưng đừng đưa lên mạng vì lúc này chưa phù hợp.
Mấy hôm nay tâm chú Như Ý về pháp như thế nào? Đối với sự đóng góp vào công cuộc ban văn hóa Pháp Ấn để in ấn kinh sách thì chú có suy nghĩ mới, tiến triển gì không?
Phật tử Như Ý:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.
Ban đầu con lên đây để tìm được sự an tịnh, một phần là cầu đạo nhưng cũng có một phần tìm sự an tịnh để sau này về dưới đó con tiến triển hơn trong công việc. Trong công việc của con hằng ngày phải đối mặt với sự tham lam, vui buồn, sợ hãi, tức giận, chờ đợi, hy vọng. Công việc của con là đầu tư ngoại hối, giống như đầu tư chứng khoán, lúc nào mình cũng chấp vào, mong cầu, hy vọng là nó đi theo mình, nó không đi thì mình tức giận, nó không đi thì mình chờ đợi, hy vọng; có khi sợ hãi, có khi mình bản ngã, rằng mình quá giỏi trong thị trường này. Khi lên đây, con tìm hiểu về thiền, con lại thấy sợ cái áp lực dưới đó. Khi gặp khách hàng, lời không con nói thành có, con phải dẫn dụ để người ta bỏ tiền ra cho con đầu tư kiếm lãi; con tự lừa mình, tin vào cách đầu tư sẽ sinh lãi, cho nên mình đã vẽ ra một viễn cảnh tươi đẹp cho người ta thấy, người ta sẽ bỏ tiền cho mình đầu tư. Sau khi lên đây được sư phụ hướng cho sự biên tập, thưa sư phụ, con lại thấy ra một con đường mới, một con đường cho tương lai của con, được tiếp xúc với thiện pháp sau khi xuống núi, không phải làm ác nghiệp, nói lời không đúng với người ta. Khi lên đây, con được nghe chỉ dạy sư phụ, của mọi người và đọc sách của sư phụ, con dấy lên một sự hổ thẹn về mình khi đã quá vô tâm với gia đình, con lại có sự mong muốn khi xuống núi có nhiều thời gian để báo hiếu ba mẹ và chăm sóc gia đình. Tình cờ sư phụ cho con một con đường thuận cả ba hướng. Thứ nhất, khi xuống núi con sẽ tiếp tục biên tập cho sư phụ, con vẫn trang trải được cuộc sống; thứ hai là con có thời gian chăm sóc gia đình và báo hiếu cha mẹ; thứ ba là khi con không tạo ác nghiệp nữa, con vẫn tu tập trên con đường này, con sẽ tự đầu tư bằng chính bản thân con, bằng năng lực thật sự của con, con vẫn tiếp tục trong công việc trước đây của con. Con hạnh phúc khi nhận ra được con đường toàn vẹn cho cả mình, gia đình của mình và giúp được trong công việc hoằng pháp. Tâm của con rất hạnh phúc, thưa sư phụ.
Sư phụ: chú Thiện có muốn chia sẻ gì không?
Phật tử Thiện:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.
Thưa sư phụ, con đi chùa chỉ có một mục đích, trước đây cuộc sống của con có nhiều biến cố, nên con lên đây để tìm sự yên tĩnh, nhìn lại mình muốn gì, mình đã làm những gì.., để có thời gian nhìn lại mình và sẽ tiếp tục trong công việc của mình. Con chưa biết về đạo tràng Nikāya, con chưa biết sư phụ và những bài pháp của sư phụ. Nhưng nhờ phước báu, con có duyên gặp được sư phụ, gặp được những bài pháp của sư phụ, biết được đạo tràng Nikäya. Từ đó con mới nhìn được chính sự ngũ uẩn, con học được nhiều bài học từ pháp của sư phụ. Con nhìn được ngũ uẩn, nhìn được trong thâm tâm con cái bản ngã và sự tham sân, dục vọng, si mê của con rất cao. Con biết được, để hạ thấp đi bản ngã của mình, hạ đi dục vọng si mê của mình thì không phải là chỉ mười ngày tu tập, mà là cả một quá trình dài tu tập. Con biết sau khi xuống núi, càn phải áp dụng được lời dạy của sư phụ, trong cuộc sống, con sẽ phát triển nhiều hơn trên công việc cũng như thân tâm của mình. Điều hay nhất con học được chính là tâm từ. Cám ơn sư phụ đã cho con nhiều bài học quý giá để làm hành trang trong cuộc sống của con.
Con xin chia sẻ những khó khăn của con trong mười ngày qua, con chưa hiểu những ngôn từ trong Phật Pháp, cho nên gây ra sự khó khăn của con trong sự hiểu biết. Những bài pháp của sư phụ dạy con chỉ hiểu được 50%. Con mong sau khi quay về, con sẽ có nhiều cơ hội để lên đây học tập, con cám ơn sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng.
***
Chúng ta cùng trải tâm từ đến những người khốn khổ, nước cuốn trôi cả một thôn làng, chết chóc, tai nạn, chiến tranh, động đất mang theo tang tóc, tang thương khắp hành tinh, những điều đang diễn ra chưa từng có trong lịch sử. Nguyện cho hết thảy chúng sanh vượt qua kiếp nạn này, bình an, quay về với Chánh Pháp. Nạn cháy rừng, cả hàng ngàn người mới dập tắt được. Trong nước, ngoài nước, trên cả thế giới đang ngập chìm trong những tai nạn lớn. Chúng ta hãy trải tình thương đến hết tất cả muôn loài khốn khổ./.