Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

4 Dòng Thác Lũ 8 (Bốn Ách - Bốn Bộc Lưu) - Vô Minh 2

2026-03-03 00:55:17
Nikāya Giảng Giải

4 Dòng Thác Lũ 8 (Bốn Ách - Bốn Bộc Lưu)

Vô Minh 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vô minh PAGEREF _Toc156587833 \h 1

II. Tu tập tâm PAGEREF _Toc156587834 \h 9

I. Vô minh

Kính bạch chư tôn hiền đức và các chư vị hiền trí, hôm nay chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm về vô minh bộc lưu, dòng thác lũ của vô minh. Có rất là nhiều bản kinh, trong chuyên đề vô minh quý vị có thời gian thì đọc thêm mấy chục bài kinh. Thế Tôn nói về những khía cạnh của vô minh thì Thế Tôn không có nói một chiều mà ngài nói rất nhiều phương diện, có người hỏi vô minh thì ngài trả lời như vầy, người khác hỏi vô minh thì ngài lại trả lời ở một khía cạnh khác, một vị khác hỏi thì ngài lại trả lời khác nhưng tất cả các khía cạnh đều đưa đến hướng phá tâm mê.

Sáng nay khi ra cửa thất, khi đóng cửa thì nghe tiếng động, xem kĩ lại thì con ốc văng ra dù chưa chết, mình trách bản thân tại sao không chịu nhìn trước nhìn sau, đó là một khía cạnh của vô minh, mình không thấy không biết có con ốc đang nằm cạnh cửa. Hôm trước chúng ta nói về khía cạnh quên, bữa nay chúng ta nói thêm một khía cạnh khác của vô minh nữa là không có nhìn trước nhìn sau, làm cái gì mình không nhìn trước nhìn sau, có khi mình đi mà lo nhìn bông hoa, nhìn phía trước chứ không nhìn dưới chân rồi đạp những con vật.

Lâu lâu chúng ta có bị như vậy không? Đó là vô minh, không chánh niệm tỉnh giác, không quán sát, có nhiều khía cạnh chứ không phải mình nghĩ đơn giản là mình học bài là xong, rất nhiều từ ngoại cảnh rồi thân cho đến ở trong tâm, mà đây là mình nói ngoại cảnh là còn dễ hiểu, thân là bắt đầu hơi khó, vô tới tâm thì cực kì vi tế, Đức Phật gọi là mình nội xúc, xúc chạm với vô minh cho nên tới bậc A-la-hán mới hết vô minh, hướng A-la-hán vẫn còn vô mình. Khủng Khiếp chưa?

Con hay muốn dùng những từ ngữ hết sức bình dân, bình dị để ai cũng hiểu được, trong giai đoạn này của chúng ta tu cỡ này, ví dụ như người xưa nói là ăn coi nồi ngồi coi hướng, tức là mình làm cái gì có dòm trước sau, ngó trong ngoài, một trong những đặc tính để trở thành vua trời Đế-thích lãnh đạo 33 tầng trời, 33 cung ở trời Đao Lợi là sự cẩn trọng. Một người không có cẩn trọng thì không thể Nhập Lưu được, ở đây chúng ta học thêm mấy khía cạnh nữa là cái khía cạnh ngó trước dòm sau và một khía cạnh cẩn trọng, cẩn thận, chủ đề này là rộng lớn thâm sâu, hai chữ vô minh này khủng khiếp lắm.

Mình nói là ăn coi nồi ngồi coi hướng là sao? Mình nói ngó trước dòm sau là làm sao? Nhiều khi chia sẻ pháp xong con ngồi lại cho các vị mà con biết có các vị mới lên người ta cũng ngại, người ta cũng sợ, không dám lên chào cho nên con mới ngồi lại để cho các vị mới lên người ta chào, người ta muốn thưa cái gì đó, hỏi gì đó thì các vị ở trong chùa mình, chúng trong chùa mình bước ngang vậy đó rồi quỳ nói chuyện hoài, người ta đứng ngoài sau người ta chờ, tức là mình không có ngó trước dòm sau.

Nhiều lần như vậy, khi vị này nói một hồi lâu rồi đứng dậy mới nhìn thấy người sau thì con mới gợi ý cho vị này biết, tức là mình không có ngó trước dòm sau, lúc đó là đang vô minh, dù là thiện pháp nhưng lại là thiện pháp trong vô minh vì mình ở đây, chừng nào mình nói không được, người ta nhiều khi đi lên là trong ngày người ta về hoặc là bữa sau người ta về mà người ta có nhiều điều muốn nói, đó gọi là ngó trước giờ dòm sau. Cái này con bạch các bậc tôn đức, các bậc hiền trí có nhiều không? Có ngó trước dòm sau kĩ không? Có nhiều cái lắm, kể sợ đại chúng nản lòng.

Con có nhiều cái thật sự rất khó nói, cũng như con dặn bao nhiêu lần cái chỗ Thánh Pháp Viện là cái sát đất của người ta nên phải rào cái lưới kẽm thì con trồng cái dây leo để che kẽm lại cho có mỹ quan, cảnh thiên nhiên, có cái hàng rào nó xấu, con dặn bao nhiêu lần là trồng cái cây đó là một năm rưỡi, hai năm rồi mà không có ra, không phải là trồng không ra mà lên bao nhiêu là nhổ hết.

Kêu làm cỏ mà cứ ngay cái cây mình trồng là nhổ đầu, ít nhất cũng phải năm lần, tức là làm không có ngó trước nhìn sau, không cẩn trọng, không biết thì hỏi quý thầy, hỏi cái này làm được không hay là cái này là chùa mình trồng tại vì cái hàng rào mà cái lá nó bự vậy chứ đâu phải nó cái lá nó nhỏ như cọng cỏ đâu mà lại là cứ ngay đó bứt, cắt, nhổ, đó là không có ngó trước nhìn sau, đó là vô minh, làm công quả nhưng mà làm trong vô minh, trình pháp mà trình trong vô minh, hồi nãy đứng làm tới luôn trong khi người ta ở đằng sau chờ nóng ruột.

Con nói nhiều điều để chúng ta thấy có những việc rất vi tế, con vào quán nào là con ngồi ở cái hướng nào mà con nhìn được hết tất cả các quán để có chuyện thì mình còn biết đường chạy, con chọn một cái chỗ mà nhiều người thấy lạ sao lại chọn ngồi trong góc, con cúi đầu không nói gì hết. Tuy rằng ngồi trong góc nhưng nhìn được toàn bộ không gian, thứ nhất là ai vào mình cũng biết, thứ hai là có chuyện gì thì còn thấy mà chạy.

Đây là mình nói cái gần nhất trong cái sinh hoạt để mình thấy, nếu đi sâu vào sẽ có rất nhiều pháp, khi mình ngồi quay lưng lại thì đằng sau có ai vào thì làm sao mình biết, thí dụ như mấy bậc lớn như mấy hòa thượng vô hay có Phật tử quen xá mình. Thành ra khi vào quán ngồi là con ngồi trong cái hốc mà có thể quan sát hết toàn cái không gian của cái quán đó, ngày xưa có chú quen với chú tiểu, chú này học rất là giỏi, cực kỳ giỏi, bây giờ ra đời rồi, giỏi quá cho nên ra đời, bây giờ có mấy đứa con có dẫn lên đây mà lúc đó con không có nhà. Lúc còn chú tiểu thì chú nói với con "thầy, mình đi xe đó, một là con đi sớm thiệt sớm, 4-5 giờ sáng, hai là con đi trễ khoảng chừng là 5 giờ chiều. Mình không bị mất cái thời gian, mình đi lưng lửng làm mất nguyên ngày".

Thí dụ 4 giờ mình đi tới chỗ người 8 giờ sáng thì mình còn được nguyên cả ngày để làm việc, ví dụ như là 5-6 giờ chiều mình mới đi, tức là mình tan sở làm việc rồi thì mình mới đi thì mình tới đó 9-10 giờ là mình ngủ luôn, còn nếu đi 10 giờ, 12 giờ là lên tới 5:00 chiều rồi, mất cả ngày của mình. Đó là cái thứ nhất con vẫn ghi nhận để con học, hồi xưa hòa thượng Thanh Từ chúng ta là ngài đi thường 3-4 giờ sáng không à, bây giờ thức chúng là ngài đi vì mát mẻ, đường vắng, tài xế ngủ thức dậy khỏe.

Nếu có đi là con không có đi xe chạy sáng đêm, khi nào chuyện gấp, lúc đó cô Sáu là cấp cứu là 1:00 đêm, có lần con đi về dưới Cà Mau chia sẻ cho trường Phật học, vì lớp học đó là cái buổi sáng cho nên xe phải đi buổi tối sáng đêm mà ngồi kế tài xế ngủ gục hoài, con phải vỗ vai tài xế, mua nước này kia cho tài xế. Đi hai ngày là nghỉ luôn không đi nữa, không đi dạy nữa vì đó là giao trứng cho ác, giao cái sinh mạng mình cho tài xế mà tài xế ngủ gục.

Có rất nhiều chuyện để chúng ta thấy được sự cẩn trọng của mình, sự nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác và cẩn trọng của mình thì mới có thể ngăn chặn và giảm thiểu được vô minh, chúng ta nhớ là chữ giảm thiểu. Lúc ngồi nghe pháp ở đây, dù cho tâm trong sáng như vầy thì mình nghĩ lúc đó không có vô minh nhưng xét sâu lại thì vô minh vẫn còn nhưng mỏng thôi, bớt được chút nào đó chứ không phải lúc không còn năm triền cái là hết vô minh, hết vô minh thì lúc đó là bậc A-la-hán rồi. Nếu mình nghĩ lúc đó mình thiền quán là trí tuệ dữ lắm, mình không có vô minh thì không phải vậy, chỉ là cái vô minh được bớt mỏng đi một chút thôi vì vậy tâm cẩn trọng là hết sức quan trọng.

Con nhờ có tâm cẩn trọng mà giờ này con vẫn còn ngồi ở đây, không thôi chết 7 mạng rồi, không thì cũng nằm một chỗ. Tối con đi dạy học về trên núi, thường thì con mở đèn pin trong điện thoại lên, dù là mờ mờ nhưng vẫn ráng rọi đèn, đi tới chỗ đó để mở công tác đèn, đúng ra thường thì không cần soi kĩ nhưng con vẫn soi dưới chân mình thì con rắn nằm ở dưới. Thật là không thừa một chút nào với sự cẩn trọng của mình, sự cẩn trọng, cẩn thận, kĩ lưỡng của mình.

Có lần con nhập thất ở Vũng Tàu để đọc tạng kinh thì nửa đêm thức dậy đi toilet, cái thất cách xa cái toilet trong khi đèn pin hết pin nên chỉ thấy lờ mờ, con đang đi thì rọi đèn xuống đất để xem cho kĩ thì thấy con rắn đang ngóc cái đầu lên. Nếu mình cứ sấn tới không rọi đèn thì giờ này đâu phải ngồi đây mà là ngồi trên cao. Như vậy là sự cẩn trọng của mình hết sức quan trọng, bóng đêm là ví dụ cho vô minh, đèn pin lờ mờ là ví dụ cho sự soi rọi của mình, cái tỉnh giác của mình, dù cái đèn gần hết pin, nó lờ mờ nhưng mà nó cũng còn soi được, nó thấy nhưng không phải có đèn trong tay là ngon lành mà phải có sự để tâm và cẩn trọng nữa.

Chúng ta có thấy được cái chỗ này không? Không phải có đèn trong tay là xong, có đèn mà mình ẩu thì mình vẫn chết như thường. Chính vì vậy mà con thấy được là sáng nay con ngồi uống chung trà thì con chiêm nghiệm, từ dưới thất đi lên đây cần sự tỉnh giác chánh niệm, nhiệt tâm, cần sự để tâm rất nhiều, rồi cố gắng, rồi tỉnh giác chánh niệm và một sự cẩn trọng nữa thì các trí tuệ mà mình được học mới phát huy được, có tác dụng mạnh lớn, còn bằng không dầu cho mình có học pháp đi nữa mà mình không có cẩn trọng, mình không cẩn thận, mình không có nhiệt tâm, để tâm thì cái sự học của mình nó được lợi ích nhưng rất nhỏ, nó không đi đến quả báo lớn, lợi ích lớn, thành công lớn. Thành ra ngoài sự nhiệt tâm, để tâm, chánh niệm tỉnh giác, siêng năng, nỗ lực thì còn phải có cẩn trọng nữa, thiếu cái này thì nó sẽ qua mặt chúng ta, cái này chỉ mới nói đến ngoại cảnh thôi, nhưng ngoại cảnh cũng là khó rồi.

Trước thất con ở có bụi tre cao lớn thả mấy sợi tơ xuống, có con sâu dính trong đó, con thấy cũng kệ, không thèm gạt ra nữa, cứ để nó sống được thì sống, vậy mà một chút sau đi ngang là quên vì lo suy nghĩ cái gì đó, thế là nó bò vô ngứa khắp người. Như vậy là mình không cẩn thận và mình thụ động, không có tinh cần, tinh tấn, đúng ra thấy rồi và mình hay bị dị ứng thì mình phải gạt nó đi để con sâu rớt xuống, đằng này mình xem thường, mình không có nhiệt tâm.

Đó là nói bên ngoài, có bữa tối con đi về thì con lấy cái chìa khóa, ngay cái chỗ để chìa khóa thì con cũng phải lấy cái đèn trong cái điện thoại rọi xuống kỹ thì thấy con rắn nằm giữ chìa khóa. Nếu như mình không cẩn trọng, mình thấy bình thường thôi cái chìa khóa thì cứ lại lấy thôi chứ thì mình thọt tay vô trúng nó thì sao? Thành ra con mới thấy được cái sự cẩn trọng là hết sức là quan trọng.

Nhiều khi pháp hội mới vừa tan, Phật tử đang quỳ ở đây khóc nức nở, bàng hoàng vì người ta cảm xúc, cảm động cái pháp, từ xa người ta về vậy mà có mấy người không có chánh niệm, không để ý bước vô trong cái vách rồi là nói chuyện thoải mái mà không biết ngoài đây người ta đang khóc trào dâng xúc động. Đó cũng là vô minh cho nên chúng ta thấy nó vi tế không? Mình bước vô là thoải mái rồi, đó là thế giới của mình, không gian của mình, muốn nói là nói, muốn cười là cười, mình không có nghĩ là có một người đang chào dâng xúc dộng, thấm thía pháp, trình bày cái khổ đau cuộc đời của người ta.

Cái này có cần phải học nhiều không, con thưa các bậc tôn giả? Để những buổi thiền quán trào dâng cảm xúc như vậy con xin thưa với các ngài là không có đơn giản một chút nào, con phải để tâm rất nhiều cho chúng ta, chăm chút từng li từng tí, từng chút, chứ không phải tự nhiên mà được vậy. Đó là cái sự nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác và cẩn trọng của mình, kết quả của nó là bất khả tư nghì không thể tưởng tượng được.

Có khi mình lên trình pháp nhưng mình không có chánh niệm tỉnh giác, mình trình ở trong cái dục, mình cứ cười nói, mình nói thiên địa vạn vật, mình kể tiểu sử của mình mà người ta ngồi mỏi chân, người ta tê, người ta đang khó chịu, 8 giờ là hết giờ mình làm luôn tới 8:10, 8:15. Đối với mình thì mình thấm thía, cái thọ của mình được hả dạ vì mình trút được tâm sự "Đời Cô Lựu" của mình nhưng mà người ta ngồi khó chịu, người ta mỏi, người ta mệt, người ta phiền cho nên phải quan sát trước sau, quán sát toàn diện, toàn bộ, đó là trí, là minh. Có nhiều cái để mình học, cái này sanh phước rất nhiều mà cũng sanh tội rất nhiều giữa cái minh và vô minh.

Ví dụ mình nấu bếp mà mình biết tiếc phước, bòn phước, có những vị vào bếp một tuần lễ không tốn đồng bạc nào, dùng đồ có sẵn, có những vị vào bếp mới 5 ngày thôi hết 7 triệu, con nghe báo cáo lại đồ có không dùng, sắm cái mới, đồ cũ đem đi bỏ cho nên có nhiều điều để mình học lắm. Món ruột của con là tiết kiệm, con nghe báo cáo lại như vậy là con xót lắm, không phải là của mình nhưng mà mồ hôi nước mắt của Đàn-na tín thí còn hơn mình nữa, 100 người bá tánh là 100 họ, bá là trăm, tánh là họ, gọi là bá tánh thiên hạ cho nên chúng ta phải để tâm, để ý thật nhiều, trong ngoài, trước sau, trên dưới.

Cũng như một cái buổi pháp đàm như mọi khi chúng ta học ở đây biết bao nhiêu người được lợi ích, hàng ngàn người chứ mình đừng nghĩ muốn ngồi đâu là ngồi nhưng mà không phải, mình tu cho mọi người, khi đạo tràng mình ngồi nó trang nghiêm, nó có thứ tự, tôn ti, nó đầy ắp, không có những cái khoảng trống người ta nhìn vào người ta phát tâm lắm, chẳng những pháp thâm sâu, người hiền thiện mà còn hình tướng trang nghiêm, cái cách tổ chức chặt chẽ, tất cả chúng ta đang góp phần tự lợi lợi tha, tự độ độ tha, tự giác giác tha.

Chúng ta hiểu được những cái đó là chúng ta có minh, chúng ta không hiểu được cái đó, chúng ta cứ thích "tôi muốn ngồi chỗ này thôi à" là chúng ta vô minh. Trong đơn cũng vậy, trong liêu phòng cũng vậy, mình thích nghe pháp thì cái đó là tốt nhưng mà mình nghe là cho mình nghe thôi, mình đừng có thích cái bài đó rồi mình mở cái bài đó là hết không gian cái phòng, mấy người khác thì người ta còn làm công chuyện khác.

Cứ thích cái bài đó là mình mở loa maximum lên rồi mình thấy sướng, mình nghĩ ai cũng sướng giống mình là không có, người ta khổ thọ, đó là cái vô minh của mình. Mấy con tắc kè này có vô minh không? Nhiều khi đang nghỉ hay gì nó kêu cái giật mình thức dậy khó chịu, không biết giờ người ta ngủ, muốn kêu mà kêu cho đã lên cho nên ăn coi nồi, ngồi coi hướng, nhìn trước nhìn sau, ngó trong ngó ngoài, tiếc của tam bảo, đây là con nói cái phía ngoài sạch sẽ, gọn gàng, trong đạo tràng thứ tự tôn ti, không phải chỉ lợi ích trong hiện tại mà còn trong tương lai, không phải chỉ là đem lại an lạc cho mình mà còn đem lại an lạc cho hữu tình chúng sanh, những người có duyên.

Thành ra cái cẩn thận là hết sức quan trọng. Bây giờ tới cái thân, mình đi vô bếp tới là rổn rảng lên hết, rớt tô, rớt chén, rớt muỗng, rớt thau ầm ầm, bước vô là chư thiên giật mình lên hết, long thiên bát bộ, chư vị thiện thần nổi sân lên thì mình tổn phước. Chúng ta nhớ có lúc Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn thì có ngài Tỳ-kheo đứng ngay trước mặt của Đức Phật nên Đức Phật quở trách, ngài A-nan thấy lạ vì đây là thị giả mà bị quở. Tất cả chư thiên ở trong 10 phương thế giới tụ hội lại đây một cái bán kính 200 cây số, ở trong hư không không có một cái chỗ nhỏ xíu bằng đầu lông mà trống, kẹt cứng trong tầm bán kính 200 cây số, mọi người muốn chiêm ngưỡng Như Lai trong giây phút cuối cùng mà có vị Tỳ-kheo đứng ngay trước mặt, các vị chư thiên than phiền không thấy mặt Như Lai.

"Lúc bấy giờ, tôn giả Upavàna đứng trước mặt Thế Tôn và quạt Ngài. Thế Tôn liền quở trách tôn giả Upavàna: 'Này Tỳ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta.'

Tôn giả Ananda, liền tự suy nghĩ: 'Ðại đức Upavàna này là thị giả sống gần và hầu cận Thế Tôn đã lâu ngày. Nay Thế Tôn trong giờ phút cuối cùng lại quở trách đại đức Upavàna: 'Này Tỳ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta'. Do nhơn gì, do duyên gì, Thế Tôn quở trách đại đức Upavàna: 'Này Tỳ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt ta'?.

Rồi tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Ðại đức Upavàna này là thị giả, sống gần và hầu cận Thế Tôn đã lâu ngày. Nay Thế Tôn trong giờ phút cuối cùng lại quở trách đại đức Upavàna: 'Này Tỳ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta.' Do nhơn gì, do duyên gì, Thế Tôn quở trách đại đức Upavàna: 'Này Tỳ-kheo hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta'?

-- Này Ananda, rất đông các vị Thiên thần ở mười phương thế giới tụ hội để chiêm ngưỡng Như Lai. Này Ananda, cho đến mười hai do tuần xung quanh Kusinàrà, Upavattana, rừng Sàlà thuộc dòng họ Mallà, không có một chỗ nào, nhỏ cho đến đầu một sợi tóc có thể chích được mà không đầy những Thiên thần có uy lực tụ họp. Này Ananda, các vị Thiên Thần đang than phiền: 'Chúng ta từ rất xa đến chiêm ngưỡng Như Lai. Thật rất là hy hữu, các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, và tối hôm nay, trong canh cuối cùng, Như Lai sẽ nhập diệt. Và nay Tỳ-kheo có oai lực này lại đứng ngang trước Thế Tôn, khiến chúng ta không thể chiêm ngưỡng Như Lai trong giờ phút cuối cùng'. Này Ananda, các chư Thiên than phiền như vậy" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Cho nên trong chùa mình có cái bài kệ:

“Văn chung ngọa bất khởi

Hộ pháp thiện thần sân;

Hiện thế duyên phước bạc

Lai thế thọ xà thân”.

Nghe chuông mà không thức dậy là hộ pháp thiện thần giận, tội ấy là tội kiếp sau làm rắn, chỉ nằm hoài mà không đứng dậy được. Tức là bài đó có tính cách nhắc nhở, khích lệ mình cố gắng đến chùa tu học, trong khi quý thầy, quý cô, đại chúng tu thì mình nằm dài ra ngủ. Ngoài ra còn một bài nữa là:

"Cần tảo Già lam địa

Thời thời phước huệ sanh

Tuy vô tân khách chí

Diệc hữu thánh nhơn hành"

Dịch nghĩa:

Siêng năng quét sạch đất chùa

Để cho trí huệ bốn mùa phát sanh

Tuy ngày không có khách lành

Thánh nhơn thường đến kinh hành nơi đây.

Bài kệ này nhắc nhở trong thiền môn, siêng năng quét đất chùa thì lúc nào phước huệ cũng sanh hết, tuy là không có khách đến nhưng cũng có thánh nhân đi. Mình biết rằng có chư thiên, chư thần, các bậc thánh đệ tử Thiên cũng nghe pháp chứ không phải chỉ có mình nghe không. Tất cả các vị sơn thần, thọ thần, lâm thần, địa thần, vân thần, phong thần này nọ là các vị này là chịu sự cai quản của Tứ Đại Thiên Vương, 4 vị vua trời, Tứ Đại Thiên Vương là vua cõi trời thấp nhất, 4 vị là cai quản tất cả các cái vị thần. Khi mình tuyên thuyết chánh pháp thì các vị thần mà cái tâm hướng về pháp thì họ sẽ đến nghe cho nên cái thân của mình chánh niệm sẽ mang lại lợi ích rất nhiều cho mình, cho người, cho hữu hình và cho vô hình, nhân và phi nhân, người không phải người, phi nhân là không phải người.

II. Tu tập tâm

"Một thời, Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu khu vườn Nigrodha. Rồi thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha đi đến Tôn giả Mahàmoggalàna; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahàmoggalàna rồi ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàmoggallàna nói với Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha đang ngồi một bên:

Ở đây, này Vappa, có thể có người với thân chế ngự, với lời chế ngự, với ý chế ngự, vô minh được viễn ly, minh được sanh khởi. Ông có thấy người ấy, do một nhân duyên nào, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai?

- Thưa Tôn giả, con có thể thấy trường hợp ấy. Ở đây thưa Tôn giả, do ác nghiệp tạo ra về trước chưa đưa đến quả dị thục, do một nhân duyên ấy, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai.

Và câu chuyện này giữa Tôn giả Mahàmoggallàna và Thích tử Vappa, đệ tử của Niganthà bị bỏ dở.

Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền Tịnh đứng dậy đi đến hội trường; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn nói với Tôn giả Mahàmoggallàna:

- Này Mahàmoggallàna, câu chuyện gì được nói đến, khi các Ông ngồi tụ họp ở đây? Và câu chuyện giữa các Ông chưa được nói xong?

- Ở đây, bạch Thế Tôn, con nói với Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha: 'Ở đây, này Vappa, có thể có người với thân chế ngự, với lời chế ngự, với ý chế ngự, vô minh được viễn ly, minh được sanh khởi. Ông có thấy người ấy, do một nhân duyên nào, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai?' Bạch Thế Tôn, khi được nói như vậy, Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha nói với con như sau: 'Thưa Tôn giả, con có thể thấy trường hợp ấy. Ở đây thưa Tôn giả, do ác nghiệp tạo ra về trước chưa đưa đến quả dị thục, do nhân duyên ấy, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai!'. Bạch Thế Tôn, ở đây là câu chuyện giữa Thích Tử Vappa, đệ tử của Nigantha và chúng con, câu chuyện bị bỏ dở khi Thế Tôn đến!

Rồi Thế Tôn nói với Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha:

- Này Vappa, nếu Ông có thể chấp nhận điều Ông có thể chấp nhận, và có thể bác bỏ điều đáng được bác bỏ, và trong trường hợp Ông không có thể biết được ý nghĩa lời nói của Ta, nếu Ông hỏi ta thêm về vấn đề ấy: 'Bạch Thế Tôn, lời nói này, ý nghĩa là gì?', thời có thể có cuộc nói chuyện giữa chúng ta" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XX. Ðại Phẩm, (V). Vappa)

Thích tử Vappa tức là dòng họ Thích-ca, tức là hoàng thất, hoàng tộc, hoàng thân quốc thích. bản thân quá thích. Ông này là dòng họ Thích-ca nhưng lại là đệ tử của Ni-kiền-tử, tức là tu đạo lõa thể không mặc quần áo, bây giờ dù đã trải qua mấy ngàn năm nhưng đạo này ở Ấn Độ vẫn còn.

Trước khi nói chuyện, Đức Phật muốn chỉ dạy cho ông bà con của ngài nhưng tu theo ngoại đạo thì ngài nói câu "nếu Ông có thể chấp nhận điều Ông có thể chấp nhận và có thể bác bỏ điều đáng được bác bỏ và trong trường hợp Ông không có thể biết được ý nghĩa lời nói của Ta, nếu Ông hỏi ta thêm về vấn đề ấy", tức là cái nào ông chịu thì nói là ông chịu, cái nào không chịu thì ông nói là không chịu, không đồng ý và cái nào mà ta nói ông không hiểu thì ông có quyền hỏi.

Lời nào ta nói ra mà ông chấp nhận thì ông nói là ông chấp nhận, lời ta nói ra với ông mà ông không chấp nhận thì cứ nói là không chấp nhận, cái nào ông không hiểu thì ông cứ hỏi. Nếu ông chịu như vậy thì ta và ông sẽ bàn luận tiếp, đây là điều kiện của cuộc nói chuyện vì ông này là người ngoại đạo, cái này mình cần phải học, nếu sau này mình nói chuyện với người không biết gì hết thì mình đưa ra ba điều kiện này, cái nào bạn đồng ý thì nói là đồng ý, cái nào bạn không đồng ý thì nói là không đồng ý, cái nào bạn không hiểu thì hỏi lại.

"- Bạch Thế Tôn, con có thể chấp nhận điều con có thể chấp nhận, và có thể bác bỏ điều đáng được bác bỏ, và trong trường hợp con không có thể biết được ý nghĩa lời nói của Thế Tôn, con sẽ hỏi Thế Tôn thêm về vấn đề ấy: 'Bạch Thế Tôn, lời nói này, ý nghĩa là gì?', mong rằng ở đây có cuộc nói chuyện giữa chúng ta.

- Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Nếu do nhân duyên thân khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên; với người chế ngự được thân khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có nơi người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

Này Vappa, Ông có thấy trường hợp ấy, do nhân duyên này, các lậu hoặc khiến cảm thọ khổ đau có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai không?

- Thưa không, bạch Thế Tôn!" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XX. Ðại Phẩm, (V). Vappa)

Câu hỏi của Đức Phật là gì? Nếu do nhân duyên thân khởi động tức là vì lý do gì đó mà mình làm một việc gì đó mà các lậu hoặc tàn hại diệt não khởi lên với người chế ngự được thân khởi động như vậy, tức là giờ mình nói mình ví dụ về dễ hiểu là mình giận lên, tức giận lên, nghĩa là các lậu hoặc, nhiệt não tàn hại khởi lên, mình nổi nóng lên mà chế ngự được, tức là mình nhiếp phục, mình chế ngự, mình kiềm lại được, mình dằn lại được cơn giận đó, nó không còn bốc lên được mà nó lắng dịu xuống.

Người ấy không tạo ra nghiệp mới, người này sẽ không tiếp tục nổi giận lên nữa, người này nhiếp phục, chế ngự, làm lắng dịu được cơn giận, người này không tạo ra những cơn giận tiếp theo nữa cho nên người này không nổi giận nữa, cảm xúc giận bên trong tuy rằng được kiềm chế nhưng nó vẫn còn, tuy rằng không phát ra lời nói, hành động, không cãi lộn, đánh lộn nhưng trong cảm xúc còn khó chịu thì trong đây cần tu tập tâm từ. Do tu tập tâm từ nên cảm xúc đó thường xuyên được chấm dứt, tức là cái thọ còn tồn đọng bên trong, cái thọ quen theo chiều giận trong tâm nhờ tu tâm từ nên cảm thọ này dần đi đến chỗ chấm dứt.

Đối với cái tham, cái sân, cái bản ngã cũng vậy, khi nó khởi lên thì người này chế ngự, nhiếp phục được ngay trong hiện tại, còn cái tồn đọng trong cảm thọ thì người này dùng pháp, nếu là bản ngã thì dùng phương pháp diệt ngã, tham dục thì dùng bất tịnh, tham lam đồ vật thì dùng phương pháp quán vô thường, người này không tạo ra nghiệp mới, không gây gổ, hơn thua với người ta, không đi trộm cắp nữa mà người này diệt những ý nghĩ, cảm giác, hình bóng trong tâm về cái tham, cái sân, cái si đó, dùng những cái pháp thích ứng, thích hợp, thích đáng, phù hợp, đúng pháp để diệt cái cảm xúc thường xuyên đó, tức là cái cảm thọ mà nó thành thói quen ở trong con người của mình.

Ví dụ cho dễ hiểu, khi nổi cơn nghiền thuốc lên mà kềm chế lại được, không đi kiếm điếu thuốc, một mặt làm đủ mọi cách để giải tỏa cảm xúc nghiền, thúc giục ở bên trong, không có hút điếu thuốc mới nữa, không có tiếp tục hút một điếu nào nữa, không có đụng vào thuốc nữa, cắt luôn cái duyên xúc ở ngoài và trị cái cảm thọ bên trong, không có tạo thêm nghiệp mới.

Tức là không có tiếp tục hút nữa, không có tiếp tục giận nữa, không có tiếp tục tham nữa, không có tiếp tục sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối nữa, uống rượu nữa, còn cái cảm xúc khó chịu bên trong, thèm muốn, khao khát là trị nó, hóa giải bằng những phương pháp tu học thích hợp. Thí dụ tham dục thì dùng bất tịnh, thí dụ sân thì dùng tâm từ, thí dụ bản ngã là dùng phương pháp diệt ngã, vô ngã phá ngã, thí dụ nghiện thuốc, nghiện rượu là chặn đứng rồi diệt luôn, xóa sạch luôn cái cảm thọ thèm muốn ở bên trong, cắt cái ở bên ngoài, không tiếp xúc, trị luôn cái bên trong thì không có tạo thêm nghiệp mới nữa, đó là con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não. Như vậy thì những cái lậu hoặc, những cái phiền não, những cái dục, tham, ái, bản ngã bên trong nó sẽ từ từ khô héo cho tới mục nát, tan rã, đó là thiết thực, hiện tại. Chắc chắn là nó phải đi đến héo mòn, chắc chắn là phải đi đến hư rã, mục nát và chắc chắn là đi đến chỗ diệt tận nếu làm đúng vậy.

Hết nghiền thuốc thì điếu thuốc đâu còn làm mình khổ nữa, hết nghiền rượu thì chai rượu đâu làm mình say sưa, nghiện ngập nữa, xì ke đâu làm mình điên đảo nữa vì nó đã bị chặn đứng.

"- Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Nếu do nhân duyên lời khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên; với người chế ngự được lời khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có nơi người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

Này Vappa, Ông có thấy trường hợp ấy, do nhân duyên này, ... trong tương lai không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XX. Ðại Phẩm, (V). Vappa)

Khi nãy là nhiếp phục hành động, còn giờ đến là nhiếp phục luôn lời nói, lúc trước là đánh lộn bây giờ là chửi lộn nhưng mà cả hai cái đó đều nhiếp phục được hết, không còn động thân, không còn động khẩu luôn, nhiếp phục được cái miệng và hóa giải cảm thọ bên trong luôn. Như vậy người này còn không còn khổ nữa, Thế Tôn nói đó là con đường đưa đến sự héo mòn các cái phiền não, nó là thiết thực, hiện tại tức là thực tế, ông làm đi rồi ông sẽ thấy rõ ràng nó có cái khả năng đưa mình lên cao, tự mình tu tập rồi tự mình sẽ nhận thức thấy được.

Cái ý cũng giống y vậy, đó là thân, miệng và ý, ở đây chúng ta thấy chữ này có liên hệ với vô minh, "có người với thân chế ngự, với lời chế ngự, với ý chế ngự, vô minh được viễn ly, minh được sanh khởi", như vậy một góc độ nữa là do chế ngự chứ không phải chỉ hiểu biết không, không phải trên mặt tri kiến không, không phải chánh kiến không là đủ, phải có thêm làm đúng, siêng đúng, sống đúng nữa, thì đây là do cái công phu chế ngự, chế ngự thân, miệng và lời.

Ví dụ rất là dễ, nhiều khi ở chùa đó tụng kinh sớm, công phu khuya sớm 3-4 giờ tụng xong xuống là ngủ tiếp đợt 2, nhưng mà bây giờ thân bị chế ngực, tiếp tục nghe pháp, trình pháp nữa, do thân được chế ngự cho nên sao vô minh được viễn ly, mình được sanh khởi. Minh xuất hiện là do mình chế ngự chứ không phải là chỉ có là hiểu là xong, phải có sự thực hành nữa, qua đây chúng ta thấy được sự tu có rất nhiều phương diện, góc độ. Đâu phải chỉ nhớ là đủ, đâu phải chỉ ngó trước ngó sau là đủ, đâu phải chỉ cẩn thận là đủ, đâu phải chỉ tỉnh giác chánh niệm là đủ, còn phải tinh cần, tinh tấn nữa, mà đâu phải tinh cần, tinh tấn là đủ, còn phải nhiếp phục, chế ngự nữa.

Nhiều khi mình không có chế ngự lời nói, cũng câu nói đó mà cái bạn đạo kế tu của mình nghe khó chịu, chỉ cho người ta làm nhưng mà nói nghe không dễ thương, người ta nghe mà khó chịu. Nhưng cũng có câu nói đó mà mình có sự chế ngự lời nói, mình có sự tỉnh giác, nói có từ ái trong lời nói, "chị nói nữa đi" em muốn nghe chị nói nữa đi". Có khi mình chỉ cho người ta nhưng mà mình nói người ta không muốn nghe, người ta không thèm dòm mặt, người ta biết lời nói đó là đúng nhưng người ta không thích vì có khi lời nói không có nhẹ nhàng, không có êm ái, không có ngọt ngào, không có dễ thương, mình chỉ trong kiểu "tôi biết nè, không biết gì hết trơn", chỉ trong cái kiểu giận, khó chịu, bực mình, làm sai hoài, người ta nghe nhưng mà người ta không có thọ nhiều cái chỉ đó, người ta thọ cái sân kia chứ người ta không thọ cái mình chỉ vì thế thân chế ngự, lời chế ngự, ý chế ngự là rất hay.

"Người chế ngự tay chân,

Chế ngự lời và đầu,

Vui thích nội thiền định.

Ðộc thân, biết vừa đủ,

Thật xứng gọi Tỳ-kheo"

(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 362)

Một góc độ nữa muốn viễn ly vô minh, minh sanh khởi thì phải nhiếp phục, chế ngự. Như vậy mình tu bao nhiêu phương diện, khía cạnh là mới có mấy bài kinh thôi đó, cho nên cái tâm mình nhỏ hẹp, nó phiến diện lắm, ví dụ mình học thấy vô thường thì lúc đó là minh, còn không thấy vô thường là vô minh thì mình chỉ nhớ có bao nhiêu đó, nhớ bao nhiêu đó đủ rồi. Thật ra vẫn chưa đủ, còn phải chế ngự nữa, chúng ta nhớ 7 pháp đoạn trừ phiền não đó, đâu phải chỉ có một pháp đâu, có cái phải dùng tri kiến đoạn trừ, có cái phải dùng tránh né đoạn trừ chứ không phải cái nào cũng bước tới, Đức Phật nói đi ra đường mà gặp chó dữ thì phải tránh né.

"Này các Tỳ-kheo, ở đây Tỳ-kheo chơn chánh giác sát, tránh né voi dữ, tránh né ngựa dữ, tránh né bò dữ, tránh né chó dữ, rắn, khúc cây, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước nhớp, vũng nước. Những chỗ ngồi không xứng đáng nếu ngồi, những trú xứ không nên lai vãng nếu đến, những bạn bè ác độc, nếu giao du bị các vị đồng Phạm hạnh có trí nghi ngờ khinh thường. Vị chơn chánh giác sát tránh né chỗ ngồi không xứng đáng ấy, trú xứ không nên lai vãng ấy và các bạn bè độc ác ấy. Này các Tỳ-kheo, nếu vị ấy không tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IV). Các Lậu Hoặc)

Mình gặp một người hết sức hung dữ nhưng lại nghĩ "Thôi để tôi độ, chúng sanh vô biên theo nguyên độ", thế là bị cạp cho hai ba miếng, có người bị cắn không biểu hiện gì hết mà vài tháng sau chết do bị chó dại cắn. Đó là mình nói cái sân, cái ái cũng vậy, khi mình không có minh, cái vô minh che mất thì lúc đó có dục, tham, ái mình không biết là cái thứ nhất. Thứ hai là có biết cũng 20-30% thôi, mình thấy chuyện đó bình thường nhưng sau này tu sâu vô sẽ thấy rất nguy hiểm, cho nên con hay kể câu chuyện, hai người đứng kế kể cậu kia tính tình tốt lắm, rất nhiệt tình, siêng năng, giúp đỡ hàng xóm, có chuyện gì là chú chạy qua lo hết, bất kể trời mưa nắng, rất siêng năng nhiệt tình nhưng có cái là hay nổi sân lắm.

Cậu kia đi ngang nghe nói về mình như vậy thì nắm cổ áo người kể hỏi "tôi nổi sân hồi nào?". Hình ảnh đó là mình đó, khi mình không có minh, mình không có nhận diện ngũ uẩn một cách chính xác, sâu sắc, sát sao thì mình nổi sân, người ta nói mà mình không có nhận "tôi không có giận" nhưng cái mặt đổi sắc. Trong đó có nhiều trường hợp, một là mình vô minh quá dày nên mình không thấy, mình bị mù, hai là mình sĩ diện, mình sợ mất mặt, mình bản ngã, mình không có chấp nhận sự thật "tôi không có giận" nhưng mà trong này là rất giận, về gặp người quen mới xổ ra.

Lúc đó cái minh mình không có đủ thì khi đó mình có dục, có tham, có ái với cái món đồ đó, với cái cảnh đó, với cái con người đó nhưng mà mình không thấy, mình không biết, mình thấy cái đó là bình thường thôi, nhìn thấy dễ chịu vậy thôi nhưng mà không biết rằng lúc đó mình thọ hình ảnh đó vô, cái cảm giác đó, suy nghĩ đó. Cho nên có người tu kĩ là mệt lắm, quét nhà từ sáng, trưa, chiều, tối, nửa đêm giật mình thức dậy cũng quét căn nhà nội tâm của mình, cứ cầm chổi quét sáng, quét trưa, quét chiều, quét tối, nửa đêm thức dậy cũng quét, không quét là bụi bay vào. Trong thất của con đóng cửa kín hết mà có tận 3 con sâu nái bò vào, 3 con sâu là 3 cái tham, sân, si bay vào, con phải lấy cây chân nhang hất nó ra ngoài.

Cái tâm mình cũng vậy, mình nói tu kĩ lắm nhưng chưa chắc, lậu hoặc đi lậu cho nên mới gọi là hàng lậu, nếu mình không tinh anh, không cẩn trọng giống như người ngồi xem máy chiếu, máy soi không cẩn thận thì đồ gì cũng có heroin, thuốc phiện trong đó, cái tâm của mình cũng vậy, cái tâm lậu hoặc qua mặt mình, cái này là cái đau đớn. Lúc đó mình có tham, có dục, có ái mà không biết, lúc đó mình có sân, có khó chịu mà mình không biết, lúc đó mình đang có bản ngã mà mình không biết, không biết vì bị che hết, gọi là giận quá mất khôn, tham quá thì thâm.

Ngoài đời có những câu đó rất rõ, những câu đó là những cái căn bản để cho mình đi sâu vào trong pháp, Đức Phật dùng từ tàn hại và nhiệt não, nhiệt là nó làm cho mình nóng bức não, não là nó làm cho mình khổ sở, buồn đau, nóng bức, nó tàn phá, nó làm hại mình, nó tàn phá thân tâm của mình mà mình không biết cho nên mới gọi là vô minh, mù loài, còn nếu biết thì đã là mình rồi.

Thành ra là thật là khó, thật là khó, phải dễ đâu, nếu mình không cẩn thận, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, thận trọng nhìn trước nhìn sau, ngó trong ngó ngoài, quán sát tất cả góc độ, khía cạnh, phương diện. Bây giờ một cái ví dụ rất rõ con chỉ Ni sư là dù đã 3 ngày rồi nhưng cái mạng nhện vắt ngang mặt Đức Phật mà mấy chục người không ai thấy, con nhìn lên thấy liền mà mấy chục người không ai thấy.

Đó chính là lậu hoặc, đó là ở bên ngoài trước mắt mình mà còn không nhìn thấy thì trong tâm làm sao thấy, nếu không quay vào nội tâm, không hướng nội, không nội soi, không có nội chiếu, không có nội tỉnh, không có sự giác sát, như lý giác sát là không thấy, hoặc là thấy không có đầy đủ, thấy không hết. Bây giờ bước vào thiền đường nhìn thấy sạch sẽ, đẹp đẽ nhưng mà nhiều khi ở dưới góc dưới kia có con gián chết, ngày hôm qua hôm kia con đi ngang Ni xá thấy có một đống phân mèo, gần cửa đi qua bên Thánh Pháp Viện có một đống phân mèo 4-5 cục.

Do mình không thấy hết, mình chỉ thấy chỗ mình đang ở thôi mà không thấy những chỗ khác. Cũng vậy, khi nhận diện ngũ uẩn mà nếu mình chỉ thích quán thọ hay là chỉ thích quán thân thì mình chỉ để ý cái thọ hoặc cái thân thôi, mình không để ý những cái ý nghĩ, hình bóng, hoặc mình chỉ quán phất phơ ở trên những cái thọ thô thôi, còn cái thọ vi tế mình không để ý, mình không lắng sâu xuống, gọi là lắng nghe cái ngắm ngầm đang hoạt động.

Sống biết nghe, các con thương mến

Biết nghe lời các bậc Thánh hiền

Biết nghe kinh, nghe pháp, nghe tâm

Nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động.

Muốn nghe cái ngấm ngầm hoạt động thì chỉ có người suốt ngày, suốt đêm, suốt giờ, lúc nào cũng phải xem cho thiệt kỹ, chỉ cần nó manh nha, máy động một chút thôi là người đó đã diệt nó ngay tại đó rồi, tu kĩ đến như vậy. Đó là do minh mà mình thấy, thấy rồi sao đó mới có cách xử trí, giải quyết vấn đề, còn nếu mình không thấy tức là nó đang sanh khởi, nó đang có mặt, nó đang tồn tại mà mình không thấy thì đó là vô minh, cũng như con sâu vô trong nhà mà mình không thấy, hoặc thấy nhưng kệ nó, nghĩ là không sao đâu, từ từ bắt nó cũng được thì một chút là ngứa khắp người vì nó tấn công mình. Cho nên tu phải kĩ, nhìn kỹ, quan sát thật kỹ.

"- Như vậy, này Vappa, với vị Tỳ-kheo có tâm được chơn chánh giải thoát, sáu an trú thường hằng được chứng đắc. Vị ấy, khi mắt thấy sắc, không có ý đẹp, không có phật ý, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi tai nghe tiếng, khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc ... khi ý thức tri pháp, không có ý đẹp, không có phật ý, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy quán tri: 'Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân'. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy quán tri: 'Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng'. Vị ấy quán tri: 'Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả các cảm thọ không còn hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lạnh'.

Ví như, này Vappa, duyên một thân cây, bóng cây hiện ra. Rồi có người đến cầm các cuốc và cái giỏ, chặt thân cây ấy ở nơi rễ. Sau khi chặt ở nơi rễ, người ấy đào cái mương. Sau khi đào cái mương, người ấy nhổ lên các rễ lớn cho đến các rễ con và rễ phụ. Rồi người ấy chặt cây ấy thành từng khúc, sau khi chặt tùng khúc, người ấy bửa. Sau khi bửa, người ấy chẻ thành từng miếng nhỏ. Sau khi chẻ thành từng miếng nhỏ, người ấy phơi giữa gió và nắng, người ấy lấy lửa đốt. Sau khi lấy lửa đốt, người ấy vun thành đống tro. Sau khi người ấy vun thành đống tro, người ấy sàng tro giữa gió lớn, hay để tro ấy vào dòng nước mạnh cho nước cuốn đi. Như vậy, này Vappa, do duyên thân cây nên có bóng cây. Bóng cây ấy, rễ bị chấm dứt, làm thành như thân cây tala, làm cho không thể tái sanh trong tương lai, không thể sống lại được. Cũng vậy, này Vappa, vị Tỳ-kheo có tâm được chơn chánh giải thoát, sáu an trú thường hằng được chứng đắc. Vị ấy, khi mắt thấy sắc, không có ý đẹp, không có phật ý, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi tai nghe tiếng.., khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc ... khi ý thức tri pháp, không có ý đẹp, không có phật ý, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy biết: 'Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân'. Vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy biết: 'Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng'. Vị ấy biết: 'Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả các cảm thọ không còn hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lạnh'" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XX. Ðại Phẩm, (V). Vappa)

Tại sao có bóng cây? Vì có thân cây, thân cây này trú nhờ có rễ cây, bây giờ chặt thân, chặt rễ cái, rễ phụ từng miếng nhỏ, sau đó đem đi đốt rồi gom tro lại sàn trong hư không hoặc đem tro đó đi đổ xuống dòng nước chảy xiết cho nước cuốn đi. Như vậy cái cây đó còn mọc lại được nữa không? Như vậy các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não, tâm mê được diệt tận. Phương pháp tu ở đây là như thế nào? Sáu an trú thường hằng được chứng đắc, sáu an trú ở đây là khi mắt thấy sắc không có ưa và ghét, trú trong tâm xả, chánh niệm tỉnh giác, khi tai nghe tiếng cũng vậy, không có để cho cái cảm thọ chạy theo thích và không thích, trú tâm xả, mũi ngửi mùi, thân nếm vị, thân xúc chạm hay là ý nhận thức các hình bóng, cảm giác, suy nghĩ trong tâm không có thích hay là không thích, ưa hay là ghét mà trú cái tâm xả, trú xả chánh niệm tỉnh giác. Đây gọi là sáu sự an trú thường của một bậc tu hành chân tu, thấy cái gì, nghe cái gì, ngửi nếm cái gì, xúc cái gì, nhận thức cái gì bên trong không có ưa mà cũng không có ghét mà là trú xả.

Muốn trú xả là cả một vấn đề, làm sao mà không thương không ghét? Phải thấy được tính chất vô thường, khổ đau, trống rỗng của nó thì mới bớt ưa ghét, còn nếu không thấy được những tính chất này thì thế nào cũng có ưa ghét, cũng có thích và không thích. Như vậy tâm làm việc có nhiều không? Vô minh làm việc nhiều hay minh làm việc nhiều? Vô minh là khỏi cần làm, tự động nó vô minh rồi, làm nhiều thì mới phá được phần nào vô minh, làm ở đây là sự tác ý, cẩn thận, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, chế ngự, đoạn tận. Mé cành xong rồi chặt cây, đào xuống móc rễ, chặt rễ, chẻ ra từng miếng, từng miếng rồi đốt , đốt rồi vẫn chưa xong mà phải gom tro lại để sàn tro, sàn còn chưa được nữa mà phải lựa dòng nước xoáy mạnh đổ tro xuống cho nước cuốn trôi hết để xem nó sống lại nổi không, xem nó tái sanh nổi không.

Thật là khủng khiếp với cái ví dụ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, làm cho nó không còn có thể sanh khởi trở lại trong tương lai, có vậy mới đi đến Niết-bàn chấm dứt tất cả các lậu hoặc. Còn mình chặt rồi nhưng lấy vài cành cắm lại, chiết cành, đó là không đi đến chỗ diệt tận. Dù mình mé cành, chặt nhánh bỏ đó nhưng có những loại cây vẫn sống được như xương rồng, khoai mì,… Cho nên nhiều khi mình thấy chặt là xong rồi nhưng để đó là nó sống tiếp như cây sống đời, cái cây còn như vậy thì huống hồ chi là cái tâm vô minh và tham ái này, không có nỗ lực là không diệt tận được.

Hôm qua hôm chúng ta nghe sanh lên các tầng trời tuổi thọ đến bốn kiếp nhưng rồi cũng đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, rùng rợn, khiếp đảm và sợ hãi. Khi vị này an trú sáu sự an trú ở nơi sáu căn, không có thích và không thích, trú trong tâm xả, không có ưa ghét, không có bị dính ở trong cái lạc thọ và khổ thọ, trú trong cái tâm xả, chánh niệm tỉnh giác mà cái chữ chánh niệm tỉnh giác ở đây là thấy vô thường, khổ não, vô ngã, không có để cho dính mắc, trói cột, vị này cứ sống như vậy hoài hết ngày này rồi tới ngày mai cũng vậy, rồi tuần sau cũng vậy, tháng sau cũng vậy, năm sau cũng vậy, 5 năm, 10 năm,15 năm, 20 năm, 30 năm rồi tới tận cùng cuộc đời thì vị này cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, tức là giây phút ở trên giường bệnh sắp sửa từ giã cõi đời. Đó là nói giây phút sắp sửa lìa đời thì vị này cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy biết ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, ta đang có một cảm thọ, đây là cảm Thọ cuối cùng để từ giã thân này.

Tại vì bình thường mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi tháng, mỗi năm, mỗi nhiều năm, mỗi nhiều chục năm vị này đã tu tập rồi, không có ưa thích, cắt thọ rồi, không có cho thọ là mình nữa, tất cả phàm cái gì nằm trong cảm thọ đều là đau khổ. Trong giây phút cuối cùng vị này biết đây là cái cảm thọ tận cùng cuối cùng để từ bỏ thân này. Khi những hơi thở cuối cùng của cuộc đời, khi vị này đi đến tận cùng của sinh mạng, những giây phút cuối cùng của cuộc đời, vị này biết rằng cảm Thọ này là cảm thọ cuối cùng để đi đến kết thúc sinh mạng, vị này biết rõ sau khi chết đi tất cả các cảm thọ sẽ không còn hỷ lạc, không có một cái gì là vui, sẽ trở thành vắng lặng tịch tịnh.

Tâm vị này hoàn toàn lặng lẽ tịch tịnh bất động, vị này nhập Niết-bàn, đó là bậc A-la-hán, không còn một cái ý niệm mong muốn tìm cái hỷ lạc nữa, bất cứ ở các cõi nào dù là dục giới, sắc giới, vô sắc giới, không còn hướng tâm Tìm kiếm bất cứ một cái hỷ lạc gì ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Tâm vị này hoàn toàn an tịnh, lắng dịu, tịch tịnh, vắng lặng, đi đến chấm dứt tất cả các thọ, đương nhiên là không còn muốn tái tục một cái thân giống vậy nữa, từ bỏ tất cả những hình bóng, những cảm giác, những suy nghĩ và cái nhận thức, vị này hoàn toàn vắng lặng, tâm bất động giải thoát.

"Có hai pháp này, này các Tỳ-kheo, thuộc thành phần minh. Thế nào là hai? Chỉ và Quán. Chỉ được tu tập, này các Tỳ-kheo, chờ đợi lợi ích gì? Tâm được tu tập. Tâm được tu tập, chờ đợi lợi ích gì? Cái gì thuộc về tham được đoạn tận. Quán được tu tập, này các Tỳ-kheo, chờ đợi lợi ích gì? Tuệ được tu tập. Tuệ được tu tập, chờ đợi lợi ích gì? Cái gì thuộc vô minh được đoạn tận. Bị tham làm uế nhiễm, này các Tỳ-kheo, tâm không thể giải thoát. Hay bị vô minh làm uế nhiễm, tuệ không được tu tập. Do vậy, do ly tham, là tâm giải thoát. Do đoạn vô minh, là tuệ giải thoát" (Tăng Chi Bộ, Chương II – Hai Pháp, III. Phẩm Người Ngu)

Bài kinh này hết sức ngắn nhưng giải thích tâm giải thoát, tuệ giải thoát của bậc A-la-hán, do ly tham thì tâm được giải thoát, do đoạn vô minh thì tuệ được giải thoát. Hết vô minh là cái trí tuệ của mình nó bưng ra, rực sáng, chói sáng, bừng sáng, chiếu sáng, tỏa sáng, còn vô minh là cái tuệ nó bị che, nó bị phong tỏa, phong ấn, phong kín, bao bọc ở trong đó, nó phát ra ánh sáng không được, vô minh bao trùm đời sống chúng ta. Cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái xúc, cái biết chúng ta bị vô minh phong tỏa, thấy trong cái tôi, nghe trong cái ta, nhận thức, suy tư trong bản ngã, không thấy ngũ uẩn, không thấy đây chỉ là sự vận hành của khổ thôi.

"Chỉ có khổ được sanh,

Khổ tồn tại, khổ diệt,

Ngoài khổ, không gì sanh,

Ngoài khổ không gì diệt" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ , Chương V. Tương Ưng Tỳ-kheo Ni X. Vajirà)

Đây là bài kệ chứng đắc đạo quả của một bậc Tỳ-kheo Ni, chỉ có khổ được sanh, cái khổ vận hành, khổ diệt, ngoài khổ không gì khác. Đối với bậc chánh kiến nhìn tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ, chúng ta học sơ lược về tam giới thì thấy chỉ có khổ được sanh, khổ tồn tại, khổ diệt, ngoài khổ không có gì khác. Đời sống này chỉ là sự vận hành của khổ thôi, những cái vui đó là không đáng, những cái vui đó trên ảo tưởng thôi vì tất cả những cái vui đều là nguyên nhân của khổ. Chỗ này là thậm thâm thánh trí tuệ, thâm nhập được trí huệ này thì thoát khổ.

"Khi được nói như vậy, Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha bạch Thế Tôn:

- Ví như, bạch Thế Tôn, một người mong ước được tài sản, lo nuôi dưỡng tài sản của mình, nhưng không được tăng trưởng gì, trái lại chỉ được mệt nhọc và dự phần vào phiền muộn. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con cầu mong được lợi ích khi con hầu hạ kẻ ngu Nigantha này. Con đã không được lợi ích gì, trái lại con chỉ được mệt nhọc và dự phần vào phiền muộn. Bắt đầu từ hôm này, bạch Thế Tôn, với lòng tin gì con đã có với kẻ ngu Nigantha, con sẽ sàng lòng tin ấy giữa gió lớn, hay để lòng tin ấy vào dòng nước lạnh cho nước cuốn đi.

- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, ... Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XX. Ðại Phẩm, (V). Vappa)

Như vậy là vị này đổi đạo, cải đạo, vị này là bà con của Đức Phật mang dòng họ Sakya Thích-ca Mâu-ni. Trở lại cái vấn đề mình thấy đời sống của thánh đệ tử chúng ta đi đến chỗ tàn diệt hết tất cả các lậu hoặc và các uẩn, chấm dứt các uẩn, hướng cái tâm về đó thật là nhiều. Mình tập tác ý thường xuyên, sáng nay bình thường không nhảy mũi (hắc hơi), tới lúc ngậm nước muối thì nhảy mũi, con thấy thật là khổ, tác ý chán nhàm chán, mệt mỏi, đóng cửa nhiều khi không khéo làm chết con ốc, ăn vô không khéo khó tiêu phải đi lòng vòng, uống vào không khéo thì đau bụng. Mỗi một cái như vậy đều phải tác ý, mình nắm bắt cơ hội tác ý để nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, xuất ly khỏi các uẩn, mình tác ý cho thấm sự khổ, sự ngao ngán, sự chán chường, sự mệt mỏi với đống bao máu mủ, bệnh tật này.

Nghe một cái cũng bực bội, nhìn một cái cũng tham dục khởi lên, ai đụng chạm gì tới một chút phẫn nộ lên, mệt mỏi, thấp kém, hạ liệt, phàm phu ngu si. Mình tác ý như vậy, nắm bắt hết tất cả mọi cơ hội, đừng bỏ qua, gặp cái gì cũng tác ý hết thì sẽ đi đến tàn diệt các lậu hoặc, nó héo mòn, cái tươi nhuận trong dục hữu, hữu ái, sự vui thích, sung sướng, khoan khoái đó diệt từ từ, nó héo từ từ, nó mòn từ từ, nó ngã, nó đổ xuống rồi nằm nó mục rã hết. Đây là cái đồ tai nạn, hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, hiểm nạn, nguy nan không, nó tàn tạ, nó héo mòn, nó hư mục, nó rã nát.

Ăn chút cũng thấy mệt, uống vô một chút rồi đi tiểu 3-4 trận, nhiều khi gặp mấy ông mời uống trà, hết chung này tới chung kia là tối hết ngủ, khổ sở. Nhìn thấy ngao ngán, chán nản, cứ vậy mà làm hoài, tham, sân, si, dục ái hoài, đi tìm dục, đi khát dục, đi thèm dục, rồi sân, vô minh, bản ngã "khi dễ tôi hả" rồi đánh lộn, chết rồi chui vào thân mấy con vật, chui bò trong mấy trăm ngàn kiếp mới đầu thai lên làm người, nhưng làm người bị điếc, què, chột rồi câm, ngọng, bị ung thư. Sau đó mới làm phước thật là nhiều trong trăm ngàn đời lên rồi bò lên làm đại gia, xong rồi đi tà dâm, ngoại tình với vợ người ta rồi vô tù. Thật là mệt mỏi, chán nản!

Chúng ta cần phải thâm nhập, thâm nhập, thâm nhập và thể nhập thánh trí huệ, bất cứ nhìn cái gì tác ý cũng nhắc hoài, nhắc hoài cho nó chán. Làm cô giáo dạy học đúng ra là sướng nhưng cái kiến chấp dày quá, con ngồi ở trên nhìn xuống thấy ngồi mệt mỏi, thật là khổ vô cùng nhưng phải ráng chế ngự, nhiếp phục rồi vài bữa nó cũng ra nghĩa địa. Chút nữa xuống núi rồi không biết có về được không, về Bửu Liên mấy ngày, qua làng tu mấy ngày rồi ngoài Nha Trang mời giảng bốn năm cái chùa ngoài đó

"Người luôn luôn chánh niệm,

Sự sanh diệt các uẩn,

Được hoan hỉ, hân hoan,

Chỉ bậc bất tử biết"

(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 374)

Những ngày bệnh tu thích lắm, nằm đó không cần làm gì cả, nằm quán khổ, vô thường, bệnh, ung nhọt. Lúc khỏe còn tính này, tính nọ, tính kia, bệnh là nằm xuôi tay quán từ bỏ, buông xả, xả ly, phải như lý tác ý, phải nhắc nhớ cái tâm mình thường xuyên, gặp cái gì cũng nhắc. Nếu quên là sống trong vô minh, bất cứ lúc nào tâm mình ra khỏi đề mục là sống trong vô minh, là buông lung phóng dật, hễ tâm mình ra khỏi đề mục thiền quán là lúc đó buông lung, là vô minh.

Phải nhớ đề mục của mình, an trú trong đó, sống trong đó, giống như mình trôi dạt ngoài biển mà mình chụp được cái phao, buông cái phao ra thì chết chìm, không được buông cái đề mục ra, không được buông ra. Tu vậy mà không đắc quả nữa thì thôi, tu vậy mà không tàn diệt hết các lậu hoặc nữa thì thôi, tu vậy mà không đoạn tận hết tham, sân, si nữa thì thôi. Con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, không có thời gian, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.