Vua Trời hỏi Phật 2 - Kinh Đế Thích Sở Vấn - Trường Bộ
Vua Trời Hỏi Phật 2
Kinh Đế Thích Sở Vấn - Trường Bộ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hý luận – vọng tưởng PAGEREF _Toc114056729 \h 1
II. Thành tựu biệt giải thoát luật nghi PAGEREF _Toc114056730 \h 8
III. Thành tựu hộ trì căn PAGEREF _Toc114056731 \h 11
IV. Có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng một tư tưởng PAGEREF _Toc114056732 \h 13
I. Hý luận – vọng tưởng
Nhất hướng nhàm chán, ly tham đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn.
Trước khi vào học chúng ta có câu hỏi: Làm sao để diệt trừ các loại vọng tưởng? Hôm trước Đức Phật dạy cho Thiên chủ vì xan tham và tật đố nên con người không an lạc, bình an. Có xan tham tật đố vì có ưa ghét, vì có dục, tham muốn nên có ưa ghét, có sự hướng tâm tầm cầu nên có dục, ham muốn, vì có các loại vọng tưởng nên có sự hướng tâm tầm cầu. Câu hỏi tiếp theo là làm sao để diệt trừ các loại vọng tưởng hý luận? Đức Thế Tôn nói rằng sở dĩ có sự hướng tâm suy tầm tìm cầu là do các vọng tưởng làm nhân duyên, bấy giờ Thiên chủ Đế-thích mới hỏi Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, vị Tỳ-kheo phải chứng đạt như thế nào? Phải thành tựu con đường nào thích hợp và hướng dẫn diệt trừ các loại vọng tưởng hý luận?”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Người tu làm sao để chấm dứt những loại vọng tưởng lăng xăng, những lời nói phù phiếm vô ích? Đây là câu trả lời của Đức Phật mà chúng ta cần chú ý kĩ vì không phải dễ để nghe Thiên chủ cùng Pháp chủ đối thoại về Thánh Pháp. Nếu không có các bậc Thánh Tăng tường thuật lại thì vĩnh viễn mình cũng không được nghe bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thảo luận và trả lời câu hỏi của bậc Thiên chủ vua Trời Đế-Thích, cho nên đây là cuộc hỏi đáp kì thú, tối thượng và siêu việt của thế giới, chúng ta cần để tâm học hỏi, suy tư và quán chiếu sẽ đem lại nhiều lợi lạc, lạc ích trong sự tu tập của chúng ta.
“- Này Thiên chủ, Ta nói hý luận có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Nghĩa là niềm vui có hai loại, một loại niềm vui phải gần gũi, một loại niềm vui cần tránh xa. Niềm vui nào là niềm vui phải thân cận gần gũi và niềm vui nào cần tránh xa? Niềm vui nào mà bất thiện pháp tăng trưởng, những pháp ác và xấu lớn mạnh, pháp lành bị tổn giảm thì cái hỷ đó cần phải tránh xa. Niềm vui nào, cái hỷ nào làm pháp thiện tăng trưởng, pháp ác và bất thiện bị tổn giảm thì niềm hoan hỉ đó cần thân cận gần gũi. Cũng là cái vui nhưng làm cho pháp ác, pháp xấu, cái tội thì cái vui đó cần tránh xa, cái vui làm cho pháp lành, phước báo công đức trí tuệ thì phải thân cận gần gũi, phát triển.
“Ở đây, loại hỷ nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với hỷ này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm", thời hỷ ấy cần phải tránh xa. Ở đây loại hỷ nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với hỷ này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng", thời hỷ ấy nên thân cận.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Cái buồn cũng có hai loại, một loại buồn làm cho pháp ác lớn mạnh cần tránh xa, một loại buồn lo làm cho pháp thiện tăng trưởng thì cần thân cận gần gũi.
“Này Thiên chủ, Ta nói ưu cũng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì, tuyên bố như vậy? Ở đây, loại ưu nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với ưu này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm", thời ưu ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại ưu nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với ưu này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng", thời ưu ấy nên thân cận.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Những điều này rất quan trọng, nếu chúng ta không nắm được, không trạch pháp phân biệt rõ ràng thì mình sẽ bị nhầm lẫn trong khi tu tập. Không phải cái buồn nào cũng xấu, cái buồn lo đưa đến cái tệ, cái ác và xấu nhưng cũng có cái buồn lo đưa đến cái tốt, cái thiện, thù thắng, tăng thượng giới – định – tuệ thì cái buồn đó nên thân cận gần gũi và phát triển. Đức Thế Tôn nói xả thọ cũng có hai loại, một loại cần gần gũi, một loại cần tránh xa.
“Này Thiên chủ, Ta nói xả cũng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì, tuyên bố như vậy? Ở đây, loại xả nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với xả này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm", thời xả ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại xả nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với xả này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng", thời xả ấy nên thân cận.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Xả ở đây là không phải mừng cũng không phải buồn, không ưa cũng không ghét. Trạng thái đó là trạng thái của xả thọ, tức là trạng thái bất khổ bất lạc, đều đều, nó cũng có hai loại. Cảm giác thường thường nếu là thiện thì nên gần gũi còn cái đều đều đưa đến bất thiện thì cần tránh xa.
Trước nay chúng ta nghe tín – tấn – niệm – định – tuệ là ngũ căn, ngũ lực nhưng chúng ta chưa biết có thêm năm căn khác nữa. Trong Tương Ưng Bộ, tập V, bài kinh Phân tích (1) có nói đến năm căn khác nữa.
“-- Này các Tỳ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn... xả căn.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là lạc căn? Này các Tỳ-kheo, cái gì lạc thuộc về thân, cái gì thích thú thuộc về thân, cái gì lạc do thân xúc sanh, cái gì thích thú được cảm thọ; này các Tỳ-kheo, đây được gọi là lạc căn.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Đại Phẩm, Chương IV. Tương Ưng Căn (a), IV. Phẩm Lạc Căn, VI. Phân Tích (1))
Khi nói lạc thọ thì phải nói chính xác là cái vui của thân, thuộc về thân nhưng mình nói cái vui thuộc về tâm là hỷ thọ, hỷ căn. Hỷ với lạc rất khác nhau, lạc là niềm vui trên thân thể, cảm giác vui trên thân thể còn hỷ là cảm thọ vui trong tâm.
“Và này các Tỳ-kheo, thế nào là khổ căn? Này các Tỳ-kheo, cái gì khổ thuộc về thân, cái gì không thích thú thuộc về thân, cái gì khổ do thân xúc sanh, cái gì không thích thú được cảm thọ; này các Tỳ-kheo, đây được gọi là khổ căn.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Đại Phẩm, Chương IV. Tương Ưng Căn (a), IV. Phẩm Lạc Căn, VI. Phân Tích (1))
Chữ "khổ" là những cảm giác thuộc về thân, cảm thọ này do thân tiếp xúc sanh ra cái đó gọi là khổ. Ưu là cái gì khổ thuộc về tâm, cái gì không thích thú thuộc về tâm, cái gì khổ do ý súc sanh, cái gì không thích thú được cảm thọ gọi là ưu căn hoặc là ưu thọ. Cái khổ trong tâm, cái khổ do tiếp xúc bên trong là ý xúc, cái đó mình không thích thú là thuộc về ưu.
“Và này các Tỳ-kheo, thế nào là xả căn? Này các Tỳ-kheo, cái gì không thích thú và không không thích thú thuộc về thân hay thuộc về tâm được cảm thọ; này các Tỳ-kheo, đây được gọi là xả căn.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Đại Phẩm, Chương IV. Tương Ưng Căn (a), IV. Phẩm Lạc Căn, VI. Phân Tích (1))
Cái xả này chung cho cả thân và tâm, không thích thú và không không thích thú, tức là không ưa cũng không ghét thì gọi là xả. Ví dụ khi ăn, lưỡi tiếp xúc với những món ngon hoặc khi trời nóng mà mình tắm nước mát thì lúc đó thuộc về căn nào? Cái gì lạc thuộc về thân, cái gì thích thú thuộc về thân, cái gì lạc do thân xúc sanh, cái gì thích thú được cảm thọ; này các Tỳ-kheo, đây được gọi là lạc căn.
Như vậy cái mình ăn uống, tắm đó gọi là lạc thọ nhưng đang ngồi ăn uống ngon lành thì bỗng nhiên có điện thoại gọi đến, trong cuộc gọi đó có lời nói nặng nề, chỉ trích, hủy báng thì lúc đó tâm là ưu thọ. Cái gì khổ thuộc về tâm, cái gì không thích thú thuộc về tâm, cái gì khổ do ý xúc sanh, cái gì không thích thú được cảm thọ; này các Tỳ-kheo, đây được gọi là ưu căn.
Đại chúng đã phân biệt được chưa, đã nắm vững được chưa? Cần phân biệt được cảm thọ thân và cảm thọ tâm, còn xả thọ là không thích thú và không không thích thú thuộc về tâm được cảm thọ, không ưa không ghét cả thân tâm thì gọi là xả thọ. Ví dụ ở trước sân mình không thích không ghét cây cảnh nào hết thì mình đi qua bình thường, nhưng trong số những cây đó có con sâu thì mình ghét cây đó, mình muốn chặt bỏ cây đó thì đó không phải là xả thọ.
Nếu mình đi qua mà không ghét cũng không ưa cây nào, đi qua bình thản thì chỗ đó gọi là xả căn, xả thọ. Như vậy Đức Phật nói với Thiên chủ Đế-thích: Mừng vui, buồn lo và thường thường, ba loại cảm giác này cần thành tựu. Cái mừng vui đưa đến thiện pháp tăng trưởng, ví dụ chúng ta ngồi xung quanh đống lửa buổi sáng để nghe kinh, pháp đàm, thảo luận, mỗi người uống chén trà nóng thì hoan hỉ và cái vui mừng, hoan hỉ đó làm cho thiện pháp tăng trưởng.
Các thầy trẻ bây giờ xin con cho đá banh thì con hỏi đại chúng chuyện đá banh có phải vui không, cái vui đó đưa đến thiện pháp tăng trưởng hay thiện pháp suy giảm? Chúng ta không thành tựu chánh kiến, không học rõ cái pháp thì chúng ta sẽ không phân biệt được cái vui nào là cái vui đạo, cái vui nào là cái vui đời. Cho nên từ trước giờ có rất nhiều người gợi ý với con cho đá banh nhưng con chỉ im lặng. Khi ngồi thiền mà tâm ly dục hỷ lạc, hoan hỉ, thanh tịnh, an lạc thì cái vui đó làm tăng trưởng thiện pháp, còn giờ muốn xuống bếp nấu món ăn, bỏ luôn giờ ngồi thiền thì cái vui đó làm tăng trưởng hay suy giảm thiện pháp?
Đó là lý do tại sao ngày nào cũng phải nghe pháp, ngồi thiền, thường xuyên phải có pháp đàm, đó là thân cận với thiện pháp và xa lánh ác bất thiện pháp. Hai người uống café ngồi nói chuyện Đông Tây kim cổ thì có hỷ, có vui nhưng cái vui đó đưa đến thiện pháp suy giảm. Bây giờ chúng ta uống trà, nêu lên những pháp học, pháp hành trong đạo lộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác để nhìn nhận thân tâm, nhìn lại những cấu nhiễm, tham sân si còn tồn động trong tâm, từ đó cố gắng loại trừ thì cái này thiện pháp được tăng trưởng và đây cũng là điều chúng ta đang làm.
Người ta nghĩ rằng tu là phải vui, hoan hỉ, mặt lúc nào cũng cười nhưng không phải vậy, tu cũng cần có sự lo lắng, ưu tư. Nếu mình buồn vì không được ngũ dục, không được thú vui thế gian, buồn vì chán cuộc đời tu lẻ loi, nhạt nhẽo thì cái buồn đó làm thiện pháp suy giảm nhưng nếu buồn lo, rầu rĩ vì các ác bất thiện pháp, những dục tham hành hạ mà mình chưa nhiếp phục, những sân hận đốt cháy mà mình chưa dập tắt, si mê bóng đêm đang trùm phủ làm mình không có ánh sáng, bản ngã đang đè nặng mình, từ đó mình lo cố gắng nhiếp phục, tẩy sạch, chặt đứt để nó không còn sanh khởi trở lại trong tương lai.
Thì cái lo lắng này làm cho thiện pháp tăng trưởng, pháp lành lớn mạnh, như vậy người tu cũng cần có sự lo lắng, cần buồn đau đối với những cái xấu ác, tội lỗi, cái tâm ương ngạch, ta đây, kiêu căng, buồn đau với sự buông lung phóng dật, buông thả, buồn đau với dục tham ái, sân hận, thị phi, hơn thua, buồn khổ, suy tư với những thứ đó thì điều này làm cho lớn mạnh thiện pháp.
Còn cái buồn vì lạc lõng, lẻ loi, nhạt nhẽo, tiện nghi không có thì những cái buồn đó cần tránh xa, nhìn người kia đẹp mà mình xấu lại buồn tủi thì cái buồn đó phải tránh xa, đó là buồn trên sắc tướng, trên hình tướng, trên dục nên cái buồn đó cần diệt tận, buông bỏ. Cái buồn để làm lớn mạnh, tăng trưởng, phát triển giới – định – tuệ, diệt tận tham sân si để thể nhập Thánh trí thì cái buồn lo này rất cần thiết phát huy.
Cái xả cũng vậy, trạng thái tâm thường thường mà thiện pháp tăng trưởng thì phải thân cận. Sáng dậy ngồi thiền, đọc kinh, ra chấp tác làm công quả là bình thường, trưa thì chánh quán thọ thực là bình thường, nghe pháp ngồi thiền là bình thường, tối quán chiếu bất tịnh là bình thường thì cái bình thường đó làm tăng trưởng thiện pháp, lớn mạnh thiện pháp, cần phải có thời khóa bình thường đó, trong cái bình thường đó tác động tâm để suy tư quán chiếu, tăng thượng giới – định – tuệ, giải thoát giải thoát tri kiến học.
Đức Phật dạy chỉ có hai chữ là "thân cận" và "tránh xa", cái nào là thiện pháp thì gần gũi, cái nào bất thiện pháp thì tránh xa, điều này giúp diệt trừ các vọng tưởng, nghĩ lung tung, nghĩ vu vơ, nghĩ theo thói đòi thường tình, si mê. Hỷ, ưu, xả thường xuyên có mặt trong chúng ta cho nên cần nhớ thân cận với thiện pháp, mỗi ngày phải nghe pháp, ngồi thiền, quán chiếu, thân cận Thánh trí, Thánh Pháp, sự tu của chúng ta chỉ là thân cận pháp lành, cái nào là thiện pháp thì ở gần, bất thiện pháp thì tránh xa.
Đức Phật đưa ra những điều sâu sắc hơn về hỷ, ưu, xả có tầm có tứ và không có tầm, không có tứ. Đức Phật khen ngợi không có tầm, không có tứ thì thù thắng hơn, tán dương các tầng thiền sâu sắc. Chúng ta trong giai đoạn này cần khéo léo có tầm có tứ, cần có sự hướng tâm, bám và trú vào pháp đang thực hành, vì tâm chúng ta rất dễ đi sai hướng, ngay cả lúc nghe pháp cũng không tập trung, không tỏ sáng, không tùy văn nhập quán, khi trình pháp thì nói bị hôn trầm, bị loạn tưởng, ngồi mà trong tâm nghĩ lung tung nên chúng ta cần có sự hướng tâm về pháp, tập trung tâm ý về pháp, phải có sự dụng tâm, nếu không pháp không tăng trưởng lớn mạnh. Khi nghe Đức Phật trả lời thì Thiên chủ nói đúng như vậy.
“- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con được diệt tận, do dự của con được tiêu tan.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
II. Thành tựu biệt giải thoát luật nghi
Cách thức diệt trừ vọng tưởng chỉ có hai chữ là "thân cận". Thân cận thiện pháp, Thánh Pháp, Thánh trí, Thánh đạo. Vọng tưởng là những suy nghĩ ra ngoài pháp, đi theo đời, theo thế gian, theo phàm phu tham sân si, bản ngã.
“Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ tín thọ câu trả lời của Thế Tôn liền hỏi câu hỏi tiếp:
- Bạch Thế Tôn, vị Tỳ-kheo phải thành tựu như thế nào, phải thành tựu biệt giải thoát luật nghi như thế nào?”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Đức Thế Tôn đã biết các câu hỏi của vua Trời làm lợi lạc cho số đông, ngài hỏi tiếp một vị Tỳ-kheo phải thành tựu như thế nào để giới luật, biệt giải thoát luật nghi được thành tựu.
“Này Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói rằng tầm cầu có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Đức Phật đang nói về thân miệng ý.
“Này Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại thân hành nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với thân hành này, bất thiện pháp tăng tướng, thiện pháp suy giảm", thì thân hành ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại thân hành nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với thân hành này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng", thì thân hành ấy cần phải thân cận.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Đức Phật không nói phải làm cái này làm cái kia, cũng không nói không được làm cái này cái kia mà Đức Phật nói hành động nào làm pháp lành tăng trưởng lớn mạnh thì hãy gần gũi, hành động nào làm ác pháp tăng trưởng thì hãy tránh xa hành động đó. Như vậy trong mỗi hành động khi nói, đi, làm việc cần soi xét xem nó là thiện hay bất thiện.
“Này Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại khẩu hành nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với khẩu hành này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm", thì khẩu hành ấy phải tránh xa. Ở đây, loại khẩu hành nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với khẩu hành này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng", thì khẩu hành ấy cần phải thân cận.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Đức Phật chỉ dạy có hai chữ là "gần gũi" và " tránh xa", tất cả những câu hỏi của Đế-thích đều được Đức Phật trả lời như vậy, trong bài kinh Chánh Giác Đức Phật dạy làm bạn với thiện đưa đến Chánh Giác.
“Này các Tỳ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi như sau: "Thưa chư Hiền, các pháp chánh giác phần, lấy gì làm sở y để tu tập?" Ðược hỏi vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: "Ở đây, thưa chư Hiền, Tỳ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện. Này chư Hiền, đây là sở y thứ nhất để tu tập các pháp chánh giác phần".”
(Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, Phẩm Chánh Giác, (I) (1) Chánh Giác)
Chúng ta xem cái nào là thiện thì phải làm bạn với nó, lời pháp của Đức Phật mà chúng ta đọc mỗi sáng, nghe mỗi trưa, tụng vào mỗi tối là thiện nên cần gần gũi, thân cận, làm bạn với thiện, với Thánh, với trí, với tuệ, với giác, với đạo, với minh, với quang. Chúng ta đang ngồi nghe pháp là đang làm bạn với thiện, đang thân cận với thiện. Tầm cầu là sự suy tầm, sự hướng tâm thuộc về ác bất thiện pháp thì lánh xa, còn hành động, lời nói nào là thiện thì chúng ta tăng trưởng, phát triển, đó chính là bí quyết của sự thành tựu giới luật, thành tựu biệt giải thoát luật nghi là chỉ có hai chữ "gần" và "xa", "thân cận" và "lánh xa". Bất cứ hành động gì dù là của người ta hay chính mình nếu là ác bất thiện pháp cần lánh xa, bất cứ lời nói của mình hay của người là ác bất thiện pháp thì tránh xa, bất cứ sự suy tầm, sự suy nghĩ, sự hướng tâm của mình hoặc của người, đặc biệt là của mình, khi nhận diện ngũ uẩn mình thấy được sự suy tầm của mình là ác bất thiện pháp thì tránh xa, từ bỏ nó, nếu là thiện pháp, Thánh pháp, Thánh giải thoát thì làm cho nó lớn mạnh, phát triển. Khi nghe Đức Phật trả lời thì Thiên chủ rất hoan hỉ, vui sướng:
“- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ con được diệt tận, do dự con được tiêu tan.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Ngài hỷ lạc, thích thú khi Đức Phật trả lời câu hỏi. Như vậy bí quyết của việc giữ gìn giới luật là "gần" và "xa", gần với thiện và xa lánh ác bất thiện pháp. Những suy nghĩ, lời nói, hành động ác bất thiện pháp cần chấm dứt, lánh xa, những suy nghĩ, lời nói, hành động, những sự hướng tâm là thiện pháp, là Thánh Pháp, là trí tuệ pháp, từ bi pháp, công đức pháp là gần gũi, tăng trưởng, phát triển quảng đại, làm cho sung mãn vô lượng.
III. Thành tựu hộ trì căn
“Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỉ tín thọ lời dạy Thế Tôn liền hỏi câu hỏi tiếp:
- Bạch Thế Tôn, vị Tỳ-kheo phải thành tựu như thế nào, phải thành tựu hộ trì các căn như thế nào?”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Làm sao để thành tựu được sự giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình trong sự hộ trì căn?
“- Này Thiên chủ, sắc do mắt phân biệt. Ta nói rằng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. ày Thiên chủ, tiếng do tai phân biệt... hương do mũi phân biệt... vị do lưỡi phân biệt... xúc do thân phân biệt... Này Thiên chủ, pháp do ý phân biệt, Ta nói rằng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa.
Ðược nghe như vậy, Thiên chủ Sakka bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, vấn đề Thế Tôn nói một cách tóm tắt được con hiểu một cách rộng rãi. Bạch Thế Tôn, loại sắc do mắt phân biệt, khi con thân cận mà bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm, thời loại sắc do mắt phân biệt ấy nên tránh xa. Bạch Thế Tôn, loại sắc nào do mắt phân biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng, thời loại sắc do mắt phân biệt ấy nên thân cận. Bạch Thế Tôn, loại tiếng nào do tai phân biệt... loại hương nào do mũi phân biệt... loại vị nào do lưỡi phân biệt... loại xúc nào do thân phân biệt... loại pháp nào do ý phân biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm, thời loại pháp ấy nên tránh xa. Bạch Thế Tôn, loại pháp nào do ý phân biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng, thời loại pháp ấy nên thân cận.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Các loại sắc nào con mắt nhìn thấy khi thân cận làm bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm thì tránh xa. Tai với tiếng, mũi với mùi, lưỡi với vị, thân với sự xúc chạm, ý đối với pháp phân biệt cũng vậy. Đây là bí kiếp của sự hộ trì căn, khi con mắt thấy sắc thì có hai loại sắc, một loại nên gần và một loại nên tránh xa, nếu không tránh xa thì nguy hiểm, có tai họa, phải biết cái nào cần tránh xa và cái nào cần thân cận, đó là chánh kiến, là trí tuệ, là thấy pháp của mình.
Đống lửa đang cháy thì mình có đưa tay vào không? Tất nhiên là phải tránh xa, cơn thác lũ đang chảy cuồn cuộn có nên đứng gần không? Khi nãy là đốt còn giờ nó sẽ cuốn mình đi, có nên đứng ở bờ vực dốc đứng sâu thẳm không? Cũng vậy, sắc nào, tiếng nào, mùi vị nào, sự tiếp xúc nào là nguy hiểm, là ác pháp thì phải tránh xa, sắc nào làm cho thiện pháp tăng trưởng. Trời mây bao la, núi đồi, tịnh thất, bộ xương, đống tro tàn, chiếc quan tài… là những hình ảnh có thể làm tăng trưởng thiện pháp, hướng đến ly tham, yểm ly, từ bỏ, đoạn diệt, chấm dứt, thoát ly thì đó là Thánh Pháp, cần phải thân cận.
Những âm thanh nào là âm thanh trí tuệ, âm thanh của pháp, của sự thật, những lời nói của bậc tối tôn, tối thượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, văn vô thượng, kiến vô thượng cần phải nghe, thân cận, cần phải học thuộc lòng, tư duy, quán chiếu, thẩm sát. Phải biết được cái nào cần thân cận, cái nào cần tránh xa thì mình sẽ hộ trì được căn chứ không phải cái nào mình cũng tham gia, can thiệp vào. Cần phải y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt hướng đến từ bỏ. Từ sự diệt trừ các vọng tưởng, thành tựu các giới luật, hộ trì các căn đều được Đức Phật trả lời chỉ bằng hai chữ "gần gũi" và "tránh xa".
IV. Có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng một tư tưởng
“- Bạch Thế Tôn, có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng một tư tưởng, đồng một giới hạnh, đồng một mong cầu, đồng một chí hướng?”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Có phải tất cả người tu đều cùng chung một tư tưởng, một giới hạnh, một sự mong cầu, cùng chung chí hướng không?
“- Này Thiên chủ, tất cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một tư tưởng, không đồng một giới hạnh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng!
- Bạch Thế Tôn, vì sao cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một giới hạnh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng?
- Này Thiên chủ, thế giới này gồm có nhiều loại giới, nhiều giới sai biệt. Trong thế giới gồm có nhiều loại giới và nhiều giới sai biệt này, các loại hữu tình tự nhiên thiên chấp một loại giới nào, và khi đã thiên chấp, trở thành Kiên trì, cố thủ, với định kiến: "Ðây là sự thật, ngoài ra toàn là si mê". Do vậy, tất cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một tư tưởng, không đồng một giới hạnh, không đồng một cứu cánh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Từ "giới" có nghĩ là cảnh giới, giới vực, là phạm trù, phạm vi, chủng loại. Thế Tôn nói thế giới này có rất nhiều cảnh giới, nghiệp báo, tâm niệm khác nhau. Do vì cảm thọ, nghiệp báo, cảnh giới khác nhau như vậy nên khi các loài hữu tình chấp vào giới nào thì nó trở thành kiên trì và cố thủ vào cảnh giới đó, nó trở thành định kiến tức là một cái thấy biết cố định, cứng chắc. Câu nói này của Đức Phật chứa đựng cả một bầu trời tuệ giác, con nghe những người hàng xóm kể lại những người làm nghề đồ tể, mổ heo khi chết phải để con dao ở đầu gường, trước khi chết họ quằn quại rất đau khổ.
Có những người làm nghề bác sĩ khoa sản đau khổ suốt đời vì nghề nghiệp nên phải phạm tội, những hành vi, cảm thọ đó đeo bám suốt cuộc đời họ. Những người trộm cắp, giết người vào tù ra khám như cơm bữa. Đó là những cái nhỏ, cái thô rồi lên những cái tế, những người có học thức thì kiến chấp vào tri thức rồi tự cao, tự phụ với kiến thức của mình.
Những người nghèo khổ, thấp kém lại ôm ấp sự tự ti trong suy nghĩ, họ đau khổ với cái tự ti đó, những người tự tôn lại đau khổ với cái tự tôn đó. Người kinh doanh chỉ nghĩ làm giàu là số một, tư tưởng ngày xưa là sĩ – nông – công – thương (trí thức – nông dân – thủ công nghiệp – buôn bán), trong đó tầng lớp thương nhân buôn bán được xếp sau cùng nhưng xã hội hiện đại người doanh nhân làm kinh doanh lại được xếp đầu. Tùy theo thời cuộc, xã hội, tập tục thói quen mà những sự thấy biết, kiến chấp cứ lẩn quẩn.
Chỉ có một cánh rừng mà có nhiều sự thấy biết khác nhau. Lâm tặc có cái nhìn của lâm tặc, thợ mộc có cái nhìn của thợ mộc, thầy thuốc lại có cái nhìn khác nữa, thầy tu lại thấy khác hơn những người kia. Thợ mộc chỉ toàn thấy gỗ, lâm tặc thì vào rừng chỉ có kiếm tiền, thầy thuốc đi tìm các loại dược thảo, người kinh doanh có khi lại mở khách sạn, xây dựng khu nghỉ dưỡng, còn thầy tu chỉ thấy chỗ này yên tĩnh để ngồi thiền, chỉ có một cảnh giới mà do tâm niệm, nghiệp lực, cách nhìn khác nhau như vậy thì huống gì có nhiều cảnh giới sai biệt.
Một người ở trong tâm niệm như vậy thì họ Kiên trì, cố thủ, với định kiến: "Ðây là sự thật, ngoài ra toàn là si mê", chỉ có mình tôi là đúng còn lại sai hết. Đi lên cao hơn chút thì tùy theo cách nhìn tôn giáo, tông phái mà không thấy bản chất của Đức Phật dạy thì mình chấp vào cái thấy biết của tông của phái rồi chỉ thấy đây là sự thật, ngoài ra toàn là si mê, ngay thời Đức Phật còn tại thế đã có biết bao kiếp chấp sai lầm, trong kinh Phạm võng có 62 tà kiến về chấp ngã, có cái chấp là hiện tại Niết-bàn luận, cho rằng hạnh phúc, hưởng ngũ dục ngay trong hiện tại đã là Niết-bàn.
“Này các Tỳ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hiện tại Niết Bàn luận, chấp trước sự hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.”
(Trường Bộ Kinh, 1. Kinh Phạm võng)
Có những người nghĩ rằng ngồi ngay Cổng Trời đã là an lạc, Niết-bàn. Chính những sự kiến chấp, kiên trì, cố thủ, định kiến này làm cho người ta không nhìn thấy được sự thật phổ quát chân lý tuyệt đối, người ta bị tưởng tri là cái biết của si tưởng che đậy cái tâm, người ta bị cái biết của kiến thức, nhận thức, kinh nghiệm che đậy cái tâm, người ta bị cái biết của thói quen, nghiệp lực, tham dục, tham ái che đậy, trói cột, sai khiến cái tâm.
Không ra được năm triền cái thì cái tâm bị bao trùm, che đậy và bị sai khiến cho nên cái kiến chấp rất ghê gớm, để phá được kiến chấp và thành tựu chánh tri kiến rất gian nan, cả một sự chân thành tha thiết cung kính để mong cầu đạt được cái thấy biết đúng sự thật. Đức Phật nói tất cả 62 tà kiến trong kinh Phạm võng đều bắt nguồn từ cảm thọ.
Khi tu mà được sự an lạc nhất định trong trạng thái đó thì họ hoan hỉ trong đó, khoan khoái, ái trước trong đó, họ không đi ra khỏi cảm thọ đó được, chính chỗ này mà Thái tử Tất-đạt-đa khi học ở các vị thầy của mình mà đạt được tứ thiền bát định rồi ngài lại từ bỏ vì cái này không đưa đến ly tham, không đưa đến đoạn tận, thắng trí, giác ngộ Niết-bàn, không đưa đến từ bỏ sanh, già, bệnh, tử. Ngài bỏ đi và bỏ hết những kiến chấp, chấp thủ, định kiến rồi ngài thành tựu Thánh tri kiến là sự thấy biết của bậc Thánh.
“Này các Tỳ-kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ". Như vậy này các Tỳ-kheo, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.”
(Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Chính cái này mới tạo ra những tư tưởng khác nhau, trong những thời kì tư tưởng của Phật Giáo gọi là Phật Giáo tư tưởng sử, trải qua mấy ngàn năm lịch sử thì tư tưởng thay đổi từng chặng, thay đổi quan điểm, cách nhìn và những lời dạy của Đức Phật.
Cho nên chúng ta có rất nhiều phúc đức được quay ngược lại uống nước tận nguồn của 2600 năm trước, điều này là vi diệu, hy hữu, tối thượng, nếu không chúng ta sẽ bị cố thủ, kiên trì, định kiến theo những cái chúng ta thích hoặc theo những thứ thông dụng, truyền thống, xưa bày nay làm, người ta sao thì mình vậy. Đây là cả một sự truy tầm chân lý, chân thành đối với sự thật, thiết tha đối với Chánh Pháp, cổ nhân có câu: "Thà rằng chẳng biết cho xong, biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu, người có tâm sẽ hiểu cho ta". Con đọc cho đại chúng nghe tin nhắn của một thầy mới gửi cho con, trích dẫn lời dạy của cố đại trưởng lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu:
"Đối với tôi, khi nào tôi đọc luận thì nhức óc lắm, khi nào đọc kinh thì rất khỏe, đọc Nikāya lại càng khỏe hơn. Lúc đầu thú thật với anh em khi tôi còn học ở trường chuyên học giáo nghĩa Đại Thừa, khi nghe thầy phân tích lý luận thì nghe rất thâm thúy, sâu xa vô cùng, đến khi đọc A-hàm thấy nó cạn quá, cảm tưởng không có gì sâu sắc hết. Học bên Đại Thừa thì nói "sắc sắc không không", cái lý mờ mờ cao cao, thấy mà như không thấy, còn bên A-hàm sao thấy nó gần gũi quá.
Lúc trước nói thật trong thời gian học đọc tới A-hàm là đọc không vô, không đọc vô nổi bởi thấy không có ý nghĩa gì sâu sắc hết nhưng sau một thời gian qua dạy dỗ, viết sách và nghiên cứu, giai đoạn học trò đó qua rồi, vả lại càng lớn tuổi đọc lại A-hàm và Nikāya thấy nó thích thú vô cùng, thấy thâm thúy và sung sướng lạ đời. Tôi nói như vậy để rồi anh em chắc cũng có cùng tâm trạng như tôi khi còn trẻ mà đọc A-hàm, Nikāya, anh em nay có cái duyên sớm đọc được Nikāya hơn chúng tôi ngày xưa".
Bài viết này con mới đọc từ một vị tôn đức ngày xưa thấy rất giống ý tưởng của sư phụ ạ.
Cố Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Siêu là một bậc cao Tăng rất lớn của Phật Giáo Việt Nam, ngài dịch hết bộ Đại trí độ luận, dịch kinh Pháp Cú và có rất nhiều công trình lớn khác, ngài là trụ trì chùa Từ Đàm. Lúc trước con xuất gia được vài tháng thì được ra Huế quỳ đảnh lễ ngài, tấm hình đó đến nay vẫn còn, bây giờ ngài đã viên tịch. Thật sự rất tuyệt vời, đại chúng hãy cố gắng. Hạnh phúc cho chúng ta!
Phước báo cho chúng ta! Hy hữu, hiếm có cho chúng ta, thù thắng, vi diệu tối thượng, văn vô thượng, kiến vô thượng, lợi đắc vô thượng, phụng sự vô thượng, sự tu học tối thượng nên phải cố gắng, nếu không chúng ta tu trong một rừng rậm, học trong một sa mạc mênh mông bao la, không biết đường nào đi, trong cả một rừng kinh sách, chữ nghĩa không thấy lối ra. Cho nên Đức Phật nói đều là người tu hành nhưng không cùng chung tư tưởng, giới hạnh, cứu cánh, mong cầu và không cùng chung chí hướng vì kiến chấp sai biệt, đây là câu trả lời cho Thiên chủ, chúng ta nghe Thiên chủ hỏi tiếp:
“- Bạch Thế Tôn, có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích?”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Câu hỏi ở trên Thiên chủ hỏi về tư tưởng, mong cầu và chí hướng, tức là con đường đi có giống nhau không, còn bây giờ Thiên chủ hỏi về đích đến của người tu có giống nhau không.
“- Này Thiên chủ, tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích.
Bạch Thế Tôn, vì sao tất cả Sa môn, Bà la môn, không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích?
- Này Thiên chủ, chỉ những vị Sa môn Bà la môn nào đã giải thoát tham ái, những vị ấy mới đồng một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích. Do vậy, tất cả vị Sa môn, Bà la môn không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Chỉ những vị tu hành nào đã giải thoát khỏi tham ái thì những vị ấy mới giống nhau ở chỗ đạt đến cứu cánh. Chỉ những vị nào giải thoát, đoạn tận hết tham ái thì những vị đó có cùng nhau đích đến cứu cánh an ổn. Câu trả lời của Đức Phật là tối thượng vi diệu, không một ai ngoài Đức Như Lai, thậm chí đến những bậc A-la-hán có thể trả lời câu này.
Chỉ có giải thoát khỏi tham ái mới giống nhau chỗ cứu cánh còn không giải thoát khỏi tham ái thì không đồng nhau chỗ mục đích cứu cánh. Xin thưa đại chúng, có nhiều vị đến và đi tại Linh Quy nhưng con không buồn phiền, những vị nào muốn đoạn tận tham ái sẽ cùng đi chung với nhau, còn không cùng chung giải thoát tham ái, đoạn tận tham ái thì đường ai nấy đi, cho nên có gì để buồn, có gì để vui như câu hát "đường anh anh đi, đường tôi tôi đi, tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi". Những người nào hướng đến giải thoát tham ái, đoạn tận tham ái sẽ gặp được nhau, tu mà muốn cái này cái kia thì làm sao đạt đến cứu cánh của giải thoát tham ái, làm sao có thể diệt tận sanh y, phá trừ kiết sử, thành tựu chánh trí, bẻ gãy kiêu mạn, chứng nhập Niết-bàn?
“Ðó là hình thức câu trả lời Thế Tôn cho câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỉ, tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói:
- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ con được diệt tận, do dự con được tiêu tan.
Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỉ, tín thọ lời dạy Thế Tôn liền hỏi câu tiếp:
- Bạch Thế Tôn, tham ái là bệnh tật, tham ái là mụn nhọt, tham ái là mũi tên, tham ái dắt dẫn con người tái sanh đời này, đời khác, khiến con người khi cao, khi thấp. Bạch Thế Tôn, trong khi các Sa môn, Bà la môn khác ngoài giáo phái của Ngài không cho con dịp để hỏi những câu hỏi, thời Thế Tôn lại trả lời những câu hỏi ấy cho con, giảng giải rất lâu cho con, khiến mũi tên nghi ngờ, do dự của con được Thế Tôn rút nhổ đi.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Thiên chủ không phải là vị vua Trời bình thường mà là Thánh đệ tử Thiên, ngài thuộc hết bài giảng của Thế Tôn nên ngài mới nói lại lời Thế Tôn tham ái là bệnh tật, tham ái là mụn nhọt, tham ái là mũi tên, tham ái dắt dẫn con người tái sanh đời này, đời khác, khiến con người khi cao, khi thấp. Qua đây chúng ta thấy vị vua Trời có những câu hỏi rất kì thú và Đức Phật trả lời cũng rất thậm thâm vi diệu. Chúng ta có cảm nhận được mình đang thân cận với thiện pháp Thánh trí không?
Vị vua trời nói với Đức Phật khi ngài hỏi những câu này không có ai trả lời cho ngài, chỉ có một mình Thế Tôn trả lời đầy đủ, rõ ràng. Đức Phật nói nếu không ngại thì Thiên chủ có thể kể lại những vị khác trả lời như thế nào câu hỏi này của ông.
“- Này Thiên chủ, những vị ấy trả lời với Ngươi như thế nào, nếu không gì trở ngại hãy nói cho biết.
- Bạch Thế Tôn, không gì trở ngại cho con, khi Thế Tôn ngồi nghe hay những vị như Thế Tôn.
- Này Thiên chủ, vậy Ngươi hãy nói đi.
- Bạch Thế Tôn, những vị Sa môn, Bà la môn mà con nghĩ là những vị sống trong rừng an tịnh, xa vắng, con đi đến những vị ấy và hỏi những câu hỏi ấy. Các vị này không trả lời cho con, không trả lời lại hỏi ngược con: "Tôn giả tên gì?" Ðược hỏi vậy con trả lời: "Chư Hiền giả, tên là Thiên chủ Sakka." Rồi những vị ấy lại hỏi thêm con câu nữa: "Do công việc gì Tôn giả Thiên chủ lại đến chỗ này?" Con liền giảng cho những vị ấy Chánh pháp như con đã được nghe và đã được học. Chỉ được từng ấy, các vị hoan hỉ và nói: "Chúng tôi đã được thấy Thiên chủ Sakka. Những điều gì chúng tôi hỏi, vị ấy đều trả lời cho chúng tôi." Không những vậy, các vị này trở thành đệ tử của con, chớ không phải con là đệ tử của các vị ấy. Bạch Thế Tôn, nhưng con là đệ tử của Thế Tôn, đã chứng Dự lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn sẽ được giác ngộ.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Những vị đạo sĩ khác thấy Thiên chủ có ánh hào quang rực rỡ ghé xuống đều mừng rỡ, hỏi rằng ngài tên gì, có việc gì lại đến đây. Ngài xuống là muốn hỏi đạo nhưng cuối cùng những vị đó lại hỏi đạo ngược lại ngài rồi ngài phải giảng cho những người đó những lời ngài học được từ Thế Tôn, những vị ngài muốn hỏi trở thành đệ tử của ngài. Nếu thật sự không phải bậc Thánh thì nhìn thấy chư Thiên bình thường thôi chứ đừng nói gì đến vua Trời là ngưỡng mộ, khoan khoái, ưa thích, làm mất địa vị của người thầy phải trở lại làm người đệ tử. Cho nên khi trở thành bậc Dự Lưu rồi chỉ có thờ Thế Tôn làm thầy thôi, trừ các bậc đã vào hàng bốn đôi tám chúng, là Thánh Quả. Đức Phật nói tiếp:
“- Này Thiên chủ, Ngươi có biết trước kia Ngươi không bao giờ có sự thoải mái như vậy, có được sự hỷ lạc như vậy?
- Bạch Thế Tôn, trước kia con không bao giờ có sự thoải mái như vậy, có được an lạc như vậy.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Vua Trời chứng quả Dự Lưu, trong khi mình xuất gia cạo tóc như vầy mà không vào được Dự Lưu thì thật xấu hổ, nhục nhã, thấp kém và hèn hạ. Phải cố gắng nỗ lực, quyết chí tiến lên.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
Kinh Đế Thích Sở Vấn - Trường Bộ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hý luận – vọng tưởng PAGEREF _Toc114056729 \h 1
II. Thành tựu biệt giải thoát luật nghi PAGEREF _Toc114056730 \h 8
III. Thành tựu hộ trì căn PAGEREF _Toc114056731 \h 11
IV. Có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng một tư tưởng PAGEREF _Toc114056732 \h 13
I. Hý luận – vọng tưởng
Nhất hướng nhàm chán, ly tham đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn.
Trước khi vào học chúng ta có câu hỏi: Làm sao để diệt trừ các loại vọng tưởng? Hôm trước Đức Phật dạy cho Thiên chủ vì xan tham và tật đố nên con người không an lạc, bình an. Có xan tham tật đố vì có ưa ghét, vì có dục, tham muốn nên có ưa ghét, có sự hướng tâm tầm cầu nên có dục, ham muốn, vì có các loại vọng tưởng nên có sự hướng tâm tầm cầu. Câu hỏi tiếp theo là làm sao để diệt trừ các loại vọng tưởng hý luận? Đức Thế Tôn nói rằng sở dĩ có sự hướng tâm suy tầm tìm cầu là do các vọng tưởng làm nhân duyên, bấy giờ Thiên chủ Đế-thích mới hỏi Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, vị Tỳ-kheo phải chứng đạt như thế nào? Phải thành tựu con đường nào thích hợp và hướng dẫn diệt trừ các loại vọng tưởng hý luận?”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Người tu làm sao để chấm dứt những loại vọng tưởng lăng xăng, những lời nói phù phiếm vô ích? Đây là câu trả lời của Đức Phật mà chúng ta cần chú ý kĩ vì không phải dễ để nghe Thiên chủ cùng Pháp chủ đối thoại về Thánh Pháp. Nếu không có các bậc Thánh Tăng tường thuật lại thì vĩnh viễn mình cũng không được nghe bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thảo luận và trả lời câu hỏi của bậc Thiên chủ vua Trời Đế-Thích, cho nên đây là cuộc hỏi đáp kì thú, tối thượng và siêu việt của thế giới, chúng ta cần để tâm học hỏi, suy tư và quán chiếu sẽ đem lại nhiều lợi lạc, lạc ích trong sự tu tập của chúng ta.
“- Này Thiên chủ, Ta nói hý luận có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Nghĩa là niềm vui có hai loại, một loại niềm vui phải gần gũi, một loại niềm vui cần tránh xa. Niềm vui nào là niềm vui phải thân cận gần gũi và niềm vui nào cần tránh xa? Niềm vui nào mà bất thiện pháp tăng trưởng, những pháp ác và xấu lớn mạnh, pháp lành bị tổn giảm thì cái hỷ đó cần phải tránh xa. Niềm vui nào, cái hỷ nào làm pháp thiện tăng trưởng, pháp ác và bất thiện bị tổn giảm thì niềm hoan hỉ đó cần thân cận gần gũi. Cũng là cái vui nhưng làm cho pháp ác, pháp xấu, cái tội thì cái vui đó cần tránh xa, cái vui làm cho pháp lành, phước báo công đức trí tuệ thì phải thân cận gần gũi, phát triển.
“Ở đây, loại hỷ nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với hỷ này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm", thời hỷ ấy cần phải tránh xa. Ở đây loại hỷ nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với hỷ này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng", thời hỷ ấy nên thân cận.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Cái buồn cũng có hai loại, một loại buồn làm cho pháp ác lớn mạnh cần tránh xa, một loại buồn lo làm cho pháp thiện tăng trưởng thì cần thân cận gần gũi.
“Này Thiên chủ, Ta nói ưu cũng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì, tuyên bố như vậy? Ở đây, loại ưu nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với ưu này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm", thời ưu ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại ưu nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với ưu này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng", thời ưu ấy nên thân cận.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Những điều này rất quan trọng, nếu chúng ta không nắm được, không trạch pháp phân biệt rõ ràng thì mình sẽ bị nhầm lẫn trong khi tu tập. Không phải cái buồn nào cũng xấu, cái buồn lo đưa đến cái tệ, cái ác và xấu nhưng cũng có cái buồn lo đưa đến cái tốt, cái thiện, thù thắng, tăng thượng giới – định – tuệ thì cái buồn đó nên thân cận gần gũi và phát triển. Đức Thế Tôn nói xả thọ cũng có hai loại, một loại cần gần gũi, một loại cần tránh xa.
“Này Thiên chủ, Ta nói xả cũng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì, tuyên bố như vậy? Ở đây, loại xả nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với xả này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm", thời xả ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại xả nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với xả này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng", thời xả ấy nên thân cận.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Xả ở đây là không phải mừng cũng không phải buồn, không ưa cũng không ghét. Trạng thái đó là trạng thái của xả thọ, tức là trạng thái bất khổ bất lạc, đều đều, nó cũng có hai loại. Cảm giác thường thường nếu là thiện thì nên gần gũi còn cái đều đều đưa đến bất thiện thì cần tránh xa.
Trước nay chúng ta nghe tín – tấn – niệm – định – tuệ là ngũ căn, ngũ lực nhưng chúng ta chưa biết có thêm năm căn khác nữa. Trong Tương Ưng Bộ, tập V, bài kinh Phân tích (1) có nói đến năm căn khác nữa.
“-- Này các Tỳ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn... xả căn.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là lạc căn? Này các Tỳ-kheo, cái gì lạc thuộc về thân, cái gì thích thú thuộc về thân, cái gì lạc do thân xúc sanh, cái gì thích thú được cảm thọ; này các Tỳ-kheo, đây được gọi là lạc căn.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Đại Phẩm, Chương IV. Tương Ưng Căn (a), IV. Phẩm Lạc Căn, VI. Phân Tích (1))
Khi nói lạc thọ thì phải nói chính xác là cái vui của thân, thuộc về thân nhưng mình nói cái vui thuộc về tâm là hỷ thọ, hỷ căn. Hỷ với lạc rất khác nhau, lạc là niềm vui trên thân thể, cảm giác vui trên thân thể còn hỷ là cảm thọ vui trong tâm.
“Và này các Tỳ-kheo, thế nào là khổ căn? Này các Tỳ-kheo, cái gì khổ thuộc về thân, cái gì không thích thú thuộc về thân, cái gì khổ do thân xúc sanh, cái gì không thích thú được cảm thọ; này các Tỳ-kheo, đây được gọi là khổ căn.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Đại Phẩm, Chương IV. Tương Ưng Căn (a), IV. Phẩm Lạc Căn, VI. Phân Tích (1))
Chữ "khổ" là những cảm giác thuộc về thân, cảm thọ này do thân tiếp xúc sanh ra cái đó gọi là khổ. Ưu là cái gì khổ thuộc về tâm, cái gì không thích thú thuộc về tâm, cái gì khổ do ý súc sanh, cái gì không thích thú được cảm thọ gọi là ưu căn hoặc là ưu thọ. Cái khổ trong tâm, cái khổ do tiếp xúc bên trong là ý xúc, cái đó mình không thích thú là thuộc về ưu.
“Và này các Tỳ-kheo, thế nào là xả căn? Này các Tỳ-kheo, cái gì không thích thú và không không thích thú thuộc về thân hay thuộc về tâm được cảm thọ; này các Tỳ-kheo, đây được gọi là xả căn.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Đại Phẩm, Chương IV. Tương Ưng Căn (a), IV. Phẩm Lạc Căn, VI. Phân Tích (1))
Cái xả này chung cho cả thân và tâm, không thích thú và không không thích thú, tức là không ưa cũng không ghét thì gọi là xả. Ví dụ khi ăn, lưỡi tiếp xúc với những món ngon hoặc khi trời nóng mà mình tắm nước mát thì lúc đó thuộc về căn nào? Cái gì lạc thuộc về thân, cái gì thích thú thuộc về thân, cái gì lạc do thân xúc sanh, cái gì thích thú được cảm thọ; này các Tỳ-kheo, đây được gọi là lạc căn.
Như vậy cái mình ăn uống, tắm đó gọi là lạc thọ nhưng đang ngồi ăn uống ngon lành thì bỗng nhiên có điện thoại gọi đến, trong cuộc gọi đó có lời nói nặng nề, chỉ trích, hủy báng thì lúc đó tâm là ưu thọ. Cái gì khổ thuộc về tâm, cái gì không thích thú thuộc về tâm, cái gì khổ do ý xúc sanh, cái gì không thích thú được cảm thọ; này các Tỳ-kheo, đây được gọi là ưu căn.
Đại chúng đã phân biệt được chưa, đã nắm vững được chưa? Cần phân biệt được cảm thọ thân và cảm thọ tâm, còn xả thọ là không thích thú và không không thích thú thuộc về tâm được cảm thọ, không ưa không ghét cả thân tâm thì gọi là xả thọ. Ví dụ ở trước sân mình không thích không ghét cây cảnh nào hết thì mình đi qua bình thường, nhưng trong số những cây đó có con sâu thì mình ghét cây đó, mình muốn chặt bỏ cây đó thì đó không phải là xả thọ.
Nếu mình đi qua mà không ghét cũng không ưa cây nào, đi qua bình thản thì chỗ đó gọi là xả căn, xả thọ. Như vậy Đức Phật nói với Thiên chủ Đế-thích: Mừng vui, buồn lo và thường thường, ba loại cảm giác này cần thành tựu. Cái mừng vui đưa đến thiện pháp tăng trưởng, ví dụ chúng ta ngồi xung quanh đống lửa buổi sáng để nghe kinh, pháp đàm, thảo luận, mỗi người uống chén trà nóng thì hoan hỉ và cái vui mừng, hoan hỉ đó làm cho thiện pháp tăng trưởng.
Các thầy trẻ bây giờ xin con cho đá banh thì con hỏi đại chúng chuyện đá banh có phải vui không, cái vui đó đưa đến thiện pháp tăng trưởng hay thiện pháp suy giảm? Chúng ta không thành tựu chánh kiến, không học rõ cái pháp thì chúng ta sẽ không phân biệt được cái vui nào là cái vui đạo, cái vui nào là cái vui đời. Cho nên từ trước giờ có rất nhiều người gợi ý với con cho đá banh nhưng con chỉ im lặng. Khi ngồi thiền mà tâm ly dục hỷ lạc, hoan hỉ, thanh tịnh, an lạc thì cái vui đó làm tăng trưởng thiện pháp, còn giờ muốn xuống bếp nấu món ăn, bỏ luôn giờ ngồi thiền thì cái vui đó làm tăng trưởng hay suy giảm thiện pháp?
Đó là lý do tại sao ngày nào cũng phải nghe pháp, ngồi thiền, thường xuyên phải có pháp đàm, đó là thân cận với thiện pháp và xa lánh ác bất thiện pháp. Hai người uống café ngồi nói chuyện Đông Tây kim cổ thì có hỷ, có vui nhưng cái vui đó đưa đến thiện pháp suy giảm. Bây giờ chúng ta uống trà, nêu lên những pháp học, pháp hành trong đạo lộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác để nhìn nhận thân tâm, nhìn lại những cấu nhiễm, tham sân si còn tồn động trong tâm, từ đó cố gắng loại trừ thì cái này thiện pháp được tăng trưởng và đây cũng là điều chúng ta đang làm.
Người ta nghĩ rằng tu là phải vui, hoan hỉ, mặt lúc nào cũng cười nhưng không phải vậy, tu cũng cần có sự lo lắng, ưu tư. Nếu mình buồn vì không được ngũ dục, không được thú vui thế gian, buồn vì chán cuộc đời tu lẻ loi, nhạt nhẽo thì cái buồn đó làm thiện pháp suy giảm nhưng nếu buồn lo, rầu rĩ vì các ác bất thiện pháp, những dục tham hành hạ mà mình chưa nhiếp phục, những sân hận đốt cháy mà mình chưa dập tắt, si mê bóng đêm đang trùm phủ làm mình không có ánh sáng, bản ngã đang đè nặng mình, từ đó mình lo cố gắng nhiếp phục, tẩy sạch, chặt đứt để nó không còn sanh khởi trở lại trong tương lai.
Thì cái lo lắng này làm cho thiện pháp tăng trưởng, pháp lành lớn mạnh, như vậy người tu cũng cần có sự lo lắng, cần buồn đau đối với những cái xấu ác, tội lỗi, cái tâm ương ngạch, ta đây, kiêu căng, buồn đau với sự buông lung phóng dật, buông thả, buồn đau với dục tham ái, sân hận, thị phi, hơn thua, buồn khổ, suy tư với những thứ đó thì điều này làm cho lớn mạnh thiện pháp.
Còn cái buồn vì lạc lõng, lẻ loi, nhạt nhẽo, tiện nghi không có thì những cái buồn đó cần tránh xa, nhìn người kia đẹp mà mình xấu lại buồn tủi thì cái buồn đó phải tránh xa, đó là buồn trên sắc tướng, trên hình tướng, trên dục nên cái buồn đó cần diệt tận, buông bỏ. Cái buồn để làm lớn mạnh, tăng trưởng, phát triển giới – định – tuệ, diệt tận tham sân si để thể nhập Thánh trí thì cái buồn lo này rất cần thiết phát huy.
Cái xả cũng vậy, trạng thái tâm thường thường mà thiện pháp tăng trưởng thì phải thân cận. Sáng dậy ngồi thiền, đọc kinh, ra chấp tác làm công quả là bình thường, trưa thì chánh quán thọ thực là bình thường, nghe pháp ngồi thiền là bình thường, tối quán chiếu bất tịnh là bình thường thì cái bình thường đó làm tăng trưởng thiện pháp, lớn mạnh thiện pháp, cần phải có thời khóa bình thường đó, trong cái bình thường đó tác động tâm để suy tư quán chiếu, tăng thượng giới – định – tuệ, giải thoát giải thoát tri kiến học.
Đức Phật dạy chỉ có hai chữ là "thân cận" và "tránh xa", cái nào là thiện pháp thì gần gũi, cái nào bất thiện pháp thì tránh xa, điều này giúp diệt trừ các vọng tưởng, nghĩ lung tung, nghĩ vu vơ, nghĩ theo thói đòi thường tình, si mê. Hỷ, ưu, xả thường xuyên có mặt trong chúng ta cho nên cần nhớ thân cận với thiện pháp, mỗi ngày phải nghe pháp, ngồi thiền, quán chiếu, thân cận Thánh trí, Thánh Pháp, sự tu của chúng ta chỉ là thân cận pháp lành, cái nào là thiện pháp thì ở gần, bất thiện pháp thì tránh xa.
Đức Phật đưa ra những điều sâu sắc hơn về hỷ, ưu, xả có tầm có tứ và không có tầm, không có tứ. Đức Phật khen ngợi không có tầm, không có tứ thì thù thắng hơn, tán dương các tầng thiền sâu sắc. Chúng ta trong giai đoạn này cần khéo léo có tầm có tứ, cần có sự hướng tâm, bám và trú vào pháp đang thực hành, vì tâm chúng ta rất dễ đi sai hướng, ngay cả lúc nghe pháp cũng không tập trung, không tỏ sáng, không tùy văn nhập quán, khi trình pháp thì nói bị hôn trầm, bị loạn tưởng, ngồi mà trong tâm nghĩ lung tung nên chúng ta cần có sự hướng tâm về pháp, tập trung tâm ý về pháp, phải có sự dụng tâm, nếu không pháp không tăng trưởng lớn mạnh. Khi nghe Đức Phật trả lời thì Thiên chủ nói đúng như vậy.
“- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con được diệt tận, do dự của con được tiêu tan.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
II. Thành tựu biệt giải thoát luật nghi
Cách thức diệt trừ vọng tưởng chỉ có hai chữ là "thân cận". Thân cận thiện pháp, Thánh Pháp, Thánh trí, Thánh đạo. Vọng tưởng là những suy nghĩ ra ngoài pháp, đi theo đời, theo thế gian, theo phàm phu tham sân si, bản ngã.
“Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ tín thọ câu trả lời của Thế Tôn liền hỏi câu hỏi tiếp:
- Bạch Thế Tôn, vị Tỳ-kheo phải thành tựu như thế nào, phải thành tựu biệt giải thoát luật nghi như thế nào?”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Đức Thế Tôn đã biết các câu hỏi của vua Trời làm lợi lạc cho số đông, ngài hỏi tiếp một vị Tỳ-kheo phải thành tựu như thế nào để giới luật, biệt giải thoát luật nghi được thành tựu.
“Này Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói rằng tầm cầu có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Đức Phật đang nói về thân miệng ý.
“Này Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại thân hành nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với thân hành này, bất thiện pháp tăng tướng, thiện pháp suy giảm", thì thân hành ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại thân hành nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với thân hành này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng", thì thân hành ấy cần phải thân cận.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Đức Phật không nói phải làm cái này làm cái kia, cũng không nói không được làm cái này cái kia mà Đức Phật nói hành động nào làm pháp lành tăng trưởng lớn mạnh thì hãy gần gũi, hành động nào làm ác pháp tăng trưởng thì hãy tránh xa hành động đó. Như vậy trong mỗi hành động khi nói, đi, làm việc cần soi xét xem nó là thiện hay bất thiện.
“Này Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại khẩu hành nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với khẩu hành này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm", thì khẩu hành ấy phải tránh xa. Ở đây, loại khẩu hành nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với khẩu hành này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng", thì khẩu hành ấy cần phải thân cận.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Đức Phật chỉ dạy có hai chữ là "gần gũi" và " tránh xa", tất cả những câu hỏi của Đế-thích đều được Đức Phật trả lời như vậy, trong bài kinh Chánh Giác Đức Phật dạy làm bạn với thiện đưa đến Chánh Giác.
“Này các Tỳ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi như sau: "Thưa chư Hiền, các pháp chánh giác phần, lấy gì làm sở y để tu tập?" Ðược hỏi vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: "Ở đây, thưa chư Hiền, Tỳ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện. Này chư Hiền, đây là sở y thứ nhất để tu tập các pháp chánh giác phần".”
(Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, Phẩm Chánh Giác, (I) (1) Chánh Giác)
Chúng ta xem cái nào là thiện thì phải làm bạn với nó, lời pháp của Đức Phật mà chúng ta đọc mỗi sáng, nghe mỗi trưa, tụng vào mỗi tối là thiện nên cần gần gũi, thân cận, làm bạn với thiện, với Thánh, với trí, với tuệ, với giác, với đạo, với minh, với quang. Chúng ta đang ngồi nghe pháp là đang làm bạn với thiện, đang thân cận với thiện. Tầm cầu là sự suy tầm, sự hướng tâm thuộc về ác bất thiện pháp thì lánh xa, còn hành động, lời nói nào là thiện thì chúng ta tăng trưởng, phát triển, đó chính là bí quyết của sự thành tựu giới luật, thành tựu biệt giải thoát luật nghi là chỉ có hai chữ "gần" và "xa", "thân cận" và "lánh xa". Bất cứ hành động gì dù là của người ta hay chính mình nếu là ác bất thiện pháp cần lánh xa, bất cứ lời nói của mình hay của người là ác bất thiện pháp thì tránh xa, bất cứ sự suy tầm, sự suy nghĩ, sự hướng tâm của mình hoặc của người, đặc biệt là của mình, khi nhận diện ngũ uẩn mình thấy được sự suy tầm của mình là ác bất thiện pháp thì tránh xa, từ bỏ nó, nếu là thiện pháp, Thánh pháp, Thánh giải thoát thì làm cho nó lớn mạnh, phát triển. Khi nghe Đức Phật trả lời thì Thiên chủ rất hoan hỉ, vui sướng:
“- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ con được diệt tận, do dự con được tiêu tan.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Ngài hỷ lạc, thích thú khi Đức Phật trả lời câu hỏi. Như vậy bí quyết của việc giữ gìn giới luật là "gần" và "xa", gần với thiện và xa lánh ác bất thiện pháp. Những suy nghĩ, lời nói, hành động ác bất thiện pháp cần chấm dứt, lánh xa, những suy nghĩ, lời nói, hành động, những sự hướng tâm là thiện pháp, là Thánh Pháp, là trí tuệ pháp, từ bi pháp, công đức pháp là gần gũi, tăng trưởng, phát triển quảng đại, làm cho sung mãn vô lượng.
III. Thành tựu hộ trì căn
“Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỉ tín thọ lời dạy Thế Tôn liền hỏi câu hỏi tiếp:
- Bạch Thế Tôn, vị Tỳ-kheo phải thành tựu như thế nào, phải thành tựu hộ trì các căn như thế nào?”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Làm sao để thành tựu được sự giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình trong sự hộ trì căn?
“- Này Thiên chủ, sắc do mắt phân biệt. Ta nói rằng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. ày Thiên chủ, tiếng do tai phân biệt... hương do mũi phân biệt... vị do lưỡi phân biệt... xúc do thân phân biệt... Này Thiên chủ, pháp do ý phân biệt, Ta nói rằng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa.
Ðược nghe như vậy, Thiên chủ Sakka bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, vấn đề Thế Tôn nói một cách tóm tắt được con hiểu một cách rộng rãi. Bạch Thế Tôn, loại sắc do mắt phân biệt, khi con thân cận mà bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm, thời loại sắc do mắt phân biệt ấy nên tránh xa. Bạch Thế Tôn, loại sắc nào do mắt phân biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng, thời loại sắc do mắt phân biệt ấy nên thân cận. Bạch Thế Tôn, loại tiếng nào do tai phân biệt... loại hương nào do mũi phân biệt... loại vị nào do lưỡi phân biệt... loại xúc nào do thân phân biệt... loại pháp nào do ý phân biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm, thời loại pháp ấy nên tránh xa. Bạch Thế Tôn, loại pháp nào do ý phân biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng, thời loại pháp ấy nên thân cận.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Các loại sắc nào con mắt nhìn thấy khi thân cận làm bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm thì tránh xa. Tai với tiếng, mũi với mùi, lưỡi với vị, thân với sự xúc chạm, ý đối với pháp phân biệt cũng vậy. Đây là bí kiếp của sự hộ trì căn, khi con mắt thấy sắc thì có hai loại sắc, một loại nên gần và một loại nên tránh xa, nếu không tránh xa thì nguy hiểm, có tai họa, phải biết cái nào cần tránh xa và cái nào cần thân cận, đó là chánh kiến, là trí tuệ, là thấy pháp của mình.
Đống lửa đang cháy thì mình có đưa tay vào không? Tất nhiên là phải tránh xa, cơn thác lũ đang chảy cuồn cuộn có nên đứng gần không? Khi nãy là đốt còn giờ nó sẽ cuốn mình đi, có nên đứng ở bờ vực dốc đứng sâu thẳm không? Cũng vậy, sắc nào, tiếng nào, mùi vị nào, sự tiếp xúc nào là nguy hiểm, là ác pháp thì phải tránh xa, sắc nào làm cho thiện pháp tăng trưởng. Trời mây bao la, núi đồi, tịnh thất, bộ xương, đống tro tàn, chiếc quan tài… là những hình ảnh có thể làm tăng trưởng thiện pháp, hướng đến ly tham, yểm ly, từ bỏ, đoạn diệt, chấm dứt, thoát ly thì đó là Thánh Pháp, cần phải thân cận.
Những âm thanh nào là âm thanh trí tuệ, âm thanh của pháp, của sự thật, những lời nói của bậc tối tôn, tối thượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, văn vô thượng, kiến vô thượng cần phải nghe, thân cận, cần phải học thuộc lòng, tư duy, quán chiếu, thẩm sát. Phải biết được cái nào cần thân cận, cái nào cần tránh xa thì mình sẽ hộ trì được căn chứ không phải cái nào mình cũng tham gia, can thiệp vào. Cần phải y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt hướng đến từ bỏ. Từ sự diệt trừ các vọng tưởng, thành tựu các giới luật, hộ trì các căn đều được Đức Phật trả lời chỉ bằng hai chữ "gần gũi" và "tránh xa".
IV. Có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng một tư tưởng
“- Bạch Thế Tôn, có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng một tư tưởng, đồng một giới hạnh, đồng một mong cầu, đồng một chí hướng?”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Có phải tất cả người tu đều cùng chung một tư tưởng, một giới hạnh, một sự mong cầu, cùng chung chí hướng không?
“- Này Thiên chủ, tất cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một tư tưởng, không đồng một giới hạnh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng!
- Bạch Thế Tôn, vì sao cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một giới hạnh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng?
- Này Thiên chủ, thế giới này gồm có nhiều loại giới, nhiều giới sai biệt. Trong thế giới gồm có nhiều loại giới và nhiều giới sai biệt này, các loại hữu tình tự nhiên thiên chấp một loại giới nào, và khi đã thiên chấp, trở thành Kiên trì, cố thủ, với định kiến: "Ðây là sự thật, ngoài ra toàn là si mê". Do vậy, tất cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một tư tưởng, không đồng một giới hạnh, không đồng một cứu cánh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Từ "giới" có nghĩ là cảnh giới, giới vực, là phạm trù, phạm vi, chủng loại. Thế Tôn nói thế giới này có rất nhiều cảnh giới, nghiệp báo, tâm niệm khác nhau. Do vì cảm thọ, nghiệp báo, cảnh giới khác nhau như vậy nên khi các loài hữu tình chấp vào giới nào thì nó trở thành kiên trì và cố thủ vào cảnh giới đó, nó trở thành định kiến tức là một cái thấy biết cố định, cứng chắc. Câu nói này của Đức Phật chứa đựng cả một bầu trời tuệ giác, con nghe những người hàng xóm kể lại những người làm nghề đồ tể, mổ heo khi chết phải để con dao ở đầu gường, trước khi chết họ quằn quại rất đau khổ.
Có những người làm nghề bác sĩ khoa sản đau khổ suốt đời vì nghề nghiệp nên phải phạm tội, những hành vi, cảm thọ đó đeo bám suốt cuộc đời họ. Những người trộm cắp, giết người vào tù ra khám như cơm bữa. Đó là những cái nhỏ, cái thô rồi lên những cái tế, những người có học thức thì kiến chấp vào tri thức rồi tự cao, tự phụ với kiến thức của mình.
Những người nghèo khổ, thấp kém lại ôm ấp sự tự ti trong suy nghĩ, họ đau khổ với cái tự ti đó, những người tự tôn lại đau khổ với cái tự tôn đó. Người kinh doanh chỉ nghĩ làm giàu là số một, tư tưởng ngày xưa là sĩ – nông – công – thương (trí thức – nông dân – thủ công nghiệp – buôn bán), trong đó tầng lớp thương nhân buôn bán được xếp sau cùng nhưng xã hội hiện đại người doanh nhân làm kinh doanh lại được xếp đầu. Tùy theo thời cuộc, xã hội, tập tục thói quen mà những sự thấy biết, kiến chấp cứ lẩn quẩn.
Chỉ có một cánh rừng mà có nhiều sự thấy biết khác nhau. Lâm tặc có cái nhìn của lâm tặc, thợ mộc có cái nhìn của thợ mộc, thầy thuốc lại có cái nhìn khác nữa, thầy tu lại thấy khác hơn những người kia. Thợ mộc chỉ toàn thấy gỗ, lâm tặc thì vào rừng chỉ có kiếm tiền, thầy thuốc đi tìm các loại dược thảo, người kinh doanh có khi lại mở khách sạn, xây dựng khu nghỉ dưỡng, còn thầy tu chỉ thấy chỗ này yên tĩnh để ngồi thiền, chỉ có một cảnh giới mà do tâm niệm, nghiệp lực, cách nhìn khác nhau như vậy thì huống gì có nhiều cảnh giới sai biệt.
Một người ở trong tâm niệm như vậy thì họ Kiên trì, cố thủ, với định kiến: "Ðây là sự thật, ngoài ra toàn là si mê", chỉ có mình tôi là đúng còn lại sai hết. Đi lên cao hơn chút thì tùy theo cách nhìn tôn giáo, tông phái mà không thấy bản chất của Đức Phật dạy thì mình chấp vào cái thấy biết của tông của phái rồi chỉ thấy đây là sự thật, ngoài ra toàn là si mê, ngay thời Đức Phật còn tại thế đã có biết bao kiếp chấp sai lầm, trong kinh Phạm võng có 62 tà kiến về chấp ngã, có cái chấp là hiện tại Niết-bàn luận, cho rằng hạnh phúc, hưởng ngũ dục ngay trong hiện tại đã là Niết-bàn.
“Này các Tỳ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hiện tại Niết Bàn luận, chấp trước sự hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.”
(Trường Bộ Kinh, 1. Kinh Phạm võng)
Có những người nghĩ rằng ngồi ngay Cổng Trời đã là an lạc, Niết-bàn. Chính những sự kiến chấp, kiên trì, cố thủ, định kiến này làm cho người ta không nhìn thấy được sự thật phổ quát chân lý tuyệt đối, người ta bị tưởng tri là cái biết của si tưởng che đậy cái tâm, người ta bị cái biết của kiến thức, nhận thức, kinh nghiệm che đậy cái tâm, người ta bị cái biết của thói quen, nghiệp lực, tham dục, tham ái che đậy, trói cột, sai khiến cái tâm.
Không ra được năm triền cái thì cái tâm bị bao trùm, che đậy và bị sai khiến cho nên cái kiến chấp rất ghê gớm, để phá được kiến chấp và thành tựu chánh tri kiến rất gian nan, cả một sự chân thành tha thiết cung kính để mong cầu đạt được cái thấy biết đúng sự thật. Đức Phật nói tất cả 62 tà kiến trong kinh Phạm võng đều bắt nguồn từ cảm thọ.
Khi tu mà được sự an lạc nhất định trong trạng thái đó thì họ hoan hỉ trong đó, khoan khoái, ái trước trong đó, họ không đi ra khỏi cảm thọ đó được, chính chỗ này mà Thái tử Tất-đạt-đa khi học ở các vị thầy của mình mà đạt được tứ thiền bát định rồi ngài lại từ bỏ vì cái này không đưa đến ly tham, không đưa đến đoạn tận, thắng trí, giác ngộ Niết-bàn, không đưa đến từ bỏ sanh, già, bệnh, tử. Ngài bỏ đi và bỏ hết những kiến chấp, chấp thủ, định kiến rồi ngài thành tựu Thánh tri kiến là sự thấy biết của bậc Thánh.
“Này các Tỳ-kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ". Như vậy này các Tỳ-kheo, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.”
(Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Chính cái này mới tạo ra những tư tưởng khác nhau, trong những thời kì tư tưởng của Phật Giáo gọi là Phật Giáo tư tưởng sử, trải qua mấy ngàn năm lịch sử thì tư tưởng thay đổi từng chặng, thay đổi quan điểm, cách nhìn và những lời dạy của Đức Phật.
Cho nên chúng ta có rất nhiều phúc đức được quay ngược lại uống nước tận nguồn của 2600 năm trước, điều này là vi diệu, hy hữu, tối thượng, nếu không chúng ta sẽ bị cố thủ, kiên trì, định kiến theo những cái chúng ta thích hoặc theo những thứ thông dụng, truyền thống, xưa bày nay làm, người ta sao thì mình vậy. Đây là cả một sự truy tầm chân lý, chân thành đối với sự thật, thiết tha đối với Chánh Pháp, cổ nhân có câu: "Thà rằng chẳng biết cho xong, biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu, người có tâm sẽ hiểu cho ta". Con đọc cho đại chúng nghe tin nhắn của một thầy mới gửi cho con, trích dẫn lời dạy của cố đại trưởng lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu:
"Đối với tôi, khi nào tôi đọc luận thì nhức óc lắm, khi nào đọc kinh thì rất khỏe, đọc Nikāya lại càng khỏe hơn. Lúc đầu thú thật với anh em khi tôi còn học ở trường chuyên học giáo nghĩa Đại Thừa, khi nghe thầy phân tích lý luận thì nghe rất thâm thúy, sâu xa vô cùng, đến khi đọc A-hàm thấy nó cạn quá, cảm tưởng không có gì sâu sắc hết. Học bên Đại Thừa thì nói "sắc sắc không không", cái lý mờ mờ cao cao, thấy mà như không thấy, còn bên A-hàm sao thấy nó gần gũi quá.
Lúc trước nói thật trong thời gian học đọc tới A-hàm là đọc không vô, không đọc vô nổi bởi thấy không có ý nghĩa gì sâu sắc hết nhưng sau một thời gian qua dạy dỗ, viết sách và nghiên cứu, giai đoạn học trò đó qua rồi, vả lại càng lớn tuổi đọc lại A-hàm và Nikāya thấy nó thích thú vô cùng, thấy thâm thúy và sung sướng lạ đời. Tôi nói như vậy để rồi anh em chắc cũng có cùng tâm trạng như tôi khi còn trẻ mà đọc A-hàm, Nikāya, anh em nay có cái duyên sớm đọc được Nikāya hơn chúng tôi ngày xưa".
Bài viết này con mới đọc từ một vị tôn đức ngày xưa thấy rất giống ý tưởng của sư phụ ạ.
Cố Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Siêu là một bậc cao Tăng rất lớn của Phật Giáo Việt Nam, ngài dịch hết bộ Đại trí độ luận, dịch kinh Pháp Cú và có rất nhiều công trình lớn khác, ngài là trụ trì chùa Từ Đàm. Lúc trước con xuất gia được vài tháng thì được ra Huế quỳ đảnh lễ ngài, tấm hình đó đến nay vẫn còn, bây giờ ngài đã viên tịch. Thật sự rất tuyệt vời, đại chúng hãy cố gắng. Hạnh phúc cho chúng ta!
Phước báo cho chúng ta! Hy hữu, hiếm có cho chúng ta, thù thắng, vi diệu tối thượng, văn vô thượng, kiến vô thượng, lợi đắc vô thượng, phụng sự vô thượng, sự tu học tối thượng nên phải cố gắng, nếu không chúng ta tu trong một rừng rậm, học trong một sa mạc mênh mông bao la, không biết đường nào đi, trong cả một rừng kinh sách, chữ nghĩa không thấy lối ra. Cho nên Đức Phật nói đều là người tu hành nhưng không cùng chung tư tưởng, giới hạnh, cứu cánh, mong cầu và không cùng chung chí hướng vì kiến chấp sai biệt, đây là câu trả lời cho Thiên chủ, chúng ta nghe Thiên chủ hỏi tiếp:
“- Bạch Thế Tôn, có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích?”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Câu hỏi ở trên Thiên chủ hỏi về tư tưởng, mong cầu và chí hướng, tức là con đường đi có giống nhau không, còn bây giờ Thiên chủ hỏi về đích đến của người tu có giống nhau không.
“- Này Thiên chủ, tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích.
Bạch Thế Tôn, vì sao tất cả Sa môn, Bà la môn, không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích?
- Này Thiên chủ, chỉ những vị Sa môn Bà la môn nào đã giải thoát tham ái, những vị ấy mới đồng một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích. Do vậy, tất cả vị Sa môn, Bà la môn không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Chỉ những vị tu hành nào đã giải thoát khỏi tham ái thì những vị ấy mới giống nhau ở chỗ đạt đến cứu cánh. Chỉ những vị nào giải thoát, đoạn tận hết tham ái thì những vị đó có cùng nhau đích đến cứu cánh an ổn. Câu trả lời của Đức Phật là tối thượng vi diệu, không một ai ngoài Đức Như Lai, thậm chí đến những bậc A-la-hán có thể trả lời câu này.
Chỉ có giải thoát khỏi tham ái mới giống nhau chỗ cứu cánh còn không giải thoát khỏi tham ái thì không đồng nhau chỗ mục đích cứu cánh. Xin thưa đại chúng, có nhiều vị đến và đi tại Linh Quy nhưng con không buồn phiền, những vị nào muốn đoạn tận tham ái sẽ cùng đi chung với nhau, còn không cùng chung giải thoát tham ái, đoạn tận tham ái thì đường ai nấy đi, cho nên có gì để buồn, có gì để vui như câu hát "đường anh anh đi, đường tôi tôi đi, tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi". Những người nào hướng đến giải thoát tham ái, đoạn tận tham ái sẽ gặp được nhau, tu mà muốn cái này cái kia thì làm sao đạt đến cứu cánh của giải thoát tham ái, làm sao có thể diệt tận sanh y, phá trừ kiết sử, thành tựu chánh trí, bẻ gãy kiêu mạn, chứng nhập Niết-bàn?
“Ðó là hình thức câu trả lời Thế Tôn cho câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỉ, tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói:
- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ con được diệt tận, do dự con được tiêu tan.
Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỉ, tín thọ lời dạy Thế Tôn liền hỏi câu tiếp:
- Bạch Thế Tôn, tham ái là bệnh tật, tham ái là mụn nhọt, tham ái là mũi tên, tham ái dắt dẫn con người tái sanh đời này, đời khác, khiến con người khi cao, khi thấp. Bạch Thế Tôn, trong khi các Sa môn, Bà la môn khác ngoài giáo phái của Ngài không cho con dịp để hỏi những câu hỏi, thời Thế Tôn lại trả lời những câu hỏi ấy cho con, giảng giải rất lâu cho con, khiến mũi tên nghi ngờ, do dự của con được Thế Tôn rút nhổ đi.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Thiên chủ không phải là vị vua Trời bình thường mà là Thánh đệ tử Thiên, ngài thuộc hết bài giảng của Thế Tôn nên ngài mới nói lại lời Thế Tôn tham ái là bệnh tật, tham ái là mụn nhọt, tham ái là mũi tên, tham ái dắt dẫn con người tái sanh đời này, đời khác, khiến con người khi cao, khi thấp. Qua đây chúng ta thấy vị vua Trời có những câu hỏi rất kì thú và Đức Phật trả lời cũng rất thậm thâm vi diệu. Chúng ta có cảm nhận được mình đang thân cận với thiện pháp Thánh trí không?
Vị vua trời nói với Đức Phật khi ngài hỏi những câu này không có ai trả lời cho ngài, chỉ có một mình Thế Tôn trả lời đầy đủ, rõ ràng. Đức Phật nói nếu không ngại thì Thiên chủ có thể kể lại những vị khác trả lời như thế nào câu hỏi này của ông.
“- Này Thiên chủ, những vị ấy trả lời với Ngươi như thế nào, nếu không gì trở ngại hãy nói cho biết.
- Bạch Thế Tôn, không gì trở ngại cho con, khi Thế Tôn ngồi nghe hay những vị như Thế Tôn.
- Này Thiên chủ, vậy Ngươi hãy nói đi.
- Bạch Thế Tôn, những vị Sa môn, Bà la môn mà con nghĩ là những vị sống trong rừng an tịnh, xa vắng, con đi đến những vị ấy và hỏi những câu hỏi ấy. Các vị này không trả lời cho con, không trả lời lại hỏi ngược con: "Tôn giả tên gì?" Ðược hỏi vậy con trả lời: "Chư Hiền giả, tên là Thiên chủ Sakka." Rồi những vị ấy lại hỏi thêm con câu nữa: "Do công việc gì Tôn giả Thiên chủ lại đến chỗ này?" Con liền giảng cho những vị ấy Chánh pháp như con đã được nghe và đã được học. Chỉ được từng ấy, các vị hoan hỉ và nói: "Chúng tôi đã được thấy Thiên chủ Sakka. Những điều gì chúng tôi hỏi, vị ấy đều trả lời cho chúng tôi." Không những vậy, các vị này trở thành đệ tử của con, chớ không phải con là đệ tử của các vị ấy. Bạch Thế Tôn, nhưng con là đệ tử của Thế Tôn, đã chứng Dự lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn sẽ được giác ngộ.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Những vị đạo sĩ khác thấy Thiên chủ có ánh hào quang rực rỡ ghé xuống đều mừng rỡ, hỏi rằng ngài tên gì, có việc gì lại đến đây. Ngài xuống là muốn hỏi đạo nhưng cuối cùng những vị đó lại hỏi đạo ngược lại ngài rồi ngài phải giảng cho những người đó những lời ngài học được từ Thế Tôn, những vị ngài muốn hỏi trở thành đệ tử của ngài. Nếu thật sự không phải bậc Thánh thì nhìn thấy chư Thiên bình thường thôi chứ đừng nói gì đến vua Trời là ngưỡng mộ, khoan khoái, ưa thích, làm mất địa vị của người thầy phải trở lại làm người đệ tử. Cho nên khi trở thành bậc Dự Lưu rồi chỉ có thờ Thế Tôn làm thầy thôi, trừ các bậc đã vào hàng bốn đôi tám chúng, là Thánh Quả. Đức Phật nói tiếp:
“- Này Thiên chủ, Ngươi có biết trước kia Ngươi không bao giờ có sự thoải mái như vậy, có được sự hỷ lạc như vậy?
- Bạch Thế Tôn, trước kia con không bao giờ có sự thoải mái như vậy, có được an lạc như vậy.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Vua Trời chứng quả Dự Lưu, trong khi mình xuất gia cạo tóc như vầy mà không vào được Dự Lưu thì thật xấu hổ, nhục nhã, thấp kém và hèn hạ. Phải cố gắng nỗ lực, quyết chí tiến lên.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.