Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Vô Thượng Căn Tu Tập

2026-03-03 00:55:17
VÔ THƯỢNG CĂN TU TẬP

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trí tuệ về hành uẩn PAGEREF _Toc75424629 \h 1

II.Căn tu tập PAGEREF _Toc75424630 \h 6

Trí tuệ về hành uẩn

Chúng ta sẽ học qua bảy trí về sự suy nghĩ, về các tư duy, về hành uẩn. Chữ uẩn là sự tập họp, sự nhóm họp các suy nghĩ, suy tư. Trong phần quán pháp của Tứ Niệm Xứ chính là quán về năm uẩn. Năm uẩn là tự thân, tự tâm bao trùm cả thế giới, sắc uẩn là sự nhóm họp của các sắc chất, sắc pháp. Toàn thể thế giới này là sắc uẩn, cảm giác, các tưởng, những sự suy nghĩ và nhận thức rõ biết, nói đơn giản là tâm pháp, thuộc về tinh thần và sắc pháp là vật chất. Bảy trí này bao trùm cả con người, sự vật, muôn triệu thế giới cũng không ra khỏi năm uẩn. Năm sự tập hợp này như bàn tay năm ngón bao trùm tất cả. Chúng ta đã tìm hiểu qua phần sắc, cảm giác, tưởng. Hôm nay mình tìm hiểu qua hành, tức là sự nhóm họp các suy nghĩ, những tư duy.

Trí đầu tiên chúng ta phải biết là “những suy nghĩ không phải là mình” thì mới thành tựu được trí này. Trong sách nói đơn giản một chữ hành, không phải mình giải thích vậy là xong. Chữ trí này mình phải tuệ tri, phải biết rõ, biết như thật chúng nó là chúng nó, không phải mình, vì thế trí này rất sâu. Phải biết rõ hành là hành, nghĩa là những suy nghĩ chỉ là những suy nghĩ. Đây là chỗ Đức Phật nói một bài kinh cho một vị, vị này nghe xong thì không bao lâu đã chứng A-la-hán. Phật nói cái thấy chỉ là cái thấy, trong cái nghe chỉ là cái nghe, trong cái ngửi, nếm, xúc, biết chỉ là cái ngửi, nếm, xúc, biết. Nhưng người ta hiểu lầm cho đây là chân tâm, là bản tánh, đây là chỗ quan trọng. Khi ngồi thiền, nhớ lấy bài kinh đó phát huy ra.

Thông thường, chúng ta sẽ học nhiều bài kinh, nếu học hết và nắm vững được tư tưởng cốt lõi của Thế Tôn thì đọc cái gì cũng quay về một mối. Còn nếu học lõm bõm, nghe chút chút, đọc một, hai bài kinh tâm đắc rồi lấy chỗ đó ra thì chỗ đó không được toàn vẹn. Từ đó mình hiểu không chính xác. Chúng ta phải hiểu được chữ trí trong kinh tạng Nikāya là biết đúng như thật rằng nó không phải là mình, không phải là của mình. Nói cho dễ hiểu, nó ở đây chính là năm uẩn, đơn giản hơn nữa là vật chất và tinh thần, tâm và sắc. Cho nên chữ trí này quan trọng. Đối với những suy tư, nói thầm, nghĩ thầm trong tâm thì người thành tựu trí phải hiểu nó là một pháp, điều này cực kì quan trọng. Nếu không thấy được thì mình chưa thành tựu cái trí dù cho có học bao nhiêu, có nói hay thế nào thì cũng chưa thành tựu cái trí biết nó là nó, không phải mình.

Khi ngồi thiền, chúng ta thấy bao nhiêu là suy nghĩ, hết nghĩ cái này tới nghĩ cái kia, nghĩ đủ thứ thì lúc đó phải thấy nó là nó, cái trí mình phải tỏa sáng. Phải thấy rõ được những hành uẩn không phải là mình, nếu nhập cuộc vào chung rồi buồn vui, cười khóc, chạy theo là mình bị nó cuốn vào, bị mất trí. Cho nên, chúng ta phải nắm vững phần định nghĩa, nhận biết nó một cách như thật, chân chánh, rõ biết như sự thật. Còn nếu mình chủ động suy nghĩ về thiện pháp, suy nghĩ để phát huy những pháp lành, những sự nỗ lực, tinh tấn tu học thì đó là Chánh tư duy, cần tăng trưởng nó. Chỗ quan trọng này mình phải trạch pháp nếu không sẽ bị lẫn lộn, rồi dẹp hết những suy nghĩ về thiện pháp là không đúng. Đây là trạch pháp giác chi, trạch pháp nhãn, tức là phải nhìn thấy được cái nào là pháp đen, cái nào là pháp trắng; cái nào là pháp thiện, cái nào là pháp ác; cái nào là thiện, cái nào là bất thiện. Nếu là suy nghĩ bất thiện thì phải tẩy trừ, chấm dứt, không cho sanh khởi nữa và phát huy tăng trưởng pháp thiện. Vì chúng ta đang trong giai đoạn văn tư tu để thành tựu Chánh tri kiến, còn vào thiền định để tâm vắng lặng tịch tịnh là lĩnh vực khác, vì thế mình phải rõ được thế nào là hành, thế nào là Chánh tư duy, thế nào là những tư duy liên hệ đến tham, sân, si, đó là tà tư duy liên hệ đến hại, liên hệ đến bản ngã, liên hệ đến ganh tị, tật đố đúng sai, hay dở, hơn thua… để trừ diệt chúng và phát khởi những tư duy đưa đến chỗ hiểm ly, nhàm chán, chấm dứt, giải thoát.

Hành sanh ra là do xúc tập khởi nên hành tập khởi. Chúng ta có suy nghĩ là do tiếp xúc, giống như hôm qua, mình tiếp xúc các em mồ côi, không cha mẹ, những em tật nguyền, nhìn thấy là mắt tiếp xúc nên có thọ do nhãn xúc sanh. Trước khi thấy cảnh đó mình bình thường, không buồn không vui nhưng khi gặp rồi thì có cảm giác xúc động, nước mắt tuôn trào… đó là thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Cảm giác sanh ra rất nhanh, sanh ra do tiếp xúc và suy nghĩ sanh cũng do tiếp xúc. Mà cái gì tiếp xúc? Do mắt tiếp xúc, tai tiếp xúc, thân tiếp xúc… mà ý tiếp xúc là ý xúc, sanh ra thọ, tưởng, hành, tức là có những cảm giác, các cái tưởng và những suy nghĩ. Sau đó liên tưởng, hồi tưởng rồi chẳng hạn nhớ đến mẹ, thương nhớ mẹ, không biết giờ này mẹ thế nào, mình đi tu rồi có ai lo cho mẹ không?

Đó là pháp đang vận hành, mình có niệm, định, tuệ thì đây là quán pháp, thấy rõ từng pháp đang vận hành ra sao, thấy được nó như là một nhà máy, như một quy trình, mà thấy rõ được vậy là mình có trí, không còn ở trong mê lầm, vô minh. Phải có trí mới thấy được pháp nào ra pháp nào, thấy pháp nào đang vận hành ra tham ái, ra sầu khổ, ra hồi tưởng.Quán chiếu sự sống trong giây phút hiện tại là không phải như mình hiểu là đi biết đi, đứng biết đứng, ăn biết ăn, cái này mới ở phần sắc pháp bên ngoài, là vỏ con rô bốt. Chúng ta phải biết người điều khiển bên trong chính là thọ, tưởng, hành, thức. Cũng như đến công ty thấy trưng bày này nọ, nhân viên làm này làm kia chứ mình không biết chủ tịch hội đồng quản trị, không biết tổng giám đốc, mà mình phải thấy xuyên suốt tới nguồn gốc, chỗ này chính là trí huệ năm uẩn của Đức Thế Tôn.

Hôm qua trên xe, Minh Thành thấy pháp vận hành rất rõ. Không phải nhìn người ta mà mình phải nhìn mình, còn nếu hông khéo là mình đi vào vòng lẩn quẩn. Pháp là huyễn, vì khi mình khóc, mình khổ đau là cảm giác y như thật. Cũng như nằm chiêm bao mà thấy cảnh tai nạn, mình bị lọt xuống vực sâu thì cảm giác hoảng sợ giống y như mình thức. Khi thành tựu trí thì mình như người tỉnh, biết cái đó là chiêm bao, từ từ mình sẽ đứng ở ngoài để nhìn lại năm uẩn; còn hiện tại bây giờ mình sống trong năm uẩn, bị năm uẩn chi phối và chìm trong năm uẩn, mình nhận năm uẩn là mình. Bây giờ, khi thành tựu cái trí thì từ từ mình tách ra khỏi năm uẩn để nhìn lại nó, nhìn lại sự tập hợp của các dòng suy nghĩ. Vì thế khi ngồi thiền là tập nhận diện những suy nghĩ, xem nó biến động, lưu chuyển, tan hoại.

Trong kinh Tăng Chi Bộ, Đức Phật nói rõ thế nào là chánh niệm tỉnh giác. Chánh niệm là đi biết đi, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm…làm gì biết đó. Tỉnh giác là biết rõ cảm giác sanh khởi, cảm giác biến đổi và chấm dứt; biết rõ tưởng sanh khởi như thế nào, biến đổi ra sao và chấm dứt thế nào; thấy rõ suy nghĩ sanh khởi, biến đổi, chấm dứt như thế nào và cũng biết rõ thức sanh khởi, biến đổi và chấm dứt như thế nào. Đó gọi là Tỳ-kheo tỉnh giác hay là trí tế nhị, trong Tăng Chi Bộ kinh có một bài kinh gọi là "Trí Tế Nhị", tức là trí này rất tinh vi, thâm thúy, tinh tường về thân tâm chính mình.

"Do có những tiếp xúc nên mới có sự suy tư", do mình tiếp xúc nên mới có những suy nghĩ, vì thế xúc tập khởi nên hành tập khởi, xúc đoạn diệt nên hành đoạn diệt, mình không tiếp xúc thì không có suy nghĩ. Chúng ta hay nghĩ về người đó vì mình thường tiếp xúc với người đó, hay nghĩ về món đó tại mình thường tiếp xúc với các món đó, nếu không tiếp xúc thì làm sao mình nghĩ về nó. Một người không phải là phi công thì sao nghĩ về việc bấm các nút trên máy bay, vì đâu có biết trong đó ra sao mà nghĩ. Những cái chưa từng làm, chưa từng tiếp xúc thì làm sao nghĩ được, phải có sự tiếp xúc mới phát sinh ra suy nghĩ.

Cũng như khi xưa Minh Thành dưới quê, xung quanh xóm làng có ông bà cô bác buôn bán chợ, thường thấy những cảnh này nên nó quen thuộc. Còn bây giờ đi tu đã mấy chục năm rồi, không tiếp xúc nữa nên giờ quên hết rồi, giờ chỉ còn nhớ đến Linh Quy Pháp Ấn hoặc là Bửu Liên vì mình thường xuyên tiếp xúc. Ví dụ sư Pháp Minh trước khi đi tu ở quê Thái Bình, có tiếp xúc thì tiếp xúc những chuyện ngoài đó, còn giờ đã xuất gia vào trong Linh Quy Pháp Ấn rồi lâu lâu nghĩ thì nhớ vài chuyện xa xưa.

Cho nên, mình không tiếp xúc thì từ từ sẽ không suy nghĩ nữa, có tiếp xúc mới có suy nghĩ, thì đây là điều kiện, nhân duyên của nó. Vì vậy, không muốn suy nghĩ về điều đó nữa thì đừng tiếp xúc, mà đừng tiếp xúc chỉ mới có một phần, mình còn phải hành diệt đạo, tức là sự xuất ly của các hành. Nếu không có hành diệt đạo, là con đường xuất ly thoát ra thì mình cũng gặp khó khăn, tuy là không còn tham ái nhưng cũng không gỡ bỏ hoàn toàn được hết. Trong sách nói không tiếp xúc là mình không tạo điều kiện, không trợ duyên tăng trưởng giống như để củi thêm vào bếp. Không tiếp xúc là lấy củi ra khỏi lò từ từ cho nguội lạnh rồi tắt luôn. Sự khó khăn của người mới tập sự xuất gia chính là cái điện thoại, lấy ra lâu lâu gọi về thăm má, nghe giọng của má là xúc động, rưng rưng nước mắt, thì đó là tiếp xúc bằng lỗ tai, bằng miệng. Mà xúc tập khởi là thọ, tưởng, hành tập khởi; hành diệt cũng do xúc diệt.

Hành diệt đạo là phương pháp tám đúng, là Bát Chánh Đạo. Con đường chấm dứt những sự suy nghĩ là phải thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng. Đầu tiên là phải thấy đúng, tức là sự suy nghĩ chỉ là sự suy nghĩ, cảm giác chỉ là cảm giác, các tưởng chỉ là các tưởng, sự rõ biết chỉ là sự rõ biết, không hề có mình, không có tôi, không có ta trong đó. Mình cứ quán chiếu và chiêm nghiệm thì chỉ cần quấn y, ôm bát đi khất thực là đủ, vì trong chính bản thân còn không có cái gì là mình thì ngoài xã hội có gì là của mình. Sắc chất chỉ là sắc chất chứ không có tôi, ta, mình ở trong đây. Đây chính là chỗ thành tựu trí huệ, mà là trí huệ tối thượng thừa chứ không phải trí huệ bình thường vì chấm dứt tất cả khổ, đây thật sự là cứu cánh của hạnh phúc.

Minh Thành chia sẻ không phải chỉ dạy cho các huynh đệ mà chính Minh Thành cũng đang tập huấn Chánh tri kiến, chứ không phải chỉ nói cho người ta. Cho nên Bát Chánh Đạo rất tuyệt vời, Đức Phật nói trong kinh rằng Bát Chánh Đạo chính là cỗ xe tối thượng thừa, đưa mình đến thành trì của Niết-bàn, cho nên ngoài Bát Chánh Đạo ra thì không có đệ tam, đệ nhị, đệ tứ Thánh quả nào cả. Phải bám chặt vào Bát Chánh Đạo vì nó bao trùm tất cả các pháp của Đức Phật đã dạy. Mình phải thấy đúng, tức là thành tựu Chánh tri kiến để thấy năm uẩn chỉ là năm uẩn. Đức Phật nói trong Tương Ưng Bộ:

"Này các Tỳ-kheo, cái gì không phải là của ông, không phải là ông thì hãy từ bỏ chúng để được an lạc. Vậy cái gì không phải là ông, không phải của ông? Sắc không phải là ông, không phải của ông. Thọ, cảm giác không phải là ông, không phải của ông. Các tưởng không phải là ông, không phải của ông. Những suy nghĩ không phải là ông, không phải của ông. Thức không phải là ông, không phải của ông thì hãy từ bỏ chúng, mà từ bỏ chúng thì đi đến an lạc, đưa đến giải thoát".

Đó là chỉ cách cho mình hung đúc, tưới tẩm, tôi luyện Chánh tri kiến, có nền tảng thật vững chắc. Đã có Chánh tri kiến thì tự động các pháp Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp sẽ vận hành theo. Và muốn thành tựu Chánh tri kiến thì phải thân cận với bậc thiện tri thức, bậc chân nhân. Kế đó là phải nghe lời dạy, phải ghi nhớ, phải tư duy, nghiền ngẫm và nỗ lực tinh tấn thực tập theo lời dạy của các bậc chân nhân thì mới thành tựu. Đây chính là những nhân duyên hỗ trợ, giúp cho mình thành tựu Chánh tri kiến, phải có thức ăn, có nhân, có duyên chứ không phải tự nhiên thành tựu Chánh tri kiến. Khi có Chánh tri kiến thì tư duy của mình sẽ theo cái thấy đúng, sẽ nghĩ đúng và nói đúng.

Căn tu tập

Chúng ta phải chế ngự những cái làm sanh khởi lên cái lạc, cái hỷ, đó là những điều Phật dạy trong kinh về bốn sự tin cần. Cho nên sự hộ trì căn và sự chế ngự các căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sự tu tập căn sẽ có trong bài "Vô thượng căn tu tập", đây là một bài rất hay và đặc biệt. Bài kinh "Căn tu tập", Trung Bộ Kinh:

Có một ông ngoại đạo đến nói với Đức Phật rằng sự tu tập về các căn. Phật hỏi rằng:“Nhưng này Uttara, Bà-la-môn Pasariya thuyết về căn tu tập cho các đệ tử như thế nào?”. Ông trả lời: “Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, không nên thấy sắc với mắt, không nên nghe tiếng với tai. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn Pasariya thuyết căn tu tập cho các đệ tử”.

Tức là thầy tôi dạy con mắt không nên nhìn thấy sắc, lỗ tai không nên nghe tiếng, mũi, lưỡi, thân cũng vậy.

Phật nói nếu vậy thì người mù đang tu tập về căn, người điếc cũng đang tu tập về căn. Trong giáo pháp của bậc Thánh có pháp môn "vô thượng căn tu tập" rất hay, mỗi lần thầy nghe đều chấn động. Đức Phật nói khi mắt tiếp xúc với sắc cùng lúc trong tâm khởi lên vừa ý hay không vừa ý thì người tu tập phải nhanh xả liền, giống như giọt sương rơi xuống lá sen bị nghiêng thì ngay lập tức giọt sương rơi khỏi lá sen, hoặc là cái nồi hay cái chảo để trên lò lửa, đổ giọt nước vào sẽ tan biến đi ngay. Cũng vậy, vị Thánh đệ tử tu tập cái xả trong các cảm thọ cũng phải nhanh như vậy.

Cho nên, đối với vị ngọt của các suy nghĩ thì mình phải tu tập. Không khéo mình bị những vị ngọt của các suy nghĩ này làm mình say mê đắm đuối, sống trong ảo tưởng của những suy nghĩ. Mình cứ suy nghĩ hết chuyện này đến chuyện kia rồi thích thú, hoặc buồn khổ, ngay cả sân hận cũng có vị ngọt, phát xuất từ tham ái nên mới có sân. Mình ái không được thì mới có sân, vì thế ái dục bao gồm luôn cả tham, sân, si chứ không phải ái riêng rồi sân riêng. Vì thế mình phải thấy rõ được sự ngọt và sự nguy hại của các suy nghĩ này. Những suy nghĩ này là vô thường, là khổ, là biến hoại, nếu mình đắm đuối, ưa thích những cái này là mình ưa thích sự khổ, ưa thích sự biến đổi.

Chính vì thế, để ra khỏi những suy nghĩ thì phải có sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với các suy nghĩ đó. Chấm dứt ưa muốn, ưa thích, nhiếp phục sự tham muốn, đoạn tận thì mới ra khỏi được những sự suy nghĩ. Tu được điều này sẽ dễ vào định, vì không tiếp tục nói thầm, khi không nói sẽ được yên, mà yên được thì sẽ vào định, như vậy, lúc đó trí huệ của mình sẽ tròn sáng lên.

Như vậy, chúng ta thấy rằng, chỉ có một cái suy nghĩ thôi mà phải có đến bảy loại trí huệ mới nhìn ra được bản chất, tánh tình của nó, không phải chuyện đơn giản. Chính suy nghĩ này gây ra biết bao khổ đau, nó dẫn mình đi và nhận chìm mình vào trong vũng lầy của tham muốn sân hận và si mê. Vì thế, phải tu tập để nhận diện và nhiếp phục nó.

./.