Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nghệ Thuật Sống An Vui 4

2026-03-03 00:55:17
TINH HOA NIKĀYA

NGHỆ THUẬT SỐNG AN VUI 4

–Thích Minh Thành–

Đảnh lễ bốn đôi tám chúng hiền Tháng Tăng ruộng phước vô thượng ở trên đời.

Kính bạch quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Chúng ta tiếp tục chia sẻ về nghệ thuật sống an vui.

Sống biết đủ, các con thương mến

Biết hài lòng với cái hiện tiền

Không đảo điên, miên mãi chạy theo

Những thứ khổ, vô thường, vô ngã.

Sống ít muốn biết đủ làm cho tâm được bình yên, những giọt mưa đang rơi ngoài hiên, những tiếng nhạc thiền trầm bổng du dương trong không gian trang nghiêm, thanh tịnh, lặng lẽ, trong từng hơi thở vào ra chúng ta cảm nhận nhịp đập của trái tim, của cảm xúc, cơ thể, của cảm giác toàn thân. Cảm nhận không gian ngay tại chỗ ngồi của mình, chỗ đó là một sự bình yên, sự an tịnh, đầy đủ ngay giây phút đó, đầy đủ bây giờ tại chỗ này. Tại sao chúng ta luôn thấy bất an, bất mãn, không hài lòng? Vì tâm tham, tâm muốn, tâm thúc giục, tâm đòi hỏi, tâm mong chờ, hi vọng, ước mơ, khao khát làm chúng ta không bằng lòng trong giây phút hiện tại. Chúng ta muốn tìm một cái đó gì ở bên ngoài nhưng cái muốn đi tìm đó là một sự thúc giục bên trong, sự đòi hỏi trong cảm thọ, cảm xúc để chạy đuổi theo năm dục trưởng dưỡng bên ngoài nên lòng chúng ta luôn có sự mong muốn, ảo tưởng, vọng tưởng, đứng ngồi không yên, nằm cũng không yên vì những cảm giác thúc giục, đòi hỏi bên trong, đó là tưởng uẩn cho nên sự sống biết đủ này là biết hài lòng với hiện tiền. Hiện là ngay bây giờ, tiền là ở phía trước, tức là hài lòng với ngay bây giờ tại chỗ này, không phải đợi lên Linh Quy Pháp Ấn mới có an lạc còn ở nhà không có an lạc, ngay tại chỗ ngồi của quý vị, ngay mỗi hơi thở trong giờ phút này trong bình an, an tịnh, lắng dịu này, không đòi hỏi, không khát khao, dập tắt khát ái thì chỗ đó có sự hài lòng, ngay tại đó có đầy đủ, phải biết hài lòng với cái hiện tại, có cơm ăn cơm, có cháo ăn cháo, thức ăn có thì ăn chứ đừng đòi hỏi, thấy người ta đi mua đồ mình cũng chạy theo gom đồ, chen chúc nhau làm tăng khả năng nhiễm bệnh trong khi gia đình vẫn còn thức ăn chứ không phải thiếu thốn. Trong cái sống ít muốn biết đủ này rất tuyệt vời, người không biết đủ có làm vua cũng thấy thiếu thốn, còn người biết đủ ngồi dưới gốc cây cũng thấy bình an cho nên cần tập hài lòng với cái hiện tiền, với những gì đang có về phương diện vật chất, đủ ăn đủ mặc, đủ dùng, thậm chí có dư nhưng vẫn khổ vì không biết đủ vì không biết đủ, vì cái tâm đòi hỏi, tham muốn đó cho nên bị đảo điên, quay cuồng, tìm cái này kiếm cái kia, mong cái này ước cái nọ, mãi chạy hoài rồi cuối cùng lọt hố huyệt mộ, chạy đến già, đến bạc đầu, đến tắt hơi mà tham muốn cũng chưa chịu dừng nghỉ, đừng nói gì người đời mà ngay cả người xuất gia nếu không thấy rõ đạo lộ tu tập, không thấy mục đích hướng đến sẽ chạy đi tìm hoài, không ở yên tu được, ngồi thiền không được, nghe pháp không được, dừng lại để an ổn tu hành không được. Hơn ai hết chúng ta học những lời dạy nguyên chất của Đức Phật là luôn quay về ba pháp ấn: Vô thường, khổ, vô ngã, chúng ta phải thấy được bản chất biến đổi của nó, thấy được bản chất khổ đau, phiền toái, phiền não của những thứ đó để mình dừng lại, biết hài lòng với những cái hiện tiền. Một cành trúc, một cây tùng, một chiếc ghế tre, nếu quý vị sống với tâm biết đủ quý vị vẫn thấy thanh thoát, thanh tịnh, an lạc, tịnh lạc, không nhất thiết phải là bộ ghế ngồi đắt tiền, không nhất thiết phải là căn nhà mấy tầng lầu, có khi ở trong đó lại nhức đầu, lo lắng, bất an, sợ hãi cho nên nghệ thuật sống biết đủ rất đẹp, bưng tô cháo trắng với kho quẹt hay dưa muối ăn vẫn ngon trong sự chánh niệm bình yên, nhiều khi như vậy thân thể ít bệnh vì trong thời gian này không vận động nhưng tâm vẫn nhẹ, thân yên, trí sáng tỏ, trong lòng nhìn nhận đời sống này, bản chất của thế gian này, thấy rõ tính chất nó là như vậy không vượt khỏi bản chất đó. Quý vị biết đủ với căn nhà trong giờ phút này quý vị sẽ có nghệ thuật sống an vui.

Sống biết cho, các con thương mến

Sống biết cho, biết tặng, biết nhường,

Biết cúng dường và biết hy sinh,

Biết chia sẻ với người nghèo khó.

Những người bán vé số đang gặp khổ vì vé số phải nghỉ để đảm bảo phòng chống dịch, đó một trong những cảnh khổ trong cuộc đời, ngoài ra còn vô số những cảnh khổ khác cho nên chúng ta phải thiền quán, đừng khăng khăng chỉ nghĩ cho bản thân, chỉ vì không hài lòng, không vừa lòng mà bực tức, phiền lòng, mình không biết rằng ngoài kia có rất nhiều người phải gặp muôn vàn cảnh khổ bệnh hoạn, ốm đau, thiếu thốn, neo đơn cho nên phải tập sống biết cho, biết tặng, biết nhường, biết cúng dường và biết hy sinh, biết chia sẻ với người nghèo khó. Không phải có cái gì là chỉ biết bản thân mà phải nghĩ đến những người thân trong gia đình hoặc những người nghèo khổ, đói khát, cơ hàn xung quanh, phải nghĩ đến những người khuyết tật, tâm thần điên loạn khổ sở để trải tình thương, để mình có thể vượt qua những thử thách, những trở ngại trong cuộc sống gia đình hoặc trong chùa. Quán chiếu cho sâu sắc những điều này, tập nhường nhịn, sẻ chia cả những thứ mình thích, mình quý, món đó mình thích ăn nhưng thấy người kia đói thiếu mình có thể nhường, bộ đồ mình thích mặc nhưng vẫn có thể đem đi bố thí, trong huynh đệ thiếu thốn mình sẵn sàng nhường, tặng, cho. Cái nhường, tặng, cho này không phải chỉ ở tài sản, vật chất, mà cả trong lời nói, ai muốn nói hơn mình cũng nhường cho họ nói, ai muốn giành đi trước mình cũng nhường, nhường chỗ xếp hàng, nhường lời nói hơn thua để tặng lời nói ngọt ngào đầy niềm vui, đó cũng là bố thí, trong kinh Đức Phật dạy nói lời như hoa, như mật chứ đừng nói như phân.

"- Có ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người nói như phân, hạng người nói như hoa, hạng người nói như mật.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người nói như phân? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người khi đi vào hội trường, hay đi vào hội chúng, hay khi đi đến giữa các người bà con, hay khi đi đến giữa các người đồng một tổ hợp, hay đi đến giữa cung vua, hay bị dẫn như là người làm chứng, được nói: 'Ngươi biết gì, hãy nói lên'. Người ấy không biết, nói rằng: 'Tôi có biết'; có biết, nói rằng: 'Tôi không biết'; không thấy, nói rằng: 'Tôi có thấy'; có thấy, nói rằng: 'Tôi không thấy'. Do vì mình hay vì người, hay vì một vài lợi vật nhỏ, mà đã cố ý nói láo. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, được gọi là người nói như phân.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người nói như hoa? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người khi đi vào hội trường, hay khi đi vào hội chúng, hay khi đi đến giữa các người bà con, hay khi đi đến giữa các người đồng một tổ hợp, hay đi đến cung vua, hay bị dẫn như là người làm chứng, được nói: 'Ngươi biết gì, hãy nói lên'. Người ấy không biết, nói rằng: 'Tôi không biết'; có biết, nói rằng: 'Tôi có biết'; không thấy, nói rằng: 'Tôi không thấy'; có thấy, nói rằng: 'Tôi có thấy'. Không vì mình hay vì người, hay vì một vài lợi vật nhỏ mà đã cố ý nói láo. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, được gọi là người nói như hoa.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người nói như mật? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đoạn tận ác ngữ, từ bỏ lời nói ác ngữ. Lời nói của người ấy không hại, tai ưa nghe, khả ái, đi thẳng đến tâm, lễ độ, được nhiều người ưa thích, được nhiều người thích ý, người ấy nói những lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người nói như mật.

Ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời". (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, III. Phẩm Người, Nói Như Hoa)

Lời nói như phân nên hôi thối, lời nói như hoa thì đẹp đẽ, lời nói như mật thì ngọt ngào bổ dưỡng. Chúng ta phải biết cho đi, thí là cho, bố là rộng khắp, tức là cho rộng rãi, cùng khắp, nhiều khi người ta còn dừng từ "đại bố thí" mặc dù bản thân chữ "bố" đã mang nghĩa rộng rãi rồi, nghĩa là cho cùng khắp rộng lớn, không nhất thiết đợi giàu có hoặc trúng số mới làm từ thiện mà hãy làm trong khả năng của mình. Những người ở gần mới là những người cần bố thí nhất, sau đó mới đến những người ở xa, chị em ruột thịt hay vợ chồng thật sự khó khăn thiếu thốn, túng quẫn nhưng nếu mình có thể giúp đỡ được phần nào thì nên giúp, điều đó rất tuyệt vời, đó là những lúc người ta cần như ông bà có câu "một nắm khi gói bằng một gói khi no", những lúc đói khổ là những lúc cần nhất còn khi no cho gì đi nữa cũng không cần thiết, thật sự lúc người ta đang cùng đường, túng quẫn mà mình giúp được là rất tuyệt vời. Quý Phật tử không nghe Linh Quy Pháp Ấn đi từ thiện chỗ này chỗ kia nhưng thật sự ở trên đây làm từ thiện là làm như vừa nói, có những Phật tử trong mùa dịch này dẫn con lại quỳ lạy khóc nức nở vì hai tháng không có tiền trả tiền thuê nhà nên bị đuổi, con đi học không có tiền đóng tiền học phí nên không được thi, đối với những hoàn cảnh như vậy thì quý thầy giúp đỡ, vì vậy sống phải biết nhường nhịn, tặng, cho. Mình thích món đồ đó nhưng cha mẹ, con cái hay chồng muốn là mình nhường, trong cái nhường này có rất nhiều pháp trong đó, mình nhiếp phục được cái tham, thực hành hạnh bố thí, kham nhẫn, buông xả, xuất ly khỏi món đồ đó nên cái phước được nhân lên cấp số nhân chứ không còn cộng nữa, vì vậy cái pháp không đơn giản như mình nghĩ, cho lúc cần, lúc ngặt nghèo thì cái cho đó tuyệt vời, người ta nhớ ơn mình suốt đời, không phải cho để người ta nhớ, người ta mang ơn nhưng cái cho đó làm người ta không thể quên. Mỗi người vào chùa được cho một chén chè, đến mình thì chén này đầy hơn chén khác nhưng có người giả bộ làm này nọ để lấy chén đầy vun đó, nếu không khéo léo sẽ có cảm thọ khó chịu nhưng hãy cứ nhường cho họ lấy chén chè đó. Khi nói chuyện nhiều người muốn nói nhiều, tỏ ra hiểu biết, muốn thắng trong cái nói, mình biết hết nhưng vẫn nhường cho họ nói, chỗ đó là bố thí. Quần áo của mình dư nhiều nên đem cho đi, đồ đạc trong nhà không dùng đến cũng đem cho, tất cả đều đem đi thí xả chứ đừng tích lũy, gom góp, cái nào cho được nên cho, cái nào tặng được nên tặng, cái nào nhường được nên nhường, đó là nghệ thuật sống đẹp, lúc nào cũng nhường, lúc nào cũng cho, lúc nào cũng tặng. Mình đứng ra nấu nướng chu toàn đồ ăn cho mọi người nhưng đến lúc mình đói muốn ăn lại hết đồ ăn, lúc đó mình vẫn cưới vui vẻ, người ta hạnh phúc là mình hạnh phúc, người ta vui vẻ hoan hỉ là mình hạnh phúc, sống như vậy là cao thượng, đức hạnh. Đối với những thứ tài vật, vật chất bên ngoài đừng nghĩ về mình nhiều mà hãy nghĩ cái tu của mình thật nhiều. Trong đạo tràng Nikāya Minh Thành để mọi người tự ý thức trong việc từ thiện, bố thí trong lúc khó khăn này với những người có khả năng chứ Minh Thành không kêu gọi, đối với những người thân trong gia đình, những người quen biết hoặc những người xa lạ gọi đến xin mà mình thấy đúng như vậy, thấy phù hợp, chính đáng thì hãy giúp đỡ hoặc những người nghèo trong khu nhà của mình, những người bán vé số, lượm ve chai, những hoàn cảnh bệnh tật cần thuốc men hãy giúp đỡ họ. Linh Quy đang giúp ở tận miền Bắc vì có người chạy thận ngoài đó nhưng đại chúng không ai hay biết, những gì Minh Thành làm không muốn nói ra, vì vậy chúng ta cần cố gắng trong mọi việc. Tội nghiệp những người nghèo khổ vì họ phải chịu đựng những cảm thọ đói lạnh, đói khát, thống khổ, bản thân Minh Thành từ nhỏ nhìn thấy những người già buôn gánh bán bưng là chịu không nổi, càng tu thì tình thương càng rộng mở ra, người ta cũng là con người mình cũng là con người nhưng tại sao người ta phải chịu những cảnh như vậy, ở trong nhà mình còn than nóng nực trong khi người ta phải dầm mưa dãi nắng, thậm chí nhiều người ở đây đi hái trà trong mùa mưa môi tím tái lại vì lạnh, cho nên phải đồng cảm với nỗi khổ của những người nghèo khổ.

Sống Giới hạnh, các con thương mến

Sống giữ thân khẩu ý thiện lành

Sống giữ tâm trong sạch, thanh cao

Giữ lòng dạ hiền hòa, cao cả.

Chúng ta bắt đầu đi vào ngũ phần hương giải thoát, những giới mình đã thọ, những oai nghi, học pháp của một người Tỳ-kheo, Sa-di, Phật tử, cư sĩ phải cố gắng tăng thượng, phải có sự nhiệt tâm tinh cần, cố gắng vươn lên trong những học giới, phải giữ thân, miệng, ý cho thiện lành. Chúng ta yêu điều thiện, tôn kính điều thiện, quý điều thiện, chúng ta gom góp, tích lũy điều thiện, mất đi chúng ta tiếc nuối, mình chắt chiu, tích lũy từng điều thiện nhỏ nhặt giống như tiền bỏ ống heo, để dành từng chút một đến khi đập heo ra là đầy tiền cho nên mỗi một ngày phải tích góp thiện pháp, tích lũy những phẩm hạnh, đạo hạnh, nết hạnh của một người tu, để tâm vào việc tăng thượng giới, còn cho rằng như vậy là được rồi, tốt rồi thì mình chấm hết, không thể tăng thượng được, cái đó cũng giống như con lừa đi theo con bò rồi cho rằng mình cũng là bò nhưng thật chất không phải vậy.

"Này các Tỳ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?

Thọ trì tăng thượng giới học, thọ trì tăng thượng định học, thọ trì tăng thượng tuệ học. Ðây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Ở đây vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học tập như sau: 'Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học'. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

Ví như, này các Tỳ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng một đàn bò nghĩ rằng: 'Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò', nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: 'Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò'. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây Tỳ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: 'Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo'. Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng định học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỳ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: 'Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo'". (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, Sa Môn)

Minh Thành thường nói tất cả mọi việc đều là nghệ thuật, đó chính là tăng thượng, tức là làm gì cũng để tâm, để ý, chánh niệm tỉnh giác vào đó thì sau này khi tu hành sẽ đi đến chỗ đại viên mãn tất cả phạm hạnh, nếu có giác ngộ thì sự giác ngộ của mình cũng trở thành bậc thống lãnh, bậc đại đạo sư, mỗi việc đều là mô phạm, là mẫu mực. Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác tức là tất cả những thiện pháp của ngài đều viên mãn, không còn một pháp nào không tròn đầy, ngài tích lũy rất nhiều thiện pháp Ba-la-mật, còn mình không có phước đức, trí tuệ nhiều vì không muốn tăng thượng, sâu thẳm bên trong nghĩ rằng như vầy là được rồi, sống vầy tốt rồi, còn người có ý muốn tăng thượng là người đó phải để ý từng chút một trong từng cử chỉ, oai nghi, nết hạnh, không muốn dừng lại ở đây mà phải tiến lên, khi viết sẽ trở thành thư pháp, uống trà rất bình thường nhưng lại thành trà đạo, trở thành nét đặc sắc chỉ có duy nhất ở Nhật Bản, chẳng qua đó là một sự để tâm, phát huy, tăng thượng để nó trở thành nghệ thuật thượng thừa. Cũng vậy, cái ăn nói, làm việc, tất cả oai nghi, phẩm hạnh phải trở thành phép màu, nghệ thật chánh niệm tỉnh thức, tu là phải đạt đến cảnh giới đó, lập chí phải vĩ đại. Người học đạo bây giờ rất khó nói, khó có người có tâm cầu pháp chân thành, nghĩ rằng học vừa đủ thôi cho nên cần giữ tâm ý thiện lành, để tâm vào mọi việc, khi nói chuyện cần để tâm vào câu chuyện, khẩu khí, từ ngữ mình sử dụng, nói với chồng con phải như thế nào, nói với cha phải như thế nào, nói với mẹ phải như thế nào, nói với ông bà phải nói như thế nào, không được nói chuyện với người lớn giống như nói với người ngang hàng mình, tất cả những cái đó đều là sống có giới hạnh, đều là nghệ thuật chánh niệm tỉnh giác, nghĩa là tăng thượng phẩm chất, đạo đức, nết hạnh, giới đức, đó là chất lượng của cuộc sống, cho nên nhà Nho ngày xưa rất quan trọng lễ nghi, phải đào tạo một người nhân- lễ-nghĩa-trí-tín, Minh Thành học với giáo sư Nguyễn Khuê cách đây mấy chục năm, bây giờ gặp lại phong thái giáo sư vẫn vậy, tóc chải ngay hàng không lệch đi đâu được, mỗi lần thầy lên là chắp tay cung kính các thầy, các cô mà đó là một giáo sư, giáo sư là thầy Minh Thành đã hơn 80 tuổi nhưng khi nói chuyện với Minh Thành đều chắp tay, những cái đó nên học hỏi, cho nên tùy trường hợp mà cư xử, lúc nào thân thiện thì thân thiện thầy trò, cha con nhưng lúc nào lễ nghi là lễ nghi chứ không được buông thả, phải lễ kính cha mẹ, tự trọng mình thì người ta sẽ trọng mình, tự tôn mình thì người ta sẽ tôn mình, mình không tự trọng mình thì ai trọng mình, tự mình phải có lễ, có nghi dung đĩnh đạc thì người ta nhìn vào sẽ thấy, "có uy thì đáng nể, có nghi thì đáng kính", đó là hai câu đầu tiên của người Sa-di xuất gia phải học, đối với tu sĩ, cư sĩ, Phật tử cũng vậy và ở trong gia đình cũng vậy. Mình phải học cách làm mẹ chứ không phải sanh ra là tự nhiên thành mẹ, mẹ phải ra mẹ, con ra con, thầy ra thầy, trường ra trường, lớp ra lớp, tu ra tu, người đời ra người đời. Trong mỗi suy nghĩ, hành động phải phát huy thiện pháp, tích lũy, chất chứa thiện pháp, vui với thiện pháp, "sống giữ tâm trong sạch, thanh cao, giữ lòng dạ hiền hòa, cao cả", hiền ở đây không phải là khờ mà là bậc hiền trí, hiền trong dung nghi, đức hạnh nhưng trí tuệ sắc bén trong nội tâm đối với ác và bất thiện pháp, đối với các sự việc.

Sống Thiền định, các con thương mến

Sống hành thiền nghiêm túc mỗi ngày,

Sống định tâm theo các Thánh nhân

Tâm trong sạch, tâm không khuấy đục.

Thế nào là sống thiền định? Sống ở đây không phải chỉ là tọa thiền, khi ngồi thiền là khác, còn sống thiền là trong đi, đứng, ngồi, nằm phải đưa thiền vào trong tứ oai nghi thì gọi là sống thiền, đây là cách sống, phương pháp sống để đưa đến an vui, nếu sống không thiền là sống trong sự buông lỏng, buông lung, tham, sân, si, bản ngã được buông thả nên phát ra, lập tức sầu, bi, khổ, ưu, não có mặt. Vừa rồi báo đưa tin một chú bảo vệ đang ngồi ăn bánh bao thì con khỉ chạy đến đưa bàn tay nó vào xin ăn nên chú giật mình nhưng cũng bẻ một miếng bánh đưa nó, nó ăn rồi lại giựt luôn miếng bánh bao trên tay chú, cái tâm mình là con khỉ, nếu mình không kiềm tỏa, không ngăn chặn thì nó sẽ quậy, cho nên nếu không thiền định là không nhiếp phục, chế ngự thì con khỉ này sẽ quậy phá. Lúc Linh Quy còn là am tranh, Minh Thành và năm vị huynh đệ ngồi uống trà với nhau thì một người hỏi Minh Thành ở đây có khỉ không, Minh Thành im lặng một lát mới nói có, vị sư huynh hỏi nhiều không thì Minh Thành nói có năm con, câu nói đó là thiền cơ tức là đem cái ở bên ngoài xoay ngược về tâm, đó là cơ phong của nhà thiền. Chỉ cần mình lơ là một phút thôi là tâm mình sẽ thành khỉ, thành vượn, một phút thả lỏng các căn là thành ngựa hoang, trong kinh Đức Phật dùng từ tâm hoang vu, đó là tâm chưa được khai phá, chưa được dọn sạch nên đầy rắn rết, thú dữ.

"Có năm tâm hoang vu này. Thế nào là năm?

Này các Tỳ-kheo, ở đây vị Tỳ-kheo nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín đối với bậc Ðạo Sư. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín đối với bậc Ðạo Sư, Tỳ-kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Khi tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn, như vậy gọi là tâm hoang vu thứ nhất.

Này các Tỳ-kheo, lại nữa, vị Tỳ-kheo nghi ngờ đối với Pháp.... (như trên...) đối với Tăng... (như trên...) đối với Học pháp... tức giận đối với các vị đồng Phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu. Này các Tỳ-kheo, khi một vị Tỳ-kheo phẫn nộ đối với vị đồng Phạm hạnh, không hoan hỉ, tâm dao động, trở thành hoang vu, Tỳ-kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh thần. Như vậy gọi là tân hoang vu thứ năm.

Này các Tỳ-kheo, để đoạn tận năm tâm hoang vu này... Bốn niệm xứ cần phải tu tập". (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương IX. Chín Pháp, VII. Phẩm Niệm Xứ, (IX). Năm Tâm Hoang Vu).

Nhìn bề ngoài thấy dễ thương, hiền hòa nhưng đụng vào sẽ biết vì các tùy miên phiền não ngủ ngầm trong đó, những dục lậu, tham, sân, si, bản ngã nằm trong đó, sự tu của Nikāya là cuộc đại phẫu, moi móc, phơi bày ra để xử lý bên trong nội tâm cho nên mới gọi là lắng nghe cái ngấm ngầm hoạt động trong tâm, cái tu đó rất sâu sắc chứ không phải tu để ngồi yên, phải nghe cái gì đang ngấm ngầm hoạt động, phải tìm ra nguyên nhân của sự việc rồi giải quyết mới đi đến gốc rễ. Bước đầu tiên là giới hạnh, tức là oai nghi, hộ trì sáu căn rồi bây giờ đến thiền định, càng ngày càng đi sâu vào bên trong, đi đứng vắng lặng, an nhiên rồi mới đi sâu vào tâm, phải đi từ ngoài vào trong, thu thúc lục căn, biết phòng, hộ, bảo vệ, thâu nhiếp bên ngoài để chịu phép rồi mới đi vào trong chứ không dừng lại ở bề ngoài, nhiếp phục con khỉ trong tâm, đó là sống thiền. Mọi người cần sống hành thiền nghiêm túc mỗi ngày chứ không phải hành thiền thôi là đủ mà phải nghiêm túc, khắc khe, thận trọng với chính mình. Hành thiền là lắng nghe thọ; tưởng; hành thật kĩ, đó là sống hành thiền, kiểm tra trong ba cảm thọ có tham, sân, si, bản ngã không, trong ý hành đó là ác bất thiện pháp hay thiện pháp, trong hình bóng, sắc tưởng đó có dục tham, sân si, vô minh, chấp thủ không, có một ngã tưởng thân kiến không, nhìn cho rõ những cái đó và khi thấy rồi phải quét dọn, tẩy sạch, lau chùi, trải tâm, gọi là sống hành thiền nghiêm túc, nhưng không phải chỉ trong giờ thiền mới thiền mà tất cả mọi giờ mọi lúc phải tập tâm yên và nhìn cho rõ, đây là nghệ thuật sống an lạc tối thượng thừa. Sống định tâm theo các Thánh nhân chính là tứ thiền, nếu chúng ta tập được ly sanh hỷ lạc của Sơ thiền cũng là tuyệt vời rồi. Khi vào được Sơ thiền là tâm bắt đầu trong sạch thì mới ly được dục tham, nếu còn năm triền cái thì tâm bị khuấy đục, cứ dao động, tất bật, sân hận, hôn trầm, lờ đờ, tâm cứ nghi ngờ thì làm sao trong sáng được? Trong kinh Đức Phật ví dụ năm triền cái như năm bát nước.

"Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị rong rêu che phủ. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị gió thổi, dao động, chấn động, nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết được và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị khuấy động, khuấy đục, khuấy bùn, đặt trong bóng tối. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết được và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không trộn lẫn với thuốc nhuộm hoặc gôm lặc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh, hay màu vàng, và ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, có thể như thật biết được và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị dục tham xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng!

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không bị lửa đun sôi, không sôi lên sùng sục, không sôi lên cuồn cuộn. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, có thể như thật biết được và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị sân xâm chiếm, không bị sân chi phối... còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng!" (Tăng Chi Bộ, Chương V- Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (III). Bà-La-Môn Sangarava)

Tâm bị tham dục, tham muốn xâm chiếm giống như thau nước có đầy thuốc nhuộm, không còn màu trong của nước nữa mà bị những màu nhuộm làm biến sắc. Đối với tâm sân giống như nước bị đun sôi sùng sục. Đối với tâm hôn trầm, buồn ngủ giống như rong rêu che kín mặt nước cho nên không phản chiếu được hình ảnh. Đối với tâm bị trạo cử, dao động giống như bát nước bị khuấy lên, nước không được lắng yên, trong lắng, thân dao động nên tâm không được yên nên gọi là trạo cử, tâm bị trạo hối là cứ hối hận về những vấn đề sai quấy nên làm tâm không yên, trạo là dao động, hối là hối hận, hối tiếc làm tâm bất an. Đối với tâm hoài nghi giống như bát nước để trong bóng tối còn bị dao động không nhìn thấy được gì. Khi thực hành thiền thoát ra được năm thứ này thì tâm trong sạch, không bị khuấy đục giống như mặt hồ trong lặng, sáng tỏ, soi được bóng cả bầu trời. Nhiều người nghĩ vào thiền tâm yên, bước vào định nhưng không giải nghĩa được định là gì, yếu tố đầu tiên để tâm yên định bước vào Sơ thiền là phải thoát được năm triền cái, nếu không thấy rõ được năm triền cái, không thoát ra được năm triền cái thì cái định đó chưa phải là cái định thật sự của Thánh chánh định được Đức Phật dạy, nhiều khi cái định đó lại ở trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê của hôn trầm mà cứ tưởng là định, cho nên phải thoát ra năm triền cái, thành tựu năm thiền chi: Tầm, tứ, hỷ lạc và nhất tâm. Sống thiền định là một nghệ thuật sống tuyệt vời, đi tới, đi lui an nhiên, vắng lặng, người đó không còn sự tất bật, dao động mà rất trầm mặc, an tịnh, có những vị trong thất bước ra khất thực nếu không để ý sẽ không biết vị đó ở gần mình vì họ rất an tịnh, lắng dịu còn mình đi tới đâu là ồn ào tới đo. Người xưa có câu "văn kỳ thinh bất kiến kỳ hình" nghĩa là nghe tiếng tăm nhưng chưa được gặp mặt, còn giờ mình lấy câu này để ví dụ vui cho người đi đến đâu là rổn rảng đến đó, đó là một sự dao động. Một người còn sôi nổi, còn sôi sục trong tâm rất khó tu, nếu có tu cũng không đi đến chỗ sâu sắc nếu không nhiếp phục được sự dao động, chỉ tu được những cái thô bên ngoài còn vi tế bên trong không đi đến được, vì dao động là điều rất căn bản nhưng còn chưa nhiếp phục được thì làm sao đi sâu vào trong nội tâm được? Vì thế cần nhiếp phục năm triền cái.

Sống Trí tuệ, các con thương mến

Sống tập nhìn ngũ uẩn vận hành,

Tập nhận ra dục, ái, tham, sân

Tập thấy rõ vô thường, vô ngã.

Thế nào là sống trí tuệ? Chính là sống thấy biết tự thân. Để gọi là thành tựu nhận diện năm uẩn đúng ý nghĩa là phải mở được pháp nhãn, còn giờ chúng ta chỉ mới tập nhận diện ngũ uẩn nhưng thường bị đồng hóa với nó, lâu lâu mới thấy rõ được nó như vậy, đó là những lúc mình rất tỉnh táo chánh niệm, còn bình thường bị dính mắc với nó, mỗi lần sanh khởi ý nghĩa đều cho rằng "mình nghĩ". Một ngày thấy ngũ uẩn là ngũ uẩn chứ không phải là mình được mấy tiếng? Suốt một tiếng ngồi thiền có nhìn thấy hoàn toàn ngũ uẩn là ngũ uẩn không? Cho nên đừng nghĩ mình nhận diện được ngũ uẩn rồi trả bài làu làu là được rồi, mình chỉ mới tập nhận diện nó thôi, tập xem sắc uẩn ra sao rồi mình có tách bản thân ra khỏi nó không hay nhận diện sắc mình rồi lại thấy thích nó, vậy là thất bại. Khi nhận diện ngũ uẩn thường nói "sắc con đang ngồi đây" hoặc "sắc tứ đại đang ngồi đây", trong cảm giác có gì, hình bóng, suy nghĩ ra sao, người nào quen ngồi thiền qua dòng pháp này sẽ thấy khó khăn, không dễ tu vì tâm không yên tịnh, tỏ sáng, không có chánh niệm tỉnh giác bị năm triền cái xâm chiếm thì làm sao nhận diện được ngũ uẩn? Vì thế phải sống trí tuệ, sống tập nhìn ngũ uẩn vận hành là vậy, tập nhìn những cảm giác, nghĩ tưởng này đang diễn vở tuồng gì, đang vận hành ra sao, đang mưu tính cái gì, đừng tự mãn cho rằng mình thấy được ngũ uẩn là chết ngay với nó, đừng hài lòng với những cái nhỏ bé, được ít mà cho là đủ. Ở trên mình nói phải sống ít muốn biết đủ, hài lòng với hiện tại là đang nói đến những vật chất vô thường, còn muốn thành tựu Thánh trí huệ là không được hài lòng, hài lòng với những thứ vật chất vô thường, tạm bợ nhưng trong tâm không hài lòng với những hiểu biết ít ỏi, nhỏ bé của hiện tại mà phải tăng thượng liên tục, tăng thượng tuệ, tăng thượng tâm, tăng thượng giới. Mỗi một ngày ngũ uẩn hoạt động rất khủng khiếp nhưng mình phải xem mình có tách ra khỏi nó không, mình có ra công để nhiếp phục nó không hay mình buông trôi, thả xuôi theo dòng thác lũ đó, trong tâm mình là những dòng thác lũ, sắc là dòng thác lũ, thọ là dòng thác lũ, tưởng là dòng thác lũ, hành là dòng thác lũ, thức là dòng thác lũ, nó cuồn cuộn cuốn trôi mình trong đó mà mình lại nắm vào bụi cỏ thì cũng như không, vì thế cần thực tập nhận diện dục, ái, tham, sân.

"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, một con sông từ núi cao chảy xuống, từ xa chảy đến, dòng nước chảy xiết. Trên hai bờ con sông ấy, nếu cỏ lau kàsà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cỏ kàsà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại lau babbakjà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cỏ bìranà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cây mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống.

Và một người bị dòng nước của con sông ấy cuốn trôi, nếu người ấy nắm lấy cỏ lau kàsà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy loại cỏ kàsà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy loại lau babbakjà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy các loại cây, loại cây này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, I. Dòng Sông)

Khi mình chưa vào dòng pháp này không biết dục, ái, tham, sân là gì, chỉ thấy đi ăn trộm bị bắt là tham, gây lộn đánh nhau là sân, chuyện nam nữ là dục ái nhưng tu cái này mới thấy mỗi một cảm giác trong tâm thúc giục, sự ưa muốn, cảm giác khó chịu đều được nhận ra, nhận ra rồi sẽ đỡ khổ, bớt khổ, giảm khổ rồi từ từ sẽ tiêu trừ, diệt trừ cái khổ. "Tập nhìn ngũ uẩn vận hành" là bốn Thánh trí về ngũ uẩn, "tập nhận ra dục, ái, tham, sân" là bốn Thánh trí về lậu hoặc, "tập thấy rõ vô thường, vô ngã" là tập thấy những cảm giác, nghĩ tưởng, tham, dục, ái, sân hận đó là vô thường, vô ngã, biến đổi liên tục, hết thương lại giận. Nghệ thuật sống này rất tuyệt diệu, nhờ sự thu thúc của giới, nhờ tâm an tịnh lắng dịu của thiền mới bắt đầu nhìn sâu vào bên trong, trong cái nhìn trung thực, chánh trực mới thấy được sự vận hành của ngũ uẩn, bây giờ chúng ta tập nhận diện ngũ uẩn, tập nhận diện tham, sân, si, vô minh và bản ngã rồi nhìn ngược lại lúc trước khi chưa tu học dòng pháp này, làm sao một người không được hướng dẫn đầy đủ, cặn kẽ, chính xác, tường tận về phương pháp này thì làm sao thấy biết được ngũ uẩn? Nếu không có người huớng dẫn làm sao thấy được dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã, làm sao thấy được thân kiến chấp thủ? Vì thế đây chính là trí tuệ của bậc Thánh, chúng ta thực hiện là đang sống đời sống của bậc Thánh, chúng ta đang thực tập từ từ, đây là nghệ thuật tối thượng thừa của đời sống an lạc, an vui, an tịnh, an bình. Chúng ta phải thấy thích thú, hân hoan, phải thấy trân trọng, quý báu để gìn giữ cái thấy biết này như giữ kim cương, báu vật, mình không để cái trí đó rớt mất dù bất cứ lúc nào, phải gìn giữ con mắt pháp đó, sau khi nghe, học, được thực tập là phải mở mắt lên, không cho lãng quên, không cho ngủ quên, không để mù lòa như lúc trước, đó mới là người chân thành trong cầu học pháp, hành pháp, đằng này được nghe được học rồi để đó, lâu lâu mới thực tập thì người đó không cung kính pháp. Nếu nhận diện được năm uẩn, nhận diện được dục, ái, tham, sân là cuộc đời mình đổi qua trang sử mới, đổi đời chứ không còn bình thường nữa, có nhiều Phật tử hoặc các vị xuất gia nhận ra rồi bị sốc nên lo lắng, buồn khổ, nhưng đúng như vậy, phải lo lắng, buồn khổ mới sáng được con mắt mù, còn nhận ra rồi vẫn bình thường thì đâu phải mù mà được sáng mắt. Khi nhìn thấy được những cấu nhiễm trong tâm thì người này thấy ưu sầu, bất an, lo lắng, sợ hãi, sững sốt, sốc hoàn toàn vì không ngờ tâm mình ghê gớm như vậy, lại rác bẩn như vậy, đó là từ mù được sáng mắt, mình vui vì thấy được nhưng phải giữ tâm tàm quý để không bị mất đi trí tuệ nhìn thấy sự vận hành của ngũ uẩn và sự nhận ra được dục, ái, tham, sân này. Người thật sự chân thành, chân chánh cầu pháp, được tiếp nhận dòng trí huệ này thì người này giống như có được thần kiếm, mừng còn hơn tìm ra kho báu, còn người không chân thành, chân chánh, không quý trọng cầu pháp, nghe rồi để đó không thực hành, thực tập thì tu không có kết quả. Cho nên phải biết đây là Thánh trí tuệ, khi nhìn thấy đây là dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, thấy được tính chất vô thường, khổ, vô ngã của nó thì lúc đó mình đổi đời, người này chuyển tộc, thay đổi dòng họ, tức là nói đến những bậc đi vào Hướng Dự Lưu và Nhập Lưu, còn mình nghe hiểu rồi nhưng vẫn không thấy có thay đổi vì mình không có sự nhiệt tâm, không tinh cần, không dồn hết tâm tư, tâm trí vào pháp, cầm ngọc trên tay mà để rơi rớt thì chưa biết nó là ngọc mà chỉ nghĩ là đá thôi, nếu thật sự biết nó là ngọc quý sẽ giữ kĩ vô cùng. Mình phải nhìn ra được những nguyên nhân, những thứ ác độc đã tồn tại mấy chục ngàn năm nay, mình bị che đậy, bị chà đạp, sai khiến bây giờ mình đã thấy nó rồi, phải quật cường, làm cuộc lật đổ những ác pháp này bằng sức mạnh đại hùng đại lực, phải nỗ lực lên, dù chỉ còn xương với da cũng không dừng lại, phải tu như vậy thì các ngài mới nhập Thánh quả, mới thành tựu Chánh Giác, còn mình tu cho có chứ không quý trọng, tôn kính pháp gì cả, chỉ quý trong lúc nghe pháp còn xong rồi pháp là pháp, mình là mình, người trí là đem pháp để vào tim, để vào tâm, để vào não và giữ pháp không để cho mất, lúc nào lỡ buông lung thì thôi chứ nhớ ra là trở về pháp lập tức.

Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta chia sẻ từ bài 18 đến bài 22, sống biết đủ, sống biết cho, sống giới hạnh, sống thiền định và sống trí tuệ. Đây là những nghệ thuật sống tuyệt vời, an tịnh, cao đẹp, an vui, an lạc và chúng ta cố gắng nắm giữ những cái pháp cao quý, thánh thiện này để chúng ta tinh cần, nhiệt tâm thực hành ngay giây phút hiện tại để mở ra kho báu mà Thế Tôn đã truyền trao cho chúng ta, đừng cầm chìa khóa trong tay mà trở thành kẻ nghèo khổ xin ăn, rất đáng thương xót cho những người này.

./.