Tầm Quan Trọng Của Tâm Hiền Trí 6 - Thiền Quán - An Trú Tâm Như Gió
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
TẦM QUAN TRỌNG CỦA TÂM HIỀN TRÍ 6
THIỀN QUÁN AN TRÚ TÂM NHƯ GIÓ
–Thích Minh Thành–
Hôm nay chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm phương pháp an trú tâm của tôn giả Xá-lợi-phất
"Ví như, bạch Thế Tôn, gió thổi các đồ tịnh, thổi các đồ bất tịnh, thổi phẩn uế, thổi nước tiểu, thổi nước miếng, thổi mủ, thổi máu; tuy vậy gió không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như gió, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi". (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)
Chúng ta chiêm nghiệm về tính chất của ngọn gió, quán tưởng tâm mình như ngọn gió. Đầu tiên mình thấy gió luôn đem lại sự mát mẻ giống như giữa trưa hè nóng bức, nắng hạn mà chúng ta được một cơn gió mát mẻ thổi qua. Tâm hiền từ, hiền hòa này như một cơn gió mát thổi qua làm cho những người nóng bức, bực bội, bức xúc, sừng sộ, thù hằn cảm nhận được cảm thọ lắng dịu, mát mẻ, dễ chịu, an yên.
Thật sự rất cần những ngọn gió này thổi qua, chúng ta nhớ đến hình ảnh chiếc quạt đem lại gió mát dễ chịu, tâm hiền này cũng như quạt mát cho chúng ta, tâm hiền này nhẹ nhàng, dịu dàng, thanh lương và dễ chịu, ngọt ngào và an yên là tâm hiền này. Những trưa hè nóng bức mà có quạt máy vừa quạy mát vừa quay qua quay lại để điều hòa, ngọn gió đó làm không khí được hài hòa, tâm hiền này như cây quạt máy mà chúng ta dùng giữa trưa hè làm cho mát mẻ, dễ chịu, đuổi muỗi, giống như quạt trần quay lên là cả nhà đều mát, khi tâm hiền được sanh khởi lên thì toàn thân tâm chúng ta được mát mẻ, an lành, dễ chịu. Ngoài ra còn thêm một hình ảnh để chúng ta quán chiếu là hình ảnh máy điều hòa (máy lạnh), ở Sài Gòn vào mùa hè nắng gắt nhiệt độ có thể lên 39-40 độ ngoài mặt đường, nhà người nào không có máy điều hòa thì họ đi vào trung tâm thương mai, khu mua sắm để có được không khí mát lạnh từ những máy điều hòa phát ra trong đó, còn nhà ai có máy điều hòa thì tùy ý họ điều chỉnh nhiệt độ theo ý thích. Tâm hiền này giống như máy điều hòa nhiệt độ, điều hòa không khí tùy theo ý muốn của mình, phải điều hòa tâm hiền xuống, dịu xuống, dễ thương, dễ nói, dễ nuôi, dễ bảo. Nội tâm có được sự thực tập tâm hiền như căn nhà trong xứ nóng bức có máy điều hòa, giống như căn nhà có quạt trần, quạt máy, quạy tay, trong cơ thể chúng ta rất cần những ngọn gió này, trong thân chúng ta có thể thở được, những tế bào, tim, phổi có thể hô hấp tuần hoàn được là nhờ gió.
Chúng ta chiêm nghiệm tiếp về nội phong đại là gió bên trong, chính là hơi thở của chúng ta, hơi thở chúng ta đang thở là điều rất quý báu và chúng ta phải biết trân trọng hơi thở này. Hiện tại những người nhiễm bệnh phải giành giật từng hơi thở, phải chiến đấu trong mỗi hơi thở, có cô gái trẻ nước mắt đầm đìa vì trong vòng vài tiếng cô mất cả cha lẫn mẹ, bản thân cô đang nằm trên giường bệnh phải thở máy, sau khi hết bệnh trở về căn nhà trống vắng với nỗi đau tột cùng, cô nói rằng phải đến khi thở máy mới biết hơi thở này quý báu đến dường nào, hơi thở này rất thiết yếu và màu nhiệm. Khi hơi thở này còn vận hành vào ra thì sinh mạng còn tồn tại, khi hơi thở này chấm dứt thì sinh mạng này cũng chấm dứt.
"Còn động còn ấm còn ta,
Động dừng ấm hết là ma ra đồng.
Thở than khóc lóc não lòng,
Thức thần theo nghiệp hết mong trùng phùng".
(Chiếc Thân Phút Chót - Thiền Viện Chân Không, 01.1985)
"Đem vào là nhờ gió
Tống ra cũng gió đưa
Sự hô hấp tuần hoàn
Tất cả đều do gió
Một phen gió nghiệp dừng
Thân này như khúc gỗ".
(Gió Nghiệp - Thiền Viện Chân Không, 08.1982)
Tâm hiền như hơi thở này, còn tâm hiền, tâm từ là còn sinh mạng của một người tu, mất tâm hiền, dứt tâm từ là đồng nghĩa mất mạng. Một người tu hung hăng, hung bạo, có những cảm thọ sôi sục, sừng sộ thì không còn là người tu nữa, cũng như còn hoạt động của phong đại bên trong, còn sự hô hấp của hơi thở, còn sự tuần hoàn của huyết quản, của các mạch máu là còn sự sống của một con người, cũng vậy, còn những cảm giác hiền lành, hiền kính, hiền thiện được vận hành, được hiện hữu nơi nội tâm của chúng ta thì chúng ta còn sinh mạng của một người tu, còn gương mặt, hình dáng của một người tu, mất cảm thọ hiền thiện, hiền hòa này, không có sự lắng dịu, an tịnh mà chỉ còn sự sỗ sàng, rộn ràng, sừng sộ, dao động, nổi loạn thì đó là gió độc, không phải là ngọn gió của tâm hiền thiện, trở thành người hung dữ, không có chất hiền cho nên hơi thở này rất tuyệt vời và màu nhiệm, trong kinh tạng Nikāya có cả một chương Tương Ưng nói về hơi thở, trong đó Đức Phật dạy về mười sáu hơi thở. Thế Tôn nói hơi thở là phạm trú, là Thánh trú, là Như Lai, nghĩa là chỗ cư trú của Phạm thiên vua trời, là chỗ cư trú của bậc Thánh, là chỗ cư trú của Như Lai, chính là hơi thở vào ra.
"Này các Tỳ-kheo, ai muốn nói một cách chơn chánh, đây là Thánh trú, đây là Phạm trú, đây là Như Lai trú; người ấy nói một cách chơn chánh, phải nói định niệm hơi thở vô, hơi thở ra là Thánh trú, là Phạm trú, là Như Lai trú". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương X. Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra, II. Phẩm Thứ Hai, I. Icchànangala)
Trong phần Thân Hành Niệm có phần niệm hơi thở để thấy được sự vận hành của gió, sự hoạt động mang tính chất vô thường, tạm bợ, mong manh, mang tính chất của sự ngắn ngủi, tự tánh đổi khác, bất cứ lúc nào cũng có thể ngừng thở, tim không còn đập nữa, phổi bất động. Cho nên chúng ta cần trân quý từng hơi thở, hãy thở thật sâu, thật dài, thật nhẹ nhàng, thở thật bình yên, an tịnh và lắng dịu, tỉnh thức và chánh niệm, thở để ý thức sự có mặt của các pháp, ý thức sự có mặt của gió, đất, nước, lửa chứ không phải ý thức sự có mặt của một cái tôi, đó chính là quán tứ đại. Thở sâu, thở chậm, thở nhẹ, thở đều, thở bình yên, thở ngọt ngào, thở hiền hòa, an tịnh và lắng dịu, lấy đó làm chất liệu để nuôi lớn tâm thương.
Đừng để hơi thở này nuôi dưỡng sự tức giận, đừng thở trong những hơi thở của hơn thua, tranh đấu, tranh giành, hãy thở những hơi thở hiền dịu, hiền hòa, cảm nhận hơi thở này, cảm xúc và cảm thọ hơi thở này vì còn hơi thở là còn sinh mạng để tu tập các thiện pháp. Ý thức gió này đang chuyển động, đang vận hành cũng như tâm hiền này đang vận động trong thân tâm chúng ta, thấy cái hiền trong từng nhịp đập con tim, thấy sự hòa dịu trong phổi, trong lục phủ ngũ tạng thấy luồn gió hiền đi vào đi ra. Chỉ cần gió ngừng lại là thân này bất động như khúc cây.
"Không bao lâu thân này,
Sẽ nằm dài trên đất,
Bị vất bỏ, vô thức,
Như khúc cây vô dụng".
(Kinh Pháp Cú 03 – phẩm Tâm, kệ 41)
Tất cả sự động chuyển của chúng ta như Minh Thành đang nói là gió, cái tay đang quạt là nhờ gió, chân bước đi được là nhờ gió, cúi xuống hay ngẩng lên cũng nhờ gió, tất cả các động tác của mình đều nhờ gió, như vậy hãy thổi ngọn gió của tâm hiền vào trong mỗi sự vận động, đưa ngọn gió tâm hiền vào lời nói thì lời nói thành hiền hòa, đưa ngọn gió tâm hiền vào cánh tay thì cánh tay có đưa ra cũng nhẹ nhàng, hiền hòa, không sỉ vả người ta, cất bước chân với ngọn gió tâm hiền thì bước chân đó nhẹ nhàng chứ không phải như thùng phi chuyển động ầm ầm, đó là người tu không niệm oai nghi, mắt nhìn cũng nhờ gió nhưng có tâm hiền trong đó thì ánh mắt đó là "từ nhãn thị chúng sanh", nghĩa là ánh mắt nhìn cuộc đời này bằng sự thương mến, nhìn bằng ánh mắt cảm thông, tha thứ và thương yêu đối với tự thân mình và chúng sanh.
Thật là đáng thương cho những nội tâm vô minh, ngu si, mê muội, những nội tâm đầy dục vọng, khát khao, chịu sự giày vò, sai khiến, thương và hiểu một cách sâu sắc, tha thứ, bao dung, đó là cái nhìn của mắt thương mến. Mắt thương nhìn tự thân mình, mắt thương nhìn xung quanh, mắt thương nhìn đời sống này, hữu tình này, mắt thương nhìn ra địa cầu này, thế giới này, đó là những nội tâm si ám, mờ tối, những nội tâm của màn đêm.
"Tôi biết mình chỉ là đom đóm
Không làm sao toả sáng trần gian,
Nên chỉ ngậm ngùi trong thương xót,
Thương đời quờ quạng giữa trời đêm".
(Đom Đóm – Chơn Tín Toàn)
Thương cho tự thân mình đầy rẫy những dục vọng, ham muốn. Thương cái thân thiếu thốn, khát khao. Thương cái tâm làm nô lệ cho dục vọng. Thương thật nhiều những nội tâm xung quanh chúng ta, đó là những nội tâm nghèo nàn, thiếu thốn, khao khát dục vọng, những nội tâm thèm khát, làm nô lệ cho tham muốn. Thương dạt dào, thương tràn ngập, thương bao dung, rộng rãi, thương thấm nhuần khắp mọi nơi như làn gió thổi qua tất cả mọi vạn vật, đem sự mát rượi tẩy trừ sự nhiệt não, nóng bức cho hữu tình chúng sanh, đó gọi là mắt thương nhìn cuộc đời, thương trời quờ quạng giữa trời đêm, thương mình cũng quờ quạng trong bóng tối.
Mỗi khi tắt mất sự nhận diện năm uẩn, quên sự nhìn ngó tự thân tâm thì mình cũng ở trong bóng đêm, ở trong sa mạc, ở trong những nội tâm khô cằn, sỏi đá, hạn hán sự cảm thông, tha thứ, không có gió của tâm hiền đi qua, cho nên đưa ngọn gió tâm hiền vào mắt thì thành mắt hiền, đưa ngọn gió vào tay thì những cử động của mình được nhẹ nhàng, hiền lành, không sỉ vả, chỉ chỏ. Khi mình hướng dẫn ai là đưa cả bàn tay ra chứ không được đưa ngón trỏ ra chỉ, khi bước đi thấy rõ đươc gió đang chuyển động, ngọn gió này là ngọn gió hiền lành nên bước đi có sự tỉnh thức và chánh niệm, không đi trong ngọn lốc xoáy của lãng quên, của thất niệm, của buông lung phóng dật, khi đi phải thấy đất, nước, gió, lửa.
Lời nói phát ra là từ sự vận hành của tâm hiền, khiêm hạ, khiêm cung, nhúng nhường, đừng ăn nói sỗ sàng, không cung kính, không biết trên dưới, đó là những ngọn gió độc phát ra, người nói và người nghe đều bị trúng độc, ngọn gió của dục, sân, tức giận, ngọn gió của si mê, bản ngã. Đừng đưa gió độc vào người mình, đừng đem gió độc thổi vào thân, miệng, ý của mình, hãy đem ngọn gió mát mẻ, hiền thiện, thanh lương vận hành trong cơ thể này trong từng cái nghe, cái thấy, trong từng cảm thọ cũng phải tập cảm thọ hiền. Khi lồng ngực nóng hừng hực lên khi tức giận là có gió trong đó, đó là gió thổi thổi cho nóng lồng ngực phựt cháy lên, lúc đó phải dập tắt, làm cho an tịnh, lắng dịu, để ngọn gió hiền lành, mát mẻ thay thế vào, tâm hiền làm mọi người an lạc, bình yên, tâm hung dữ chỉ đem lại bão tố phong ba, gió lốc xoáy. Cần quán chiếu tâm hiền này trong mỗi hơi thở, trong mỗi nhịp đập của trái tim, trong mỗi sự vào ra, hô hấp tuần hoàn, cảm nhận tâm hiền này trong tứ chi, trong sáu căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý đều thấm đượm tâm hiền từ.
Tâm hiền như gió này thổi qua mà không bị dính mắc, không phải thổi tới đồ xấu thì đi qua còn thổi tới đồ đẹp thì dừng lại mà nó cứ đi qua một cách hồn nhiên đối với các pháp. Đó là lý do ngài Xá-lợi-phất ví dụ người ta đổ phân uế thì gió cũng thổi qua, thổi qua máu mủ, đàm giải mà không chán ghét, không bực bội, sân hận, không lo âu, xấu hổ. Khi bị người ta mắng chửi, hủy nhục thì an trú tâm như gió, những lời nó đó như gió, quan trọng là nhìn lại bản thân có như lời người ta nói không, nếu có thì sửa đổi, nếu không có thì không có thôi, ngọn gió tâm hiền không dừng lại ở những lời nói đó, không cất giữ những lời nói đó để thanh tưởng cứ vang vọng lại những lời nói trong đầu từ ngày này qua tháng nọ để hành hạ bản thân.
Khi được khen mà mình không được như vậy thì mình cũng không nhận, gió cũng thổi qua, nếu mình có sự tinh tấn, ngày đêm tu tập các thiện pháp thì người ta nói đúng. Bị người ta chê mà nhìn lại mình đúng như vậy thì mình xấu hổ, xin lỗi, sám hối, sửa đổi, còn bị chê mà không có thì thôi như ngọn gió thổi qua chứ đừng để thanh tưởng của những lời chê bai đó vang lại trong tâm rồi bức bối, tức giận và cho rằng đó là "khinh thường tôi", "sỉ vả tôi". Không được để có cái tôi trong đó, gỡ bỏ cái tôi, cái của tôi bằng Thánh trí tuệ Đức Phật truyền trao cho mình, không có tôi nào mà chỉ là đất, nước, gió, lửa, là tổ hợp của năm nhóm cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này, đó là những thứ vô thường, duyên sanh, là những thứ lắp ráp, kết hợp chứ không có cái tôi trong này, tháo gỡ nó ra và làm cho nó như ngọn gió thổi qua, ai muốn quăng gì thì quăng, muốn nói gì thì nói, không có ai trong đây nên làm gì có việc xem thường nhau, vì gắn tự ngã tôi vào nên mới có người khác xem thường tôi, nếu không có tôi thì ai xem thường rồi xem thường ai, đây chỉ là sự động chuyển của các ngọn gió kết hợp với đất, nước, lửa. Hãy nhìn vào hơi thở, để tâm vào hơi thở, cảm nhận hơi thở, có phải nó đang vào ra không? Có phải nó đang hô hấp tuần hoàn không? Rõ ràng là gió nhưng mình cứ cho nó là tôi thì đó là vô minh, là ngộ nhận, trong đó là nước, nhiệt độ và cát bụi, đất, kết hợp với nhau rồi vận hành.
"Một bao máu mủ, bao năm khổ luyến ân tình
Bảy thước xương khô, mặc sức tham xan tiền của.
Thở ra không hẹn thở vào
Ngày nay không tin ngày kế
Trôi nổi sông yêu giờ nào nghỉ
Nấu ung nhà cháy biết bao thôi?".
(Phổ Khuyến Phát Bồ-đề Tâm – Trần Thái Tông)
Vỗ ngực xưng tên "mày biết tao là ai không" rồi hậu quả lên phường bị phạt mấy triệu hoặc vào tù, đó là một bao rác bẩn mà cứ vỗ vào xưng ta, tôi.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Thế mà vỗ ngực nói ta đây
Như một bao rác đầy hôi thối
Lại vỗ vào bao nói ta tôi.
Chúng ta là những kẻ mạo nhận, là những kẻ nói dối, là những kẻ ngộ nhận cái bao máu mủ gan ruột, phèo, phổi, phân và nước tiểu này, cái bao chứa đầy tham, sân, si, dục ái, ngã mạn, hống hách rồi vỗ vào bao đó xưng ta, tôi, tao, mi, tớ. Ra ngoài mà gặp chuyện là vỗ ngực nói "mày biết tao là ai không?", sau câu nói đó là đấu đá, đánh đấm nhau, máu chảy xuống, thịt lộ ra, những giọt nước mắt tuôn trào, đó là những cơn gió độc đang vận hành, những cơn gió của ngu si, bản ngã, hách dịch, kiêu căng, những cơn gió giành giật, tranh đấu, hơn thua, thổi qua là những bão tố phong ba, đó là hắc phong, là ngọn gió đen, gió độc làm chúng sanh đau khổ, nếu biết an trú vào ngọn gió của tâm hiền sẽ được an yên, an bình, an lạc. Tuyệt vời làm sao là những ngọn gió bình yên này, an ổn làm sao là những ngọn gió hiền thiện này, an vui làm sao là những ngọn gió hiền kính này, tuyệt vời và mát mẻ như quạt gió, quạt trần, như máy điều hòa.
Cả trái đất này nhờ phong luân nâng đỡ mới tồn tại được, cũng vậy, người tu là nhờ tâm hiền mới đứng vững được trong pháp và luật này, tâm hiền này như gió thổi nhẹ qua không dính mắc với bất kì cái gì. Hãy quán tâm mình như gió, đi qua và đi qua, chúng ta thường thấy hình ảnh một thầy Tỳ-kheo ngồi thiền trên mỏm đá bên bụi trúc, trên núi cao đồi vắng có sương mây giăng kín lối đi, những ngọn gió sớm thổi nhẹ qua làm cành trúc lay động, những giọt sương của buổi sớm mai chảy xuống đầy long lanh, hình ảnh đó đẹp thoát tục. Tâm hiền cũng như những làn gió thổi qua khóm trúc rồi đi mất, không vướng mắc, không ràng buộc.
"Nguyện tâm như địa, thủy, hỏa, phong
Rộng rãi, bao dung, chẳng buộc ràng,
Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách
Có gì để lên mặt, hơn thua".
(Đảnh Lễ Đức Hạnh Ngài Xá-lợi-phất)
Đó là những cảm giác hiền thiện, hiền hòa, hiền đức, mỗi ngày phải đọc bài đảnh lễ đức hạnh ngài Xá-lợi-phất cho thấm vào ngũ uẩn, thấm vào cảm thọ, cảm xúc của chúng ta để thân tâm này như gió nhẹ. Sự xuất hiện của mình là sự xuất hiện của những làn gió để những người được xúc chạm đều cảm thấy dễ chịu, mát mẻ, đừng để sự xuất hiện của mình giống như bão, chỉ đem lại khổ đau, tan thương. Bây giờ mọi người muốn làm gió nhẹ hay muốn làm bão tố?
Gió này hỗ trợ cho đất, nước, lửa hoạt động, gió truyền tải âm thanh, năng lượng, thổi mây làm mưa. Nhờ gió mà ba đại kia hoạt động được, cây cối mới sinh trưởng, lửa mới cháy mạnh lên, nước chảy và thân thể này mới hoạt động được, không có gió là cứng đơ, một người gần chết sẽ lấy hơi lên rồi ra đi, một ngày nào đó thôi ngừng thở là gió chấm dứt thì các đại khác cũng tan rã. Sau khi gió dừng lại thì lửa cũng dừng nên cơ thể lạnh ngắt, bắt đầu nước trong cơ thể rỉ chảy, thân trương phình lên và sau cùng đất là địa đại tan rã, như vậy gió đi đầu tiên vì gió vận hành ba đại còn lại.
Tất cả mọi sự vận hành trên cuộc đời này đều nhờ gió, phải có sự chuyển động mới đi đến chỗ tan hoại, mình thấy người đó ngồi yên nhưng bên trong thân thể họ vẫn đang vận hành, đang chuyển động, còn nếu im thật sự thì người đó đã chết, vì thế tất cả những gì mình thấy đều không đúng vì các pháp đang vận hành rất thâm sâu, không thể thấy hết được. Các hành cũng do sức gió chuyển động, nước chảy được là nhờ gió nên người ta mới đi tàu thuyền trên biển được, máy bay bay được cũng nhờ sức gió đẩy lên, tất cả động cơ trong xe hoặc máy móc đều phải có năng lượng thì mới vận hành được nhưng mình nhìn chẳng thấy gió đâu, chỉ thấy đó là chiếc xe, máy bay, chỉ thấy con người nói chuyện cho nên sự quán chiếu tứ đại rất quan trọng vì chỉ có quán chiếu mới phá được sự chấp thủ về các pháp, phá được cái nhìn sai lầm thay thế bằng cái nhìn thâm sâu vào bản chất của các pháp, nếu không chỉ có nhìn trên hình tướng bên ngoài, mà nếu nhìn bên ngoài thì sai hết.
Nếu mình thấy một người đang giận, nói chuyện lớn tiếng, quơ tay múa chân thì trong đó là sức gió vận hành cộng với sức nóng bên trong tâm thổi lên, đất là hình dáng vận chuyển theo sức thổi của gió, trong đó đương nhiên có nước, như vậy sức nóng hừng hực lên, gió hoạt động quơ tay múa chân đánh đập, đâm chém, mắng chửi nhưng sâu thẳm bên trong chính là các cảm thọ kết hợp với những suy nghĩ, hình bóng trong tâm, sâu hơn bên trong là tâm sân hận, tham dục, bản ngã, sâu hơn nữa là vô minh, lậu hoặc, đó chỉ là một đống khổ đang vận hành chứ không có gì khác, vận hành xong rồi chịu những quả báo khổ.
Đó là sự sanh khởi của toàn bộ khổ uẩn này, bên trong là vô minh, lậu hoặc, tham, sân, si trong những thọ, tưởng, hành, bên ngoài là đất, nước, gió, lửa, từ bên trong điều khiển mọi thứ, những cảm thọ phựt lên, những suy nghĩ loanh quanh trong đầu, hình bóng chập chờn, gió phát huy ra lời nói, tay chân đánh đập, sỉ vả, miệng thì chửi mắng, dùng con mắt trí huệ nhìn sâu bên trong là một đống đất, nước, gió, lửa và một đống tham, sân, si, vô minh và bản ngã, dục ái, đó là một đống khổ vĩ đại và to lớn đang hoạt động, nó làm khổ mình khổ người, làm đau mình đau người, hành hạ mình người.
Đó là sức mạnh của gió nhưng đi theo chiều hướng tiêu cực của tham, sân, si, bản ngã, bánh xe bị xì hơi là chạy không được nhưng bơm hơi vào có thể chở mấy chục người nhưng chúng ta chỉ thấy chiếc xe chứ không biết có gió trong đó, giống như bánh xe máy bay được bơm hơi đầy đủ là chở đến vài trăm con người trong đó, ngoài ra còn nhờ sức gió nâng đỡ máy bay bay lên, đưa mình đến nơi mình muốn đến. Cũng vậy, mình phải dùng sức mạnh ngũ căn ngũ lực, sức mạnh của lòng tin, sức mạnh của nỗ lực, chánh niệm, sức mạnh của định tâm, của sự thấy biết, mình lấy sự tin tưởng tuyệt đối vào sự chứng ngộ của Đức Phật làm sức mạnh thì gọi là tín căn. Từ việc có gốc rễ của lòng tin sâu chắc sẽ biến lòng tin này trở thành sức mạnh thì gọi là tín lực. Từ lòng tin mạnh mẽ xác quyết sẽ đẩy mình đi đến việc cố gắng để thực hành, trở thành tấn lực. Do lòng tin mạnh bao nhiêu thì sự thực hành tương ứng với lòng tin mạnh bấy nhiêu, đương nhiên khi đã thực hành sẽ thường nghĩ nhớ, quán niệm vào sự thực hành đó, niệm lực sanh khởi, sức mạnh của chánh niệm sanh khởi. Khi có sức mạnh của chánh niệm thì tâm sẽ an định, chuyên chú vào pháp đang thực hành, định lực sanh khởi. Khi đã có định lực, sự thấy biết thâm sâu vào ngũ uẩn, thấy rõ được tính chất vô thường, khổ, vô ngã, tan hoại, biến hoại sẽ được bừng sáng, đó là tuệ lực.
Như vậy dùng sức mạnh của gió, dùng sức mạnh của tâm hiền thiện để phát huy ngũ lực, còn sức mạnh tiêu cực của gió dữ thì hủy hoại, nó biến ra những nguồn năng lượng của dục vọng, sân hận, chiến tranh và sức mạnh này rất mạnh, người ta sẵn sàng chết vì lòng tham muốn đó, người ta cũng sẵn sàng bỏ mạng vì tâm tức giận, làm cho hả dạ thì thôi, người ta kết thúc đời mình trong cái tôi của người ta, vì cái tôi mà mình ta có thể chết miễn sao cái tôi này được tôn thờ lên cao, đó là sức mạnh theo chiều tiêu cực của ác bất thiện pháp, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái, ngược lại mình lấy sức mạnh của gió biến thành sức mạnh của tâm hiền trí làm thành ngũ căn ngũ lực, tín, tấn, niệm, định, huệ, xác quyết lòng tin về sự chứng ngộ của Đức Phật, cố gắng nỗ lực thực hành, có sức chánh niệm nghĩ nhớ liên tục về pháp, về Tứ Niệm Xứ, niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp, thực tập thiền định và thành tựu trí tuệ thể nhập sự sanh diệt của các uẩn.
"Người luôn luôn chánh niệm,
Sự sanh diệt các uẩn,
Ðược hoan hỉ, hân hoan,
Chỉ bậc bất tử biết".
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 374)
Sức mạnh của lòng tin xác quyết là từ bốn Dự Lưu phần, tin Phật, tin pháp, tin Tăng, tin giới, sức mạnh của sự tinh tấn xác quyết từ những pháp hộ trì căn, những pháp đoạn diệt tham, sân, si, những sự siêng năng thực hành tinh cần, tinh tấn, tăng thượng trong bốn phần tinh cần mình đã học, sức mạnh của chánh niệm là từ niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp, sức mạnh của định là từ bốn tầng thiền, sức mạnh của tuệ là sự thể nhập sự sanh diệt các uẩn để biến sức mạnh của gió thành ngũ căn, ngũ lực, đó là sức mạnh vĩ đại của một người tu. Trong sự quán chiếu về gió là không bao giờ ngừng lại vì giống như hơi thở ngừng lại là mình chết, tâm hiền thiện và trí tuệ về năm uẩn này cũng không được để mất, hãy để nó động chuyển, vận hành, nếu nó dừng lại là mình thành tử thi, chỉ có xác mà không có hồn của người tu, phải có xác lẫn hồn, phải có sức sống, sức sống đó là sức gió vận chuyển, sức gió đó là tâm hiền thiện và sự thấy biết đúng sự thật mà Đức Phật đã truyền trao.
Phải thường xuyên an trú trong tâm hiền trí này, thường phát khởi tâm này, vận hành tâm này chứ đừng lãng quên, đánh mất tâm hiền thiện này, nếu như vậy chúng ta chỉ như một thây chết trong pháp và luật này, vì thế chúng ta phải sống như sự tồn tại của những nhịp đập con tim, giống như sự tồn tại của hô hấp tuần hoàn, chúng ta phải sống trong pháp như những cảm thọ hiền thiện thấy hiểu, thương yêu, tha thứ, cảm thông đầy trí huệ này.
Đó là chúng ta quán chiếu, chiêm nghiệm sự an trú tâm như gió, nếu có gặp phân uế, nước tiểu, máu mủ, đàm giải, người ta có phỉ nhổ, khinh khi, hủy nhục thì hãy nhớ đến ngọn gió của tâm hiền thổi qua không chán ghét, không sân hận, không bực tức, an trú tâm như luồn gió như đức hạnh ngài Xá-lợi-phất, gió này rộng lớn vô lượng vô biên, không giận, không thù hằn bất kì ai.
"Đây là phương trước mặt,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm đầy lòng hiền thiện
Đầy ước nguyện hiền hòa
Đầy ước mong hiền đức
Đầy ước muốn hiền lương.
Đây là phương bên phải
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bên trái
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía sau
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía trên
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía dưới
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bề ngang
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Tâm hiền này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này,
Tâm hiền này toả rộng,
Khắp trời đất bao la".
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
./.
TẦM QUAN TRỌNG CỦA TÂM HIỀN TRÍ 6
THIỀN QUÁN AN TRÚ TÂM NHƯ GIÓ
–Thích Minh Thành–
Hôm nay chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm phương pháp an trú tâm của tôn giả Xá-lợi-phất
"Ví như, bạch Thế Tôn, gió thổi các đồ tịnh, thổi các đồ bất tịnh, thổi phẩn uế, thổi nước tiểu, thổi nước miếng, thổi mủ, thổi máu; tuy vậy gió không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như gió, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi". (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)
Chúng ta chiêm nghiệm về tính chất của ngọn gió, quán tưởng tâm mình như ngọn gió. Đầu tiên mình thấy gió luôn đem lại sự mát mẻ giống như giữa trưa hè nóng bức, nắng hạn mà chúng ta được một cơn gió mát mẻ thổi qua. Tâm hiền từ, hiền hòa này như một cơn gió mát thổi qua làm cho những người nóng bức, bực bội, bức xúc, sừng sộ, thù hằn cảm nhận được cảm thọ lắng dịu, mát mẻ, dễ chịu, an yên.
Thật sự rất cần những ngọn gió này thổi qua, chúng ta nhớ đến hình ảnh chiếc quạt đem lại gió mát dễ chịu, tâm hiền này cũng như quạt mát cho chúng ta, tâm hiền này nhẹ nhàng, dịu dàng, thanh lương và dễ chịu, ngọt ngào và an yên là tâm hiền này. Những trưa hè nóng bức mà có quạt máy vừa quạy mát vừa quay qua quay lại để điều hòa, ngọn gió đó làm không khí được hài hòa, tâm hiền này như cây quạt máy mà chúng ta dùng giữa trưa hè làm cho mát mẻ, dễ chịu, đuổi muỗi, giống như quạt trần quay lên là cả nhà đều mát, khi tâm hiền được sanh khởi lên thì toàn thân tâm chúng ta được mát mẻ, an lành, dễ chịu. Ngoài ra còn thêm một hình ảnh để chúng ta quán chiếu là hình ảnh máy điều hòa (máy lạnh), ở Sài Gòn vào mùa hè nắng gắt nhiệt độ có thể lên 39-40 độ ngoài mặt đường, nhà người nào không có máy điều hòa thì họ đi vào trung tâm thương mai, khu mua sắm để có được không khí mát lạnh từ những máy điều hòa phát ra trong đó, còn nhà ai có máy điều hòa thì tùy ý họ điều chỉnh nhiệt độ theo ý thích. Tâm hiền này giống như máy điều hòa nhiệt độ, điều hòa không khí tùy theo ý muốn của mình, phải điều hòa tâm hiền xuống, dịu xuống, dễ thương, dễ nói, dễ nuôi, dễ bảo. Nội tâm có được sự thực tập tâm hiền như căn nhà trong xứ nóng bức có máy điều hòa, giống như căn nhà có quạt trần, quạt máy, quạy tay, trong cơ thể chúng ta rất cần những ngọn gió này, trong thân chúng ta có thể thở được, những tế bào, tim, phổi có thể hô hấp tuần hoàn được là nhờ gió.
Chúng ta chiêm nghiệm tiếp về nội phong đại là gió bên trong, chính là hơi thở của chúng ta, hơi thở chúng ta đang thở là điều rất quý báu và chúng ta phải biết trân trọng hơi thở này. Hiện tại những người nhiễm bệnh phải giành giật từng hơi thở, phải chiến đấu trong mỗi hơi thở, có cô gái trẻ nước mắt đầm đìa vì trong vòng vài tiếng cô mất cả cha lẫn mẹ, bản thân cô đang nằm trên giường bệnh phải thở máy, sau khi hết bệnh trở về căn nhà trống vắng với nỗi đau tột cùng, cô nói rằng phải đến khi thở máy mới biết hơi thở này quý báu đến dường nào, hơi thở này rất thiết yếu và màu nhiệm. Khi hơi thở này còn vận hành vào ra thì sinh mạng còn tồn tại, khi hơi thở này chấm dứt thì sinh mạng này cũng chấm dứt.
"Còn động còn ấm còn ta,
Động dừng ấm hết là ma ra đồng.
Thở than khóc lóc não lòng,
Thức thần theo nghiệp hết mong trùng phùng".
(Chiếc Thân Phút Chót - Thiền Viện Chân Không, 01.1985)
"Đem vào là nhờ gió
Tống ra cũng gió đưa
Sự hô hấp tuần hoàn
Tất cả đều do gió
Một phen gió nghiệp dừng
Thân này như khúc gỗ".
(Gió Nghiệp - Thiền Viện Chân Không, 08.1982)
Tâm hiền như hơi thở này, còn tâm hiền, tâm từ là còn sinh mạng của một người tu, mất tâm hiền, dứt tâm từ là đồng nghĩa mất mạng. Một người tu hung hăng, hung bạo, có những cảm thọ sôi sục, sừng sộ thì không còn là người tu nữa, cũng như còn hoạt động của phong đại bên trong, còn sự hô hấp của hơi thở, còn sự tuần hoàn của huyết quản, của các mạch máu là còn sự sống của một con người, cũng vậy, còn những cảm giác hiền lành, hiền kính, hiền thiện được vận hành, được hiện hữu nơi nội tâm của chúng ta thì chúng ta còn sinh mạng của một người tu, còn gương mặt, hình dáng của một người tu, mất cảm thọ hiền thiện, hiền hòa này, không có sự lắng dịu, an tịnh mà chỉ còn sự sỗ sàng, rộn ràng, sừng sộ, dao động, nổi loạn thì đó là gió độc, không phải là ngọn gió của tâm hiền thiện, trở thành người hung dữ, không có chất hiền cho nên hơi thở này rất tuyệt vời và màu nhiệm, trong kinh tạng Nikāya có cả một chương Tương Ưng nói về hơi thở, trong đó Đức Phật dạy về mười sáu hơi thở. Thế Tôn nói hơi thở là phạm trú, là Thánh trú, là Như Lai, nghĩa là chỗ cư trú của Phạm thiên vua trời, là chỗ cư trú của bậc Thánh, là chỗ cư trú của Như Lai, chính là hơi thở vào ra.
"Này các Tỳ-kheo, ai muốn nói một cách chơn chánh, đây là Thánh trú, đây là Phạm trú, đây là Như Lai trú; người ấy nói một cách chơn chánh, phải nói định niệm hơi thở vô, hơi thở ra là Thánh trú, là Phạm trú, là Như Lai trú". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương X. Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra, II. Phẩm Thứ Hai, I. Icchànangala)
Trong phần Thân Hành Niệm có phần niệm hơi thở để thấy được sự vận hành của gió, sự hoạt động mang tính chất vô thường, tạm bợ, mong manh, mang tính chất của sự ngắn ngủi, tự tánh đổi khác, bất cứ lúc nào cũng có thể ngừng thở, tim không còn đập nữa, phổi bất động. Cho nên chúng ta cần trân quý từng hơi thở, hãy thở thật sâu, thật dài, thật nhẹ nhàng, thở thật bình yên, an tịnh và lắng dịu, tỉnh thức và chánh niệm, thở để ý thức sự có mặt của các pháp, ý thức sự có mặt của gió, đất, nước, lửa chứ không phải ý thức sự có mặt của một cái tôi, đó chính là quán tứ đại. Thở sâu, thở chậm, thở nhẹ, thở đều, thở bình yên, thở ngọt ngào, thở hiền hòa, an tịnh và lắng dịu, lấy đó làm chất liệu để nuôi lớn tâm thương.
Đừng để hơi thở này nuôi dưỡng sự tức giận, đừng thở trong những hơi thở của hơn thua, tranh đấu, tranh giành, hãy thở những hơi thở hiền dịu, hiền hòa, cảm nhận hơi thở này, cảm xúc và cảm thọ hơi thở này vì còn hơi thở là còn sinh mạng để tu tập các thiện pháp. Ý thức gió này đang chuyển động, đang vận hành cũng như tâm hiền này đang vận động trong thân tâm chúng ta, thấy cái hiền trong từng nhịp đập con tim, thấy sự hòa dịu trong phổi, trong lục phủ ngũ tạng thấy luồn gió hiền đi vào đi ra. Chỉ cần gió ngừng lại là thân này bất động như khúc cây.
"Không bao lâu thân này,
Sẽ nằm dài trên đất,
Bị vất bỏ, vô thức,
Như khúc cây vô dụng".
(Kinh Pháp Cú 03 – phẩm Tâm, kệ 41)
Tất cả sự động chuyển của chúng ta như Minh Thành đang nói là gió, cái tay đang quạt là nhờ gió, chân bước đi được là nhờ gió, cúi xuống hay ngẩng lên cũng nhờ gió, tất cả các động tác của mình đều nhờ gió, như vậy hãy thổi ngọn gió của tâm hiền vào trong mỗi sự vận động, đưa ngọn gió tâm hiền vào lời nói thì lời nói thành hiền hòa, đưa ngọn gió tâm hiền vào cánh tay thì cánh tay có đưa ra cũng nhẹ nhàng, hiền hòa, không sỉ vả người ta, cất bước chân với ngọn gió tâm hiền thì bước chân đó nhẹ nhàng chứ không phải như thùng phi chuyển động ầm ầm, đó là người tu không niệm oai nghi, mắt nhìn cũng nhờ gió nhưng có tâm hiền trong đó thì ánh mắt đó là "từ nhãn thị chúng sanh", nghĩa là ánh mắt nhìn cuộc đời này bằng sự thương mến, nhìn bằng ánh mắt cảm thông, tha thứ và thương yêu đối với tự thân mình và chúng sanh.
Thật là đáng thương cho những nội tâm vô minh, ngu si, mê muội, những nội tâm đầy dục vọng, khát khao, chịu sự giày vò, sai khiến, thương và hiểu một cách sâu sắc, tha thứ, bao dung, đó là cái nhìn của mắt thương mến. Mắt thương nhìn tự thân mình, mắt thương nhìn xung quanh, mắt thương nhìn đời sống này, hữu tình này, mắt thương nhìn ra địa cầu này, thế giới này, đó là những nội tâm si ám, mờ tối, những nội tâm của màn đêm.
"Tôi biết mình chỉ là đom đóm
Không làm sao toả sáng trần gian,
Nên chỉ ngậm ngùi trong thương xót,
Thương đời quờ quạng giữa trời đêm".
(Đom Đóm – Chơn Tín Toàn)
Thương cho tự thân mình đầy rẫy những dục vọng, ham muốn. Thương cái thân thiếu thốn, khát khao. Thương cái tâm làm nô lệ cho dục vọng. Thương thật nhiều những nội tâm xung quanh chúng ta, đó là những nội tâm nghèo nàn, thiếu thốn, khao khát dục vọng, những nội tâm thèm khát, làm nô lệ cho tham muốn. Thương dạt dào, thương tràn ngập, thương bao dung, rộng rãi, thương thấm nhuần khắp mọi nơi như làn gió thổi qua tất cả mọi vạn vật, đem sự mát rượi tẩy trừ sự nhiệt não, nóng bức cho hữu tình chúng sanh, đó gọi là mắt thương nhìn cuộc đời, thương trời quờ quạng giữa trời đêm, thương mình cũng quờ quạng trong bóng tối.
Mỗi khi tắt mất sự nhận diện năm uẩn, quên sự nhìn ngó tự thân tâm thì mình cũng ở trong bóng đêm, ở trong sa mạc, ở trong những nội tâm khô cằn, sỏi đá, hạn hán sự cảm thông, tha thứ, không có gió của tâm hiền đi qua, cho nên đưa ngọn gió tâm hiền vào mắt thì thành mắt hiền, đưa ngọn gió vào tay thì những cử động của mình được nhẹ nhàng, hiền lành, không sỉ vả, chỉ chỏ. Khi mình hướng dẫn ai là đưa cả bàn tay ra chứ không được đưa ngón trỏ ra chỉ, khi bước đi thấy rõ đươc gió đang chuyển động, ngọn gió này là ngọn gió hiền lành nên bước đi có sự tỉnh thức và chánh niệm, không đi trong ngọn lốc xoáy của lãng quên, của thất niệm, của buông lung phóng dật, khi đi phải thấy đất, nước, gió, lửa.
Lời nói phát ra là từ sự vận hành của tâm hiền, khiêm hạ, khiêm cung, nhúng nhường, đừng ăn nói sỗ sàng, không cung kính, không biết trên dưới, đó là những ngọn gió độc phát ra, người nói và người nghe đều bị trúng độc, ngọn gió của dục, sân, tức giận, ngọn gió của si mê, bản ngã. Đừng đưa gió độc vào người mình, đừng đem gió độc thổi vào thân, miệng, ý của mình, hãy đem ngọn gió mát mẻ, hiền thiện, thanh lương vận hành trong cơ thể này trong từng cái nghe, cái thấy, trong từng cảm thọ cũng phải tập cảm thọ hiền. Khi lồng ngực nóng hừng hực lên khi tức giận là có gió trong đó, đó là gió thổi thổi cho nóng lồng ngực phựt cháy lên, lúc đó phải dập tắt, làm cho an tịnh, lắng dịu, để ngọn gió hiền lành, mát mẻ thay thế vào, tâm hiền làm mọi người an lạc, bình yên, tâm hung dữ chỉ đem lại bão tố phong ba, gió lốc xoáy. Cần quán chiếu tâm hiền này trong mỗi hơi thở, trong mỗi nhịp đập của trái tim, trong mỗi sự vào ra, hô hấp tuần hoàn, cảm nhận tâm hiền này trong tứ chi, trong sáu căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý đều thấm đượm tâm hiền từ.
Tâm hiền như gió này thổi qua mà không bị dính mắc, không phải thổi tới đồ xấu thì đi qua còn thổi tới đồ đẹp thì dừng lại mà nó cứ đi qua một cách hồn nhiên đối với các pháp. Đó là lý do ngài Xá-lợi-phất ví dụ người ta đổ phân uế thì gió cũng thổi qua, thổi qua máu mủ, đàm giải mà không chán ghét, không bực bội, sân hận, không lo âu, xấu hổ. Khi bị người ta mắng chửi, hủy nhục thì an trú tâm như gió, những lời nó đó như gió, quan trọng là nhìn lại bản thân có như lời người ta nói không, nếu có thì sửa đổi, nếu không có thì không có thôi, ngọn gió tâm hiền không dừng lại ở những lời nói đó, không cất giữ những lời nói đó để thanh tưởng cứ vang vọng lại những lời nói trong đầu từ ngày này qua tháng nọ để hành hạ bản thân.
Khi được khen mà mình không được như vậy thì mình cũng không nhận, gió cũng thổi qua, nếu mình có sự tinh tấn, ngày đêm tu tập các thiện pháp thì người ta nói đúng. Bị người ta chê mà nhìn lại mình đúng như vậy thì mình xấu hổ, xin lỗi, sám hối, sửa đổi, còn bị chê mà không có thì thôi như ngọn gió thổi qua chứ đừng để thanh tưởng của những lời chê bai đó vang lại trong tâm rồi bức bối, tức giận và cho rằng đó là "khinh thường tôi", "sỉ vả tôi". Không được để có cái tôi trong đó, gỡ bỏ cái tôi, cái của tôi bằng Thánh trí tuệ Đức Phật truyền trao cho mình, không có tôi nào mà chỉ là đất, nước, gió, lửa, là tổ hợp của năm nhóm cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này, đó là những thứ vô thường, duyên sanh, là những thứ lắp ráp, kết hợp chứ không có cái tôi trong này, tháo gỡ nó ra và làm cho nó như ngọn gió thổi qua, ai muốn quăng gì thì quăng, muốn nói gì thì nói, không có ai trong đây nên làm gì có việc xem thường nhau, vì gắn tự ngã tôi vào nên mới có người khác xem thường tôi, nếu không có tôi thì ai xem thường rồi xem thường ai, đây chỉ là sự động chuyển của các ngọn gió kết hợp với đất, nước, lửa. Hãy nhìn vào hơi thở, để tâm vào hơi thở, cảm nhận hơi thở, có phải nó đang vào ra không? Có phải nó đang hô hấp tuần hoàn không? Rõ ràng là gió nhưng mình cứ cho nó là tôi thì đó là vô minh, là ngộ nhận, trong đó là nước, nhiệt độ và cát bụi, đất, kết hợp với nhau rồi vận hành.
"Một bao máu mủ, bao năm khổ luyến ân tình
Bảy thước xương khô, mặc sức tham xan tiền của.
Thở ra không hẹn thở vào
Ngày nay không tin ngày kế
Trôi nổi sông yêu giờ nào nghỉ
Nấu ung nhà cháy biết bao thôi?".
(Phổ Khuyến Phát Bồ-đề Tâm – Trần Thái Tông)
Vỗ ngực xưng tên "mày biết tao là ai không" rồi hậu quả lên phường bị phạt mấy triệu hoặc vào tù, đó là một bao rác bẩn mà cứ vỗ vào xưng ta, tôi.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Thế mà vỗ ngực nói ta đây
Như một bao rác đầy hôi thối
Lại vỗ vào bao nói ta tôi.
Chúng ta là những kẻ mạo nhận, là những kẻ nói dối, là những kẻ ngộ nhận cái bao máu mủ gan ruột, phèo, phổi, phân và nước tiểu này, cái bao chứa đầy tham, sân, si, dục ái, ngã mạn, hống hách rồi vỗ vào bao đó xưng ta, tôi, tao, mi, tớ. Ra ngoài mà gặp chuyện là vỗ ngực nói "mày biết tao là ai không?", sau câu nói đó là đấu đá, đánh đấm nhau, máu chảy xuống, thịt lộ ra, những giọt nước mắt tuôn trào, đó là những cơn gió độc đang vận hành, những cơn gió của ngu si, bản ngã, hách dịch, kiêu căng, những cơn gió giành giật, tranh đấu, hơn thua, thổi qua là những bão tố phong ba, đó là hắc phong, là ngọn gió đen, gió độc làm chúng sanh đau khổ, nếu biết an trú vào ngọn gió của tâm hiền sẽ được an yên, an bình, an lạc. Tuyệt vời làm sao là những ngọn gió bình yên này, an ổn làm sao là những ngọn gió hiền thiện này, an vui làm sao là những ngọn gió hiền kính này, tuyệt vời và mát mẻ như quạt gió, quạt trần, như máy điều hòa.
Cả trái đất này nhờ phong luân nâng đỡ mới tồn tại được, cũng vậy, người tu là nhờ tâm hiền mới đứng vững được trong pháp và luật này, tâm hiền này như gió thổi nhẹ qua không dính mắc với bất kì cái gì. Hãy quán tâm mình như gió, đi qua và đi qua, chúng ta thường thấy hình ảnh một thầy Tỳ-kheo ngồi thiền trên mỏm đá bên bụi trúc, trên núi cao đồi vắng có sương mây giăng kín lối đi, những ngọn gió sớm thổi nhẹ qua làm cành trúc lay động, những giọt sương của buổi sớm mai chảy xuống đầy long lanh, hình ảnh đó đẹp thoát tục. Tâm hiền cũng như những làn gió thổi qua khóm trúc rồi đi mất, không vướng mắc, không ràng buộc.
"Nguyện tâm như địa, thủy, hỏa, phong
Rộng rãi, bao dung, chẳng buộc ràng,
Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách
Có gì để lên mặt, hơn thua".
(Đảnh Lễ Đức Hạnh Ngài Xá-lợi-phất)
Đó là những cảm giác hiền thiện, hiền hòa, hiền đức, mỗi ngày phải đọc bài đảnh lễ đức hạnh ngài Xá-lợi-phất cho thấm vào ngũ uẩn, thấm vào cảm thọ, cảm xúc của chúng ta để thân tâm này như gió nhẹ. Sự xuất hiện của mình là sự xuất hiện của những làn gió để những người được xúc chạm đều cảm thấy dễ chịu, mát mẻ, đừng để sự xuất hiện của mình giống như bão, chỉ đem lại khổ đau, tan thương. Bây giờ mọi người muốn làm gió nhẹ hay muốn làm bão tố?
Gió này hỗ trợ cho đất, nước, lửa hoạt động, gió truyền tải âm thanh, năng lượng, thổi mây làm mưa. Nhờ gió mà ba đại kia hoạt động được, cây cối mới sinh trưởng, lửa mới cháy mạnh lên, nước chảy và thân thể này mới hoạt động được, không có gió là cứng đơ, một người gần chết sẽ lấy hơi lên rồi ra đi, một ngày nào đó thôi ngừng thở là gió chấm dứt thì các đại khác cũng tan rã. Sau khi gió dừng lại thì lửa cũng dừng nên cơ thể lạnh ngắt, bắt đầu nước trong cơ thể rỉ chảy, thân trương phình lên và sau cùng đất là địa đại tan rã, như vậy gió đi đầu tiên vì gió vận hành ba đại còn lại.
Tất cả mọi sự vận hành trên cuộc đời này đều nhờ gió, phải có sự chuyển động mới đi đến chỗ tan hoại, mình thấy người đó ngồi yên nhưng bên trong thân thể họ vẫn đang vận hành, đang chuyển động, còn nếu im thật sự thì người đó đã chết, vì thế tất cả những gì mình thấy đều không đúng vì các pháp đang vận hành rất thâm sâu, không thể thấy hết được. Các hành cũng do sức gió chuyển động, nước chảy được là nhờ gió nên người ta mới đi tàu thuyền trên biển được, máy bay bay được cũng nhờ sức gió đẩy lên, tất cả động cơ trong xe hoặc máy móc đều phải có năng lượng thì mới vận hành được nhưng mình nhìn chẳng thấy gió đâu, chỉ thấy đó là chiếc xe, máy bay, chỉ thấy con người nói chuyện cho nên sự quán chiếu tứ đại rất quan trọng vì chỉ có quán chiếu mới phá được sự chấp thủ về các pháp, phá được cái nhìn sai lầm thay thế bằng cái nhìn thâm sâu vào bản chất của các pháp, nếu không chỉ có nhìn trên hình tướng bên ngoài, mà nếu nhìn bên ngoài thì sai hết.
Nếu mình thấy một người đang giận, nói chuyện lớn tiếng, quơ tay múa chân thì trong đó là sức gió vận hành cộng với sức nóng bên trong tâm thổi lên, đất là hình dáng vận chuyển theo sức thổi của gió, trong đó đương nhiên có nước, như vậy sức nóng hừng hực lên, gió hoạt động quơ tay múa chân đánh đập, đâm chém, mắng chửi nhưng sâu thẳm bên trong chính là các cảm thọ kết hợp với những suy nghĩ, hình bóng trong tâm, sâu hơn bên trong là tâm sân hận, tham dục, bản ngã, sâu hơn nữa là vô minh, lậu hoặc, đó chỉ là một đống khổ đang vận hành chứ không có gì khác, vận hành xong rồi chịu những quả báo khổ.
Đó là sự sanh khởi của toàn bộ khổ uẩn này, bên trong là vô minh, lậu hoặc, tham, sân, si trong những thọ, tưởng, hành, bên ngoài là đất, nước, gió, lửa, từ bên trong điều khiển mọi thứ, những cảm thọ phựt lên, những suy nghĩ loanh quanh trong đầu, hình bóng chập chờn, gió phát huy ra lời nói, tay chân đánh đập, sỉ vả, miệng thì chửi mắng, dùng con mắt trí huệ nhìn sâu bên trong là một đống đất, nước, gió, lửa và một đống tham, sân, si, vô minh và bản ngã, dục ái, đó là một đống khổ vĩ đại và to lớn đang hoạt động, nó làm khổ mình khổ người, làm đau mình đau người, hành hạ mình người.
Đó là sức mạnh của gió nhưng đi theo chiều hướng tiêu cực của tham, sân, si, bản ngã, bánh xe bị xì hơi là chạy không được nhưng bơm hơi vào có thể chở mấy chục người nhưng chúng ta chỉ thấy chiếc xe chứ không biết có gió trong đó, giống như bánh xe máy bay được bơm hơi đầy đủ là chở đến vài trăm con người trong đó, ngoài ra còn nhờ sức gió nâng đỡ máy bay bay lên, đưa mình đến nơi mình muốn đến. Cũng vậy, mình phải dùng sức mạnh ngũ căn ngũ lực, sức mạnh của lòng tin, sức mạnh của nỗ lực, chánh niệm, sức mạnh của định tâm, của sự thấy biết, mình lấy sự tin tưởng tuyệt đối vào sự chứng ngộ của Đức Phật làm sức mạnh thì gọi là tín căn. Từ việc có gốc rễ của lòng tin sâu chắc sẽ biến lòng tin này trở thành sức mạnh thì gọi là tín lực. Từ lòng tin mạnh mẽ xác quyết sẽ đẩy mình đi đến việc cố gắng để thực hành, trở thành tấn lực. Do lòng tin mạnh bao nhiêu thì sự thực hành tương ứng với lòng tin mạnh bấy nhiêu, đương nhiên khi đã thực hành sẽ thường nghĩ nhớ, quán niệm vào sự thực hành đó, niệm lực sanh khởi, sức mạnh của chánh niệm sanh khởi. Khi có sức mạnh của chánh niệm thì tâm sẽ an định, chuyên chú vào pháp đang thực hành, định lực sanh khởi. Khi đã có định lực, sự thấy biết thâm sâu vào ngũ uẩn, thấy rõ được tính chất vô thường, khổ, vô ngã, tan hoại, biến hoại sẽ được bừng sáng, đó là tuệ lực.
Như vậy dùng sức mạnh của gió, dùng sức mạnh của tâm hiền thiện để phát huy ngũ lực, còn sức mạnh tiêu cực của gió dữ thì hủy hoại, nó biến ra những nguồn năng lượng của dục vọng, sân hận, chiến tranh và sức mạnh này rất mạnh, người ta sẵn sàng chết vì lòng tham muốn đó, người ta cũng sẵn sàng bỏ mạng vì tâm tức giận, làm cho hả dạ thì thôi, người ta kết thúc đời mình trong cái tôi của người ta, vì cái tôi mà mình ta có thể chết miễn sao cái tôi này được tôn thờ lên cao, đó là sức mạnh theo chiều tiêu cực của ác bất thiện pháp, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái, ngược lại mình lấy sức mạnh của gió biến thành sức mạnh của tâm hiền trí làm thành ngũ căn ngũ lực, tín, tấn, niệm, định, huệ, xác quyết lòng tin về sự chứng ngộ của Đức Phật, cố gắng nỗ lực thực hành, có sức chánh niệm nghĩ nhớ liên tục về pháp, về Tứ Niệm Xứ, niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp, thực tập thiền định và thành tựu trí tuệ thể nhập sự sanh diệt của các uẩn.
"Người luôn luôn chánh niệm,
Sự sanh diệt các uẩn,
Ðược hoan hỉ, hân hoan,
Chỉ bậc bất tử biết".
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 374)
Sức mạnh của lòng tin xác quyết là từ bốn Dự Lưu phần, tin Phật, tin pháp, tin Tăng, tin giới, sức mạnh của sự tinh tấn xác quyết từ những pháp hộ trì căn, những pháp đoạn diệt tham, sân, si, những sự siêng năng thực hành tinh cần, tinh tấn, tăng thượng trong bốn phần tinh cần mình đã học, sức mạnh của chánh niệm là từ niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp, sức mạnh của định là từ bốn tầng thiền, sức mạnh của tuệ là sự thể nhập sự sanh diệt các uẩn để biến sức mạnh của gió thành ngũ căn, ngũ lực, đó là sức mạnh vĩ đại của một người tu. Trong sự quán chiếu về gió là không bao giờ ngừng lại vì giống như hơi thở ngừng lại là mình chết, tâm hiền thiện và trí tuệ về năm uẩn này cũng không được để mất, hãy để nó động chuyển, vận hành, nếu nó dừng lại là mình thành tử thi, chỉ có xác mà không có hồn của người tu, phải có xác lẫn hồn, phải có sức sống, sức sống đó là sức gió vận chuyển, sức gió đó là tâm hiền thiện và sự thấy biết đúng sự thật mà Đức Phật đã truyền trao.
Phải thường xuyên an trú trong tâm hiền trí này, thường phát khởi tâm này, vận hành tâm này chứ đừng lãng quên, đánh mất tâm hiền thiện này, nếu như vậy chúng ta chỉ như một thây chết trong pháp và luật này, vì thế chúng ta phải sống như sự tồn tại của những nhịp đập con tim, giống như sự tồn tại của hô hấp tuần hoàn, chúng ta phải sống trong pháp như những cảm thọ hiền thiện thấy hiểu, thương yêu, tha thứ, cảm thông đầy trí huệ này.
Đó là chúng ta quán chiếu, chiêm nghiệm sự an trú tâm như gió, nếu có gặp phân uế, nước tiểu, máu mủ, đàm giải, người ta có phỉ nhổ, khinh khi, hủy nhục thì hãy nhớ đến ngọn gió của tâm hiền thổi qua không chán ghét, không sân hận, không bực tức, an trú tâm như luồn gió như đức hạnh ngài Xá-lợi-phất, gió này rộng lớn vô lượng vô biên, không giận, không thù hằn bất kì ai.
"Đây là phương trước mặt,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm đầy lòng hiền thiện
Đầy ước nguyện hiền hòa
Đầy ước mong hiền đức
Đầy ước muốn hiền lương.
Đây là phương bên phải
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bên trái
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía sau
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía trên
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía dưới
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bề ngang
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Tâm hiền này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này,
Tâm hiền này toả rộng,
Khắp trời đất bao la".
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
./.