Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp Đàm Nikāya - Tỳ Kheo Thời Đức Phật 3

2026-03-03 00:55:18
Pháp Đàm Nikāya

Tỳ-Kheo Thời Đức Phật 3

Tăng Ni Linh Quy Pháp Ấn

Ngày 08 tháng 11 năm 2023

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đảnh lễ Tam Bảo PAGEREF _Toc168409402 \h 1

II. Pháp đàm bài kinh Piyanjaha PAGEREF _Toc168409403 \h 2

III. Pháp đàm bài kinh Mahanama PAGEREF _Toc168409404 \h 10

I. Đảnh lễ Tam Bảo

Con chân thành đảnh lễ

Phật Thích Ca Mâu Ni

Đời này con xin nguyện

Thấy biết rõ ngũ uẩn

Thấy biết rõ tự thân

Thành tựu Chánh tri kiến

Thể nhập vào Thánh quả.

Con nguyện xứng đáng là

Người con Phật chơn chánh

Con xin đảnh lễ Ngài

Phật Thích Ca Mâu Ni.

Bậc đoạn tận tham ái

Bậc đoạn tận sợ hãi

Tâm Ngài không dao động

Tâm không nhiễm thế gian

Con xin đảnh lễ Ngài

Phật Thích Ca Mâu Ni.

Bậc vô thượng giải thoát

Ngài là thầy của con

Ngài chỉ dẫn đường con

Ngài chỉ con quy ngưỡng

Con chân thành quy hướng

Đảnh lễ bậc vô thượng

Đảnh lễ bậc Chánh giác

Con xin quy phục Ngài

Con xin làm đệ tử

Làm con ngoan của Ngài

Con xin quy phục pháp

Quy phụ pháp tám đúng

Nguyện thành tựu tám đúng.

Con xin tôn kính Tăng

Tôn kính đời giới đức

Nguyện thành tựu giới đức.

II. Pháp đàm bài kinh Piyanjaha

Con kính trên sư phụ, kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng các bậc hiền trí. Chiều nay được sự chỉ dạy trên sư phụ, đại chúng chúng ta có buổi pháp đàm. Chiều nay chúng ta được nghe lại 1 số bài kinh trong kinh Tiểu Bộ, “Trưởng Lão Tăng Kệ”. Hôm qua sư phụ đã có giảng, hôm nay con sẽ trùng tuyên đọc lại. Đại chúng chúng ta nghe nghiền ngẫm, quán chiếu, tác ý. Chúng ta cùng nhau chia sẻ, thảo luận, pháp đàm. Bài kinh “Piyanjaha”, kinh tiểu bộ tập 3.

“Ngài được sanh ở Vesàli trong thời đức Phật hiện tại, trong một gia đình quý phái Licchavì. Khi lớn lên, Ngài rất thích thú chiến tranh và trở thành một chiến sĩ không ai thắng nổi, sẵn sàng hy sinh những gì thân nhất của mình, đến nỗi Ngài được đặt tên là Piyanjaha (vị từ bỏ những gì thân ái). Nhưng khi đức Phật đến Vesàli, Ngài khởi lòng tin, xuất gia sống ở trong rừng, phát triển thiền quán, chứng quả A-la-hán. Khi đã chứng quả A-la-hán, Ngài nghĩ thật là khác biệt giữa thành công ở đời và thành công bậc Thánh. Với thiền quán ấy, Ngài nói lên chánh trí, và tuyên bố bài kệ này:

Khi loài Người kiêu hãnh,
Hãy hạ thấp ông xuống,
Khi loài Người hạ thấp,
Hãy nâng cao tâm ông,
Hãy sống tại những chỗ,
Loài Người không muốn sống,
Tại chỗ ngồi ưa thích,
Chớ có nên thích thú.”

(Tiểu Bộ Kinh tập III, kinh Piyanjaha)

Đây là bài kinh “Piyanjaha”, tức là vị từ bỏ những gì thân ái. Qua bài kinh con cung thỉnh đại chúng ta cùng nhau pháp đàm, chia sẻ nội dung bài kinh này. Mời các hiền trí mở tâm mình ra, mở mắt ra đừng có nhắm mắt. Giờ này chúng ta cần chia sẻ pháp đàm, mình hiểu gì về bài kinh, cảm nhận gì về bài kinh này.

Phật tử 1:

“Con xin kính sư phụ, các vị Tăng Ni, các vị hiền giả. Con tên là Nguyễn Thị Mỹ, sau khi nghe thầy đọc lại bài kinh ngày hôm qua nghe pháp, thì con có cảm nhận như sau: Trước hết là 2 câu đầu “Khi loài Người kiêu hãnh, hãy hạ thấp ông xuống”. Thì câu này con đang hiểu là con người ai cũng có bản ngã của mình, thì khi mình nhìn thấy cái bản ngã của người khác, thì mình hạ xuống. Cái việc hạ xuống trong suy nghĩ, hành động, lời nói đó không phải là việc mình hèn nhát, cúi đầu. Mà mình cảm thấy mình khiêm nhường, nhún nhường, mình làm cho dĩ hòa vi quý.

Cái thứ 2 là “khi loài Người hạ thấp, hãy nâng cao tâm ông”, đó là khi con người có những hành động, lời nói, suy nghĩ hèn hạ, thì mình phải dùng tâm hiền, tâm từ, để mình cố gắng hiểu và thông cảm cho người khác, đó là cái bản ngã của người ta. Trong khi tu tập thì như mấy ngày qua con được học pháp, là sau khi mình có tâm hiền, tâm từ thì mình sẽ hiểu và thông cảm cho người khác nhiều hơn. Hai câu “Hãy sống tại những chỗ, loài Người không muốn sống”. Trong đầu con tưởng hết hình ảnh bài hát mở đầu, trong buổi học pháp ngày hôm qua, đó là bài hát có lồng hình ảnh 15 năm về trước, sư phụ đã 1 thân 1 mình đi đến mảnh đất xa xôi, cằn cỏi này.

Con cảm động với hình ảnh sư thầy đi chân trần lội suối, hình ảnh sư thầy 1 mình đi trên con đường đất, hình ảnh 1 mái nhà tranh. Thì trong1 bài thuyết trình khác con cũng nghe sư phụ chia sẻ về việc thầy đã tới đây, để lập nên Linh Quy Pháp Ấn này. Thì các cô của thầy cũng có bảo là tội nghiệp, sau đó trong tâm của thầy cũng khởi lên suy nghĩ không biết ai tội nghiệp ai. Liên hệ với bản thân mình thì con cũng thấy giống như là vài ngày trước, con thấy cuộc sống này sống rất căng thẳng. Mặc dù mình cũng biết các yêu bản thân, nhưng vẫn không có lối thoát nào cho mình hết, nhờ có duyên lành thì con được tới đây. Thì con cũng đi làm bình thường, con xin nghĩ phép để được tham gia chương trình này. Thì những người khác có nói với con là: “Ủa sao mày lại đi ở đây vậy? Coi chừng tới đây thì mày bị nhiễm giống như là ông chủ hiệu cà phê Trung Nguyên”.

Thì lúc đó con cũng cười thôi, vì mỗi người có 1 suy nghĩ khác nhau. Nhưng mà tới thời điểm này thì con thấy: “À, đó là duyên lành của mình, chưa chắc những người khác có được những cái duyên tới được đây”. Còn câu cuối đó là: “Tại chỗ ngồi ưa thích, chớ có nên thích thú”, thì con đọc câu này lên con hiểu được cái vô thường trong câu nói. Không có gì bất biến, mọi thứ có thể thay đổi, trong vài năm, trong vài tháng, trong vài giờ, hoặc chỉ trong tích tắc thôi. Cho nên hãy trân trọng thời gian hiện tại, dạ con xin hết ạ.”

Cho con mời 1 hiền giả khác ạ.

Phật tử 2:

“Nam Mô Bổn Sưu Thích Ca Mâu Ni Phật

Con kính trên sư phụ, quý thấy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí. Con kính trên thầy qua bài kinh thầy cho chúng con nghe lại, thì theo suy nghĩ là sự nhận xét của con. Thì 2 câu đầu tiên theo như con hiểu là khi con đối diện 1 người nào đó, mà sự kiêu hãnh, bản ngã, cái tôi, cái ta nó quá lớn. Thì lúc đó con phải biết rằng con phải hạ thấp cái tôi của con xuống, và cái tôi của con phải thấp hơn người đó. Như vậy thì con thấy rằng sống sẽ được an ổn, vui vẻ. Hai câu tiếp theo là khi con ở với 1 người gần bên con, mà con thấy người đó có rất là nhiều sự ngạo mạn, kiêu căng, tập khí, tật đố, tham sân si, sự ganh tị của họ quá nhiều. Thì con phải nhìn lại bản thân mình, mà con sẽ nâng cao tâm, của con bằng cách sẽ tha thứ và thấu hiểu, thương họ.

Lúc đó con thấy người đó đáng thương hơn, con thấy tâm của mình thật là rộng lớn. Con cũng có thực hành những điều đó, con thấy rất là an lạc, rất là tốt và người đó cũng an lạc. Hai câu tiếp theo thì con nghĩ rằng khi con lên núi, được tu tập, được tránh xa những sự tiếp xúc ở dưới thị xã, thị trấn. Thì con mới nhận ra rằng tâm của con rất là định, sáng suốt trong công việc cũng như là học tập. Nhìn lại những gì đã từng trải qua rồi, thì con thấy rằng sự quyết định đi lên núi của con thật là đúng. Và quyết định đó của con thì con sẽ không bao giờ hối hận. Quyết định đi xuống lễ tang của bậc đạo sư, khi trên xe ngồi thì con nhìn thấy ở dưới có nhiều quán, nhiều người buôn bán hay là những ngôi nhà.

Thì con thấy rằng ngày xưa là tại vì mình ở gần những nơi ồn ào, náo nhiệt như vậy, mình sẽ tiếp xúc rất nhiều. Trong khi đó con chưa thành tựu được chánh tri kiến, con cũng chưa chế ngự được các căn. Cho nên khi mà ở những nơi xa vắng như chùa, thì rất là tốt cho con. Còn 2 câu cuối cùng theo con nghĩ rằng nhưng danh lợi, địa vị thì có rất là nhiều người ưa thích. Nhưng mà con suy ngẫm rồi, những đó làm cho con và người khác đau khổ. Con còn nhớ 1 câu mà 1 vị hòa thượng dạy sư phụ của con: “Khi mà ông muốn tu tập được, thì hãy tránh xa những danh lợi, địa vị”. Khi sư phụ nói lại cho chúng con, thì câu nói đó là con nhớ mãi suốt trong lòng, con làm hành trang suốt con đường tu sau này.

Con thấy rằng những chỗ ưa thích, ngay cả những chỗ ngồi trước ngồi sau, con thấy nó cũng là bài học cho con rất là nhiều. Chỗ nào ai ưa thích, hay loài người thích nhiều thì ta không được thích thú, là câu rất là ý nghĩa, và chiêm nghiêm nó thì rất là sâu sắc. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Phật tử 3:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con xin được cung kính đảnh lễ trên bậc ân sư, chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền trí. Khi thầy Thiện Huệ đọc lại cho con nghe bài kinh, thì trong tâm con có 1 sự rung động rất là lớn. Từng lời kinh: “Khi loài Người kiêu hãnh, hãy hạ thấp ông xuống”, thì con cảm nhận được khi mình được bước vô vòng Chánh pháp này, được nhận diện ngũ uẩn mỗi ngày. Thì hai câu kinh này giúp cho con rất là nhiều, là luôn luôn quay trở về nhìn nhận chính mình. Dù có đối diện với bất kỳ hoàn cảnh nào, hay những con người có duyên gặp mặt. Dù họ là những người thành công ở đời, thì mình cũng bình lặng để đón nhận, để cảm nhận được họ.

Mình không có sự hơn thua, cũng như là tranh đấu khi mà mình đối diện với bất kỳ 1 vị nào. Điều đó làm cho con cảm thấy rất là hạnh phúc, khi mình hạ được cái tôi, cái bản ngã của mình xuống. Để mà lắng nghe, hay khi tiếp xúc với một vị nào đó. Thì cảm nhận rất là nhẹ nhàng, hạnh phúc, thì con càng trân quý cái nhận diện ngũ uẩn. Vì chính nhờ nhận diện ngũ uẩn mỗi ngày như vậy, thì mình mới có thể dễ dàng tập sống khiêm cung, khiêm hạ trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù là thuận duyên hay là nghịch duyên. Đến 2 câu tiếp thì con lại cảm nhận là, dù cho mình đối diện với những vị mà họ có cái tâm tánh không có thiện lành, còn sân si, hay là những cái hơn thua, ghanh tị. Thì mình cũng dễ dàng có thể tha thứ, dễ dàng có thể cảm thông được.

Vì đó là sự vận hành pháp của ngũ uẩn, và mình có thể dễ dàng trải tâm của mình để mà tha thứ, yêu thương được họ. Nếu như mình không có nhìn nhận thân tâm mình mỗi ngày, không hiểu được đây là những vận hành, bản chất, bản tánh của ngũ uẩn. Thì mình không thể nào tha thứ, không thể nào bao dung, giúp đỡ cho họ có thể nhìn nhận được những cái lỗi lầm của mình. Khi mà con được trở về Linh Quy tu học, thì con mang ơn nơi này rất là nhiều. Bởi vì chính môi trường này, đã giúp cho con nhìn nhận ra những nhiễm ô trong tâm của mình. Nhờ mình nhìn nhận ra như vậy, thì khi mình đối diện với những vị họ đến với Linh Quy tu học, thì mình có thể dễ dàng trải tình thương được đến những vị ấy.

Với một sự mong muốn cho họ có thể cảm nhận được phương pháp nhận diện ngũ uẩn, là 1 chìa khóa vô giá đối với mỗi con người. Khi mình được đến với dòng Chánh pháp của Đức Thế Tôn, thấu hiểu được thân tâm của con người, sự vận hành bên trong là những cấu uế, rác bẩn. Mình được ánh sáng của Đức Thế Tôn soi sáng, để mình có thể tu sửa mỗi ngày những rác bẩn, dọn dẹp những nhiễm ô trong tâm mình mỗi ngày. Con không nhớ được những câu cuối, nhưng con nhớ đại ý là khi mình được trở về nơi loài người không có thích sống, thì đó là 1 môi trường viễn ly. Thì sự viễn ly đó giúp cho thân tâm của mình an tịnh, giúp cho mình lắng cái tâm của mình xuống, để nhìn nhận được bản chất của ngũ uẩn này.

Con rất cảm ơn môi trường Linh Quy Pháp Ấn, với những con người hiền thiện, với những con người tâm hiền, tâm từ được thực hành mỗi ngày là những điều vô giá đối với con. Con được gần những người thiện lương, thì con có thể được chuyển hóa tâm mình mỗi ngày. Con cảm nhận được giá trị khi được sống viễn ly, nơi rừng núi tại Linh Quy là 1 phước báo cho chính mình, con cám ơn mỗi ngày, mỗi ngày. Đến câu thơ tiếp theo là ngay chỗ ưa thích, thì mình không được khởi cái tâm đắm nhiễm. Bởi vì cuộc sống này là vô thường, chỉ cần mình chap dính mắc vào 1 địa vị, vị thế nào thì đó đều là những cái khổ não cho mình.

Con nhớ đến lời Đức Thế Tôn dạy: “Khổ lụy, này các Tỳ-kheo là lợi đắc, cung kính, danh vọng, thật là đắng cay, thật là ác độc. Đó là những chướng ngại pháp trong bước đường tu hành của mình”. Vậy câu thơ đó làm cho tâm của con rất là có cảm xúc, răn nhắc tâm của mình. Những danh lợi thế gian, những hư danh ấy mình không được đắm nhiễm. Mình trở luôn phải quay trở vào tâm của mình, tập buông xả. Bởi vì cuộc sống này là vô thường, biến đổi, bản chất của thế giới này là thế giới của ngũ uẩn. Mỗi chúng ta đều là ngũ uẩn, còn bao nhiêu những cấu nhiễm bên trong mà mình phải cố gắng dọn dẹp, rạn lọc tâm mỗi ngày.

Vì vậy con thật là biết ơn sâu sắc những lời dạy của bậc ân sư, những lời giảng của Ngài mỗi ngày là những dòng sữa pháp, gột rửa tâm con mỗi ngày, mỗi ngày. Con thật sự biết ơn và nhớ ơn, càng biết ơn và nhớ ơn dòng Chánh pháp này, thì còn càng phải nỗ lực nhiều hơn nữa. Bài kinh đã hỗ trợ cho con rất là nhiều, như một lời xách tấn cho con, để con an trú được trong pháp, nỗ lực nhiều hơn nữa trong con đường tu hành của chính mình. Phải luôn khắc trong tâm gánh nặng của thiện pháp. Đó là những dòng suy nghĩ trong con, khi con được lắng nghe bài kinh mà thầy Thiện Huệ đã trùng tuyên. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Hôm qua con nghe sư phụ giảng bài kinh này con rất là thích thú, chiêm nghiêm nó thấm mà nó hay gì đâu. Tuy bài kinh rất là ngắn, nhưng mà rất là cô động, hàm xúc, pháp hành rất là thâm sâu. Khi nãy con đọc cho các chư tôn giả, hiền giả nghe người con rợn gai óc, chấn động với bài kinh này. Qua bài kinh mình thấy có rất nhiều điểm mình cần phải để ý thực tập, cả một đạo lộ ở trong đây. Thứ nhất là Ngài Piyanjaha, đầu tiên là Ngài nghe Đức Thế Tôn thuyết pháp, sau đó Ngài mới phát khởi lòng tin, lòng tịnh tính đối với Thế Tôn, đối với Chánh pháp, đối với hiền Thánh Tăng. Sau khi Ngài xuất gia Ngài mới thực hành đời sống viễn ly, sống ở trong rừng. Đại chúng biết Ngài sống ở trong rừng để làm gì không? Tránh xúc, cắt xúc.

Sau đó Ngài thiền định, thiền quán, nhìn vào ngũ uẩn, nhìn vào thân tâm của mình để nhiếp phục, thiền quán, tẩy sạch sẽ những cái tham, sân, si, lậu hoặc. Sau đó Ngài thành tựu Thánh quả bằng con đường thiền quán, diệt tận hết tất cả tham, sân, si, lậu hoặc. Hiện giờ đại chúng chúng ta đang tu theo đúng đạo lộ này, đại chúng có hoan hỉ không? Mỗi ngày mình phải được nghe pháp, phải nghe pháp. Nghe pháp xong rồi mình mới có lòng tin bất động được, khi mà mình có lòng tin bất động rồi, thì không có ai làm cho mình lung lay, dao động được hết. Chỉ có 1 con đường mà thôi, thẳng tiến, hướng thượng, chỉ 1 con đường này mà thôi. Không có ai tác động mà làm cho mình rung rinh, dao động được hết.

Hiện giờ đại chúng mình tu ở đây là sống đời sống viễn ly đó, xa lìa những cái lòe loẹt bên ngoài. Mỗi ngày thiền định, thiền quán, quán chiếu, tư duy, để mà mình nhìn sâu vào bên trong nội tâm. Để mà mình nhiếp phục, tẩy sạch những tham, sân, si, lậu hoặc thì mình sẽ thành tựu thôi, đây là cả 1 đạo lộ. Cho nên mấy câu này rất là hay “khi loài người kiêu hãnh, hãy hạ thấp ông xuống”. Các hiền trí hôm nay nghe lại, chứ hôm qua sư phụ có giảng rồi. Cho nên 1 trong điều vi diệu khi Đức Thế Tôn xuất hiện, đó là quần chúng họ ưa thích kiêu mạn, thích thú kiêu mạn, hoan hỉ kiêu mạn. Khi pháp được Thế Tôn thuyết giả không có kiêu mạn, pháp Thế Tôn thuyết giảng khiêm cung, khiêm hạ, hạ thấp cái tôi, hạ thấp bản ngã, nhún nhường, khiêm tốn.

Thì quần chúng, chúng sanh đó họ chịu lắng nghe. Họ để tâm vào lời Thế Tôn dạy, để họ thực hành theo. Ở trong kinh nói đó: “Khi pháp được Thế Tôn thuyết giảng không kiêu mạn, họ khéo nghe, lắng tai, chánh chú, an trú tâm, đó là 1 sự vi diệu xuất hiện chưa từng có”. Chúng ta đang thực đó, đại chúng vui không? Đang thực hành 5 khiêm đó. Lời nói khiêm nhường, tâm hồn khiêm hạ, hành xử khiêm cung, hiền hòa khiêm tốn, khiêm nhã nhún nhường. Mình đang thực hành cái hành quỳ lạy, đang sám hối diệt ngã đó. Loài người họ được 1 chút là họ kiêu hãnh, cống cao ngã mạn, ta đây, dương dương tự đắc. Chúng ta lắng ngha pháp Thế Tôn giảng, chúng ta nhiếp phục bản ngã mình xuống, thực hành 5 khiêm, 2 khéo.

Mình đang sống 1 đời sống viễn ly, để mình tránh duyên, tránh xúc, bớt cái xúc bên ngoài, để mình có thời gian nhìn lại thân tâm của mình. “Tại chỗ ngồi ưa thích, chớ nên thích thú”. Vì một khi mình còn dục, còn tham, còn ái đối với bất cứ cái gì kể cả thân này, thì mình sẽ quay trở lại nhiếp phục luân hồi sanh tử nữa. Một khi mình còn dục, tham, ái đối với bất cứ cái gì từ thân người, cảnh vật, kể cả những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong thì mình còn quay trở lại đây tiếp tục. Cho nên bài kinh này con chiêm nghiệm, con thấy rất là sâu sắc. Các hiền giả về nghe lại sư phụ giảng lại 2 bài hôm qua nha, nghe lạ để cho nó thấm, nó ngấm. Đó là vị Thánh Tăng thứ nhất Piyanjaha, tức là vị từ bỏ những gì thân ái nhất của mình.

III. Pháp đàm bài kinh Mahanama

Tiếp theo là ngài Mahanama, Tiểu Bộ tập 3.

“Trong thời đức Phật tại thế, Ngài sanh ở Sàvatthi trong gia đình một Bà-la-môn, được đặt tên là Mahànàma, Ngài được nghe Thế Tôn thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất gia. Lấy một đề tài làm thiền quán, Ngài sống trên một ngọn đồi tên là Nesàdka. Không thể chận đứng được các dục tưởng khởi lên, Ngài tuyên bố: ‘Ðời này của ta có ý nghĩa gì, với tâm tư uế nhiễm như vậy’. Tự nhàm chán với chính mình, Ngài leo lên một đỉnh núi, và như muốn lao mình xuống, Ngài nói với chính mình như nói với một người khác: ‘Ta sẽ giết nó!’ với bài kệ như sau:

Hãy xem, sao đời nay,
Lại chấm dứt ở đây,
Với hòn núi nhiều ngọn,
Và nhiều cây cối này?
Núi Nesàdaka,
Một ngọn núi có danh,
Rập rạp với cỏ cây,
Che kín trùm tất cả.

Tự mình trách móc như vậy, vị Trưởng lão phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Bài kệ trên trở thành lời tuyên bố chánh trí của Ngài.”

(Tiểu Bộ kinh tập III – kinh Mahànàma)

Vị Thánh Tăng tự biết trong tâm còn đầy cấu uế, Ngài đau khổ, dằn dặt, thậm chí lên núi tự giận. Tự rầy la mình, tự nói với chính mình, nói với 1 nội tâm đầy những cái dục khởi lên: “Ta sẽ giết mi, ta sẽ giết nó”. Một bài kinh rất ngắn, nhưng chúng ta thấy sự tu hành của các Thánh thời xưa thật là vất vả chiến đấu với nội tâm của mình. Con xin mời các tôn giả, hiền giả chia sẻ.

Phật tử 3:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con kính trên sư phụ, kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni, cùng chư vị hiền thiện. Con xin chia sẻ những cảm xúc, những ưu tư con được nghe trong bài kinh nói về bậc Thánh Tăng. Ngài đã bỏ gia đình khi nghe Đức Phật thuyết pháp, vì lòng tin bất động, Ngài xuất gia, Ngài đã vào rừng để tu. Nhưng Ngài bị dục tưởng khuấy động trong tâm, nên Ngài không tu được. Ngài phải mắng la nội tâm của mình, để rồi Ngài cũng đạt được Thánh quả. Qua bài kinh trên con nhận thấy, trong đó cũng có nội tâm của con. Mặc dù con cũng rất tha thiết học hỏi, rồi cố gắng tu tập. Nhưng vọng tâm, ý hành bên trong nhiều khi cũng khởi lên những cấu uế, những rác bẩn.

Trong thời gian qua con thấy nó rất nhiều, nên con đã quyết tâm mắng nó. Ngày nào con cũng nói: “Mày là cái đồ xấu xa, tao coi như mày đã chết rồi, tao không theo mày nữa. Năm cái uẩn này tao đã chán rồi, tao khổ với mày nhiều rồi, mày hãy chết đi. Mày là đồ vô thường, vô ngã, trống rỗng, trống không, mày vào đây mày hành hạ ta”. Nhiều khi có những thứ tưởng không tốt với người dẫn đường cho mình, và với những người bạn đồng tu. Được tu phụ dạy không được nói dối, nên trong tâm có cái gì con đều thưa cái đó. Ngày nào cũng dậy con cũng nói rằng: “Mày phải biết ơn tất cả, biết ơn Đức Phật, Chánh pháp, Thánh Tăng, bậc đạo sư, sư phụ, đại chúng ở Linh Quy, và biết ơn tất cả mọi nhân duyên đã cho mày tu học.

Mày là đồ thối tha, rác rưởi, mày phải dưới chân tất cả mọi thành viên trong Linh Quy Pháp Ấn này”. Khi nào có mống lên 1 cái tâm, thì con nói: “Mày đừng có mà tài lanh, mày coi mày là ai, mày là đồ ngu si, rác rưởi, mày muốn lên mặt với ai”. Thì trong 1 thời gian con tu tập như vậy, con luôn nhắc nó: “Không có ai sai cả, tất cả mọi người đều đúng. Chỉ có mày là đứa khốn nạn nhất, chỉ có mày sai thôi, không có ai sai cả.” Ngày nào con cũng mắng nó, con mắng mà nhiều bữa con lên bệnh tim luôn. Thật là ngũ uẩn đáng sợ, con thường nói với sư Quý, con thấy con chẳng hiền gì cả, khi nào cũng thấy khởi lên những cái tâm chống đối.

Mặc dù con đã tinh tấn, thời gian qua con bị bệnh, con thấy con chán ngán cái thân này. Từ cái hôm qua đi viếng bậc đạo sư về, con nói mày đã chết rồi, con nói với nó vậy đó: “Mày đã chết tại thiền viện Phúc Sơn này rồi, đây là 1 người mới, mày phải làm mới. Mày không được đem những thứ xấu xa, độc ác để mày làm hại tao nữa”, con mắng nó rất nhiều. Cũng thật là lợi lạc cho con, khi con mắng cái tâm đó thì mình cũng chánh niệm hơn. Mình biết những gì mình ứng xử với mọi người, biết những gì mình nên nói và không nên nói. Con thấy gương hình của vị Thánh Tăng, thì con cũng lấy đó làm tấm gương sáng để diệt trừ những cấu uế trong tâm con. Nếu con quyết cố gắng tu tập, thì chắc chắn có ngày con cũng được những bước tốt đẹp hơn. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Quý tôn giả, hiền giả duỗi chân đứng lên đảnh lễ Tam Bảo

“Đệ tử chúng con chân thành đảnh lễ Thế Tôn, bậc tôn kính nhất trên đời, bậc thầy của trời và người, bậc thầy về sự thật, bậc khéo vượt qua 4 bọc lưu.

Chúng con xin chân thành đảnh lễ 4 thánh trí về ngũ uẩn, 4 thánh trí về lậu hoặc đưa đến ly tham giải thoát.

Con chân thành đảnh lễ hiền giả Thánh Tăng Mahanama

Chúng con chân thành đảnh lễ tôn giả Thánh Tăng Piyanjaha.”

Cung thỉnh chư tôn giả, hiền giả, các bậc hiền trí tiếp tục chia sẻ cuộc đời của Thánh Tăng Mahanama.

Phật tử 4:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con cúi đầu chân thành đảnh lễ trên Đức Thế Tôn – bậc A-la-hán Chánh đẳng giác. Con chân thành đảnh lễ kính lễ trên sư phụ, quý chư Tăng Ni cũng tất cả các bậc hiền trí. Sau khi nghe sư phụ giảng về các vị Thánh Tăng ngày hôm qua cho các quý thầy, chúng con cũng được nghe. Hôm nay thì thì Thiện Huệ cho chúng con ôn lại, và trùng tuyên lại những lời kinh. Để chúng con lấy đó rèn luyện, học tập trên con đường tu tập để được giải thoát. Con cũng có những cảm thọ, thật sự thì cảm thọ nó cũng miên man 1 chút, nhưng con suy nghĩ lại bản thân mình, các vị Thánh Tăng ngày xưa đã từ bỏ gia đình để viễn ly xứ. Từ bỏ tất cả những dục vọng, chỉ nghe Đức Thế Tôn thuyết pháp cũng từ bỏ vào rừng tu tập.

Ngài Mahanama, khi Ngài nghe Đức Thế Tôn thuyết giảng thì Ngài xuất gia theo Đức Thế Tôn, Ngài cũng vào rừng viễn ly, từ bỏ tất cả. Con cảm nhận rất là đáng khâm phục các vị Thánh Tăng thời xưa, chỉ cần nghe Thế Tôn giảng, thì các Ngài đã từ bỏ tất cả nhưng dục vọng, hưởng thụ, dục lạc ở đời để viễn ly xứ, lên rừng mà tu học. Nhưng triền miên về dục vọng, dục tưởng nó bám theo mãi trong tâm làm cho Ngài đau khổ. Thì huống chi con nghĩ lại bản thân mình, cũng triền miên những dục vọng, dục tưởng hoành hành, làm khổ mình bao đời. Ngài cũng rất là đau khổ, khi cái dục tưởng khởi lên liên tục trong tâm. Đến nỗi Ngài phải lên 1 ngọn núi cao, có ý tưởng quyên sinh.

Thật sự cái ái dục nó làm mình đau khổ trong luân hồi, trong vô thỉ kiếp khởi lên liên tục. Dù đã viễn ly xứ, nhưng nó cứ quậy, những thọ, tưởng, hành trong tâm rất là đáng sợ. Ngồi 1 mình không có tiếp xúc tất cả các sắc trần bên ngoài, mà nó cũng quậy. Con nghĩ bản thân mình cũng vậy, thật là đau khổ khi những hình bóng, hình tưởng, tâm tư, dục ái, hình bóng, hình ảnh gia đình nó cứ lẫn lộn và khởi lên liên tục. Mặc dù mình cũng không tiếp xúc, nhưng nó cứ quậy trong tâm như vậy. Mỗi lần như vậy mình có những dao động rất là mạnh, có những suy nghĩ không tốt. Ngài đã tự tác ý: “Ta giết nó, ta phải giết mày”, một tác ý mạnh mẽ như vậy cho đến khi mà Ngài bừng sáng lên.

Tức là sự tiêu diệt, đoạn diệt tham, sân, si, dục tưởng, dục ái trong tâm nó lắng hết, không còn mảnh manh trở lui lại trong ý nghĩ, suy tư, dục tưởng nữa. Con phải cố gắng tác ý, mỗi lần suy nghĩ về gia đình, người thân hoặc là 1 chút ý nghĩ nào đó, con phải xem xét lại mình có dục ái trong đó không. Con phải cố gắng nhìn lại gương các Ngài, để xem xét lại mình cần phải cố gắng hơn nữa thì mới đi đến kết qua mỹ mãn. Để là 1 người con xuất ly, xuất gia theo Đức Phật. Con có 1 chút ý nghĩ như vậy, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Vừa qua con trùng tuyên lại được 2 bài kinh nói về 2 vị Thánh Tăng, là Ngài Mahanama và tôn giả Piyanjaha. Đại chúng chúng ta tiếp tục nghe về bài kinh “Upàli”, kinh tiểu bộ tập 3.

“Trong thời đức Phật hiện tại, Ngài được sanh trong gia đình một người cạo tóc tên là Upàli. Khi đến tuổi trưởng thành, Ngài xuất gia, theo gương của Anuruddha và năm vị con cháu hoàng tộc, khi đức Phật ở tại rừng Anupiyà. Khi Ngài nhận một đề tài để thiền quán, Ngài yêu cầu đức Phật đừng đưa Ngài đi sống ra ngoài khu rừng. Đức Phật dạy: ‘Nếu Thầy sống trong rừng, Thầy chỉ phát triển được một vấn đề, nhưng nếu Thầy sống với Ta, Thầy sẽ trở thành thuần thục cả về kinh học và thiền quán’. Ngài vâng theo lời bậc Đạo Sư khuyên tu thiền quán và sau một thời gian chứng quả A-la-hán.

Tuy vậy, bậc Đạo Sư dạy cho Ngài cả Luật tạng.

Về sau, khi Upàli được Thế Tôn khen vì Upàli đã phán quyết trong ba trường hợp về Ajjuka, về Tỷ-kheo Kurukacchaka và Kumàra-Kacapa, Ngài được xem là vị hiểu biết Luật tạng.

Trong một ngày trai giới, khi Ngài đang đọc giới bổn Pàtimokkha, Ngài giáo giới các Tỷ-kheo như sau:

Vì lòng tin ra đi,
Mới xuất gia, tân học,
Hãy sống với bạn lành,
Mạng thanh tịnh, không nhác.

Vì lòng tin, ra đi,
Mới xuất gia, tân học,
Tỷ-kheo trú giữa chúng,
Sáng suốt, học Luật tạng.

Vì lòng tin, ra đi,
Mới xuất gia, tân học,
Khéo biết việc nên làm,
Và việc không nên làm,
Hãy để vị ấy sống,
Không để cao tôn xưng.”

(Tiểu Bộ kinh tập III – kinh Upàli)

Các hiền giả nhớ kỹ đoạn: “Nếu Thầy sống trong rừng, Thầy chỉ phát triển được một vấn đề, nhưng nếu Thầy sống với Ta, Thầy sẽ trở thành thuần thục cả về kinh học và thiền quán”. Chúng ta pháp đàm đoạn này, con cung thỉnh các chư tôn giả, các bậc hiền trí chúng ta chia sẻ pháp đàm.

Phật tử 5:

“Con chân thành đảnh lễ Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

Con chân thành cung kính đảnh lễ trên sư phụ tôn kính. Con kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng. Con kính bạch trên chư tôn thiền đức Ni cùng quý sư cô và các bậc hiền trí. Hôm nay con được nghe lại những bài kệ, bài kinh mà sư phụ giảng hôm qua. Thì cảm thọ con hôm qua cũng dâng trào, cũng nhiều sâu lắng. Nhưng hôm nay con nghe lại, thì cảm thọ con càng dâng trào mạnh hơn. Những cái tưởng của con lại nhớ lại, hôm mà sư phụ dẫn chúng con đi tu tập dã ngoại bên ngoài. Khi đến những điểm sư phụ dừng lại chỉ cho chúng con về những cây hoa bình thường, những tấm biển báo, rồi tất cả những hình ảnh trên đường đi.

Thì sư phụ cũng có hỏi chúng con, nhưng mà chúng con lúc đó mới vừa được nghe đi dã ngoại, thì cái tâm cũng hướng ngoại nhiều quá, nó chưa có đưa pháp vào được. Sư phụ có dừng lại hỏi để cho chúng con tập đưa pháp vào, để biết nhận diện từng giờ từng phút. Thì hôm nay qua bài kinh của Ngài Upali, thì trong con rất là hân hoan. Tại vì vị này con cũng ngưỡng mộ rất là lâu rồi, dù là mình được học giới, thọ giới. Và con cũng biết được vị này qua những bài kinh, bộ phim cuộc đời của Đức Phật. Thì vị này là thuộc giai cấp hạ tiện trong thời Đức Phật, vị này không được học hành, chỉ thân cận những bậc vua chúa để làm những công việc thấp hèn thôi. Nhưng mà sau khi được đến gặp Thế Tôn để được học, được hiểu thêm.

Thì con liên hệ đến hiện tại bây giờ, nếu như bản thân con cũng hiểu được, cũng biết được kinh. Nếu như để cho con sống 1 mình ở 1 khu rừng, vì bản thân con chỉ biết đưa lên 1 đề mục để thiền quán thôi, thì nó không đưa đến nhiều lợi lạc, chưa có được giải thoát cho tự thân. Nhưng mà con nghiền ngẫm, con càng suy tư lại những bai giảng của sư phụ. Thì con thấy bản thân con cần phải ở gần đại chúng, Tăng chúng và ở gần sư phụ. Bản thân con được nghe sư phụ giảng dạy, thuyết pháp với những ngôn từ qua những lời kinh. Dù cho con có đọc đi đọc lại, nhưng mà có những từ ngữ mà bản thân con vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa.

Nhưng khi con được sư phụ hướng dẫn, rồi sư phụ lặp đi lặp lại, rồi sư phụ giải nghĩa theo những từ ngữ mà Hán Việt của mình bằng những từ ngữ gần gũi theo đời sống đời thường thì chúng con sẽ hiểu hơn. Nhất là bản thân của con, con sẽ hiểu sâu và hiểu nhiều hơn. Qua bài kinh của vị Thánh Tăng Upali này, thì con thấy nếu sống trong đạo tràng như thế này, lúc con đọc được thanh quy của đạo tràng thì con thấy rất là hay. Nếu như sống vào 1 tập thể mà không có thanh quy, không có 1 kỷ luật, hay không có 1 nề nếp sống, thì mình sẽ dễ bị buông lung, phóng dật. Rồi có những việc mình cần phải làm, có những việc mình không nên làm. Tại vì lúc nào khi mình sống với tập thể, mình điều đặt quyền lợi chung lên cái quyền lợi riêng của mình. Phải luôn nghĩ đến mọi người, chứ đừng nghĩ đến bản thân.

Từ chỗ bản thân con luôn luôn niệm tử, thì con thấy rất hay. Dù lúc đó con chưa có cơ may được vào dòng Thánh pháp Nikāya này, nhưng mà con vẫn đưa cái niệm tử vào. Tại vì con thấy niệm tử rất thiết thực, lúc nào mình cũng nghĩ là 1 chút xíu nữa mình sẽ chết, thì từ chỗ 1 chút xíu đó mình sẽ không còn ghanh tị, hơn thua, bản ngã. Mọi thứ những cái mình muốn làm thì mình sẽ làm bằng cái tâm, luôn luôn đặt tâm mình vào đó, làm là phải làm cho tới, cho tốt, chứ không làm dở dang, làm nửa chừng, đó là những gì mà con đã học được. Rồi sau khi vào dòng pháp Nikāya này, sư phụ đã dạy niệm cốt tưởng, thì con cũng đưa nó lên làm định tướng để mình học, để rồi thực hành vào cuộc sống hiện tại.

Thì con thấy đưa đến rất nhiều lợi lạc, từ chỗ lợi lạc đó thì con thấy bản thân mình đã được lợi, thì mình sẽ chia sẻ đến tất cả huynh đệ. Thì con thấy vị Upali này nhờ sống với Đức Phật, nên vị đó giữ giới rất tốt và hiểu về giới luật rất giỏi. Bởi vậy bản thân con thấy xấu hổ vô cùng, dù là sống được gần Tăng chúng, gần sư phụ. Sư phụ cũng xách tấn liên tục mỗi ngày, dù sư phụ có đi xa, thì bải giảng của sư phụ luôn luôn được mở nên để chúng con được nghe, được chiêm nghiệm. Nhưng mà con vì vô mình còn nhiều quá, nên đôi lúc con còn chưa thực hiện đúng hết, và hoàn chỉnh hết. Mặc dù con đã có giới và luật của bản thân con, một vị Tỳ-kheo, nhưng mà mỗi nửa tháng tu giới 1 lần, con thấy mình còn nhiều sơ suất, lỗi lầm trong đó.

Thành ra con lúc nào cũng luôn nhớ đến gương của Ngài Upali để làm động lực, để thúc đẩy quá trình tu tập. Mà nhất là vào dòng Thánh pháp Nikāya này, với những lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Nó sẽ là động lực mạnh hơn cho bản thân con, cùng với đại chúng. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Phật tử 6:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con xin kính bạch sư phụ, con xin kính bạch các quý thầy, quý sư Ni cùng tất cả các bậc hiền trí. Con xin chia sẻ cảm thọ của con trong buổi pháp đàm hôm nay, khi nghe thầy Thiện Huệ trùng tuyên lại bài kinh về sự thành đạo của vị Thánh Tăng Upali. Trong khi nghe bài kinh này, thì con có cảm thọ rất xúc động. Vì tưởng con nhớ lại trước khi con chưa đến với Phật pháp, thì con cũng làm nghề cạo tóc. Tuy con là nữ nhưng khi đó con chỉ muốn cạo tóc cho người nam thôi, nhất là những vị đến kêu con cạo hết tóc đi, cạo trọc cái đầu đi thì con rất là hoan hỉ. Còn người nữ đến thì con không muốn làm lắm.

Ngày hôm nay khi nghe thầy Thiện Huệ trung tuyên lại bài kinh Ngài Upali, Ngài cũng làm nghề cạo tóc trước khi đi xuất gia. Thì con thấy cảm giác rất là hoan hỉ trong cảm thọ. Con cảm nhận nó có 1 sự mầu nhiệm nữa, con xin phép được đọc 1 đoạn ngắn nhật ký tu học con đã viết chiều hôm nay, trước khi vào buổi pháp đàm này. “Buổi chiều thầy Thiện Huệ cho đại chúng tu học ở vườn tre trước Chánh điện, thầy thông báo là có pháp đàm. Con không được biết là sư phụ đã về chưa, nhưng thật lạ là sao trong cảm thọ con lại có cảm giác hồi họp, chờ đợi. Mà không rõ ràng là hồi họp, chờ đời điều gì, vì đã rất lâu rồi con không có cảm giác như vậy.

Nhưng con biết rất rõ ràng điều con đang chờ đợi là thuyết pháp, sẽ giúp con có được tăng trưởng hơn lên trong sự tu học, trong pháp học và pháp hành trong Nikāya. Con rất trân trọng, luôn giữ gìn cẩn thận, luôn ghi nhớ và hành trì theo đúng lời chỉ dạy của Đức Phật, sư phụ trong pháp học và pháp hành Nikāya”. Khi con nghe thầy Thiện Huệ nhắc đi nhắc lại 1 đoạn là: ‘Nếu Thầy sống trong rừng, Thầy chỉ phát triển được một vấn đề, nhưng nếu Thầy sống với Ta, Thầy sẽ trở thành thuần thục cả về kinh học và thiền quán’. Thì con rất là tâm đắc lời Đức Phật dạy Ngài Upali này. Vì khi con được duyên may mắn, theo sư phụ về núi Linh Quy này để tu tập theo đạp tràng Nikāya. Thời gian đầu con rất là cảm thấy mệt mỏi, vì phải sống ở trong chúng.

Cái tâm con lúc nào hướng đến làm sao để được sống 1 mình ở 1 nơi nào đó, hoặc là được đi nhập thất. Con mất 1 khoản thời gian khá dài vì việc đó, nhưng sau đó con đã vượt qua được khoản thời gian với tâm trạng mệt mỏi đó. Cái tâm con không còn hướng nhiều đến việc đến sống 1 nơi nào đó, hay 1 khu rừng yên tĩnh, hay là nhập thất nữa. Mà con tìm được niềm vui trong sự độc cư ngay ở trong chúng. Và con tự tìm cho mình được niềm vui đó, và con không còn cảm thấy mệt mỏi nữa. Hôm qua trong buổi giảng chiều hôm qua trên lớp, sư phụ có trả lời câu hỏi cho 1 sư Ni. Thì sư phụ nói muốn đi nhập thất tu học, thì ít nhất phải ở trong chúng 1 khoản thời gian đủ dài, khoảng 6, 7 năm.

Phải học thật là kỹ pháp hành Nikāya, thì mới có thể đi nhập thất được. Khi đấy trong cảm thọ con có 1 cảm giác rất vui mừng, ý hành con suy nghĩ là: “Sư phụ nói như vậy thì mình sẽ được tiếp tục ở trong chúng tu tập 1 thời gian khá là dài nữa, thì có lẽ sư phụ mới kêu mình đi nhập thất”. Thì lúc đó ý hành con nó nghĩ như vậy, con cảm thấy hoan hỉ vì điều đó. Hôm nay khi thầy Thiện Huệ đọc lại lời dạy của Đức Phật dạy Ngài Upali như vậy, thì trong cảm thọ con khởi lên cảm giác rất là hoan hỉ. Từ khi con tìm được sự hoan hỉ, vui vẻ khi được tu học cùng với chúng. Thì cái tâm con rất là hướng về sự được học về giới luật nhiều, và được học kỹ hơn về thiền quán.

Vì trong tu tập thiền quán này, con cảm thấy đôi khi con rất là khó hiểu, lời sư phụ giảng con không có hiểu lắm. Nên con không biết triển khai thiền quán như thế nào, nên con rất hoan hỉ khi được học nhiều về tu tập thiền quán và giới luật. Con nhớ lại mỗi 1 lần thầy Thiện Huệ cho đại chúng tụng giới, hay tụng oai nghi, thì vào những ngày đấy là con có 1 cảm thọ rất là hoan hỉ, vì được học giới. Bởi vậy mà trong buổi hôm nay, khi con nghe thầy Thiện Huệ trùng tuyên lại bài kinh này, thì con thấy trong cảm thọ con có cảm giác rất là hoan hỉ, một niềm tin rất là vững chắc. Và có 1 sự khao khát, mong muốn, làm sao con vươn được theo sư phụ, quý thầy, quý sư, tiếp tục được tu tập trong đại chúng.

Và được sự chỉ dạy về giới luật, cũng như được chỉ dạy về pháp tu thiền quán này kỹ hơn, và nhiều hơn nữa.”

Công việc cần làm của người tu mình là gì? Tất cả chúng ta vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Công việc chính của người tu mình không phải là hướng ngoại bên ngoài, làm cái này làm cái kia, cái đó chỉ là những thiện pháp bên ngoài. Mà công việc cần làm của người tu mình nói gần nhất là học kinh, nghe pháp, thiền quán. Cần phải làm chết đoạn tu trì, chế ngự các căn, đoạn tận tham sân si, tu tập tứ niệm xứ và giữ gìn những cái thiện pháp, định tướng mà mình đã tu tập được. Sâu bên trong công việc cần làm duy nhất của người tu mình, là phải thấy rõ được đây là khổ. “Này các Tỳ-kheo, một cố gắng phải làm để rõ biết đây là khổ. Phải cố gắng cần phải làm để rõ biết đây là nguyên nhân của khổ. Phải cố gắng cần phải làm để rõ biết đây là sự chấm dứt khổ. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết đây là con đường chấm dứt khổ đau”.

Công việc cần làm, việc nên làm, việc cần làm gấp là nhiếp phục, đoạn tận dục ái, tham sân si, vô minh, bản ngã đối với ngũ uẩn. Đó mới là việc làm thật sự của người chúng ta, ngoài ra không có việc gì nữa hết trơn, không có việc gì quan trọng hơn công việc đó hết. Chúng ta cùng trải tâm từ theo lời sư phụ.

Sư phụ: “Chúng ta luẩn quẩn, loanh hoanh trong vòng tham dục, sân hận, si mê cái bản ngã. Thương mình, thương thay cho cái tâm vô minh, tham ái. Thương cho cái sự bám chặt vào trong 5 uẩn, khổ. Thương cho con chó buột trong sợi dây, luẩn quẩn bên cây cột. Suốt ngày chỉ lòng vòng trong tham, sân, si, ta đây. Trải tình thương cho chính mình, thương cho những người thân của mình cũng giống như mình khổ, những đối tượng xung quanh cũng giống như vầy.

Thương cho những người làm cho mình khổ, hại mình, người mà mình không ưa, mình ghét bỏ, họ cũng giống như mình. Mình là nạn nhân của vô minh, là nạn nhân của dục ái, thương. Tha thứ cho họ, mở rộng tình thương của mình lan tỏa ra khắp không gian, trên dưới, bề dọc, bề ngang, đông tây, nam bắc, khắp mười phương lan tỏa tình thương rộng lớn. Thương cho con vật, những loài súc sanh, phải mang 1 tấm thân ngũ uẩn gớm ghiếc như rắn, gấu, rít, những loài trùng độc. Vì sân hận, si mê, vô mình mà thành ra những cái thân như vậy. Lan tỏa tình thương đến khắp tất cả loài chúng sanh, khổ lắm, thương. Đến những loài súc sanh không có siêu độ, vật vờ, vất vưởng, những loài trong địa ngục, quằn quại, thương.

Bi tâm vô lượng, nguyện cho khắp tất cả muôn loài chúng sanh trong bầu hư không này đều được thấy, nghe Chánh pháp, thành tựu trí huệ 5 uẩn, chấm dứt khổ đau. Đạt được hạnh phúc tối thượng của Niết-bàn.”