Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Trùng Tuyên Thánh Điển NIKAYA & Sách Tấn Tu Học 24-2-2023

2026-03-03 00:55:18
Trùng Tuyên Thánh Điển Nikāya

Sách Tấn Tu Học

Thích Minh Thành

24 – 2 – 2023

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thầy Pháp Nghĩa PAGEREF _Toc145751454 \h 1

II. Thầy Pháp Tâm PAGEREF _Toc145751455 \h 5

III. Thầy Pháp Cần PAGEREF _Toc145751456 \h 7

IV. Thầy Pháp Lực PAGEREF _Toc145751457 \h 10

V. Thầy Thiện Huệ PAGEREF _Toc145751458 \h 14

VI. Cô Chơn Ngọc PAGEREF _Toc145751459 \h 18

VII. Cô Diệu Hạnh PAGEREF _Toc145751460 \h 20

VIII. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc145751461 \h 22

Thầy Thiện Huệ: Bạch Thế Tôn, đối với chúng con các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy nói cho chúng con, sau khi nghe lời dạy của Thế Tôn, chúng con sẽ thọ trì. Vậy này đại chúng, hãy nghe và suy nghiệm kĩ, ta sẽ giảng. Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

Mở đầu con kính mời thầy Nghĩa.

I. Thầy Pháp Nghĩa

Thầy Pháp Nghĩa:

"Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagala (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

Rồi Sona, con vị gia chủ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên.

Thế Tôn nói với Sona, con vị gia chủ, đang ngồi một bên:

-- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Sona, không biết rõ sắc, không biết rõ (nappajananti) sắc tập khởi, không biết rõ sắc đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt; không biết rõ thọ... không biết rõ tưởng... không biết rõ các hành... không biết rõ thức, không biết rõ thức tập khởi, không biết rõ thức đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt; những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này Sona, không những không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; những vị ấy trong đời sống hiện tại, cũng không tự mình chứng tri với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

Còn những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Sona, biết rõ sắc, biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt; biết rõ thọ... biết rõ tưởng... biết rõ các hành... biết rõ thức, biết rõ thức tập khởi, biết rõ thức đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt; những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này Sona, không những được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; những vị Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại, còn tự mình chứng tri với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh"

(Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), V. Phẩm Tự Mình Làm Hòn Ðảo, VIII. Sona)

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính thưa quý thầy, quý Ni sư cùng toàn thể đại chúng, sở dĩ bài kinh này con rất tâm đắc vì những lời dạy của Thế Tôn khi ngài đang trò chuyện với Sona con của vị gia chủ đã nói lên rất rõ thế nào là Sa-môn hạnh, mục đích của Sa-môn hạnh. Đức Phật nói rất rõ ràng nếu không biết rõ sắc tập khởi, sắc đoạn diệt hay thọ; tưởng; hành; thức, ở đây Đức Phật đã chỉ ra được để trở thành một vị Sa-môn, Bà-la-môn hạnh biết rõ sắc là như thế nào, chắc đại chúng cũng ít nhiều thẩm thấu được thân người, cảnh vật, tứ đại là sắc hay là sắc do bốn đại chủng tạo thành trong kinh Thu Chuyển và kinh Đáng Được Ăn.

Con tâm đắc nhất ở chỗ vị ngọt và sự nguy hại đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tức là vị ngọt của sắc do duyên sắc khởi lên lạc hỷ gì đây là vị ngọt của sắc. Chúng ta cứ mãi trong vòng sanh tử vô thỉ kiếp vừa qua, cũng bởi vì chúng ta đắm nhiễm vào trong sắc thân tứ đại này, bởi vì chúng ta toàn thấy vị ngọt chứ không thấy được sự nguy hại của nó. Cứ hễ sáu căn tiếp xúc sáu trần là thích vị ngọt chứ không thấy được sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đôi khi nó xảy đến thì chúng ta không chấp nhận, không chịu buông tay xuống mà cứ nắm giữ nên cứ khổ đau, nó diễn tiến từ đời này sang đời khác. Mình không biết được rằng sắc thân này là do cái gì tác thành, là do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt thì sắc sẽ bị đoạn diệt.

Thức ăn ở đây có bốn loại thức ăn là đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực. Trong 8 tỷ người trên hành tinh chúng ta đều không thể tách rời trí của Thế Tôn, sở dĩ chúng ta cùng tồn tại được là chúng ta phải nương nhờ vào bốn loại thức ăn này. Đoàn thực là thức ăn cứng mềm, ngon dở, cái này ai cũng biết và dễ hiểu, ba loại còn lại không học theo lời dạy của Thế Tôn trong kinh tạng Nikāya thì chúng ta rất mê mờ, không thấy được. Xúc thực là sự tiếp xúc, sự gặp gỡ nhau, tư niệm thực là những suy nghĩ, tư duy của chính mình, thức thực là sự hay biết, sự rõ biết.

Trong thời gian 2-3 năm vừa qua khi dịch bệnh đến thì chúng ta mới thấy rõ được xúc thực rất quan trọng, mọi người bị giãn cách phải ở trong nhà do dịch bệnh Covid, suốt thời gian ở thành phố Hồ Chí Minh suốt 3 tháng ở trong nhà, không được ra ngoài, có những hoàn cảnh do ở trong nhà bức bách mà có những người trốn khỏi chỗ cách ly đi ra ngoài cũng do sự khó chịu trong khu cách ly, muốn được đi ra để tiếp xúc với cảnh bên ngoài, không còn phải ở trong chỗ đông người mà không được giao tiếp, tiếp xúc. Qua đó chúng ta thấy được cái xúc thực này rất quan trọng.

Mỗi dịp lễ đến người ta luôn đến những chỗ vui chơi, điểm du lịch vì người ta muốn tiếp xúc để đem lại những cảm giác dễ chịu, nhưng họ không biết rằng dịch bệnh kéo tới mà chúng ta đi ra tiếp xúc người này người kia thì dịch bệnh càng lan rộng ra, không kiểm soát được, bùng phát dịch thì hậu quả thật nghiêm trọng. Về bài kinh này rất dài và liên quan đến sự nguy hiểm, vị ngọt và sự xuất ly của ngũ uẩn, nó rất rộng nên con chỉ nói vài điểm sơ qua vì thời gian không cho phép. Còn đối với thọ; tưởng; hành làm sao nó sanh khởi, do xúc tập khởi nên thọ; tưởng; hành tập khởi, xúc đoạn diệt nên thọ; tưởng; hành đoạn diệt.

Như con đã nói chúng ta thường thích xúc, những cái gì đưa đến vị ngọt, cảm giác khoan khoái, vui thích còn khi xúc với những pháp bất thiện thì mình không chấp nhận, giống như lời nói khó chịu hay hành động chướng tai, trái ngang thì mình khởi lên cảm thọ không hài lòng, bực bội, tức tối. Khi không còn tiếp xúc nữa thì những hình bóng, suy nghĩ, tư duy về sự khó chịu cứ bám đuổi theo ta từ ngày này sang ngày khác, do ta cứ chạy theo vị ngọt mà không thấy sự nguy hại của nó, khi nó biến đổi, nó đổi khác thì mình không chấp nhận.

Mình nghĩ lúc nào nó cũng phải tuôn theo, lúc nào nó cũng đem lại cảm giác vui thích, những hình bóng đẹp đẽ, những tư duy mang đến cảm giác lạc thọ, đó là sự vô thường, nó rồi cũng sẽ biến hoại. Đối với sự xuất ly khỏi thọ; tưởng; hành, sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham, khi mình nhận diện được ngũ uẩn, mình nhiếp phục chúng, mình thấy sự thúc giục trong thọ; tưởng; hành đó thì chúng ta thoát ra, không còn bị nó nắm giữ, bị nó điều khiển, chi phối nữa.

Đến phần thức, do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi, do danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt. Danh là thọ; tưởng; tư; xúc; tác ý, sắc là bốn đại chủng và tứ đại. Phần thức thực này rất sâu sắc, nếu chúng ta không có sự tu tập, hành trì thì lúc nào cũng nghĩ đó là tôi, là của tôi, sự hay biết này là của tôi, cứ đắm nhiễm, chấp thủ, nắm chặt thì chắc chắn mình sẽ chịu những phiền não và khổ đau mà không biết nó chỉ là vô thường, khổ, là trống rỗng, là trống không.

Những lời dạy của Đức Phật không đi ra khỏi năm uẩn chính mình, đây giống như barem mà Đức Phật đã chỉ dạy để thành tựu mục đích Sa-môn, Bà-la-môn hạnh thì phải biết được sắc; thọ; tưởng; hành; thức, ở đây không có gì cao xa cả mà nó ở trong chính thân tâm mình, Đức Phật cũng phải thấy được thân tâm mình một cách tường tận và ngài mới nói nên rằng khi nào thấy được sự nguy hại, vị ngọt, sự xuất ly đối với ngũ uẩn thì lúc đó ngài mới công nhận là ngài chứng được vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Chúng ta là đệ tử của Đức Phật thì chúng ta cũng phải đi theo những gì mà Thế Tôn đã chỉ dạy, những gì mà Thế Tôn đã truyền trao. Thời gian không cho phép nên con có đôi lời cảm nhận về bài kinh con thật tâm đắc, trong khi chia sẻ con cũng là bậc sơ cơ mới tu học không tránh khỏi những thiếu sót, mong đại chúng hoan hỉ bỏ qua cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

II. Thầy Pháp Tâm

Thầy Pháp Tâm: Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí. Con xin đọc bài kinh Không Kham Nhẫn

"- Có năm nguy hại này cho người không kham nhẫn. Thế nào là năm?

Quần chúng không ái mộ, không ưa thích; nhiều người hận thù; nhiều người tránh né; khi mạng chung, tâm bị mê loạn; sau khi thân hoại mạng chung; sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Này các Tỳ-kheo, có năm nguy hại này cho người không kham nhẫn.

Này các Tỳ-kheo, có năm lợi ích này cho người có kham nhẫn. Thế nào là năm?

Quần chúng ái mộ, ưa thích; không có người hận thù; không có nhiều người tránh né; khi mạng chung, tâm không bị mê loạn; sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

Này các Tỳ-kheo, có năm lợi ích này cho người có kham nhẫn"

(Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XXII. Phẩm Mắng Nhiếc, (V). Không Kham Nhẫn (1))

Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí, khi con đọc và học bài kinh Không Kham Nhẫn thì con cảm nhận đây là một bài kinh rất cần thiết với người tu, đối với chính con cảm thấy nếu không kham nhẫn, không có sự chịu đựng, không mềm mại thì tự thân mình sẽ đi theo thúc giục, tham ái, vô minh, si mê của chính mình ở bên trong. Lúc đó đi đến hội chúng nào con cảm thấy mình làm theo ý mình, làm theo bản thân của mình sẽ gây bất đồng cho nên sự nguy hại đầu tiên mà Đức Phật chia sẻ là quần chúng không ái mộ, không ưu thích, không có sự yêu mến cũng không có sự mến mộ.

Là một người tu mà không có sự mềm mại, không có sự kham nhẫn, chịu đựng, không hòa thuận. Thứ hai là nhiều người hận thù, chính bản thân mình không chịu đựng được sự thúc giục bên trong nên những ý hành, những suy nghĩ bên trong sanh khởi lên mình không có sự nhìn nhận, không kiểm soát, không thấy biết rõ ràng nên lời nói, hành động bị xâm chiếm bởi sự thúc giục đó, bản ngã đó, sự tham muốn đó, gây cho người nghe, gây cho người làm chung, gây cho huynh đệ mình có khúc mắc, dính mắc, không hoan hỉ, xa cách nhau.

Bởi vậy khi đồng phạm hạnh thấy mình như trong bài kinh Nghĩa Địa Đức Phật chia sẻ là giống như mùi hôi thối của chính tự thân mình sanh khởi lên, mình không khéo để nhiếp phục chúng nên sự sân hận, bực bội, khó chịu, nơi chính tự thân mình không thấy biết, không nhiếp phục thì làm cho các vị đồng phạm hạnh tránh né, xa lìa, không dám lại gần vì cảm thấy lại gần mình như lại gần đống lửa, lại gần đống rác, lại gần một bãi bất tịnh, hôi thối.

Do không có sự chịu đựng, không biết ở bên trong sự thôi thúc dẫn dắt mình, mình không có sự nhu hòa, mềm mại, sanh khởi lên những cái ác bất thiện pháp. Khi mạng chung là tuổi thọ hết thì những bất thiện này, những nghiệp lực này bao trùm tâm trí, làm cho tâm mình u mê, đó là tâm bị mê loạn, bị vô minh trùm khắp, lúc đó mình quờ quạng trong bóng đêm, gọi là khi mạng chung tâm bị mê loạn. Lúc đó tái sanh của mình là cõi dữ, ác thú, đọa xứ và địa ngục, dẫn đến tái sanh vào cảnh giới rất khổ đau, sự thống khổ khốc liệt.

Trong thời gian vừa qua đại chúng cũng như trên sư phụ chỉ dạy, hướng dẫn về nỗi thống khổ ở địa ngục, nó rất khủng khiếp, cho đến khi nào hết nghiệp ác mình gây tạo thì thọ lãnh cái thống khổ đó mới chấm dứt. Đức Phật cũng nêu ra lợi ích khi mình có sự kham nhẫn, khi người tu có sự nhìn nhận nơi thân, đó là có thân này sanh ra thì phải đói, lạnh, phải ăn, phải uống, đại tiện, tiểu tiện, nhất là việc ăn dễ dàng buông lung, không có sự chịu đựng, đói một tí là mình không chịu nổi, đau nhức mình cũng không chịu nổi, không có sự chế ngự, thân dao động, quay vào tâm thì những hữu lậu khác sanh khởi, không thể chịu nổi khi đối diện với thân tâm mình, đó là một đống rác bẩn, cấu uế từ vô thỉ đã chất chứa bên trong nên khi sanh khởi lên những cảm thọ thì mình dễ dàng chạy theo, tham đắm những cảm giác vui thích.

Khi có những lời nói không được hay thì mình sân hận, khó chịu, chống cự, phản kháng, mình không chấp nhận, không có sự thấu hiểu nên khi có sự kham nhẫn, khi có sự nhu hòa, khi biết nhiếp phục, tu tập thân, tu tập giới, tu tập tâm, tu tập tuệ qua sự chịu đựng, thấy biết thân tâm thì lúc đó sẽ có sự ưa thích của hội chúng, có sự kính ngưỡng, ái mộ, nhờ đó nhiều người muốn thân cận mình hơn. Vì cảm giác được thân cận với những người nhiếp phục tự thân, chế ngự tự thân, nhiếp phục và chế ngự được cảm giác dễ chịu tham ái bên trong, hoặc những cảm giác khó chịu, sự nỗ lực tinh tấn tu học thì những bậc đồng phạm hạnh sẽ rất hoan hỉ, rất thích.

Khi biết nhiếp phục và biết chịu đựng thì những ác, bất thiện pháp được giảm thiểu, thiện pháp tăng trưởng, khi thân hoại mạng chung những thiện pháp đó hiện lên sẽ có cảm giác dễ chịu, mang đến an lạc chân thật, nhờ phước lành này mang đến người tu tái sanh cảnh giới tốt lành, thiên giới hoặc cõi đời này. Đó là sự suy tư, chiêm nghiệm trong bài kinh này khi con được nghe, được học, con cũng còn nhiều thiếu sót, kính mong trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí chỉ dẫn thêm cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

III. Thầy Pháp Cần

Thầy Pháp Cần: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, đệ tử con cúi đầu kính lễ bậc ân sư tôn kính, con xin kính lễ chư tôn hiền đức Tăng Ni cùng các bậc hiền trí. Con xin cám ơn bài chia sẻ của thầy Pháp Tâm nhắc con có sự kham nhẫn hơn trong cuộc sống, tu tập, rất sâu sắc, con xin phép đọc bài kinh mà con tâm đắc trong quá trình tu học, đó là bài Niệm Vị Tối Thượng, kinh Bệnh.

"Vậy này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Và này Ananda, thế nào là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?

Này Ananda, ở đây, Tỳ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Ananda, như vậy là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.

Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi"

(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)

Con kính thưa chư tôn hiền đức cùng các bậc hiền trí, con xin phép có những suy tư, chiêm nghiệm khi học tập bài kinh này. Qua lời Thế Tôn dạy tôn giả Ananda tràn đầy tình thương, từ tâm vô lượng của ngài, nhắc nhở không chỉ tôn giả Ananda mà còn cho tất cả hàng đệ tử của ngài, sau khi ngài diệt độ thì ngài khuyên dạy cho hàng đệ tử phải biết tự mình nương tựa vào chính mình, có nghĩa là tự thân nỗ lực tinh tấn tu học theo lời dạy chánh pháp của ngài, theo con đường mà ngài đã chỉ, đã đi qua, đã thực hành, đã giải thoát.

Khi mình nương tựa vào một người nào đó, vì sắc thân này cũng là vô thường, cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ cũng vô thường, cũng biến hoại, tan hoại, rã nát, khi nương tựa vào một ai đó đến một ngày nào đó vô thường đối với người đó thì mình sẽ mất đi chỗ nương tựa không vững chắc đó. Hay khi mình nương tựa vào tài sản vật chất, tiền bạc, của cải thì một ngày nào đó những tài sản đó cũng mất đi, Đức Phật dạy tài sản có thể bị lửa cháy, bị nước cuốn, bị trộm cắp hay bị quan quyền, nương tựa vào tài sản, vật chất cũng không bền chắc. Mình nương tựa vào danh tiếng, tiếng tăm thì một ngày nào đó cũng vô thường, cũng tan hoại nhưng Đức Phật chỉ dạy phải nương tựa vào chánh pháp, mình an trú trong pháp, thắp lên ngọn đèn chánh pháp trong tâm mình, mình học pháp, hành pháp, làm sao để pháp luôn an trú trong tâm thì lúc đó mình rất vững chắc vì các pháp luôn hiện hữu trong cuộc đời mình, trong thế giới này.

Nếu mình để tâm vào pháp thì tất cả mọi sự vận hành đều có pháp trong đó nhưng vì tâm mình dễ bị vô minh che đậy, dễ chạy theo tham ái, dính mắc, ràng buộc, trói buộc, đánh mất các pháp đang hiện hữu, đánh mất lời dạy của Đức Thế Tôn. Khi an trú vào pháp Đức Thế Tôn chỉ dạy, ngài nói về khổ, nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến chấm dứt khổ, mọi sự đau khổ, mọi cảm thọ đều nằm trong đau khổ, tất cả sự vận hành trên cuộc đời này luôn bao trùm trong cái khổ. Mình thấy khổ thì mình vui, sư phụ cũng hay dạy như vậy, mình thấy pháp thì mình vui, mình hoan hỉ trong đó, cái nương tựa đó rất vững chắc, mình sống đời sống đơn giản, giản dị mà mình vui, mình hạnh phúc.

Đức Phật dạy các dục vui ít khổ nhiều, khi mình thực hành được hạnh ly dục thì mình thấy hoan hỉ trong đó. Mỗi một chút như vậy, mình thực tập mỗi ngày, tích góp từng thiện pháp nhỏ nhiệm để mình lớn mạnh hơn trong chánh pháp của Đức Thế Tôn, trong lời dạy của ngài. Đức Thế Tôn dạy mình nhớ niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp, an trú quán thân trên thân, an trú nhớ niệm hơi thở, oai nghi, hành động, quán niệm về tứ đại, ba mươi hai thể trược hay chín giai đoạn tử thi để mình thấy rõ sự thật các pháp phơi bày ra để mình không sống đắm chìm trong ảo tưởng, lừa dối, giả tạo do tâm mê chìm lún trong đó, phơi bày sự thật của thân tâm năm uẩn này, của xác thân này, hư hoại, mục nát, hủy hoại để từ đó mình thoát ra sự ái luyến, chấp thủ, nắm giữ trong đó. Những cảm thọ, cảm giác để mình quay lại phát giác những cảm thọ bất thiện, những cảm thọ si dại sanh khởi và tu tập nhiếp phục, chế ngự để mình có cảm thọ an tịnh, lắng dịu, giải thoát như các ngài.

Vì thời gian cũng ngắn nên Pháp Cần chia sẻ một số suy tư, chiêm nghiệm qua bài kinh Bệnh, trong quá trình chia sẻ chắc chắn còn nhiều sai sót. Kính mong chư tôn hiền đức cũng như các bậc hiền trí hoan hỉ, chỉ dạy thêm cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

IV. Thầy Pháp Lực

Thầy Pháp Lực: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính trên sư phụ, con kính trên quý thầy, con kính trên Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Trong quá trình tu học con có tâm đắc bài kinh Quốc Độ trong Tương Ưng Bộ, tập II.

"Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Sumbha, tại một thị trấn của dân chúng Sumbha tên là Sedaka.

Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo...

-- Ví như một số đông quần chúng, này các Tỳ-kheo, tụ họp lại và nói: 'Cô gái hoa hậu của quốc độ. Cô gái hoa hậu của quốc độ!'. Và người con gái hoa hậu quốc độ ấy với tất cả sự quyến rủ của mình, múa cho họ xem, với tất cả sự quyến rủ của mình, hát cho họ nghe. Và một số quần chúng còn đông hơn tụ họp lại và nói: 'Cô gái hoa hậu của quốc độ múa và hát'. Rồi một người đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, họ nói với người ấy như sau: 'Này Ông, hãy xem đây. Ðây là cái bát đầy dầu. Ông hãy mang bát dầu ấy và đi vòng quanh đám quần chúng lớn và người con gái hoa hậu của quốc độ. Và một người với cây kiếm giơ cao sẽ đi theo sau lưng Ông. Tại chỗ nào làm đổ một ít dầu, tại chỗ ấy, đầu Ông bị rơi xuống'. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, người ấy có thể không tác ý đến bát dầu, phóng tâm hướng ngoại không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Ví dụ này, này các Tỳ-kheo, Ta nói ra để nêu rõ ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa của nó. Này các Tỳ-kheo, cái bát đầy dầu là đồng nghĩa với thân hành niệm.

Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: 'Chúng ta sẽ tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành đất nền, làm cho tiếp tục an trú, làm cho tích tập, làm cho khéo có hiệu năng (susamàraddhà)'. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập"

(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), II. Phẩm Nàlanda, X. Quốc Ðộ)

Khi con đọc được bài kinh này thì con rất tâm đắc, đầu tiên là Đức Thế Tôn đưa ra ví dụ đông người dân thấy được hoa hậu của quốc độ, đó là một người đẹp, ví dụ như hiện nay là minh tinh nổi tiếng thế giới, một diễn viên nổi tiếng, một số đông người dân la lên người con gái hoa hậu của quốc độ ấy dừng lại múa hát cho mọi người xem. Khi thấy người con gái hoa hậu của quốc độ dừng lại múa hát thì rất đông quần chúng chạy đến để xem.

Con quán sát và suy nghiệm người con gái hoa hậu của quốc độ ấy là năm dục trưởng dưỡng sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, số đông người dân ấy là thế gian này đang bị khổ bởi năm dục trưởng dưỡng, một người đi đến giống như là một người cũng sanh ra trong đời này nhưng muốn thoát khổ, muốn sống không muốn chết.

Khi quần chúng ấy chạy lại người con gái cũng như mình chạy lại năm dục trưởng dưỡng thì chắc chắn khổ, một người cũng đi đến nhưng không muốn khổ. Con quán sát thế gian này đang bị chìm đắm trong khổ nhưng chúng ta, những người vẫn sanh ra trong thế gian, vẫn sanh ra trong cõi khổ này nhưng không muốn khổ thì phải làm như thế nào.

Có một cách là một người nói với người ấy mang một bát đầy dầu và đi quanh đám quần chúng ấy, người con gái hoa hậu ấy, một người với thanh kiếm đi sau lưng ông, chỗ nào làm đổ dầu sẽ chết tại đó, dù quần chúng đông vui, hoa hậu múa rất đẹp nhưng người đó vẫn đi rất chánh niệm, không mảy may phóng tâm hướng ngoại, chỉ chú ý đến bát dầu. Vì sao vậy? Vì có một người cầm thanh kiếm đi theo sau, nếu không để ý bát dầu, làm đổ bát dầu sẽ mất mạng, chính sự sợ hãi ấy nên người đó mới tập trung vào bát dầu, không để ý đến quần chúng và hoa hậu múa hát.

Đức Thế Tôn nói ví dụ này để chúng ta biết bát đầy dầu ấy là Thân Hành Niệm, con chiêm nghiệm lại thì con thấy rất sâu sắc, người tu quan trọng nhất là Thân Hành Niệm nhưng chính chúng ta lại không thấy sự nguy hiểm trong việc thực hành Thân Hành Niệm, chúng ta thực hành không hiệu quả. Nếu không có Thân Hành Niệm sẽ gây ra nhiều lỗi lầm, nếu chúng ta muốn giải thoát, không muốn khổ thì bắt buộc phải có Thân Hành Niệm, phải có sự chánh niệm trong thân thì mới có thể thoát khổ.

Đầu tiên về oai nghi, đi, đứng, hành động, phải cố gắng kiểm soát thân của mình, thứ hai là kiểm soát mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý để không gây ra lỗi lầm. Chính vì vô minh, không thấy sự nguy hiểm của Thân Hành Niệm nên hằng ngày chúng ta buông lung phóng dật, không thực hành, khi con chiêm nghiệm ra thì con thấy buông lung phóng dật không có Thân Hành Niệm rất nguy hiểm.

Như thầy Pháp Tâm có chia sẻ là kham nhẫn thì con nghĩ kham nhẫn rất rộng, Thân Hành Niệm cũng là một phần trong kham nhẫn, nếu chúng ta không có Thân Hành Niệm sẽ gây ra lỗi lầm, làm phiền những người xung quanh mà chúng ta không hề biết và mọi người sẽ xa lánh mình, khi chết sẽ rất khổ, sau khi chết sẽ đọa.

Hằng ngày chúng ta không hề hay biết, chúng ta cứ nghĩ là mình hành động, con chiêm nghiệm ví dụ trong đạo tràng có người nói nhiều, không nhiếp phục thân tâm, gây ra phiền não cho mọi người nhưng mọi người ai cũng có lòng từ, thương tưởng, cố quay vào nhiếp phục thân tâm nên không nói lỗi lầm người đó, người đó không biết nên hằng ngày cứ lập đi lập lại những lỗi lầm đó sẽ tạo ra những ác nghiệp, dù người đó không nhận nhưng luật nhân quả rất thẳng tay, ai làm việc gì sai, ai làm việc gì tốt, luật nhân quả ghi ra rất rõ ràng, không có sai sót nên hằng ngày người đó tạo ra lỗi lầm mà không biết sự nguy hiểm đang ở trong mình.

Nếu một ngày có những vị Phật tử mới đến, nhưng chính vì hằng ngày buông lung phóng dật mà làm những vị Phật tử đó phiền não bỏ về, không tu tập nữa thì người đó tạo ác nghiệp nhưng không biết nên con thấy không có Thân Hành Niệm trong oai nghi, hành động, hộ trì các căn thì rất nguy hiểm, giống như Đức Phật ví dụ có người cầm kiếm đứng sau lưng mình, nếu mình không có Thân Hành Niệm thì mình sẽ bị chết nhưng cái chết này từ từ.

Con thấy cần phải tu tập Thân Hành Niệm và khi mình thấy được sự nguy hiểm thì mình mới cố gắng tu tập Thân Hành Niệm không chỉ lúc có người mà lúc một mình trong mọi lúc mọi nơi, mình sẽ có sự sợ hãi, như sư phụ giảng chỉ có tàm quý, hổ thẹn và sợ hãi thì mới giúp mình tu tập tốt được, giúp nhiếp phục tập khí của mình, giúp mình càng tiến bộ.

Nếu chúng ta không thấy sự nguy hiểm trong buông lung phóng dật, thấy vẫn bình thường nhưng thật ra chuyện rất nhiều, mình gây ra ác nghiệp, gây ra phiền não cho mọi người rất nhiều mà không có sự quay về nhìn nhận thân tâm, không có sự nhìn nhận cảm thọ thì khổ cho mình sau này. Đức Phật có dạy chúng ta phải tu tập Thân Hành Niệm làm cho sung mãn, thành cỗ xe, thành đất nền, làm cho vững chải như nền đất chứ không phải lúc lên thiền đường, lúc nghe pháp, học pháp mới cố gắng có Thân Hành Niệm, còn khi lao tác thì thả lỏng.

Làm cho tích tập, làm cho an trú, làm cho khéo có hiệu năng thì mình phải tu tập Thân Hành Niệm, làm cho khéo có hiệu năng là khi có chuyện chướng tai gai mắt thì chính sự tu tập Thân Hành Niệm, hộ trì các căn thì mình đủ sức nhiếp phục cảm giác khó chịu nên con thấy bài kinh này rất hay. Đức Phật chỉ ra sự nguy hiểm của Thân Hành Niệm và khi thấy được thì hằng ngày con cố gắng thực tập.

Con thấy sự thực hành của con có nhiều tiến bộ hơn so với trước, không cần đợi ai nhắc nhở mà tự mình thấy nguy hiểm và tự mình nhìn nhận thân tâm, sai lầm trong con giảm hơn so với trước vì còn vô minh nên Thân Hành Niệm chưa được nhiều nhưng con vẫn đang cố gắng đi trên con đường tu tập Thân Hành Niệm, ít có sai lầm, để cho thân tâm được an lạc. Đó là những chiêm nghiệm của con về bài kinh, con còn là bậc hữu học mới tu nên sự chiêm nghiệm của con có gì chưa đúng hoặc thiếu sót mong sư phụ, quý thầy, quý sư cô chỉ dạy thêm cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

V. Thầy Thiện Huệ

Thầy Thiện Huệ:

Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.

Đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát.

Đảnh lễ bốn đôi tám chúng hiền Thánh Tăng là ruộng phước vô thượng ở tên đời.

Ni sư: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Được sự cho phép của sư phụ con xin trùng tiên lại bài kinh Sợ Hãi Trong Tương Lai, Tăng Chi Bộ, tập II.

"- Này các Tỳ-kheo, do quán thấy năm sợ hãi trong tương lai này, thật là vừa đủ để vị Tỳ-kheo sống ở rừng không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo sống ở rừng quán sát như sau: 'Nay ta sống một mình trong rừng. Khi ta sống một mình trong rừng, con rắn có thể cắn ta, con bò cạp có thể cắn ta, con rít có thể cắn ta. Do vậy, ta có thể mệnh chung. Như vậy là chướng ngại cho ta. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đạt những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ'

Này các Tỳ-kheo, do quán thấy sợ hãi thứ nhất này về tương lai, thật là vừa đủ để vị Tỳ-kheo sống ở trong rừng không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo sống ở trong rừng quán sát như sau: 'Nay ta sống một mình trong rừng. Khi ta sống một mình trong rừng, ta có thể vấp ngã và té xuống, cơm ta ăn có thể làm ta mắc bệnh khi ăn, hay mật có thể làm ta khuấy động, hay niêm dịch (đàm) có thể làm ta khuấy động, các gió như kiếm có thể làm ta khuấy động, do vậy ta có thể mệnh chung. Như vậy là chướng ngại cho ta. Vậy ta hãy hăng hái, cố gắng để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ'.

Này các Tỳ-kheo, do quán thấy sợ hãi thứ hai này về tương lai, thật là vừa đủ để vị Tỳ-kheo sống ở rừng không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chứa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo sống ở rừng quán sát như sau: 'Nay ta sống một mình trong rừng. Sống một mình trong rừng, ta chung sống với các loài thú nguy hiểm, như sư tử, cọp, báo, gấu, dã can. Chúng có thể đoạt mạng sống của ta, có thể làm ta mệnh chung. Như vậy là một sự chướng ngại cho ta. Vậy ta hãy hăng hái tinh cần để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ'.

Này các Tỳ-kheo, do quán thấy sợ hãi thứ ba này về tương lai, thật là vừa đủ để vị Tỳ-kheo sống ở rừng không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo sống ở rừng quán sát như sau: 'Nay ta sống một mình trong rừng. Trong khi ta sống một mình trong rừng, ta chung sống với các loài ăn trộm, ăn cắp đã hành nghề. Chúng có thể đoạt mạng sống của ta, chúng có thể làm ta mạng chung và như vậy là một chướng ngại cho ta. Vậy ta hãy hăng hái tinh cần, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ'.

Này các Tỳ-kheo, do quán thấy sợ hãi thứ tư này về tương lai, thật là vừa đủ để vị Tỳ-kheo sống ở rừng không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo sống ở rừng quán sát như sau: 'Nay ta sống một mình ở trong rừng. Ở trong rừng có những loài phi nhân nguy hiểm, chúng có thể đoạt mạng sống của ta làm ta mệnh chung, như vậy là một chướng ngại cho ta. Vậy ta hãy hăng hái tinh cần để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ'.

Này các Tỳ-kheo, do quán thấy sợ hãi thứ năm này về tương lai, thật là vừa đủ để Tỳ-kheo sống ở rừng không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.

Này các Tỳ-kheo, do quán thấy năm sợ hãi về tương lai này, thật là vừa đủ để Tỳ-kheo sống ở rừng không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ"

(Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, VIII. Phẩm Chiến Sĩ, (VIII). Sợ Hãi Trong Tương Lai (1))

Kính thưa đại chúng, trong quá trình tu học thì con tâm đắc bài kinh này vì phàm tình chúng ta thấy vị ngọt của sắc nhưng qua bài kinh này Đức Phật chỉ cho chúng ta thấy sự nguy hại của sắc. Nó có thể biến đổi trong mọi lúc mọi nơi, tưởng rằng ở đồng bằng thì mình sợ xe cộ, tai nạn xảy ra hay động đất, đánh nhau, chém giết nhưng con thấy trong rừng núi còn hãi hùng, khiếp sợ hơn, chính vì vậy con sống luôn an trú chánh niệm tỉnh giác vì khi Đức Phật nói bài kinh này con thấy mọi sự nguy hiểm đang rập rình.

Bậc đạo sư nói xuân đến xuân đi thì bình thường, thân này sanh tử mới đáng thương, vô thường chẳng để ai yên ổn, chánh đạo chẳng làm tổn thương ai. Thật chất vô thường có thể đến bất cứ lúc nào cho nên con sống trong lo sợ, khi mình sống trong lo sợ như vậy thì mình thu thúc được lục căn, mình không để cho nó buông lung phóng dật, hướng ngoại, luôn sống trong tỉnh giác, lấy kinh Tứ Niệm Xứ làm kim chỉ đường để quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán pháp trên pháp.

Khi con nhập thất thì con nhờ bài kinh này nên luôn an trú và lo sợ vô thường đến với mình bất cứ lúc nào, khi con ngồi thiền thì con thấy phi nhân ở trên mái nhà bò xuống ngồi một cục thù lù trắng bóc, lúc đó con nhiếp niệm, con nhờ quán chiếu ngũ uẩn, tâm không hướng ngoại, con trở vào nội tâm thì con nhắc nhở đó chỉ là tưởng thôi, tưởng là vô thường thì làm gì có thọ sợ, Đức Phật nói thân này là vô thường, khổ, vô ngã, mình sợ như vậy là có tự ngã trong đó, nếu đêm nay mà phi nhân có lấy mạng con thì con cũng không xâm phạm vì họ cũng vô minh lấy mạng con thôi.

Khi con chưa vô dòng thánh pháp này thì con cũng làm muỗi chết oan trong tay con, con đi giẫm đạp trên kiến, nó chết oan dưới chân con thì có gì mà con phải giận họ, con phải đem tình thương này trải rộng ra. Thương thân mình và thương những loài nếu họ làm hại con, khi con tác ý như vậy thì ngay lập tức loài phi nhân kia biến mất ngay lập tức, con thấy khi quán chiếu năm uẩn thì có một nội lực rất lớn, trong tâm con lúc đó không còn sợ hãi, lúc đầu thì rợn trong người. Đức Phật cũng từng dạy các pháp là hữu vi, là vô thường, hãy tinh tấn lên, chớ để hối tiếc về sau, con nghe lời Đức Phật dạy, nghe lời sư phụ luôn luôn nhắc nhở thì con an trú vào trong thân, cái tham, cái sân, cái si trong con trốn đâu hết con không thấy nữa, nó đem lại lợi ích cho thân tâm con.

Con luôn thiền quán mọi lúc mọi nơi nên thân tâm được nhẹ nhàng, an lạc và bình an, cái tâm hướng ngoại cũng không có, trước khi vào dòng pháp này thì con hay hướng ngoại, do cái ái làm con khổ, khi con nghe sư phụ con bệnh thì con xách giỏ chạy về, con nghe mẹ con bệnh thì con xách giỏ chạy về, con chạy như vậy suốt mấy chục năm nay mà con cũng không giúp họ được cái gì nhưng cứ chạy.

Từ khi con vào dòng pháp này thì những cái đó không làm con dao động nữa và luôn làm cho thiện pháp sanh khởi, lòng từ tỏa rộng. Trước khi vào dòng pháp này thì con hỏi có ai thương mình đâu mà mình thương cái gì, thương ai nhưng khi vào dòng pháp này, nhờ tâm an trú định tĩnh, sư phụ thường cho tu tập tâm từ thì con mới cảm nhận được tình thương, mỗi khi tu tập như vậy thì con thấy lồng ngực mình mở rộng ra, nó bao khắp cả trời đất này, một cảm giác thật hoan hỉ, thật vui sướng.

Bài kinh này giúp con rất nhiều trên con đường tu tập, tâm con định tĩnh hơn, đem lại lợi ích thiết thực như Đức Phật đã nói không trải qua thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Đức Phật nói mình phải thấy khổ, thấm khổ, khi thấm khổ xong thì mới diệt được khổ, lúc đó con thiền quán con thâm nhập vào khổ thánh trí để những cái tâm tham, sân, si, vô minh, bản ngã không có cơ hội trên xác thân này nữa, lúc đó thân tâm con được định tĩnh hơn, sáng suốt hơn, an lạc hơn. Trong quá trình tu học, con mới là người hữu học chưa học được nhiều, xin sư phụ, quý thầy, quý sư cô chỉ dạy thêm cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

VI. Cô Chơn Ngọc

Cô Chơn Ngọc: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, con kính bạch chư tôn hiền đức Tăng Ni cùng các bậc hiền trí. Hôm nay nhân duyên thù thắng con được ngồi đây với niềm hân hoan, không biết phước duyên gì con có thể được ngồi đây chung với đại chúng, chung với đạo tràng Nikāya hiền trí. Con xin chia sẻ một trải nghiệm của con, nếu không nhờ thánh pháp Nikāya, không nhờ pháp hành Nikāya thì con không biết đã đi về đâu.

Do duyên con bị Covid, trong khi bị thì tâm trí con rất mù mờ dù con vẫn cố gắng hộ trì các căn, thực hành ba pháp liên tục, lúc đó con ra làm vườn thì con trượt chân té, lưng con đập vào sàn rất đau. Ngay khi đập xuống con không biết gì cả nhưng có ý hành nói rằng bỏ thân đi, kiếm thân khác, trong lúc đó con có cảm thọ rất bất an, con thực hành ba pháp, con chụp lấy hơi thở và khi con cảm giác hơi thở thì con thấy hơi thở rất dồn dập, lúc có lúc không.

Một lúc sau thì con an tịnh hơi thở, lắng dịu, dễ chịu, khi con tác ý hơi thở như vậy thì con tác ý cảm giác cơ thể từ bàn chân lên, con cảm giác chân con có cử động không thì con thấy còn cử động, con không dám chỗ đau nhưng thức con rõ biết ngay đó là chỗ đau. Con cảm giác đầu có tỉnh táo không, tay chân có thế nào không, sau khi cảm giác cơ thể thì con mới cảm giác ngay chỗ đau, một cảm giác đau cắt ruột cắt gan, con tiếp tục an tịnh hơi thở, con nhớ lại bài kinh thân hành là hơi thở, hơi thở là thân hành, con chỉ nhớ như vậy và con an tịnh hơi thở, từ hơi thở con an tịnh thân hành.

Sau khi an tịnh thân hành thì con đi vào, khi con được người nhà chuyển vào nhà, con trú vào pháp, con đi tìm cái vừa nãy nói bỏ thân này đi thì lúc đó con có cảm giác sợ hãi tột cùng. Nào giờ con tu theo cái tưởng chắc mình cũng đỡ lắm, mình cũng thế này cũng thế kia, con theo dòng pháp Nikāya này đến đây cũng 3-4 năm rồi, con nghĩ trong khi nhận diện như vậy thì chắc mình cũng bỏ thân này rồi nhưng khi có cảm giác sợ hãi thì con thấy sự chấp thủ cái thân vẫn còn quá cứng chắc với con, lúc đó con biết đó là cái ngã, một cái ngã bám chắc vào thân xác này, trong quá trình con học thì con hiểu tâm mê là như thế này, nó đưa mình vô luân hồi sanh tử nhưng tất cả chỉ là ý hành, ngay tại đó con mới biết như thế nào mới gọi là tâm mê, như thế nào là đưa đến luân hồi sanh tử.

Trong quá trình 2 tháng con nằm liệt gường sau khi con được chữa trị, con vẫn đứng lên đi lại được nhưng bác sĩ bảo con tiếp tục nằm trong 2 tháng, khi đó tất cả những bài về cái ngã, cái ta con đều quán chiếu hết, con đem tất cả những gì con nhận diện. Trong quá trình nhận diện sắc thân này thì con nhận thấy con có cảm nhận như thế này và con biết thế nào là khổ, trong khi uống thuốc thì thuốc này có tác dụng giảm đau nhưng tim đập rất nhanh, khi con quán chiếu cảm thọ của thân thì con thấy trong cơ thể mình, trong ba mươi hai thể trược này mỗi một cơ quan là một chúng sanh, nó có đời sống riêng của nó, nó có tế bào riêng của nó, nó được xây dựng và được nuôi sống bằng những thứ ăn riêng của nó. Tim có đời sống của tim, gan có đời sống của gan… mỗi ba mươi hai thể trược này là ba mươi hai chúng sanh, một tâm thức này làm sao có thể nói đây là ta, đây là của ta, không thể nào cho đây là ta, đây là của ta với tất cả chúng sanh đang ở trong thân thể này.

Tại sao đến giờ con mới thấy khổ? Vì con không thể làm hòa hợp tất cả chúng sanh này, thành ra con thấy trong tất cả các pháp tu mà con đọc nhiều kinh thì con thấy bậc đạo sư và sư phụ dạy mình ngay từ đầu phải tập tâm hiền, người tu tâm thật là hiền để tất cả chúng sanh trong thân thể này hiền thiện, sự hòa hợp. Con không ở trong Tăng chúng nhưng con nghĩ nếu trong thân thể này chống đối nhau thì con hiểu như thế nào gọi là khổ, sự khổ này trong thân thật sự quá khổ.

Đó là cảm nhận của con trong lúc con bị bệnh duyên mà con nhận được, con xin chia sẻ với tất cả các bậc hiền trí để chúng ta cùng nhau thực hành, chỉ có pháp hành, con cảm nhận học là để giúp cho mình thực hành, đó là điều mà bậc đạo sư cũng dặn, học mà không hành thì rất uổng, đó là những điều con ghi nhận khi con vào dòng pháp Nikāya này, con rất biết ơn Đức Thế Tôn, biết ơn bậc đạo sư và sư phụ, người đã hướng dẫn, dạy dỗ con những bí quyết của người. Người dạy con phải biết vị trí của mình để mình biết mình là ai, không phải tu trong tưởng. Mô Phật.

VII. Cô Diệu Hạnh

Cô Diệu Hạnh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính thưa sư phụ, con kính thưa các bậc Thánh Tăng, con kính thưa các bậc Thánh Ni và các bậc hiền trí. Ai bước vào dòng kinh tạng Nikāya là đã bắt đầu đi từng bước, con là Phật tử Diệu Hạnh, con cũng đi tìm cầu pháp, cuối cùng con cũng cảm nhận được tạng kinh Nikāya đưa con và tất cả mọi người trở về đời sống thực tại mà tất cả đã bỏ quên, chính tạng kinh Nikāya là cội nguồn, là gốc rễ chính đức bổn sư đã tìm ra, để lại cho loài người trên hành tinh này.

Lần đầu tiên con lên trên đây tại Linh Quy Pháp Ấn, khi con vừa bước lên tối qua thì con ở chỗ nhà trọ thì con đã thấy niềm hoan hỉ trong con rất lớn, con cảm nhận được điều đó, con cũng là người sơ cơ nên con cũng chưa biết nhiều, con xin lắng nghe mà những gì các thầy, các cô, các bậc hiền trí chia sẻ trong buổi học sáng nay, con ghi nhận, con rất vui nhân duyên ngày hôm nay con được ngồi ở đây để nghe các thầy, các cô chia sẻ những bài pháp trong kinh tạng Nikāya mà Đức Phật chỉ dạy để mình học tập, để quay về chính mình, để tự mình cứu mình, lấy tình thương của mình đối xử của mình rồi lấy tình thương của mình đối xử với mọi người để tất cả đều sống trong tình yêu thương rộng lớn.

Con chưa biết gì, con xin luôn học hỏi, lắng nghe và tu tập những gì thầy cô và các bậc hiền trí đi trước để con chính thức quay về chính mình, nhận diện thân ngũ uẩn mình rõ ràng hơn, tẩy trừ những cấu uế trong thân mình, để trau dồi tình thương yêu rộng lớn như đức bổn sư và sư phụ đã chỉ dạy. Con có đôi lời như vậy thôi, con xin cảm ơn các thầy, các cô và các bậc hiền trí đã lắng nghe, con xin cảm ơn.

Phật tử: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, hôm nay đủ duyên con được ngồi ở đây, được diện kiến quý thầy cô ở đây, con cũng nói lên một số cảm nhận của con khi được ngồi ở đây. Thật ra con cũng là người đi tìm cầu sự giải thoát khỏi sự khổ mà con biết qua lời dạy của Phật, con tâm đắc nhất là bài kinh trước lúc Phật nhập diệt, đó là sau khi ngài nhập diệt thì chúng ta phải tự thắp đuốc lên mà đi và phải lấy giới luật làm thầy. Con rất tâm đắc lời dạy của Phật, con nghĩ chỉ có giới luật và tự mình thắp đuốc lên, mình phải dựa vào giới luật để dẫn mình đi đến sự giải thoát, con chắc chắn là như vậy, con có lòng tin ở điều này. Tâm con lúc nào cũng hướng về Phật và con chỉ dựa vào điều này thôi, con rất cám ơn, ngày hôm nay con được ngồi đây diện kiến quý thầy cô thì con rất hoan hỉ, con xin cám ơn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

VIII. Khuyến tấn tu tập

Sư Phụ: "Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kosala (Câu-tát-la) tại Nalakapana, rừng cây Palasa.

Lúc bấy giờ nhiều Thiện gia nam tử có danh tiếng, vì lòng tin Thế Tôn, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, như Tôn giả Anuruddha (A-na-luật-đà), Tôn giả Nandiya, Tôn giả Kimbila, Tôn giả Bhagu, Tôn giả Kundadhana, Tôn giả Revata, Tôn giả Ananda và một số Thiện gia nam tử danh tiếng khác.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn ngồi ở giữa trời, có chúng Tỳ-kheo vây quanh. Rồi Thế Tôn nhân vì các Thiện gia nam tử ấy, bảo các Tỳ-kheo:

-- Này các Tỳ-kheo, các Thiện gia nam tử ấy vì lòng tin Ta đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo ấy có hoan hỉ trong Phạm hạnh không?

Khi được nói vậy, các Tỳ-kheo ấy giữ im lặng. Lần thứ hai... lần thứ ba, rồi Thế Tôn, nhân vì các Thiện gia nam tử ấy, bảo các Tỳ-kheo:

-- Này các Tỳ-kheo, các Thiện gia nam tử ấy vì lòng tin Ta đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo ấy có hoan hỉ trong Phạm hạnh không?

Cho đến lần thứ ba, các Tỳ-kheo ấy giữ im lặng.

Rồi Thế Tôn suy nghĩ như sau: 'Nay Ta hãy hỏi các Thiện gia nam tử ấy'.

Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Anuruddha:

-- Này các Anuruddha, các Ông có hoan hỉ trong phạm hạnh không?

-- Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con hoan hỉ trong Phạm hạnh.

-- Lành thay, lành thay, các Anuruddha. Này các Anuruddha, thật xứng đáng cho các Ông, những Thiện gia nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông có hoan hỉ trong Phạm hạnh. Này các Anuruddha, trong khi các Ông với tuổi trẻ tốt đẹp, trong tuổi thanh xuân, với tóc đen nhánh, có thể hưởng thụ các dục lạc, thời các Ông, này các Anuruddha, với tuổi trẻ tốt đẹp, trong tuổi thanh xuân, với tóc đen nhánh, lại xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này các Anuruddha, các Ông không vì mệnh lệnh của vua mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Các Ông không vì mệnh lệnh của kẻ ăn trộm mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Các Ông không vì nợ nần, không vì sợ hãi, không vì mất nghề sinh sống mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nhưng có phải với tư tưởng như sau: 'Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này' mà các Ông, này các Anuruddha, vì lòng tin, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình?

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

-- Và xuất gia như vậy, này các Anuruddha, người Thiện gia nam tử cần phải làm gì? Này các Anuruddha, ly dục, ly bất thiện pháp. Nếu không chứng được hỷ lạc hay một trạng thái khác an tịnh hơn, thời dục tham xâm chiếm tâm và an trú, sân xâm chiếm tâm và an trú, hôn trầm thụy miên... trạo cử, hối quá... nghi hoặc... bất lạc... giải đãi xâm chiếm tâm và an trú. Này các Anuruddha, khi chưa ly dục, chưa ly bất thiện pháp, vị ấy không chứng được hỷ lạc hay một trạng thái khác an tịnh hơn. Này các Anuruddha, ly dục, ly bất thiện pháp, vị ấy chứng được hỷ lạc hay một trạng thái khác an tịnh hơn, thời dục tham không xâm chiếm tâm và an trú, sân không xâm chiếm tâm và an trú, hôn trầm thụy miên... trạo cử hối quá... nghi hoặc... bất lạc... giải đãi không xâm chiếm tâm và an trú. Này các Anuruddha, ly dục, ly bất thiện pháp, vị ấy chứng được hỷ lạc hay một trạng thái khác an tịnh hơn"

(Trung Bộ Kinh, 68. Kinh Nalakapàna)

Buồn là bất lạc xâm chiếm tâm, lúc đó mình không có hỷ lạc của ly dục, mình không có trạng thái khác an tịnh thì cái buồn đó, cái tham dục, sân giận sẽ áp đảo, xâm chiếm tâm mình và nó an trú, cuối cùng là xuống núi không tu nữa. Cứ buồn mãi, buồn mà không biết tại sao mình buồn, buồn nên không thích ngồi thiền, không thích nghe pháp, không thích làm việc nữa thì bắt đầu sinh chuyện.

Lâu nay chúng ta chỉ biết tham, sân, si, vô minh, bản ngã mà chúng ta không biết còn nhiều cái nữa, đó là cái buồn, đó là một trong những lậu hoặc, kiết sử, buồn dào dạt, dã dượi, đó là nó đang xâm chiếm mình. Nếu mình không tác ý đánh đuổi nó ra, quét nó ra, thiêu rụi nó thì nó sẽ chiếm đóng, xâm chiếm tâm mình và nó ở trong đó, nó có cái ổ của buồn, lâu lâu lại phát tác ra, nếu cái này được tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển thì sớm muộn cũng hạ sơn, sớm muộn gì tóc cũng mọc trở ra. Vì không ly dục, ly bất thiện pháp, không chứng được hỷ lạc, không có trạng thái an tịnh khác thì làm sao chúng ta có thể vượt qua những sự tham dục, sân hận xâm chiếm tâm?

Mình không nuôi lớn tác ý hỷ lạc ly dục sanh thì có cái buồn, cái giận tới là dễ dàng mình bị thối lui, thối đọa trong sự tu tập. Nếu không có hỷ lạc trong sự tu, không hưng phấn, khoan khoái, thích thú, phấn khởi, hoan hỉ, hạnh phúc trong cái thiền, trong cái pháp thì trạo cử xâm chiếm, mình sẽ muốn làm cái này làm cái kia, nghi ngờ sanh ra với pháp, sau đó là làm biếng không muốn tu nữa vì không thấy hân hoan, không thấy hạnh phúc.

Vì thế mỗi lần tâm chúng ta được ly dục, cái dục này là món đồ, quần áo, cảnh vật, thân xác mình hay thân xác của người, chúng ta tác ý xa lìa ham muốn đó, những sự dính mắc, trói buộc đó rồi cho mình hạnh phúc lên. Mỗi khi chúng ta có cảm giác sân hận, tức giận mà chúng ta nhiếp phục được, dùng tâm từ thoát ra cảm giác bực bội, sanh khởi sự hoan hỉ chiến thắng, cứ như vậy hỷ lạc do ly ác bất thiện pháp sẽ tăng trưởng, phát triển lớn mạnh trong thân tâm chúng ta. Chính cái này sẽ giúp mình phá trừ năm triền cái, phá trừ những cái buồn bã, làm biếng, nghi hoặc, hôn trầm thùy miên, đây là công năng tác dụng của ly dục sanh hỷ lạc.

Mỗi lần lên ngồi thiền phải tác ý hỷ lạc, mỗi lần lên nghe pháp mà thấy chán ngán thì tác ý hỷ lạc, mỗi lần làm công tác gieo trồng phước đức công quả thì tác ý hỷ lạc hân hoan, nhìn núi mây trời, nhìn không gian thênh thang thì tác ý tâm từ, bi, hỷ, xả vô lượng, nuôi lớn sự an lạc, thanh tịnh này, chính cái này làm tham dục, sân hận, hôn trầm thùy miên, trạo cử, nghi hoặc, buồn bã, giải đãi không xâm chiếm tâm mình được.

Có một cái pháp an lạc chính là pháp hỷ, chúng ta cố gắng trong sự nghe pháp, học kinh, đọc kinh, tác ý, quán chiếu về thiền quán, chúng ta thấy được vô thường, khổ, vô ngã, thấy được bản chất của ngũ uẩn, thấy được sanh diệt, cấu nhiễm của nó, một mặt mình thấy ê chề nhưng một mặt mình thấy hoan hỉ vì trước nay mình không thấy, bây giờ mình đã thấy, trước nay mình không nhiếp phục, còn giờ mình bắt đầu nhiếp phục, đó là pháp hỷ, pháp lạc.

Phải nhớ tìm được niềm vui trong pháp, khi nghe pháp, khi học kinh, khi đọc kinh, mình thấy hạnh phúc khi đọc được những lời thâm sâu vô thượng này, khi mình hiểu được giá trị quý báu của chánh pháp, khi mình bắt đầu nhìn thấy được bản chất của thế gian này, của thân tâm này, của đời sống này nên mình hạnh phúc. Hạnh phúc, hoan hỉ khi mình rời xa, bước lên núi rừng, mình thực tập đời sống viễn ly, thanh tịnh và an lạc.

Như vậy là Đức Phật cho chúng ta biết công năng, tác dụng của sự hỷ lạc, sự hạnh phúc, hân hoan trong việc ly ác bất thiện pháp, ly dục để chúng ta nuôi lớn lòng hạnh phúc, an lạc, hoan hỉ, phải khéo léo tác động tâm ý để có hỷ lạc, sự phấn khởi, hân hoan trong việc xa lìa những bụi trần, bụi bặm, những cấu nhiễm của thế gian, chúng ta phải khéo léo tác động tâm ý, khéo léo tu tập, khéo léo làm cho mình có hỷ lạc trong sự tu học.

Thầy Thiện Huệ:

Vui vì ta được biết

Chánh pháp của Thế Tôn

Vui vì ta được học

Lời dạy của Thế Tôn

Vui vì được nghe pháp

Vì được gặp bạn lành

Vì biết giữ giới hạnh

Vì biết tập nhìn tâm

Tâm vui này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm vui này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.