Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tại sao khổ và làm sao hết khổ

2026-03-03 00:55:18
Tinh Hoa Nikāya

TẠI SAO KHỔ VÀ LÀM SAO HẾT KHỔ

-Thích Minh Thành-

Ngày 06 tháng 12 năm 2020

Mục Lục

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sự nguy hại của tham – sân - si PAGEREF _Toc59175050 \h 1

II. Hang ổ - nơi cư ngụ của tham – sân - si PAGEREF _Toc59175051 \h 3

III. Sự tu tập – nhiếp phục tham – sân – si PAGEREF _Toc59175052 \h 5

IV. Tham – sân – si được nuôi lớn như thế nào? PAGEREF _Toc59175053 \h 6

1. Tịnh tướng PAGEREF _Toc59175054 \h 6

2. Chướng ngại tướng PAGEREF _Toc59175055 \h 7

3. Làm biếng, uể oải, ăn no, buồn ngủ PAGEREF _Toc59175056 \h 9

4. Phi Như Lý Tác Ý PAGEREF _Toc59175057 \h 9

V. Nhiếp phục tham – sân – si PAGEREF _Toc59175058 \h 9

1. Bất tịnh tướng: PAGEREF _Toc59175059 \h 9

2. Từ tâm: PAGEREF _Toc59175060 \h 11

3. Tinh tấn, tinh cần PAGEREF _Toc59175061 \h 13

VI. Sự thù thắng lời dạy của Đức Thế Tôn PAGEREF _Toc59175062 \h 14

I. Sự nguy hại của tham – sân - si

Xuyên suốt trong kinh tạng Nikāya, Đức Phật cho chúng ta biết rằng từ cái tham, sân, si mà tất cả chúng sanh phải chịu sầu bi, khổ ưu não. Trong bài kinh Channa, Đức Phật nói rằng người có tham bị tham chinh phục, tâm mất tự chủ, nghĩ đến hại mình hại người, nghĩ đến hại cả hai. Cảm giác khổ ưu thuộc về tâm khi tham được đoạn tận, không nghĩ đến hại mình, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai thì không có cảm giác khổ ưu thuộc về tâm. Người bị tham chinh phục thì tâm mất tự chủ, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Không như thật biết rõ lợi mình, không như thật biết rõ lợi người, và không như thật biết rõ lợi cả hai.

Tham làm cho mình trở thành mù lòa, làm cho mình trở thành không mắt, làm cho mình trở thành không trí tuệ, đoạn diệt trí tuệ, dự phần phiền não, không đưa đến an lạc, không đưa đến Niết-bàn, đối với sân, đối với si cũng vậy. Cho nên Đức Phật dạy mình phải nhìn thấy tính chất nguy hại của tham, sân, si; mình phải nhìn thấy tính chất nguy hiểm và tác hại trong đó. Chúng ta quen ở trên miệng mình cứ nói tu là diệt tham, sân, si. Nhưng đó là trên lời nói, trên suy tưởng để mà thật sự thấy được tham, sân, si; thấy được tính chất nguy hại, hiểm họa, tàn hại, thấy được hậu quả thảm khốc của nó thì mình cần phải có một sự tu tập, quán chiếu một cách nghiêm túc, sâu sắc và thấu đáo.

Bây giờ ví dụ chúng ta đang rất khát nước mà có người bưng một ly nước cam mật ong để trước mặt mình mời mình uống. Sau đó nói cho mình biết rằng trong ly nước cam mật ong này có độc, mình uống không? Tại sao? Mình rất khát, rất muốn uống, nhưng mình biết có độc là tuyệt đối không uống, một chút xíu cũng không nếm. Đức Phật nói tham, sân, si mê là độc mà mình có hoàn toàn tuyệt đối từ bỏ nó không hay nuôi dưỡng nó. Một cơn giận nó nổi lên như vậy mình có thấy đây là độc tới rồi không, chất độc phát tác rồi không? Hay mình vẫn còn nuôi dưỡng cái giận đó?

Như vậy mình chưa thấy được sự nguy hiểm, tác hại, ác độc của tham, sân, si. Thành ra cái đầu tiên mình phải thấy được nguy hiểm, tác hại, hậu quả, sự đau khổ, tàn khốc khủng khiếp của tham, sân, si đưa lại. Sau đó mình mới có thể dứt khoát, tuyệt đối, nhiếp phục, rời xa, từ bỏ và chấm dứt một cách hoàn toàn, diệt tận. Bây giờ chúng ta nhìn thấy ngay trong thân tâm của mình, khi mình có tham muốn. Mà nếu như sự tham muốn bất chánh mình không kềm chế, không làm chủ thì sự ham muốn này sẽ dẫn đến cái gì? Đức Phật nói dẫn đến sự lấy của không cho, nói dối, sát sanh, hay tà hạnh trong các dục, tức tà dâm ngoại tình, đỗ vỡ gia đình.

Khi một cái tham muốn sanh khởi lên mà mình không nhiếp phục, không làm chủ nó sẽ đưa đến say sưa, nghiện ngập, thậm chí xì ke, ma túy, hủy hoại cả cuộc đời. Đức Phật nói không nhiếp phục tham thì nó đưa đến sân, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, say sưa, nghiện ngập, hủy hoại cả cuộc đời. Nếu như không nhiếp phục, không biết chế ngự cơn nóng giận thì cơn nóng giận này làm cho mình đau khổ, người đau khổ. Đức Phật nói tâm mất tự chủ, nghĩ đến hại mình hại người, hại cả hai, những cảm giác khổ ưu. Thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác không như thật biết rõ cái nào là lợi, cái nào là hại, một khi tâm sân hận sanh khởi lên thì lúc đó biết có thể cãi lộn, chửi lộn, đánh lộn. Thậm chí đi đến chỗ tù tội, giết người mà hằng ngày chúng ta nhìn thấy trên báo chí.

Đó là sự nguy hại của tham, sân, si. Mỗi một ngày bao nhiêu những tin tức trộm cướp, giết người, bao nhiêu những tin tức ghen tuông, đốt nhà, tạt axit, giật điện thoại kéo lê hàng 500m. Tất cả những điều đó có phải là sự nguy hại của tham, sân, si không? Có phải chính cái đó làm đau khổ mình, đau khổ người, đau khổ gia đình, làm cho xã hội bất an không? Đó là hậu quả, là nguy hại, tác hại, hiểm họa, tai nạn, khủng bố của tham, sân, si. Làm đau khổ cho mình, cho người, cho xã hội, cho toàn thể nhân loại.

Một cơn giận nổi lên là hậu quả của nó khôn lường, một ngọn lửa bừng bốc lên có thể thiêu hủy hết tất cả tình bạn, tình cảm, tình nghĩa, cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái. Một cơn giận nổi lên đổ nát, thiêu đốt, hủy hoại, tan nát hết tất cả. Nó có phải sự nguy hại, nguy hiểm không? Bây giờ một cái tâm si mê sanh khởi lên, mê muội, đam mê, si mê, say mê, ngu mê thì không bình tĩnh, sáng suốt, nói bậy, nghĩ bậy, làm bậy và cuối cùng hại mình, hại người, rất nhiều. Đức Phật nói rất nhiều.

Ngài nói: “Phải quán sát hậu quả của tham, sân, si; khi bị tham, sân, si chinh phục thì tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác làm những việc như vậy. Và như vậy, có làm cho người ấy bị bất hạnh, đau khổ lâu dài hay không”. Đức Phật nói tham, sân, si là đưa đến sự bất hạnh, đau khổ, mà đau khổ lâu dài. Không phải đau khổ trong đời này mà còn đau khổ trong nhiều kiếp sau khi nhắm mắt. Một người mà họ sân hận lên họ đánh lộn, chém lộn, đâm lộn nhau rồi đi tù tội thậm chí chung thân. Nhưng đâu phải xong kiếp này là rồi, sau khi nhắm mắt họ đi vào đọa xứ, ác thú khổ cảnh địa ngục.

Như vậy Đức Thế Tôn gọi là bất thiện, bất hạnh, đau khổ lâu dài. Chúng ta thấy không, cho nên đầu tiên Đức Phật dạy mình phải quán chiếu một cách thật sâu sắc, thật tận tường, tỉ mỉ tất cả mọi góc độ, khía cạnh tai hại, tai họa, thảm họa của tham, sân, si đưa đến cho chúng ta. Không thể xem thường, không thể xem qua loa, mà phải hết sức cẩn thận và kỹ lưỡng, hết sức dòm chừng, canh chừng, đề phòng, kiểm tra, Chánh Niệm, tỉnh giác, kiểm soát tâm tư của mình để chặn đứng, nhiếp phục, đoạn tận tham, sân, si.

II. Hang ổ - nơi cư ngụ của tham – sân - si

Nhưng chúng ta nói thì nghe dễ nhưng vấn đề thứ nhất, tham, sân, si ở đâu? Tại sao có tham, sân, si và làm thế nào để nhiếp phục, đoạn tận nó mới là chỗ mấu chốt trong sự tu tập. Đây là mấu chốt của sự tu tập. Tham, sân, si ở đâu? Tại sao có tham, sân, si? Bằng phương pháp nào, bằng cách nào để nhiếp phục tham, sân, si. Trong bài kinh Niết-bàn, Đức Phật nói: “Đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si đồng nghĩa với Niết-bàn giới”. Sự giứt sạch tham, giứt sạch sân, giứt sạch si đồng nghĩa chứng ngộ Niết-bàn. Nên đó không phải chuyện đơn giản cho mình nói rằng tham, sân, si con hiểu mà thầy, con biết quá mà thầy, con tu ai không biết tham, sân, si.

Nhưng để chính xác nhìn thấy được và biết được nguyên nhân sanh khởi, sự vận hành, hoạt động và con đường diệt tận, chấm dứt tham, sân, si là cả một Thánh trí tuệ mà mình cần thực tập, học hành, công phu một cách miên mật sâu sắc dài lâu. Không phải là chuyện đơn giản. Thứ nhất, tham, sân, si ở đâu? Trước khi nói tham, sân, si ở đâu chúng ta trả bài Định nghĩa ngũ uẩn số I “Thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức”.

Vấn đề ở đây, trong tinh thần kinh tạng Nikāya, Đức Phật dạy cho chúng ta, đầu tiên là phải nhận thức được chính mình, phải hiểu được bản thân mình, tự thân mình. Tự thân mình Đức Phật dạy gồm 5 tổ hợp – 5 uẩn: tổ hợp của sắc, của những cảm giác, hình bóng trong tâm, những suy nghĩa và những nhận thức rõ biế. Thân tâm này là 5 tổ hợp, tích tụ, tập hợp, tụ tập, gom nhóm, kết hợp lại mà thành. Và trong 5 tổ hợp này chúng ta nhìn thấy, thân xác này chỉ là Tứ đại: đất, nước, gió, lửa, là vô tri. Và tổ hợp gọi là những hình bóng trong tâm, tức là tưởng, những hình bóng đó trong tâm mình hiện lên lờ mờ. Sau đó có khi mình cũng quên. Những suy nghĩ phớt qua rồi đi qua, mình cũng không để ý, nhận thức không có hình tướng nào, sự rõ biết.

Chúng ta thường hay nghe ngoài đời nói câu này: có những con người mình đã từng quen, rồi mình cũng quên; có những sự việc mình từng trải qua rồi năm tháng cũng phôi pha; có những điều mình từng tiếp xúc, trải nghiệm rồi tất cả đều là dĩ vãng; nhưng có những cảm giác để lại trong lòng mình suốt đời không quên. Chúng ta hay nghe câu này phải không? Có những con người, có những sự việc, sự vật, những hoàn cảnh mình tiếp xúc, thấy nghe, năm tháng đi qua trở thành dĩ vãng phôi pha, quên lãng.

Nhưng có những cảm giác đi theo mình suốt cuộc đời, chỗ này nói lên điều gì? Khi mình có một cái tưởng, một hình bóng trong tâm người ta nhìn có biết không? Không biết. Khi mình đang suy nghĩ, người ta có đọc được suy nghĩ của mình không? Rồi thức là vô tướng, không có hình tướng, nhưng khi mình giận ai, thương ai người ta nhìn có biết không? Chỗ này là chỗ quan trọng. Cho nên phần sắc uẩn thuộc về vật chất thuần túy, phần tưởng những hình bóng trong tâm mình,những suy nghĩ và nhận thức nó thuần túy, thuộc về tâm, không có hình tướng để con mắt thường có thể nhìn thấy.

Nhưng đặc biệt, phần thọ uẩn – tổ hợp cảm giác này, cảm giác này biểu hiện, vừa thuộc về phần tâm nhưng biểu hiện trên thân. Từ từ chúng ta nắm thật vững chỗ này mình mới có thể biết được sào huyệt của tham, sân, si, hang ổ, căn cứ địa, chỗ phát nguyên, phát nguồn của tham, sân, si mình mới có thể nhiếp phục và đoạn tận nó. Mình không biết tham, sân, si ở đâu làm sao có thể diệt nó. Giờ ví dụ đi đòi tiền mà không biết người đó ở đâu, tên gì, mặt mũi ra sao, làm sao đi đòi tiền? Giờ nói đi đánh giặc mà không biết giặc chỗ nào, đóng quân ở đâu, đồn vinh, sào huyệt, căn cứ ở đâu thì làm sao mình đánh giặc, mà mình nói diệt giặc để thắng trận?

Như vậy, Đức Phật nói chúng ta “Tất cả pháp quy tụ, hội tụ ở nơi cảm giác, cảm thọ”. Đây chính là kho tàng của tâm thức, chính là chỗ vun chứa hết tất cả các pháp trong thân tâm mình. Cho nên Đức Phật nói “Tất cả pháp quy tụ, hội tụ ở nơi cảm giác, cảm thọ”. Và Đức Phật cho chúng ta biết rằng ở trong một cảm giác vui thích, thì có tham, dục, ở trong cảm giác khó chịu, bực bội thì nó có sân. Trong cảm giác đó có sân. Và ở trong cảm giác đơ đơ, không vui cũng không buồn, không dễ chịu cũng không khó chịu thì trong đó có si. Danh từ chuyên môn Đức Phật gọi là “Tham tùy miên” ở trong lạc thọ, “Sân tùy miên” ở trong khổ thọ, và “Si tùy miên” “Vô minh tùy miên” ở trong bất khổ bất lạc thọ.

III. Sự tu tập – nhiếp phục tham – sân – si

Cho nên sự tu tập của chúng ta để nhiếp phục tham, sân, si, hay để đạt đến cứu cánh phạm hạnh, mục đích của Phật phải đạt đến Niết-bàn giải thoát, tịch tịnh an lạc, lắng dịu hoàn toàn, dập tắt hết tất cả nhiệt não khổ đau là ở chỗ chúng ta phải thường xuyên nhìn nhận thân tâm mình. Và điểm quan trọng nhất là tu tập quán chiếu cảm thọ, làm chủ cảm giác, soi rọi cảm xúc. Cho nên đầu tiên trong sự tu tập này về phần quán cảm giác, cảm thọ; thứ nhất chúng ta phải biết cảm thọ là cảm thọ, không đồng hóa cảm thọ là mình.

Đây là bước thứ nhất: nhận diện cảm giác toàn thân. Nên sự tu học của chúng ta, phương pháp cảm giác toàn thân là phải luôn để ý coi trong thân mình hiện tại có cảm giác gì, phải biết nó đang cảm giác gì. Bước thứ nhất của chúng ta là mình nhận diện cảm thọ, cảm giác thì mình không để cho cảm thọ, cảm giác đồng hóa mình là cảm thọ đó. Khi mình biết rằng tôi đang có một cảm giác, cảm giác này chỉ là thọ uẩn thôi, khi biết như vậy là mình đã tách bản thân ra cảm thọ. Còn lúc trước là: tôi đang giận, đang bực lắm, đang sân hận, đừng có chọc tôi. Lúc đó mình nhập với cảm thọ là một, mình nhận cảm thọ đó là mình.

Cho nên bước thứ nhất trong sự tu tập, đầu tiên chúng ta phải nhận diện được cảm thọ, tức biết cảm giác là cảm giác, cảm giác không phải là “Tôi”, là “Của tôi”. Cảm giác chỉ là một trong 5 tổ hợp hình thành thân ngũ uẩn này. Nên bước thứ nhất là nhận diện cảm giác là cảm giác. Bước thứ hai là phân loại cảm giác. Đức Phật dạy mình có mấy loại cảm giác? Có 3 loại cảm giác: cảm giác dễ chịu, khó chịu và không dễ chịu không khó chịu, đó là bước thứ hai. Bước thứ nhất là nhận diện cảm giác, không để mình bị cảm giác đồng hóa. Khi mình nhận diện đây là cảm giác, cảm thọ thì mình đã có một trí nhìn tách mình ra khỏi cảm giác, mình là riêng, cảm giác là riêng. Đó là bước thứ nhất nhận diện cảm giác, bước thứ hai: phân loại cảm giác. Ba loại cảm giác: cảm giác dễ chịu, khó chịu và không dễ chịu không khó chịu mình phải phân loại và hiện tại lúc đó mình đang ở loại cảm giác nào.

Bước thứ ba là sau khi mình đã phân loại rồi thì coi bên trong cảm giác có cái gì. Nếu cảm giác dễ chịu sẽ có tham, cảm giác khó chịu có sân, cảm giác không dễ chịu không khó chịu thì có si. Mình có tất cả 3 loại cảm giác thôi mà loại nào cũng dính tham, sân, si, nếu mình không nhận diện, không nhìn ngó, không xem xét, quán chiếu, để tâm, Chánh Niệm tỉnh giác thì mỗi một ngày như vậy mình sống với tham, sân, si bao nhiêu tiếng đồng hồ? Vậy mà tưởng đâu tu giỏi lắm phải không? Thấy chưa? Lúc nào cũng dính chấu hết, mà toàn trúng độc. Thấy cảm giác dễ chịu là mê, tham, khoái, thích; cảm giác khó chịu thì bực, sân, bứt rứt; rồi cảm giác đơ đơ, vô minh, tùy miên đi theo, miên man miên man.

Cho nên bước thứ ba là sau khi phân loại các cảm giác mình phải coi trong cảm giác có cái gì. Đó là chúng ta đã qua phần tham, sân, si ở đâu rồi, quý vị thấy rõ chưa? Tham, sân, si ở trong cảm thọ và cảm giác. Phải thường thường để ý coi 1 cảm thọ khó chịu khởi lên phải thấy liền nó là sân, coi chừng nó đốt, cháy nhà, cháy chùa… rồi thấy 1 cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú là tham, tham dục, ái. Nó nhận chìm, hồi nãy chết cháy, bây giờ chết chìm. Khi cảm giác sân sanh khởi lên, mình phải quán chiếu đây là lửa, sắp sửa cháy nhà, sắp sửa cháy chùa, cần phải dập tắt ngay lập tức, diệt tận nó và cách diệt một hồi mình sẽ học.

Khi cảm giác si, đơ đơ, đờ đờ, ngơ ngơ, ngáo ngáo, mình phải biết rằng mình đang ở trong bóng đêm, trong đêm dài, trong bóng tối. Mình phải lập tức làm sao để thoát ra khỏi đó. Đây là 3 thứ chất độc, 3 thứ độc hại nhất trên cuộc đời này, tàn hại, tàn phá thân tâm mình, hữu tình, làm đau khổ cho tất cả chúng sanh.

IV. Tham – sân – si được nuôi lớn như thế nào?

1. Tịnh tướng

Vậy chúng ta qua bước: tham, sân, si ở đâu? Bây giờ tại sao có tham, sân, si? Câu hỏi đố luôn những người đã tu học lâu. Biết tham, sân, si ở trong cảm giác, cảm thọ rồi, vậy tại sao có tham, sân, si? Đây là chỗ quan trọng, không học những lời dạy gốc của Đức Phật là mình không nhìn thấy được. Đức Phật nói rằng tham, sân, si có thức ăn, mình cho nó ăn thì nó lớn mạnh, Ngài nói rằng tại sao tham chưa sanh được sanh khởi, mà tham đã sanh được tăng trưởng, phát triển, quảng đại. Tại sao? Danh từ chuyên môn là “Tịnh tướng”, nói nghĩa bây giờ tức là đẹp đẽ, sạch sẽ, hấp dẫn. Vì ở trong tâm, mình có cái đó là đẹp, sạch sẽ, hấp dẫn, nó là thức ăn cho tham. Có cái gì quý vị thích nó, ham nó, mê nó mà thấy nó ghê không? Có không? Hay thấy nó đẹp mình mới thích, phải không? Mình thấy nó đẹp, nó sạch, nó quý, nó hấp dẫn, đáng yêu, dễ thương thì mình mới tham.

Như vậy Đức Phật nói rằng thức ăn cho tham, sở dĩ tham chưa sanh mà nó sanh khởi là do mình thấy nó đẹp. Sở dĩ tham đã sanh khởi mà nó phát triển, tăng trưởng, quảng đại, bành trướng, xâm chiếm, áp đảo, chinh phục toàn bộ thân tâm của mình là bởi vì mình thấy nó đẹp đẽ, sạch sẽ, hấp dẫn, đáng yêu, khả ái, ưa thích. Đây là thức ăn cho tham. Nào giờ có cho nó ăn không? Có không? Đó thấy chưa?

Chỗ này hết sức sâu sắc, nếu mình không phải nghe những lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác làm sao mình biết? Tưởng đâu mình đang nhiếp phục tam, ly tham, ai dè đâu mình cho tham ăn, có cho nó ăn không? Nó có mập lên không? Nó có lớn lên không? Mà cái tham mập lên, lớn lên, tăng trưởng, phát triển cái tham này lên thì khổ hay vui? Bất hạnh hay hạnh phúc? Thấy không? Tại mình cho nó ăn.

2. Chướng ngại tướng

Bây giờ, tại sao sân chưa sanh là sanh khởi? Mà sân đã sanh thì tăng trưởng, phát triển quảng đại, tại sao? Rành thiên địa vạn vật, rành đông tây kim cổ, quả đất rành hết trơn hơn 200 nước, bây giờ hỏi thứ làm cho mình khổ mà mình không biết ất giáp mô tê gì. Thấy chưa? Giỏi chuyện thiên hạ, còn chuyện mình thì ngơ ngơ, phải không? Đức Phật gọi mình là [01:29:20], “Chuyện nhà người ta thì sáng, chuyện nhà mình thì quáng”, mà quán chiếu thì đỡ, còn đằng này là quáng gà. Không chịu quán chiếu, quán xét, quán sát tư duy xem tại sao những thứ này làm cho mình khổ?

Tại sao sân chưa sanh, sự nóng giận chưa sanh thì bây giờ nó sanh? Mà sự nóng giận này nó sanh đã tăng trưởng, phát triển, quảng đại, bành trướng, áp đảo, xâm chiếm, nó lật đổ mình, làm cho mình đau khổ thêm. Tại sao giận 3 tháng rồi chưa hết giận? Mà 3 năm, 10 năm, mười mấy năm vẫn chưa hết giận? Đức Phật nói cho mình biết là gì? Muốn nghe không? Muốn biết không? Muốn nhiều không? Đó là chướng ngại tướng, hay nói tiếng Việt là chướng tai gai mắt, đồ chướng tai gai mắt, nhìn tướng đi bắt ghét, nghe giọng nói cũng bắt ghét, làm cái gì nhìn thấy cũng bắt ghét. Nó khó chịu, bứt rứt, bực bội, nhìn mặt là không ưa rồi. Hai người ở chung phòng mà về nhìn chỗ khác chứ không nhìn mặt.

Đó là chướng ngại tướng, tức mình cho rằng, đối tượng đó chướng tai gai mắt – thức ăn của sân, thức ăn của sự nóng giận, sân hận, của sự thiêu đốt, đốt cháy, hủy hoại, hủy diệt. Bởi vì cứ nuôi cho nó ăn hoài, cứ thấy là chướng tai, gai mắt, rồi chất chứa những cảm thọ đó, những cảm giác bực bội đó, khó chịu đó, cứ chất cho tới một ngày nó chất không nổi nó bung ra, nó tạo lấy nghiệp, nó chịu lấy quả báo đau khổ lâu dài.

Chúng ta thấy không? Chúng ta đáng thương lắm, là những nạn nhân của tham, sân, si mà không hề hay biết. Chúng ta bị tham, sân, si làm hại, hãm hại, hạ độc, chuốc độc, đầu độc, độc hại. Tại sao chúng ta không biết nuôi dưỡng các cảm thọ nhẹ nhàng, ngọt ngào, an tịnh, lắng dịu, mát mẻ, thanh lương. Và tự chúng ta lại làm cho cảm thọ của mình bực bội, bứt rứt, gay gắt, gắt gao, đau khổ. Chúng ta không biết thương mình, mình không biết tu thật sự là không biết thương mình chút nào hết.

Kẻ thù hại kẻ thù,

Oan gia hại oan gia

Không bằng tâm hướng tà

Gây ác cho tự thân

Bài kệ số 42 – Kinh Pháp Cú

Kẻ thù và oan gia vẫn không phải là người làm đau khổ cho mình thật sự. Cái làm đau khổ cho mình thật sự chính là chất chứa những cảm giác thiêu đốt, tham dục, khao khát, si mê và điên đảo. Chúng ta tự hủy hoại chính mình bằng những cảm giác của si mê, của vô minh, sân hận, của bản ngã, của lòng tham bất chánh, ác tham, nhận chìm hết, thiêu đốt, cháy hết, làm cho lạc hướng hết, mê lộ, trường dạ của vô minh, bóng đêm, của si ái.

Đáng thương cho chúng ta, tai họa cho chúng ta, hiệp nạn, khổ não cho chúng ta là sự không nhìn thấy các cảm thọ, cảm xúc, cảm giác, sự không Chánh Niệm, không dòm ngó, không quán chiếu, không quán xét, không tu tập, không hóa giải, tẩy sạch. Và chúng ta tự mình chồng chất những gánh nặng, những khổ đau, những sầu bi ưu não, và cứ thế chồng chất theo năm tháng. Và trong lòng mình, trên vai mình là một gánh quằng xuống, trì xuống, đè xuống. Rồi chúng ta có khi dường như muốn sụm xuống, đổ xuống bởi những cái tham, sân, si, những cảm thọ, cảm xúc, cảm giác này. Đó, Đức Phật phơi bày những gì bị che kín ở đó.

3. Làm biếng, uể oải, ăn no, buồn ngủ

Bây giờ tại sao si mê chưa sanh mà nó sanh? Si mê đã sanh mà nó tăng trưởng, phát triển, quảng đại, bao trùm hết cả thân tâm của mình là tại sao? Đức Phật dạy mình: làm biếng, uể oải, rã rượi, ăn no, buồn ngủ là thức ăn cho si. Chúng ta thấy không, còn chỗ nào mà Đức Thế Tôn không phơi bày, không chỉ rõ cho chúng ta mà chúng ta nghe rồi không chịu làm? Nghe xong rồi bỏ quên, ăn cứ việc cho nó ăn, ngủ cứ việc cho nó ngủ, nó rã rượi là xuôi tay xuống, thấy chưa? Phải không? Đó là thức ăn cho si, thức ăn cho vô minh.

4. Phi Như Lý Tác Ý

Tất cả 3 cái này cộng với phi Như Lý Tác Ý, phi Như Lý Tác Ý là sự suy nghĩ không đúng chân lý, rồi sanh ra tham, sân, si. Tức mình suy nghĩ mình là đẹp, mà sau đó đẹp không xong, thêm cái này cái nọ, thêm thắt đủ thứ, dặm mắm thêm muối, trên gấm thêm hoa vô, rồi cái tham tăng trưởng thêm là phi Như Lý Tác Ý. Tức là một sự suy nghĩ không đúng chân lý, bất tịnh, mà mình nghĩ nó là đúng, thật ra nó là dơ.

V. Nhiếp phục tham – sân – si

1. Bất tịnh tướng:

Bây giờ mình qua vấn đề phương pháp để nhiếp phục tham, sân, si. Làm sao để nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si, đây là phần hết sức quan trọng. Suy nghĩ của chúng ta trật lất, cái nhìn nhận của chúng ta sai lầm nên Đức Thế Tôn gọi là đảo kiến – cái nhìn điên đảo. Tri kiến điên đảo là cái nhìn lộn lạo, sai lầm, “Tứ đảo” – bốn cái nhìn đảo lộn đưa đến khổ đau, sầu bi, ưu não, đưa đến nước mắt, đưa đến sự già, bệnh, chết chóc và diệt vong. Bốc lên những ngọn lửa tham dục, nóng giận, si mê, bản ngã, đấu tranh, cạnh tranh, chiến tranh, giết hại lẫn nhau, ganh tị, tật đố, hơn thua. Tất cả là từ sự thấy biết sai lầm, tứ đảo – bốn cái nhìn lộn lạo. Bất tịnh – mình cho là tịnh.

Bây giờ muốn phá cái tham, Đức Phật dạy mình:

“Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, dẫn đến dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này các Tỷ-kheo, như tịnh tướng. Tịnh tướng, này các Tỷ-kheo, nếu không như lý tác ý, đưa đến dục tham chưa sanh được sanh khởi, và dục tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại”.

(Bài kinh Tịnh Tướng – II Phẩm Đoạn Triền Cái – Chương Một Pháp –Kinh Tăng Chi Bộ - Tập 1)

Hồi nãy là tịnh tướng nên thức ăn cho tham, bây giờ bất tịnh tướng là bỏ đói nó, không tưới nữa, để cho nó chết khô? Dám cho cây khô đó chết không? Dám hay không? Bây giờ sử dụng bất tịnh, phải tập nhìn, tập quán chiếu. Mời sư cô Hạnh Đức đọc bài kinh “Ung Nhọt” cho đại chúng nghe, tập nhìn, tập quán chiếu cho chúng ta thấy sự thật. Chúng ta nghe Đức Phật dạy phương pháp cho mình quán chiếu, phá trừ quan điểm sạch sẽ,đẹp đẽ, đam mê, tham đắm của mình.

Sư cô Hạnh Đức: Dạ. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin được đọc kinh “Ung nhọt”:

“Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trãi nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy”.

Ung nhọt, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này”.

Bài kinh Một Ung Nhọt – II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Chương Chín

Pháp – Kinh Tăng Chi Bộ Tập 4

Đó là phương pháp Đức Phật dạy chúng ta nhiếp phục lòng tham dục này Phật ví dụ là một ung nhọt 9 lỗ chảy ra những gì? Ghèn, cứt mũi, cứt ráy, nước miếng, mồ hôi, nước tiểu và phân. Bất cứ cái gì chảy ra là những thứ không sạch sẽ, những thứ đáng gờm, đáng chán, gớm ghiếc mà chính tự thân mình chảy ra mình cũng gớm ghiếc, cũng thấy dơ bẩn, nhàm chán. Chính sự nhìn, để tâm, để ý vào, sự nhìn ngó vào bản chất, bản tánh của thân này để chúng ta mới có thể xóa đi, làm tan đi, phá sập đi một cái nhìn lệch lạc, sai lầm, đảo lộn cho là sạch đẹp của tịnh tướng.

Và sự tu tập này phải thường xuyên, liên tục, hằng ngày hằng giờ nhìn cho kỹ những gì bài tiết, đào thải ra. Mùi hôi, chất dơ của nó, nhìn sâu vô trong. Bài kinh Tứ Niệm Xứ dạy chúng ta phần quán thân: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, bao tử, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, tim, gan, tỳ, phế, thận, máu, mủ, mỡ, mồ hôi, nước miếng, phân và nước tiểu. Phải nhìn một cách sâu sắc, phải nhìn bằng cặp mắt của trí tuệ, nhìn bằng trí tuệ của Đức Phật đã truyền trao, cái nhìn này mới có thể phá vỡ được cái nhìn của si mê, điên đảo, vô minh, tham ái.

Cái nhìn này mới có thể nhiếp phục được lòng dục, lòng tham, lòng ái, nhiếp phục được lòng khao khát, thèm thuồng, ưa muốn, lòng trói trăng ràng buộc. Thân này là thiếu thốn, khát khao, là nô lệ cho tham ái, nếu không thực tập cái nhìn quán chiếu này, chúng ta sẽ mãi mãi và vĩnh viễn không bao giờ ra khỏi lòng tham dục, đau khổ, khao khát này đâu. Hãy thường nhớ hình ảnh của bộ xương – hình ảnh mà mình đi chụp X-Quang, hãy thường nhớ đống tro cốt sau khi từ lò thiêu đem ra, bước vào chùa hãy đi vào nhà thờ linh cốt để nhìn thấy kết cuộc của kiếp người, chung cuộc của nhân sinh là như vậy. Nhả ra, mở ra, tháo ra, buông xuống lòng dục, lòng tham, lòng ái thì chúng ta mới có thể bớt được đau khổ, bớt được tham muốn, bớt tạo những ác nghiệp, những hắc nghiệp, những khổ nghiệp, khổ quả.

Chúng ta đã có những đề tài quán Chín Giai Đoạn Một Tử Thi, Quán Tứ Đại, chúng ta về xem thêm những phần đó, nó bổ túc cho phần nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham.

2. Từ tâm:

Bây giờ tới cái sân, làm sao để nhiếp phục? Thức ăn cho sân là chướng ngại tướng – chướng tai gai mắt, phải đoạn diệt sân. “Này, các Tỳ-kheo, làm sao để sân chưa sanh không sanh khởi, sân đã sanh đưa đến tổn giảm, đưa đến chấm dứt, diệt tận”? Từ tâm giải thoát, sự tháo gỡ, sự cởi mở cái nhìn chướng tai gai mắt đó được tháo ra, mở ra, cởi ra, cắt đứt, gọi là giải thoát, cắt đứt nó bằng một tình thương.

Và chúng ta nhớ rằng thương mình trước rồi mới thương người sau, thương mình như thế nào. Chính những cảm giác sân hận, bực bội, bứt rứt, nhiệt não, thiêu đốt này đốt cháy ta, đã thiêu đốt ta, đã bứt não ta, đã nhiệt não ta, não hại ta, ta đã đau khổ bao nhiêu lần với những cảm giác này rồi, ta đã nóng bức mấy ngàn vạn lần với những cảm giác sân hận này rồi. Ta đã bị thiêu cháy, đốt cháy vô lượng vô biên kiếp trong những cảm giác sân hận này rồi. Thật sự đau khổ cho ta, thương xót cho ta, tội nghiệp cho ta. Ta bị lòng sân này hãm hại, độc hại, sát hại, mưu hại, não hại. Và ta là kẻ bị hại. Thật đáng thương cho ta!

Ta là kẻ đáng thương nhất trên đời này vì ta đã đau khổ vô cùng tận với những cảm giác sân hận này. Từ nay con nguyện sẽ không tự làm khổ mình bằng những cảm giác thiêu đốt này nữa. Con nguyện sẽ tập sự an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào trong cảm giác này. Chúng ta để tay lên cùng nhau thực tập: An tịnh nè, lắng dịu nè, dễ chịu nè, dễ thương nè, ngọt ngào nè.

Ta tập chăm sóc cảm thọ trong ta, tập nuôi dưỡng những cảm thọ lắng dịu và dễ chịu trong ta. Ta tập tưới tẩm những cảm giác hiền thiện, ngọt ngào, cảm thông và tha thứ trong ta. Ta tập khơi mở, khơi dậy tình thương trong ta. Ta khơi dậy trong ta tình thương và sự cảm thông, một tình thương dào dạt cho tự thân mình, ta khơi dậy trong ta sự cảm thông, sự thấu hiểu, sự xót thương của từ bi. Ta thương cho thân phận bọt bèo này, thân phận vô thường, tạm bợ, nhỏ bé mà đầy dãy tham, sân, si, vô minh và bản ngã này. Ta thương, ta khơi dậy một niềm thương, một sự cảm thông và sự thấu hiểu. Tình thương này của chúng ta lan tỏa từng tế bào từ đỉnh đầu cho tới gót chân thấm nhuần, thấm đượm trọn vẹn một cảm thọ của từ tâm, của bi mẫn, của xót thương, của cảm thông.

Tình thương này sẽ lan tỏa và bao trùm lấy đối tượng mà ta sân hận. Họ cũng là nạn nhân của sân hận, giống như ta cũng là nạn nhân của lòng sân. Ta lan tỏa một cảm giác từ tâm, thấu hiểu và cảm thông đến người đã làm ta đau khổ và ta cũng làm họ khổ đau. Ta không muốn chúng ta tiếp tục chế tác ra đau khổ nữa, hãy cùng nhau chế tác ra tình thương, niềm cảm thông tha thứ, từ tâm. Giống như khi ta cầm một tấm vải trắng thật đẹp, một tấm lụa trắng thật tuyệt vời, mềm dịu. Ta sẽ cầm tấm vải trắng đó phủ lên toàn thân của người kia. Cũng vậy, lòng từ của ta bao bọc, bao phủ, bao trùm người mà ta đang sân hận.

Ta hoàn toàn triệt phá suy nghĩ chướng ngại tướng mà ta thấy thuần là một sự thương yêu, từ tâm, lan tỏa. đó chính là phương pháp nhiếp phục và diệt tận sân hận. Quý vị thấy, Đức Phật dạy chúng ta tuyệt vời, tuyệt diệu, chúng ta phải thực tập thường xuyên và liên tục. Phải thực tập sâu rộng, tu tập tâm từ này thành cỗ xe, thành căn cứ địa, thành thành quách kiên trú, vững chắc, kiên định, thành tường đồng vách sắt trong tâm chúng ta. Là một từ tâm vững chắc, vững chai, vững mạnh, mạnh mẽ, rộng lớn bao la và thênh thang.

Chúng ta về mở ra thực tập Từ tâm vô lượng, Tình thương rộng lớn trên trang web Linhquyphapan.vn. Chúng ta hằng ngày trải tâm từ, mở lòng từ, chắc chắn chúng ta sẽ đi đến sự nhiếp phục và đoạn tận sân hận.

3. Tinh tấn, tinh cần

Si mê thì Đức Phật dạy mình nhiếp phục, đoạn tận như thế nào? Tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, trí tuệ. Đức Phật dạy mình phát khởi một ước muốn mạnh mẽ, sắc bén, nỗ lực, tinh tấn, tinh cần, dõng mãnh, phá tan, phá sập, phá vỡ cảm giác đơ đơ, lờ mờ, buồn ngủ. Phá, tác ý, tác động tâm ý của mình thoát ra khỏi cảm thọ đó, bước ra.

Chúng ta thấy cảm giác si này nằm ở đâu? Thường là ở đâu? Con mắt mình nhìn dễ thấy không? Nó trú ẩn trên mắt, trên đầu. Cảm giác sân này nằm ở đâu? Trong lòng ngực, từ chỗ này bốc lên. Còn cảm giác dục thì từ chỗ phát dục. Đức Phật chỉ rất rõ ràng từng chỗ nơi của tham, sân, si. Mình cứ hướng tâm về chỗ nào ngay cảm thọ đang sanh khởi, hướng tâm về đó, tác ý chỗ đó thì nó sẽ lập tức lắng dịu, an tịnh. Nó đang sân hận, nóng ở chỗ này, thôi nguội xuống đi, mát đi, muốn đốt nhà hả, ưa thích đốt lắm phải không? Thích thiêu, thích cháy lắm phải không? Thích hủy diệt lắm phải không?

Mình tác ý như vậy, rồi tác ý tâm từ, làm cho mình thấy rõ ràng, lắng dịu xuống, an tịnh xuống như mình uống viên sủi mà mình để vô nó tan ra dần, lắng dịu xuống. Mát mẻ quá, ngọt ngào quá, dễ chịu quá. Chịu dễ chịu hay chịu khó chịu? Mình thấy trong này tan ra, mát ra. Mình đánh tan cảm giác si thì 2 mắt mình long lanh, giống như ngôi sao, sáng lên. Còn không nó sụp xuống, nhướng nhướng lên, mình tác ý xong 2 mắt mình long lanh, sáng quắc lên thấy không? Nhìn thấy tượng thờ ngoài nhà tổ không? Mắt trợn lên thấy chưa?

Khi mình bị si mê, buồn ngủ, bị vô minh tới tấn công mình là phải trợn 2 mắt tác ý ra, trợn ra, quán tưởng về ánh sáng, thoát khỏi một ước muốn sắc bén, tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh, khai triển sức mạnh trong ta, trí huệ trong ta, mở rộng tầm nhìn hết mức ra 2 bên. Tầm nhìn rộng mở cùng khắp, phóng tầm nhìn ra, tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, trí tuệ, tác ý, phát triển. Lúc đó thấy 2 mắt mình long lanh, chớp chớp giống như Tôn Ngộ Không, lò bát quái nhảy ra chớp tới đâu xẹt tới đó. Thấy không, thấy Tôn Ngộ Không xẹt không? Con mắt lửa tròng vàng, khi si tấn công là phải tác ý như vậy, trợn lên, mắt sáng quắc lên, chiếu long lanh lên thành mắt lửa tròng vàng.

Như vậy mình thấy rõ ràng, dục tham cũng vậy, mình tác ý lắng dịu, an tịnh, đừng quậy nữa, đừng làm cho ta khổ đau nữa. Tối ngày thúc giục, khao khát, tìm tòi, chạy tìm, ta khổ với mi đủ rồi. Già cúp bình thiếc rồi còn dục gì nữa mà dục, còn dục hòm với dục mộ thôi chứ dục gì nữa. Mình tác ý để mình nhiếp phục, đoạn tận, đánh gục. Quý vị thấy không, Đức Phật dạy mình rất rõ ràng, từ già đến trẻ đều tu được hết. Trẻ càng phải tu, trẻ mà không biết tu thì nó quậy mình cũng khổ đó, bây giờ bao nhiêu những trường hợp mình thấy không? Báo chí đăng đó, lòng tham dục này làm cho người ta khổ. Tù tội, hãm hại, nhà tan cửa nát, sụp đổ hết toàn bộ những gì mình gầy dựng suốt cuộc đời. Lòng tham dục, lòng sân hận, lòng si mê.

VI. Sự thù thắng lời dạy của Đức Thế Tôn

Cho nên chúng ta thấy Đức Phật dạy mình rất đầy đủ: tham, sân, si ở đâu? Ở trong cảm giác. Tại sao tham, sân, si có và nó sanh khởi? Vì mình cho nó ăn, thấy nó đẹp đẽ thì mình cho cái tham ăn, thấy nó chướng tai gai mắt thì mình cho cái sân ăn. Mình buông xuôi, ăn cho no, làm biếng, uể oải, buồn ngủ, là mình cho thức ăn cho si. Bây giờ mình muốn diệt nó, làm sao, diệt cái tham thì quán chiếu tính chất không sạch sẽ, bất tịnh, vô thường, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt. Giờ làm sao trị cái si? Từ tâm giải thoát một sự tháo gỡ, cởi mở, thoát ra bằng một lòng thương mình và thương người. Một cảm giác từ tâm lan tỏa ngọt ngào, sâu lắng và mát mẻ, thay thế cho một cảm giác thiêu đốt, nóng bức, nhiệt não đó, khỏe không, an lạc không, hạnh phúc không?

Cho nên Đức Phật nói, khi có tham có sân có si là bất hạnh, là khổ đau lâu dài. Khi nhiếp phục đoạn tận được tham, sân, si là hạnh phúc, là an lạc dài lâu. Chịu cái nào? Hạnh phúc hay bất hạnh? Chịu hạnh phúc thì phải để ý vô cảm giác, quán chiếu 3 cảm thọ: dễ chịu – tham, khó chịu – sân, không dễ chịu không khó chịu – si. Phải trị nó bằng sự tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, trí tuệ. Như vậy, chúng ta thấy rõ được phương pháp nhiếp phục tham, sân, si, thấy rõ tham, sân, si ở đâu, tại sao có tham, sân, si, phương pháp nhiếp phục tham, sân, si. Và cuối cùng để chúng ta thấy được Phật pháp là thiết thực, hiện tại.

Quý vị thấy không, nãy giờ nói hết sức khoa học, thực tế, rõ ràng, cụ thể. Chỉ ra được tham, sân, si ở đâu; tại sao nó sanh khởi và làm sao để nhiếp phục, hóa giải đoạn tận nó. Cho nên trong bài kinh “Niết-bàn” Đức Phật nói rất rõ, ông Bà-la-môn tới hỏi Đức Phật: thiết thực hiện tại là Niết-bàn, như vậy thì ý nghĩa nó như thế nào. Đức Phật trả lời, bị tham ái làm say đắm, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm cho nên suy nghĩ hại mình, hại người, suy nghĩ đến hại cả hai. Bị sân, bị si cũng vậy, nó say đắm, thiêu đốt, nhận chìm, làm đau khổ như vậy. Bây giờ khi đã không còn tham, sân, si nữa thì sao?

Đức Phật nói là sự bình an, sự an lạc, sự hạnh phúc thiết thực hiện tại ngay trong thực tế, không đợi trải qua bao nhiêu thời gian hết, có hiệu quả tức thời, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Tham, sân, si là tự mình nuôi nó, làm cho sanh khởi, nó xâm chiếm, áp đảo, lật đổ mình, nó hãm hại mình. Bây giờ tự mình nhìn thấy nó làm cho mình khổ, mình nhiếp phục, đoạn tận, đánh gục, phá sập, phá tan, phá vỡ, diệt tận nó thì đạt đến hạnh phúc, bình an. Không có bất cứ một cái gì là xa xôi, là viễn vông, rõ ràng ngay nơi thân tâm của mình.

Đức Phật nói 4 lợi ích của người thực tập theo phương pháp Ngài dạy. Thứ nhất: nếu như có đời sau, nếu có kết quả dị thục của các nghiệp thiện, ác, sau khi thân hoại mạng chung ta sẽ sanh lên cõi thiện, cõi trời, cõi đời này. Cái thứ hai là hiện tại ta sống với cái tâm không oán không sân, không phiền não được an lạc. Cái thứ ba, nếu việc ác có làm nhưng ta không có tâm ác đối với ai cả và nếu ta không làm điều ác, sau ta có thể cảm thọ khổ đau được. Tức là ngay hiện tại, thuần là những cảm giác an lạc. Và cuối cùng, nếu việc ác không làm, như vậy, cả hai phương diện do ta làm vô ý hay cố ý, quán thấy ta hoàn toàn thanh tịnh. Đây là an ủi thứ 4 của vị ấy có được.

Như vậy ở đây, Đức Phật nói, thứ nhất người tu tập, nhiếp phục, đoạn tận tham, sân, si nói chung cho dễ hiểu trong tiếng Việt chúng ta là người này không gây tạo nghiệp ác. Người này luôn được cảm thọ an lạc, hỷ lạc, hạnh phúc. Và người này được một đời sống thanh tịnh, trong sạch, và sau khi chết sẽ sanh những cõi lành, cõi trời, cõi người. Hoặc là thành tựu Niết-bàn tối thượng, cứu cánh của an lạc.Vậy chúng ta có quyết liệt, mạnh mẽ, nỗ lực quay lại thân tâm của mình để nhiếp phục tham, sân, si và thành tựu an lạc, hạnh phúc tối thượng không? Quyết tâm không? Lành thay!