Kinh Nikāya Giảng Giải - 6 Pháp Hoà Kính 1 - Kinh KOSAMBIYA
Kinh Nikāya Giảng Giải
6 Pháp Hoà Kính 1
Kinh Kosambiya
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Pháp hòa kính PAGEREF _Toc158990541 \h 1
II. Trình pháp PAGEREF _Toc158990542 \h 10
Sư thầy 1 PAGEREF _Toc158990543 \h 10
Sư cô 1 PAGEREF _Toc158990544 \h 11
Giới tử 1 PAGEREF _Toc158990545 \h 12
Giới tử 2 PAGEREF _Toc158990546 \h 12
Chú Phật tử PAGEREF _Toc158990547 \h 13
Phật tử Bảo Lưu PAGEREF _Toc158990548 \h 14
Sư thầy 1 PAGEREF _Toc158990549 \h 14
I. Pháp hòa kính
Sư Phụ: Cảm nhận cơ thể, cảm nhận không gian nơi này, cảm nhận những giọt mưa rơi mát mẻ thanh lương, dễ chịu và thật lắng dịu. Chúng ta hãy quán chiếu đây là cam lộ pháp vũ, những giọt mưa pháp, chúng ta đang được thấm nhuần những giọt mưa của Thánh pháp, của Thánh trí tuệ mà chư thiên ở vùng đất này đang hoan hỉ, đang vui mừng, đang hân hoan vì sự tu học chánh pháp của chúng ta. Trời đất này, không gian này đang hòa quyện, đang thấm đẫm, thấm đượm, đang dạt dào hỷ lạc sung mãn, thanh lương và tươi mát, cảm nhận không gian thật rộng lớn trước mặt, cả bầu trời này, cả trời đất này, giây phút huyền nhiệm này, giây phút linh thiêng này, giây phút tuyệt diệu, thiêng liêng này thật dễ chịu làm sao, thật mát dịu làm sao, thật là thanh tịnh, tịnh lạc, thật là an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Ngọt ngào là những dòng cam lộ pháp vũ này, tươi mát là Thánh pháp này, thanh lương là diệu pháp này, sự an tịnh, sự thanh tịnh, sự tịnh lạc chính là chánh pháp tối thượng này.
Chúng ta hãy cảm nhận thật sâu sắc không gian trước mặt, vùng đất này, trời đất rộng lớn này, bầu trời của ngọn núi linh thiêng này. Tất cả chư thiên, chư thần đều đang hoan hỉ, đang hân hoan, đang phấn khởi cùng chung với chúng ta, chuẩn bị đón nghe Thánh trí tuệ tối thượng của bậc đại giác Thế Tôn. Muôn vật xung quanh đây trong giờ phút này như đang hò reo, đang hân hoan, đang phấn khởi vì sự thanh tịnh, tịnh lạc của chúng ta, sự bình an của chúng ta, sự lắng dịu, thanh tịnh, nhiệm màu của chúng ta. Sự thanh tịnh hiếm có này, hy hữu trong thế giới ngày nay chính là giây phút huyền nhiệm ngay bây giờ.
Hôm nay chúng ta sẽ nghe một bài kinh rất đặc biệt, trong này Đức Thế Tôn chỉ dạy cho chúng ta bí quyết hạnh phúc trong Tăng đoàn, Đức Thế Tôn chỉ cho chúng ta chế tác ra được sự tịnh lạc, sự an bình, sự hạnh phúc nhiệm màu trong tập thể, trong chúng hội, trong Tăng đoàn, đó là bài kinh số 48 trong Trung Bộ Kinh, tập I, kinh Kosambiya.
"Một thời Thế Tôn ở Kosambi, tại tịnh xá Ghosita. Lúc bấy giờ, các Tỳ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Họ không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm; họ không tự hòa giải, không chấp nhận hòa giải.
Rồi một Tỳ-kheo đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên. Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, các Tỳ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Họ không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm; họ không tự hòa giải nhau, không chấp nhận hòa giải.
Rồi Thế Tôn cho gọi một Tỳ-kheo và bảo như sau:
-- Này các Tỳ-kheo, hãy đi, và nhân danh Ta, bảo các Tỳ-kheo ấy như sau: 'Bậc Ðạo Sư cho gọi chư Tôn giả'.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đến chỗ các Tỳ-kheo ấy ở. Sau khi đến, liền thưa với các Tỳ-kheo ấy:
-- Bậc Ðạo Sư cho gọi chư Tôn giả.
-- Hiền giả, vâng.
Các Tỳ-kheo vâng đáp Tỳ-kheo ấy, đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo đang ngồi xuống một bên:
-- Này các Tỳ-kheo, có đúng sự thật chăng, các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Và các Ông không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm, không tự hòa giải nhau, không chấp nhận hòa giải?
-- Bạch Thế Tôn, có vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Trong khi các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi; trong khi ấy các Ông có an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không, các Ông có an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không, các Ông có an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không?
-- Bạch Thế Tôn, không.
-- Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông đã chấp nhận rằng, trong khi các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi, trong khi ấy, không có an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng, không có an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng, không có an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Như vậy, này các kẻ mê mờ kia, do biết gì, do thấy gì, các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với những binh khí miệng lưỡi; và các Ông không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm, không tự hòa giải nhau, không chấp nhận hòa giải. Như vậy, này các kẻ mê mờ kia, các Ông sẽ phải chịu bất hạnh, đau khổ trong một thời gian dài.
Rồi Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
-- Này các Tỳ-kheo, có sáu pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến vô tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Thế nào là sáu? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)
Nói lời dễ thương, nói lời hiền từ, phải luôn suy nghĩ về nhau bằng tâm hiểu và thương. Hiểu ngũ uẩn, hiểu tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, hiểu sanh già, bệnh, chết sầu, bi, khổ, ưu, não, hiểu nước mắt, mồ hôi và máu, biết bao bộ xương đã đổ xuống, bao nhiêu nắm tro tàn gió đã thổi bay, bao nhiêu huyệt mộ trong dòng sống chết này chúng ta đã trải qua. Chúng ta phải hiểu để thương nhau, hiểu để tha thứ cho nhau, cảm thông cho nhau, như vậy mới hòa hợp với nhau, mới kính trọng, thương mến nhau, mới cùng nhau tu học một cách an ổn, an bình, an tịnh, an lạc, an yên, an lòng để tu, đó là thân – miệng – ý đều an trú vào tâm từ.
"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, đối với các tài vật nhận được đúng pháp, hợp pháp, cho đến những tài vật thâu nhận chỉ trong bình bát, Tỳ-kheo không phải là người không san sẻ, các tài vật nhận được như vậy, phải là người san sẻ dùng chung với các vị đồng phạm hạnh có giới đức. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)
Đó là lợi hòa đồng quân, những gì mình có được thì san sẻ, sớt chia cho những người đồng tu với mình, không sở hữu riêng tư, chất chứa.
"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, đối với các giới luật không có vi phạm, không có tỳ vết, không có vẩn đục, không có uế tạp, giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp trước, đưa đến thiền định, Tỳ-kheo sống thành tựu trong các giới luật ấy với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)
Đó là giới hòa đồng tu, các thanh quy của đạo tràng phải đọc trong suốt 15 ngày tu, ngày nào cũng phải niệm giới của mình thọ (10 giới), niệm giới, nhớ giới, tụng giới, nhắc giới, quán chiếu và chiêm nghiệm về giới.
"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, đối với các tri kiến thuộc về bậc Thánh có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau, Tỳ-kheo, sống thành tựu tri kiến như vậy, cùng với các đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.
Này các Tỳ-kheo, có sáu pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí." (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)
Sáu pháp này cần phải ghi nhớ, nhớ mãi không quên sáu pháp hòa kính. Khi không thực tập đầy đủ sáu pháp này mình không phải là Tăng dù cho mình có khoác tấm y, mình không phải là đệ tử chân chánh của Đức Phật dù cho mình có thọ giới, mình không phải là thánh đệ tử, không phải là Thích tử, không phải là khất sĩ, không phải là người xuất gia nếu không thực hành, thực tập đầy đủ sáu pháp này.
Tại sao Linh Quy của chúng ta được biết bao người thương nhớ, ao ước được quay về dù cho mái tranh, vách tre, dù cho chỗ ở hết sức đơn sơ, khiêm tốn? Vì chúng ta luôn nhắc nhớ, luôn khích lệ, khuyên bảo nhau sống với sự hòa kính, cung kính, hiểu thương và cảm thông cho nhau. Mọi người bất cứ ở nơi nào, Nam - Trung - Bắc, trong nước, ngoài nước, thậm chí những người tật nguyền hay những người thành đạt có địa vị khi đến đây đều có cảm giác ngọt ngào, dễ chịu, bình yên vì chúng ta luôn thực hành tâm hiền, tâm từ. Những cái tâm si mê mà gặp thiền quán là ngủ, là đờ đẫn ra, con nhìn thấy trong chúng, huynh đệ, tỉ muội bất hòa là tim như bị rỉ máu, dù không nói ra nhưng con đau lòng, xót thương, Thế Tôn gọi đó là kẻ ngu si, kẻ mê mờ sẽ sống với tâm bất hạnh lâu dài khi sống với tâm khẩu tranh, luận tranh, cạnh tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng vũ khí miệng lưỡi thì nhắm mắt chỉ có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thôi.
Trong thời Đức Phật toàn là Thánh chúng, với một cái tâm cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi với các bậc Thánh thì chắc chắn phải rơi vào ba ác đạo, phỉ báng bậc Thánh sẽ gặp tai họa lâu dài. Bài kinh Sau khi an cư giúp chúng ta có được chín pháp an trú tâm, đó cũng là pháp hành căn bản của đạo tràng Nikāya chúng ta, tiếng gầm sư tử của tôn giả Sariputta là do một vị Tỳ-kheo vu khống cho ngài vì vậy bài kinh này con gọi là bí quyết hạnh phúc trong đạo tràng.
Đức Phật dạy khi mình cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi là lúc đó mình làm mất cái đãi lọc nước, đó là tâm hiền, tâm từ. Chúng ta làm mất tâm từ nên suy nghĩ không dễ thương, suy nghĩ đó là khó thương, suy nghĩ đó là ác và bất thiện pháp, mất khẩu từ, miệng từ thì lời nói không dễ thương, nói ra lời ghim gút, chua cay, đắng chát, là gắt gỏng, gươm đao. Đức Phật dùng từ "đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi", mình phải học thuộc cụm từ này để tránh, để né, để sợ hãi, để từ bỏ, để diệt tận. Nhiều khi người tu với người tu nói chuyện với nhau mà không dễ thương, làm tổn thương nhau thì Đức Thế Tôn gọi đó là kẻ ngu si, vô minh, dại khờ, mê mờ. Những hành động của mình cũng vậy, như vậy là đau khổ lâu dài.
Con nói chuyện nhỏ thôi chứ không phải chuyện gì lớn cả, đó là bước lên thiền đường mà dép của mình đạp lên dép người ta trong khi dép mình dơ, một lát nữa người kia mang vào đôi dép của người ta thì sao? Người ta có khó chịu không? Hành động này có dễ thương không? Hành động đó là hành động làm tổn phước đức, không có chánh niệm tỉnh giác, đem lại phiền não, động niệm cho người khác. Hoặc là dép mình không mang lại đi mang dép người ta, lát nữa người ta đi ra không biết dép ở đâu, vậy đó là hành động thiện hay bất thiện, dễ thương hay không dễ thương, đem đến sự tươi mát cho mọi người hay nóng bức cho các bậc đồng phạm hạnh? Vậy mà nói mãi không được, chỉ một chuyện nhỏ là đôi dép thôi mà tu biết bao trong đó.
Bây giờ đi toilet có chánh niệm trong đó không? Mình đi xong rồi phải mở nước cho đầy cái thùng, mình đi xong rồi phải dội cho sạch sẽ, đó là an trú từ thân hành. Khi ho không được ho lớn tiếng, phải hãm âm thanh hết mức khi mình ở trong chúng, khi bệnh thì lập tức đeo khẩu trang vào vì mình sợ mình tổn phước, mình thương đại chúng ngồi kế bên cạnh, không đợi người ta nhắc nhở. Nếu có tâm từ thì hay sao là hay, đẹp sao là đẹp, ngọt vô cùng ngọt, không có gì ngọt bằng tâm từ này, mọi nhất cử nhất động của mình đều nghĩ cho mình, nghĩ cho người, không hại mình, không hại người, không làm khổ mình, không làm khổ người, không làm phiền mình, không làm phiền người. Nếu mình có tâm từ là mình sẽ để ý từ chút một, khi để ý như vậy sẽ rất sợ phạm lỗi cho nên mình ít lỗi, mình bớt lỗi và từ từ mình hết lỗi cho nên mình phải luôn an trú thân hành từ, khẩu hành từ, ý hành từ, ba nghiệp từ ái, mắt thương, suy nghĩ phải hiểu thương người ta.
Ví dụ người ở chung lêu với mình có tật nói nhiều hoặc hay tạo ra tiếng động, điều quan trọng trước tiên là phải thương họ mới được vì nếu mình sân lên với họ thì cả khóa tu mình sẽ mệt mỏi, tu không thấy pháp gì cả, chỉ thấy khó chịu. Đây là bí quyết hạnh phúc, chúng ta phải có tâm thương, an trú được thân – miệng – ý từ ái, mình thương họ vì họ đang bị cái nghiệp như vậy. Có người có tánh thô tháo, cẩu thả, đụng đâu bể đó, đụng đâu rớt đó thì mình cũng phải hiểu và thương, thông cảm cho họ, lúc nào vui vẻ, họ chịu nghe thì mình hãy chia sẻ, còn ngay lúc đó mình bực bội mà nói là hư chuyện. Thứ nhất mình không tu nhiếp phục cảm thọ của mình, thứ hai mình sẽ chạm vào tự ái, bản ngã của người ta, như vậy làm tổn thương cả hai. Khi ăn cũng vậy, khi nói, khi làm cũng vậy, khi đắp y, mặc áo, mang dép, bước chân của mình cũng phải xem kĩ thân hành từ, xem dưới chân có đạp chết con gì không, nếu đi mà không có chánh niệm, mình giỡn hớt, đạp này kia có thể nát con ốc, con gián dưới chân mình, đó là thân không hành từ, khi làm việc không cẩn thận mình cũng làm chết nhiều chúng sanh.
Khi nói mà không cẩn thận sẽ làm tổn thương cho người huynh đệ của mình, làm tổn thương cho thầy bạn của mình, trong gia đình thì làm tổn thương chồng con của mình, anh chị em của mình. Nói một câu nói nhiều khi làm cho người ta mất ăn mất ngủ, làm đau trái tim của người ta chỉ vì một lời nói, như vậy là không dễ thương, nếu mình có được thân – miệng – ý thực hành từ ái là an ổn, là an bình, an vui, an lành, an yên, là an tịnh, an lạc.
"Này các Tỳ-kheo, trong sáu pháp cần phải ghi nhớ này, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là tri kiến này, thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau. Này các Tỳ-kheo, ví như một căn nhà có mái nhọn như ngọn tháp, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là mái nhọn. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, trong sáu pháp cần phải ghi nhớ này, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là tri kiến này, thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)
Trong sáu pháp này có một pháp tối thượng là chánh tri kiến, chúng ta gọi là thánh kiến, là thánh tri kiến, tri kiến bậc Thánh.
"Này các Tỳ-kheo, thế nào là tri kiến thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đi đến dưới gốc cây, hay đi đến chỗ trống vắng và suy nghĩ như sau: 'Không biết ta có nội triền nào chưa đoạn trừ không? Do nội triền này nếu tâm ta bị triền phược, thì ta không thể biết như thật, không thể thấy như thật?'"(Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)
Không biết năm sự trói buộc trong tâm, năm sự che đậy trong tâm, năm triền cái thì có sợi dây nào, có sự che đậy nào mà ta chưa cắt đứt chưa. Nếu ta còn một sợi dây trong năm sợi dây đó, ta còn một sự che mời trong năm sự che mời đó thì ta sẽ không biết và không thấy như thật.
"Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo bị tham dục triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo bị sân triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo bị hôn trầm thụy miên triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo bị trạo hối triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo bị nghi triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo có tâm bị thế sự đời này ràng buộc, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỳ-kheo, nếu vị Tỳ-kheo có tâm bị thế sự đời sau ràng buộc, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Tỳ-kheo sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với những binh khí miệng lưỡi, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)
Trạo hối là trạo cử và hối tiếc, tâm mình bị ray rứt vì những tội lỗi, những giới mà mình đã phạm. Thế sự đời này là danh lợi, bằng cấp, chùa chiền, địa vị, chức vụ, đó gọi là thế sự trói cột, thế sự đời sau nghĩa là mong rằng đời sau mình sẽ như vầy, mong rằng mình được sanh lên ở đó để được hưởng, đó là bị trói cột bởi thế sự của đời sau. Trên đây là năm sự trói cột và che mời tâm: Dục tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo cử, nghi hoặc, phân vân, lưỡng lự với pháp, không thấy rõ ngũ uẩn, không thấy rõ tham, sân, si, không thấy rõ vô minh và khát ái, chấp thủ. Tâm mê mờ, lờ đờ, không quyết trạch cái pháp, cũng biết pháp nhưng biết lờ đờ, cũng biết pháp nhưng đi sâu vào để rạch ròi đen trắng, đúng sai thì lại phân vân, đó là nghi ngờ, là chưa trạch pháp nhã vì thế trong thất giác chi thì trạch pháp giác chi rất quan trọng, sau khi trạch pháp thì mới có chánh kiến, có sự thấy đúng, sau đó mới tiến sâu vao những pháp khác là tinh tấn giác chi, khinh an giác chi và những pháp khác cao hơn.
"Vị ấy biết rõ như sau: 'Ta không có nội triền chưa được đoạn trừ, do nội triền này nếu tâm ta bị triền phược, ta không thể biết như thật, không thể thấy như thật. Ý của ta được khéo hướng đến sự giác ngộ các sự thật'. Ðó là trí thứ nhất mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)
Quan ải thứ nhất là chúng ta phải vượt ra khỏi năm triền cái và ý niệm của tự ngã ở đời này, đời sau, tức là phá thân kiến và diệt năm triền cái, đó là trí tuệ của bậc Thánh, nói gọn cho dễ hiểu là Khổ Thánh Trí. Mình quán chiếu, quán xét, chiêm nghiệm về cái khổ thì tình thương của mình sẽ nảy nở, sẽ lớn mạnh, sẽ thấm nhuần, tự động tâm từ của mình dễ tu tập, dễ phát triển quảng đại. Nếu không thấy khổ thì tu tâm từ rất khó vì không khổ thì làm sao biết thương? Bây giờ mình thương người kia là do mình thấy tội nghiệp người kia, còn nếu không tội nghiệp thì làm sao thương? Bây giờ mình cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi thì lúc đó mình có thấy khổ không? Do không thấy khổ nên mới như vậy, không thấy khổ thì không có tình thương, không thương thì không hành từ được, không hành từ được thì sân, có sân thì có đấu tranh, có đấu tranh thì bất hòa, bất an, bất hạnh, không có hạnh phúc, như vậy muốn hạnh phúc thì đầu tiên phải hiểu được khổ đau, người thấu hiểu được khổ đau một cách cùng tận thì người đó đạt được hạnh phúc tối thượng.
Chúng ta cảm ơn chư thiên, chưa thần, các vị long thiên bát bộ hộ pháp, chư vị hữu tình ở khắp non thiêng này, hướng về chánh pháp tối thượng đảnh lễ bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Con dập đầu cúi lạy bậc tôn kính nhất đời, bậc hoàn toàn thanh tịnh, diệt tận tham, sân, si, bậc hoàn toàn giác ngộ thân tâm và thế giới Phật Thích-ca Mâu-ni.
Đảnh lễ bốn thánh trí, trí tuệ tối thượng đưa đến ly tham giải thoát.
Đảnh lễ bốn đôi tám chúng hiền Thánh Tăng là ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người.
Trong lúc đầu tiên ngồi nghe bài Về núi yên tu thật tuyệt vời và nãy giờ chúng ta ngồi ngoài trời xuyên không trở về thời của Đức Phật để nghe Thánh ngữ, Phật môn thì thọ; tưởng; hành của chúng ta như thế nào?
II. Trình pháp
Sư thầy 1
Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ, chư tôn đức Tăng Ni cùng toàn thể đại chúng. Kính bạch trên sư phụ và đại chúng, trong lúc nghe bài thiền quán về núi yên tu thì con xin nhận diện ngũ uẩn. Sắc thân tứ đại con đang ngồi đây cùng với đại chúng, cảm thọ con vô cùng hoan hỉ, trong thân được hòa vào không khí bình lặng, không gian mát mẻ, có những âm thanh vọng về nên con thấy dễ chịu, an lạc. Cái tưởng của con là hình bóng về những ngày ở trên núi tu tập cùng đại chúng, hình ảnh được ngồi trên quán chiếu đường tỉnh tu. Suy nghĩ của con đi theo bài hát, thả tâm mình để tận hưởng bầu không khí hỷ lạc, thức con nhận biết rõ thọ; tưởng; hành lúc đó. Trong không khí đó con cũng biết đó là niềm hỷ lạc nhưng con cũng không tác ý để chặn hỷ lạc đó, con cũng muốn để vậy sanh khởi để hòa mình vào để cảm nhận không gian. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Đó là cảm thọ của con.
Sư Phụ: Thầy nhận diện ngũ uẩn rất rõ, khi mình mới tu thì cần niềm hỷ lạc, niềm vui, đây là bước đệm, tư lương để mình đi vào sơ thiền cho nên khi tu mà vui, hạnh phúc là tác ý cho vui, cho hạnh phúc lên chứ đừng kiềm lại, đừng chặn lại. Có những cái vui này mới tẩy được những cái vui ngũ dục thấp hèn của phàm tục, nếu không thì tu chán ngắt, vô vị, không có thiền vị, pháp vị, không có pháp lạc, không có thiền duyệt, hỷ lạc là do mình không biết tác ý, mình tu trơ trơ trong khi người ta tu hạnh phúc dào dạt, chứa hạnh phúc không nổi trong thân phải trào ra ngoài bằng nước mắt, nhưng mình cứ đơ đơ, không cảm thấy gì, tức là mình vô cảm đối với chánh pháp. Cho nên lúc đầu tu thì như vậy nhưng từ từ mình sẽ có cảm thọ đối với chánh pháp, đó là lý do trong kinh thường dùng từ "thọ trì", "các Tỳ-kheo hoan hỉ thọ trì", tức là các vị đó nghe Đức Phật nói rất vui, cái thọ đó là thọ nhận, trì là giữ gìn để thực hành cho nên nghe pháp phải có thọ.
Khi con nhìn ánh mắt sẽ biết người đó có thọ hay không, thọ nhiều hay ít, nhìn gương mặt cũng biết, có thể không biết 100% nhưng biết hơn 50%. Nhiều khi không cần nói ra đâu, nhìn tướng là biết nhận pháp hay không nhận, nhận bao nhiêu và có hỷ lạc hay không cho nên lúc mới tu hỷ lạc rất cần thiết nhưng không phải buông lung phóng dật. Vui trong buông lung phóng dật là khác, vui trong pháp hỷ lại khác.
Sư cô 1
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin kính lễ trên sư phụ, chư tôn đức Tăng Ni cùng toàn thể đại chúng. Con xin nhận diện ngũ uẩn khi nghe bài hát, bài kệ quán về núi yên tu, mặc dù hôm qua con chỉ có hơn một tiếng học pháp từ cô Thông Tuệ nhưng con cũng xin trình bày một cách đơn giản nhất ạ.
Về sắc thì thân tứ đại con đang ở đây cùng với đại chúng, còn thọ thì thân con cảm thấy dễ chịu, hoan hỉ và an lạc, tưởng là hình bóng trong con xuất hiện hình bóng Tăng đoàn thời Đức Phật Thích-ca Mâu-ni cách đây hơn 2500 năm, tưởng cũng cho con hình bóng của chú rùa mù may mắn 100 năm nổi lên mặt nước mà gặp được bọng cây, lúc đó hành cho con suy nghĩ là "mình cũng như chú rùa đó, thật là may mắn, thật là diệu kì. Biết bao đời chìm nổi rồi mà mình cũng được ở đây học chánh pháp", hành thôi thúc con là phải cố gắng hết sức mình trong 15 ngày tu tập tinh tấn, tiến bộ để thâm nhập vào chánh pháp. Thức con lúc đó rõ biết về thọ; tưởng; hành trong con, con xin hết. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Rất là tốt. Lành thay! Lành thay! Mới được hướng dẫn nhận diện ngũ uẩn mà nhận diện được như vậy là rất tốt. Trong bài kinh hôm nay Đức Phật dạy về lục hòa thì cô có cảm nhận gì không?
Giới tử 1
Về bài kinh hôm nay được nghe thầy giảng pháp thì con cảm nhận như lời pháp nhũ chan hòa tình thân ái cũng chính là tình thân ái mà con cảm nhận ngay từ giây phút đầu tiên con được lên núi Linh Quy, con cảm nhận đây như một ngôi nhà thân thương từ sư phụ tôn kính đến chư đại đức Tăng Ni không hề phân biệt chúng con là giới tử mới hay là khách đến thăm chùa đều được đối xử hết sức nhân ái, ban trải tình yêu thương đến chúng con. Dù là trong lời Phật dạy trong bài kinh có dạy các Phật tử cách đối xử từ ái, luôn an trú trong lòng yêu thương, đối xử trước mặt cũng như sau lưng đều phải từ ái với nhau, con cũng chưa được ở đây lâu nên con chỉ mới cảm nhận sự yêu thương, đùm bọc, từ ái của tất cả mọi người thôi ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con xin hết ạ.
Giới tử 2
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ cùng chư vị đại đức Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền trí đang có mặt ngày hôm nay. Con xin phép được nhận diện ngũ uẩn vì đây cũng là lần đầu con tiếp xúc, có gì xin nhờ trên sư phụ chỉ giùm con. Lúc nghe bài kệ về núi yên tu thì sắc uẩn là thân xác con đang ngồi ở đây cùng các quý thầy và quý cô, cảm thọ lúc đó của con nhẹ nhàng, dễ chịu, khi nghe bài kệ cùng với tiếng nhạc thì có một chút hân hoan. Cái tưởng lúc đó là hình bóng vắng lặng và hiện lên hình ảnh hôm trước cả Tăng đoàn đi khất thực, hành suy nghĩ từ giờ đến lúc xuống núi không biết mình còn học thêm được gì nữa. Thức lúc đó rõ biết mình đang ngồi ở đây, biết được suy nghĩ, cái tưởng của mình, con xin hết, con cảm ơn.
Sư Phụ: Lành thay! Rất là tốt. Mời chú Phật tử từ rất xa về thăm con, chú về trễ nhưng cũng cạo đầu rất sạch.
Chú Phật tử
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thầy cùng chư tôn đức Tăng Ni và quý Phật tử có mặt ngày hôm nay. Theo cảm nhận của con thì hôm nay được gặp thầy cùng quý chư tôn đức Tăng Ni thì con cảm thấy hạnh phúc, cảm thọ con thấy hạnh phúc, trong niềm hoan hỉ vì có nhân duyên được gặp thầy nhưng cũng có khổ thọ của con là cảm thấy nóng và ngồi tê chân quá, đó là thọ khổ. Con xin hết ạ.
Sư Phụ: Cái khổ đó có quán không?
Chú Phật tử: Dạ có nhưng nó cứ đeo bám.
Sư Phụ: Khi mình bị khổ mà muốn diệt cảm thọ đó thì mình khổ hơn nhưng mình cảm nhận cái khổ đó để mình thể nhập vào trí tuệ thì đó lại là cơ hội.
Chú Phật tử: Dạ, con cám ơn thầy.
Sư Phụ: Khi mình gặp sự khó chịu từ thân cho đến tâm mình đừng có ý muốn diệt cái khó chịu đó, mình muốn diệt đối tượng làm mình khó chịu hoặc chạy theo đối tượng đó thì lúc đó mình phải cảm nhận cái khổ đó để thể nhập vào khổ thánh trí. Mình chỉ ngồi không thôi đã khó chịu như vậy, mình nghĩ xem ngày xưa thái tử Tất-đạt-đa ngồi bao lâu, ngài phải chịu nắng táp mưa sa như thế nào. Khi quán như vậy thì tự nhiên cái khổ này không là gì cả, có rất nhiều cách để mình quán, nhiều phương diện cho mình quán chiếu cho nên tu Nikāya là tu trí tuệ, như Đức Phật nói có một pháp tối thượng trong sáu pháp là tri kiến của bậc Thánh, là cái thấy đúng của bậc Thánh, cái thấy đúng tận cùng là khổ thánh trí, khổ thánh đế. Khi mình thấy cái khổ đó rồi thì tham, sân, si, vô minh, bản ngã tự động lắng dịu xuống.
Phật tử Bảo Lưu
Con cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, con cúi đầu đảnh lễ trên sư phụ và chư Tăng, chư Ni và toàn thể các bậc hiền trí. Con pháp danh Bảo Lưu đến từ Quảng Nam, con xin nhận diện ngũ uẩn. Thân tứ đại con đang quỳ là sắc, cảm thọ con rất hoan hỉ dễ chịu là thọ, tưởng con là hình bóng trong tâm là con tưởng mình đang hòa nhập vào trong Tăng đoàn của Đức Phật. Hành con suy nghĩ đời này con quá hạnh phúc, may mắn vì gặp được chánh pháp Nikāya và sư phụ, thức con rõ biết thọ; tưởng; hành. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Cô phải thực tập thêm nữa, còn hơi lẫn lộn, cũng tương đối rồi. Con mời thầy mới lên ạ.
Sư thầy 1
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thầy, con kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng toàn thể các bậc hiền trí ở đây. Con xin nhận diện ngũ uẩn của con trong lúc này, sắc thân con hiện tại đang ngồi ở đây, thọ của con có những rung cảm, có những cảm giác dễ chịu của lạc thọ. Cái tưởng của con là hình bóng núi rừng nơi đây, ý hành con suy nghĩ về bài kệ về núi yên tu rất xúc động, nhất là khi gặp chánh pháp mà không đi theo con đường này uổng cả đời tu xuất gia của mình. Thức con rõ biết về thọ; tưởng; hành của con.
Sư Phụ: Khi nãy thầy nói lạc thọ rung cảm thì nó ra sao, thầy có thể chia sẻ thêm không?
Sư thầy 1: Cảm xúc con kiểu như là đây là sự thật mà đó giờ con mới được thấy, được nghe, được gặp nên trong người con có sự rung động. Mô Phật, con xin hết.
Sư Phụ: Thầy gặp cái gì? Thầy thấy cái gì? Thầy nghe cái gì?
Sư thầy 1: Dạ. Sự thật đơn giản mà không hề cao xa đâu hết mà đó giờ con không hề hay biết, cứ nghĩ nó cao siêu nhưng chánh pháp rất gần gũi thiết thực, hiện tại với chúng ta nên con thấy rung động vì điều đó.
Sư Phụ: Hoan nghênh thầy. Chánh pháp bình dị, giản đơn.
Đây là phương trước mặt,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm từ của ta.
Tình thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bên phải
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tình thương của ta.
Tình thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bên trái
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tình thương của ta.
Tình thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía sau
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tình thương của ta.
Tình thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía trên
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tình thương của ta.
Tình thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bề ngang
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tình thương của ta.
Tình thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Tình thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này,
Tình thương này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.
./.
6 Pháp Hoà Kính 1
Kinh Kosambiya
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Pháp hòa kính PAGEREF _Toc158990541 \h 1
II. Trình pháp PAGEREF _Toc158990542 \h 10
Sư thầy 1 PAGEREF _Toc158990543 \h 10
Sư cô 1 PAGEREF _Toc158990544 \h 11
Giới tử 1 PAGEREF _Toc158990545 \h 12
Giới tử 2 PAGEREF _Toc158990546 \h 12
Chú Phật tử PAGEREF _Toc158990547 \h 13
Phật tử Bảo Lưu PAGEREF _Toc158990548 \h 14
Sư thầy 1 PAGEREF _Toc158990549 \h 14
I. Pháp hòa kính
Sư Phụ: Cảm nhận cơ thể, cảm nhận không gian nơi này, cảm nhận những giọt mưa rơi mát mẻ thanh lương, dễ chịu và thật lắng dịu. Chúng ta hãy quán chiếu đây là cam lộ pháp vũ, những giọt mưa pháp, chúng ta đang được thấm nhuần những giọt mưa của Thánh pháp, của Thánh trí tuệ mà chư thiên ở vùng đất này đang hoan hỉ, đang vui mừng, đang hân hoan vì sự tu học chánh pháp của chúng ta. Trời đất này, không gian này đang hòa quyện, đang thấm đẫm, thấm đượm, đang dạt dào hỷ lạc sung mãn, thanh lương và tươi mát, cảm nhận không gian thật rộng lớn trước mặt, cả bầu trời này, cả trời đất này, giây phút huyền nhiệm này, giây phút linh thiêng này, giây phút tuyệt diệu, thiêng liêng này thật dễ chịu làm sao, thật mát dịu làm sao, thật là thanh tịnh, tịnh lạc, thật là an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Ngọt ngào là những dòng cam lộ pháp vũ này, tươi mát là Thánh pháp này, thanh lương là diệu pháp này, sự an tịnh, sự thanh tịnh, sự tịnh lạc chính là chánh pháp tối thượng này.
Chúng ta hãy cảm nhận thật sâu sắc không gian trước mặt, vùng đất này, trời đất rộng lớn này, bầu trời của ngọn núi linh thiêng này. Tất cả chư thiên, chư thần đều đang hoan hỉ, đang hân hoan, đang phấn khởi cùng chung với chúng ta, chuẩn bị đón nghe Thánh trí tuệ tối thượng của bậc đại giác Thế Tôn. Muôn vật xung quanh đây trong giờ phút này như đang hò reo, đang hân hoan, đang phấn khởi vì sự thanh tịnh, tịnh lạc của chúng ta, sự bình an của chúng ta, sự lắng dịu, thanh tịnh, nhiệm màu của chúng ta. Sự thanh tịnh hiếm có này, hy hữu trong thế giới ngày nay chính là giây phút huyền nhiệm ngay bây giờ.
Hôm nay chúng ta sẽ nghe một bài kinh rất đặc biệt, trong này Đức Thế Tôn chỉ dạy cho chúng ta bí quyết hạnh phúc trong Tăng đoàn, Đức Thế Tôn chỉ cho chúng ta chế tác ra được sự tịnh lạc, sự an bình, sự hạnh phúc nhiệm màu trong tập thể, trong chúng hội, trong Tăng đoàn, đó là bài kinh số 48 trong Trung Bộ Kinh, tập I, kinh Kosambiya.
"Một thời Thế Tôn ở Kosambi, tại tịnh xá Ghosita. Lúc bấy giờ, các Tỳ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Họ không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm; họ không tự hòa giải, không chấp nhận hòa giải.
Rồi một Tỳ-kheo đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên. Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, các Tỳ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Họ không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm; họ không tự hòa giải nhau, không chấp nhận hòa giải.
Rồi Thế Tôn cho gọi một Tỳ-kheo và bảo như sau:
-- Này các Tỳ-kheo, hãy đi, và nhân danh Ta, bảo các Tỳ-kheo ấy như sau: 'Bậc Ðạo Sư cho gọi chư Tôn giả'.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đến chỗ các Tỳ-kheo ấy ở. Sau khi đến, liền thưa với các Tỳ-kheo ấy:
-- Bậc Ðạo Sư cho gọi chư Tôn giả.
-- Hiền giả, vâng.
Các Tỳ-kheo vâng đáp Tỳ-kheo ấy, đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo đang ngồi xuống một bên:
-- Này các Tỳ-kheo, có đúng sự thật chăng, các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Và các Ông không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm, không tự hòa giải nhau, không chấp nhận hòa giải?
-- Bạch Thế Tôn, có vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Trong khi các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi; trong khi ấy các Ông có an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không, các Ông có an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không, các Ông có an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không?
-- Bạch Thế Tôn, không.
-- Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông đã chấp nhận rằng, trong khi các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi, trong khi ấy, không có an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng, không có an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng, không có an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Như vậy, này các kẻ mê mờ kia, do biết gì, do thấy gì, các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với những binh khí miệng lưỡi; và các Ông không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm, không tự hòa giải nhau, không chấp nhận hòa giải. Như vậy, này các kẻ mê mờ kia, các Ông sẽ phải chịu bất hạnh, đau khổ trong một thời gian dài.
Rồi Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
-- Này các Tỳ-kheo, có sáu pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến vô tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Thế nào là sáu? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)
Nói lời dễ thương, nói lời hiền từ, phải luôn suy nghĩ về nhau bằng tâm hiểu và thương. Hiểu ngũ uẩn, hiểu tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, hiểu sanh già, bệnh, chết sầu, bi, khổ, ưu, não, hiểu nước mắt, mồ hôi và máu, biết bao bộ xương đã đổ xuống, bao nhiêu nắm tro tàn gió đã thổi bay, bao nhiêu huyệt mộ trong dòng sống chết này chúng ta đã trải qua. Chúng ta phải hiểu để thương nhau, hiểu để tha thứ cho nhau, cảm thông cho nhau, như vậy mới hòa hợp với nhau, mới kính trọng, thương mến nhau, mới cùng nhau tu học một cách an ổn, an bình, an tịnh, an lạc, an yên, an lòng để tu, đó là thân – miệng – ý đều an trú vào tâm từ.
"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, đối với các tài vật nhận được đúng pháp, hợp pháp, cho đến những tài vật thâu nhận chỉ trong bình bát, Tỳ-kheo không phải là người không san sẻ, các tài vật nhận được như vậy, phải là người san sẻ dùng chung với các vị đồng phạm hạnh có giới đức. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)
Đó là lợi hòa đồng quân, những gì mình có được thì san sẻ, sớt chia cho những người đồng tu với mình, không sở hữu riêng tư, chất chứa.
"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, đối với các giới luật không có vi phạm, không có tỳ vết, không có vẩn đục, không có uế tạp, giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp trước, đưa đến thiền định, Tỳ-kheo sống thành tựu trong các giới luật ấy với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)
Đó là giới hòa đồng tu, các thanh quy của đạo tràng phải đọc trong suốt 15 ngày tu, ngày nào cũng phải niệm giới của mình thọ (10 giới), niệm giới, nhớ giới, tụng giới, nhắc giới, quán chiếu và chiêm nghiệm về giới.
"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, đối với các tri kiến thuộc về bậc Thánh có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau, Tỳ-kheo, sống thành tựu tri kiến như vậy, cùng với các đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.
Này các Tỳ-kheo, có sáu pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí." (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)
Sáu pháp này cần phải ghi nhớ, nhớ mãi không quên sáu pháp hòa kính. Khi không thực tập đầy đủ sáu pháp này mình không phải là Tăng dù cho mình có khoác tấm y, mình không phải là đệ tử chân chánh của Đức Phật dù cho mình có thọ giới, mình không phải là thánh đệ tử, không phải là Thích tử, không phải là khất sĩ, không phải là người xuất gia nếu không thực hành, thực tập đầy đủ sáu pháp này.
Tại sao Linh Quy của chúng ta được biết bao người thương nhớ, ao ước được quay về dù cho mái tranh, vách tre, dù cho chỗ ở hết sức đơn sơ, khiêm tốn? Vì chúng ta luôn nhắc nhớ, luôn khích lệ, khuyên bảo nhau sống với sự hòa kính, cung kính, hiểu thương và cảm thông cho nhau. Mọi người bất cứ ở nơi nào, Nam - Trung - Bắc, trong nước, ngoài nước, thậm chí những người tật nguyền hay những người thành đạt có địa vị khi đến đây đều có cảm giác ngọt ngào, dễ chịu, bình yên vì chúng ta luôn thực hành tâm hiền, tâm từ. Những cái tâm si mê mà gặp thiền quán là ngủ, là đờ đẫn ra, con nhìn thấy trong chúng, huynh đệ, tỉ muội bất hòa là tim như bị rỉ máu, dù không nói ra nhưng con đau lòng, xót thương, Thế Tôn gọi đó là kẻ ngu si, kẻ mê mờ sẽ sống với tâm bất hạnh lâu dài khi sống với tâm khẩu tranh, luận tranh, cạnh tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng vũ khí miệng lưỡi thì nhắm mắt chỉ có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thôi.
Trong thời Đức Phật toàn là Thánh chúng, với một cái tâm cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi với các bậc Thánh thì chắc chắn phải rơi vào ba ác đạo, phỉ báng bậc Thánh sẽ gặp tai họa lâu dài. Bài kinh Sau khi an cư giúp chúng ta có được chín pháp an trú tâm, đó cũng là pháp hành căn bản của đạo tràng Nikāya chúng ta, tiếng gầm sư tử của tôn giả Sariputta là do một vị Tỳ-kheo vu khống cho ngài vì vậy bài kinh này con gọi là bí quyết hạnh phúc trong đạo tràng.
Đức Phật dạy khi mình cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi là lúc đó mình làm mất cái đãi lọc nước, đó là tâm hiền, tâm từ. Chúng ta làm mất tâm từ nên suy nghĩ không dễ thương, suy nghĩ đó là khó thương, suy nghĩ đó là ác và bất thiện pháp, mất khẩu từ, miệng từ thì lời nói không dễ thương, nói ra lời ghim gút, chua cay, đắng chát, là gắt gỏng, gươm đao. Đức Phật dùng từ "đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi", mình phải học thuộc cụm từ này để tránh, để né, để sợ hãi, để từ bỏ, để diệt tận. Nhiều khi người tu với người tu nói chuyện với nhau mà không dễ thương, làm tổn thương nhau thì Đức Thế Tôn gọi đó là kẻ ngu si, vô minh, dại khờ, mê mờ. Những hành động của mình cũng vậy, như vậy là đau khổ lâu dài.
Con nói chuyện nhỏ thôi chứ không phải chuyện gì lớn cả, đó là bước lên thiền đường mà dép của mình đạp lên dép người ta trong khi dép mình dơ, một lát nữa người kia mang vào đôi dép của người ta thì sao? Người ta có khó chịu không? Hành động này có dễ thương không? Hành động đó là hành động làm tổn phước đức, không có chánh niệm tỉnh giác, đem lại phiền não, động niệm cho người khác. Hoặc là dép mình không mang lại đi mang dép người ta, lát nữa người ta đi ra không biết dép ở đâu, vậy đó là hành động thiện hay bất thiện, dễ thương hay không dễ thương, đem đến sự tươi mát cho mọi người hay nóng bức cho các bậc đồng phạm hạnh? Vậy mà nói mãi không được, chỉ một chuyện nhỏ là đôi dép thôi mà tu biết bao trong đó.
Bây giờ đi toilet có chánh niệm trong đó không? Mình đi xong rồi phải mở nước cho đầy cái thùng, mình đi xong rồi phải dội cho sạch sẽ, đó là an trú từ thân hành. Khi ho không được ho lớn tiếng, phải hãm âm thanh hết mức khi mình ở trong chúng, khi bệnh thì lập tức đeo khẩu trang vào vì mình sợ mình tổn phước, mình thương đại chúng ngồi kế bên cạnh, không đợi người ta nhắc nhở. Nếu có tâm từ thì hay sao là hay, đẹp sao là đẹp, ngọt vô cùng ngọt, không có gì ngọt bằng tâm từ này, mọi nhất cử nhất động của mình đều nghĩ cho mình, nghĩ cho người, không hại mình, không hại người, không làm khổ mình, không làm khổ người, không làm phiền mình, không làm phiền người. Nếu mình có tâm từ là mình sẽ để ý từ chút một, khi để ý như vậy sẽ rất sợ phạm lỗi cho nên mình ít lỗi, mình bớt lỗi và từ từ mình hết lỗi cho nên mình phải luôn an trú thân hành từ, khẩu hành từ, ý hành từ, ba nghiệp từ ái, mắt thương, suy nghĩ phải hiểu thương người ta.
Ví dụ người ở chung lêu với mình có tật nói nhiều hoặc hay tạo ra tiếng động, điều quan trọng trước tiên là phải thương họ mới được vì nếu mình sân lên với họ thì cả khóa tu mình sẽ mệt mỏi, tu không thấy pháp gì cả, chỉ thấy khó chịu. Đây là bí quyết hạnh phúc, chúng ta phải có tâm thương, an trú được thân – miệng – ý từ ái, mình thương họ vì họ đang bị cái nghiệp như vậy. Có người có tánh thô tháo, cẩu thả, đụng đâu bể đó, đụng đâu rớt đó thì mình cũng phải hiểu và thương, thông cảm cho họ, lúc nào vui vẻ, họ chịu nghe thì mình hãy chia sẻ, còn ngay lúc đó mình bực bội mà nói là hư chuyện. Thứ nhất mình không tu nhiếp phục cảm thọ của mình, thứ hai mình sẽ chạm vào tự ái, bản ngã của người ta, như vậy làm tổn thương cả hai. Khi ăn cũng vậy, khi nói, khi làm cũng vậy, khi đắp y, mặc áo, mang dép, bước chân của mình cũng phải xem kĩ thân hành từ, xem dưới chân có đạp chết con gì không, nếu đi mà không có chánh niệm, mình giỡn hớt, đạp này kia có thể nát con ốc, con gián dưới chân mình, đó là thân không hành từ, khi làm việc không cẩn thận mình cũng làm chết nhiều chúng sanh.
Khi nói mà không cẩn thận sẽ làm tổn thương cho người huynh đệ của mình, làm tổn thương cho thầy bạn của mình, trong gia đình thì làm tổn thương chồng con của mình, anh chị em của mình. Nói một câu nói nhiều khi làm cho người ta mất ăn mất ngủ, làm đau trái tim của người ta chỉ vì một lời nói, như vậy là không dễ thương, nếu mình có được thân – miệng – ý thực hành từ ái là an ổn, là an bình, an vui, an lành, an yên, là an tịnh, an lạc.
"Này các Tỳ-kheo, trong sáu pháp cần phải ghi nhớ này, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là tri kiến này, thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau. Này các Tỳ-kheo, ví như một căn nhà có mái nhọn như ngọn tháp, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là mái nhọn. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, trong sáu pháp cần phải ghi nhớ này, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là tri kiến này, thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)
Trong sáu pháp này có một pháp tối thượng là chánh tri kiến, chúng ta gọi là thánh kiến, là thánh tri kiến, tri kiến bậc Thánh.
"Này các Tỳ-kheo, thế nào là tri kiến thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đi đến dưới gốc cây, hay đi đến chỗ trống vắng và suy nghĩ như sau: 'Không biết ta có nội triền nào chưa đoạn trừ không? Do nội triền này nếu tâm ta bị triền phược, thì ta không thể biết như thật, không thể thấy như thật?'"(Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)
Không biết năm sự trói buộc trong tâm, năm sự che đậy trong tâm, năm triền cái thì có sợi dây nào, có sự che đậy nào mà ta chưa cắt đứt chưa. Nếu ta còn một sợi dây trong năm sợi dây đó, ta còn một sự che mời trong năm sự che mời đó thì ta sẽ không biết và không thấy như thật.
"Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo bị tham dục triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo bị sân triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo bị hôn trầm thụy miên triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo bị trạo hối triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo bị nghi triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo có tâm bị thế sự đời này ràng buộc, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỳ-kheo, nếu vị Tỳ-kheo có tâm bị thế sự đời sau ràng buộc, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Tỳ-kheo sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với những binh khí miệng lưỡi, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)
Trạo hối là trạo cử và hối tiếc, tâm mình bị ray rứt vì những tội lỗi, những giới mà mình đã phạm. Thế sự đời này là danh lợi, bằng cấp, chùa chiền, địa vị, chức vụ, đó gọi là thế sự trói cột, thế sự đời sau nghĩa là mong rằng đời sau mình sẽ như vầy, mong rằng mình được sanh lên ở đó để được hưởng, đó là bị trói cột bởi thế sự của đời sau. Trên đây là năm sự trói cột và che mời tâm: Dục tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo cử, nghi hoặc, phân vân, lưỡng lự với pháp, không thấy rõ ngũ uẩn, không thấy rõ tham, sân, si, không thấy rõ vô minh và khát ái, chấp thủ. Tâm mê mờ, lờ đờ, không quyết trạch cái pháp, cũng biết pháp nhưng biết lờ đờ, cũng biết pháp nhưng đi sâu vào để rạch ròi đen trắng, đúng sai thì lại phân vân, đó là nghi ngờ, là chưa trạch pháp nhã vì thế trong thất giác chi thì trạch pháp giác chi rất quan trọng, sau khi trạch pháp thì mới có chánh kiến, có sự thấy đúng, sau đó mới tiến sâu vao những pháp khác là tinh tấn giác chi, khinh an giác chi và những pháp khác cao hơn.
"Vị ấy biết rõ như sau: 'Ta không có nội triền chưa được đoạn trừ, do nội triền này nếu tâm ta bị triền phược, ta không thể biết như thật, không thể thấy như thật. Ý của ta được khéo hướng đến sự giác ngộ các sự thật'. Ðó là trí thứ nhất mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)
Quan ải thứ nhất là chúng ta phải vượt ra khỏi năm triền cái và ý niệm của tự ngã ở đời này, đời sau, tức là phá thân kiến và diệt năm triền cái, đó là trí tuệ của bậc Thánh, nói gọn cho dễ hiểu là Khổ Thánh Trí. Mình quán chiếu, quán xét, chiêm nghiệm về cái khổ thì tình thương của mình sẽ nảy nở, sẽ lớn mạnh, sẽ thấm nhuần, tự động tâm từ của mình dễ tu tập, dễ phát triển quảng đại. Nếu không thấy khổ thì tu tâm từ rất khó vì không khổ thì làm sao biết thương? Bây giờ mình thương người kia là do mình thấy tội nghiệp người kia, còn nếu không tội nghiệp thì làm sao thương? Bây giờ mình cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi thì lúc đó mình có thấy khổ không? Do không thấy khổ nên mới như vậy, không thấy khổ thì không có tình thương, không thương thì không hành từ được, không hành từ được thì sân, có sân thì có đấu tranh, có đấu tranh thì bất hòa, bất an, bất hạnh, không có hạnh phúc, như vậy muốn hạnh phúc thì đầu tiên phải hiểu được khổ đau, người thấu hiểu được khổ đau một cách cùng tận thì người đó đạt được hạnh phúc tối thượng.
Chúng ta cảm ơn chư thiên, chưa thần, các vị long thiên bát bộ hộ pháp, chư vị hữu tình ở khắp non thiêng này, hướng về chánh pháp tối thượng đảnh lễ bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Con dập đầu cúi lạy bậc tôn kính nhất đời, bậc hoàn toàn thanh tịnh, diệt tận tham, sân, si, bậc hoàn toàn giác ngộ thân tâm và thế giới Phật Thích-ca Mâu-ni.
Đảnh lễ bốn thánh trí, trí tuệ tối thượng đưa đến ly tham giải thoát.
Đảnh lễ bốn đôi tám chúng hiền Thánh Tăng là ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người.
Trong lúc đầu tiên ngồi nghe bài Về núi yên tu thật tuyệt vời và nãy giờ chúng ta ngồi ngoài trời xuyên không trở về thời của Đức Phật để nghe Thánh ngữ, Phật môn thì thọ; tưởng; hành của chúng ta như thế nào?
II. Trình pháp
Sư thầy 1
Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ, chư tôn đức Tăng Ni cùng toàn thể đại chúng. Kính bạch trên sư phụ và đại chúng, trong lúc nghe bài thiền quán về núi yên tu thì con xin nhận diện ngũ uẩn. Sắc thân tứ đại con đang ngồi đây cùng với đại chúng, cảm thọ con vô cùng hoan hỉ, trong thân được hòa vào không khí bình lặng, không gian mát mẻ, có những âm thanh vọng về nên con thấy dễ chịu, an lạc. Cái tưởng của con là hình bóng về những ngày ở trên núi tu tập cùng đại chúng, hình ảnh được ngồi trên quán chiếu đường tỉnh tu. Suy nghĩ của con đi theo bài hát, thả tâm mình để tận hưởng bầu không khí hỷ lạc, thức con nhận biết rõ thọ; tưởng; hành lúc đó. Trong không khí đó con cũng biết đó là niềm hỷ lạc nhưng con cũng không tác ý để chặn hỷ lạc đó, con cũng muốn để vậy sanh khởi để hòa mình vào để cảm nhận không gian. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Đó là cảm thọ của con.
Sư Phụ: Thầy nhận diện ngũ uẩn rất rõ, khi mình mới tu thì cần niềm hỷ lạc, niềm vui, đây là bước đệm, tư lương để mình đi vào sơ thiền cho nên khi tu mà vui, hạnh phúc là tác ý cho vui, cho hạnh phúc lên chứ đừng kiềm lại, đừng chặn lại. Có những cái vui này mới tẩy được những cái vui ngũ dục thấp hèn của phàm tục, nếu không thì tu chán ngắt, vô vị, không có thiền vị, pháp vị, không có pháp lạc, không có thiền duyệt, hỷ lạc là do mình không biết tác ý, mình tu trơ trơ trong khi người ta tu hạnh phúc dào dạt, chứa hạnh phúc không nổi trong thân phải trào ra ngoài bằng nước mắt, nhưng mình cứ đơ đơ, không cảm thấy gì, tức là mình vô cảm đối với chánh pháp. Cho nên lúc đầu tu thì như vậy nhưng từ từ mình sẽ có cảm thọ đối với chánh pháp, đó là lý do trong kinh thường dùng từ "thọ trì", "các Tỳ-kheo hoan hỉ thọ trì", tức là các vị đó nghe Đức Phật nói rất vui, cái thọ đó là thọ nhận, trì là giữ gìn để thực hành cho nên nghe pháp phải có thọ.
Khi con nhìn ánh mắt sẽ biết người đó có thọ hay không, thọ nhiều hay ít, nhìn gương mặt cũng biết, có thể không biết 100% nhưng biết hơn 50%. Nhiều khi không cần nói ra đâu, nhìn tướng là biết nhận pháp hay không nhận, nhận bao nhiêu và có hỷ lạc hay không cho nên lúc mới tu hỷ lạc rất cần thiết nhưng không phải buông lung phóng dật. Vui trong buông lung phóng dật là khác, vui trong pháp hỷ lại khác.
Sư cô 1
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin kính lễ trên sư phụ, chư tôn đức Tăng Ni cùng toàn thể đại chúng. Con xin nhận diện ngũ uẩn khi nghe bài hát, bài kệ quán về núi yên tu, mặc dù hôm qua con chỉ có hơn một tiếng học pháp từ cô Thông Tuệ nhưng con cũng xin trình bày một cách đơn giản nhất ạ.
Về sắc thì thân tứ đại con đang ở đây cùng với đại chúng, còn thọ thì thân con cảm thấy dễ chịu, hoan hỉ và an lạc, tưởng là hình bóng trong con xuất hiện hình bóng Tăng đoàn thời Đức Phật Thích-ca Mâu-ni cách đây hơn 2500 năm, tưởng cũng cho con hình bóng của chú rùa mù may mắn 100 năm nổi lên mặt nước mà gặp được bọng cây, lúc đó hành cho con suy nghĩ là "mình cũng như chú rùa đó, thật là may mắn, thật là diệu kì. Biết bao đời chìm nổi rồi mà mình cũng được ở đây học chánh pháp", hành thôi thúc con là phải cố gắng hết sức mình trong 15 ngày tu tập tinh tấn, tiến bộ để thâm nhập vào chánh pháp. Thức con lúc đó rõ biết về thọ; tưởng; hành trong con, con xin hết. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Rất là tốt. Lành thay! Lành thay! Mới được hướng dẫn nhận diện ngũ uẩn mà nhận diện được như vậy là rất tốt. Trong bài kinh hôm nay Đức Phật dạy về lục hòa thì cô có cảm nhận gì không?
Giới tử 1
Về bài kinh hôm nay được nghe thầy giảng pháp thì con cảm nhận như lời pháp nhũ chan hòa tình thân ái cũng chính là tình thân ái mà con cảm nhận ngay từ giây phút đầu tiên con được lên núi Linh Quy, con cảm nhận đây như một ngôi nhà thân thương từ sư phụ tôn kính đến chư đại đức Tăng Ni không hề phân biệt chúng con là giới tử mới hay là khách đến thăm chùa đều được đối xử hết sức nhân ái, ban trải tình yêu thương đến chúng con. Dù là trong lời Phật dạy trong bài kinh có dạy các Phật tử cách đối xử từ ái, luôn an trú trong lòng yêu thương, đối xử trước mặt cũng như sau lưng đều phải từ ái với nhau, con cũng chưa được ở đây lâu nên con chỉ mới cảm nhận sự yêu thương, đùm bọc, từ ái của tất cả mọi người thôi ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con xin hết ạ.
Giới tử 2
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ cùng chư vị đại đức Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền trí đang có mặt ngày hôm nay. Con xin phép được nhận diện ngũ uẩn vì đây cũng là lần đầu con tiếp xúc, có gì xin nhờ trên sư phụ chỉ giùm con. Lúc nghe bài kệ về núi yên tu thì sắc uẩn là thân xác con đang ngồi ở đây cùng các quý thầy và quý cô, cảm thọ lúc đó của con nhẹ nhàng, dễ chịu, khi nghe bài kệ cùng với tiếng nhạc thì có một chút hân hoan. Cái tưởng lúc đó là hình bóng vắng lặng và hiện lên hình ảnh hôm trước cả Tăng đoàn đi khất thực, hành suy nghĩ từ giờ đến lúc xuống núi không biết mình còn học thêm được gì nữa. Thức lúc đó rõ biết mình đang ngồi ở đây, biết được suy nghĩ, cái tưởng của mình, con xin hết, con cảm ơn.
Sư Phụ: Lành thay! Rất là tốt. Mời chú Phật tử từ rất xa về thăm con, chú về trễ nhưng cũng cạo đầu rất sạch.
Chú Phật tử
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thầy cùng chư tôn đức Tăng Ni và quý Phật tử có mặt ngày hôm nay. Theo cảm nhận của con thì hôm nay được gặp thầy cùng quý chư tôn đức Tăng Ni thì con cảm thấy hạnh phúc, cảm thọ con thấy hạnh phúc, trong niềm hoan hỉ vì có nhân duyên được gặp thầy nhưng cũng có khổ thọ của con là cảm thấy nóng và ngồi tê chân quá, đó là thọ khổ. Con xin hết ạ.
Sư Phụ: Cái khổ đó có quán không?
Chú Phật tử: Dạ có nhưng nó cứ đeo bám.
Sư Phụ: Khi mình bị khổ mà muốn diệt cảm thọ đó thì mình khổ hơn nhưng mình cảm nhận cái khổ đó để mình thể nhập vào trí tuệ thì đó lại là cơ hội.
Chú Phật tử: Dạ, con cám ơn thầy.
Sư Phụ: Khi mình gặp sự khó chịu từ thân cho đến tâm mình đừng có ý muốn diệt cái khó chịu đó, mình muốn diệt đối tượng làm mình khó chịu hoặc chạy theo đối tượng đó thì lúc đó mình phải cảm nhận cái khổ đó để thể nhập vào khổ thánh trí. Mình chỉ ngồi không thôi đã khó chịu như vậy, mình nghĩ xem ngày xưa thái tử Tất-đạt-đa ngồi bao lâu, ngài phải chịu nắng táp mưa sa như thế nào. Khi quán như vậy thì tự nhiên cái khổ này không là gì cả, có rất nhiều cách để mình quán, nhiều phương diện cho mình quán chiếu cho nên tu Nikāya là tu trí tuệ, như Đức Phật nói có một pháp tối thượng trong sáu pháp là tri kiến của bậc Thánh, là cái thấy đúng của bậc Thánh, cái thấy đúng tận cùng là khổ thánh trí, khổ thánh đế. Khi mình thấy cái khổ đó rồi thì tham, sân, si, vô minh, bản ngã tự động lắng dịu xuống.
Phật tử Bảo Lưu
Con cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, con cúi đầu đảnh lễ trên sư phụ và chư Tăng, chư Ni và toàn thể các bậc hiền trí. Con pháp danh Bảo Lưu đến từ Quảng Nam, con xin nhận diện ngũ uẩn. Thân tứ đại con đang quỳ là sắc, cảm thọ con rất hoan hỉ dễ chịu là thọ, tưởng con là hình bóng trong tâm là con tưởng mình đang hòa nhập vào trong Tăng đoàn của Đức Phật. Hành con suy nghĩ đời này con quá hạnh phúc, may mắn vì gặp được chánh pháp Nikāya và sư phụ, thức con rõ biết thọ; tưởng; hành. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Cô phải thực tập thêm nữa, còn hơi lẫn lộn, cũng tương đối rồi. Con mời thầy mới lên ạ.
Sư thầy 1
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thầy, con kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng toàn thể các bậc hiền trí ở đây. Con xin nhận diện ngũ uẩn của con trong lúc này, sắc thân con hiện tại đang ngồi ở đây, thọ của con có những rung cảm, có những cảm giác dễ chịu của lạc thọ. Cái tưởng của con là hình bóng núi rừng nơi đây, ý hành con suy nghĩ về bài kệ về núi yên tu rất xúc động, nhất là khi gặp chánh pháp mà không đi theo con đường này uổng cả đời tu xuất gia của mình. Thức con rõ biết về thọ; tưởng; hành của con.
Sư Phụ: Khi nãy thầy nói lạc thọ rung cảm thì nó ra sao, thầy có thể chia sẻ thêm không?
Sư thầy 1: Cảm xúc con kiểu như là đây là sự thật mà đó giờ con mới được thấy, được nghe, được gặp nên trong người con có sự rung động. Mô Phật, con xin hết.
Sư Phụ: Thầy gặp cái gì? Thầy thấy cái gì? Thầy nghe cái gì?
Sư thầy 1: Dạ. Sự thật đơn giản mà không hề cao xa đâu hết mà đó giờ con không hề hay biết, cứ nghĩ nó cao siêu nhưng chánh pháp rất gần gũi thiết thực, hiện tại với chúng ta nên con thấy rung động vì điều đó.
Sư Phụ: Hoan nghênh thầy. Chánh pháp bình dị, giản đơn.
Đây là phương trước mặt,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm từ của ta.
Tình thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bên phải
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tình thương của ta.
Tình thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bên trái
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tình thương của ta.
Tình thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía sau
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tình thương của ta.
Tình thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía trên
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tình thương của ta.
Tình thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bề ngang
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tình thương của ta.
Tình thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Tình thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này,
Tình thương này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.
./.