Nuôi Dưỡng Cảm Xúc
Nuôi Dưỡng Cảm Xúc
Thích Minh Thành
Xin đại chúng rõ biết trước mặt, mắt chúng ta nhìn xuống về phía trước, tầm nhìn rộng mở. Cảm giác hơi thở, cảm nhận hơi thở, cảm giác cơ thể, cảm giác nơi lồng ngực, cảm giác toàn thân. Hít vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm tâm lắng dịu. An tịnh… lắng dịu, an tịnh… lắng dịu… dễ chịu… ngọt ngào. Cảm nhận sự an tịnh của không gian nơi này, cảm nhận sự thanh tịnh, bình an. Thở vào, thở ra làm cho cảm giác dễ chịu, an tịnh và lắng dịu, cảm nhận sâu sắc khoảnh khắc bình an này.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác. (ba lần)
Kính thưa quý thầy, quý cô, đại chúng. Bây giờ đang là những ngày cuối năm, những bạn sinh viên với tấm lòng rất chân thành, quý mến Tam Bảo cũng như thương Linh Quy Pháp Ấn nên đã giành thời gian quý báu, công sức và tiền của để hộ trì Tam Bảo, trở về để cảm nhận không gian của núi đồi, của rừng thiền. Đây là tấm lòng quý kính Tam Bảo của các bạn, tối nay chúng ta có buổi pháp đàm, chiều nay tất cả các bạn được quý thầy, quý sư cô hướng dẫn cho mình thực tập nhận diện ngũ uẩn.
Chú Khiêm Định: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, con kính bạch quý sư cô. Con xin phép được đọc định nghĩa ngũ uẩn.
Thân người là sắc
Cảm giác là thọ
Hình bóng là tưởng
Suy nghĩ là hành
Rõ biết là thức.
Sinh viên A: Con kính bạch sư phụ, quý thầy và các huynh đệ. Thân con hiện tại cùng với các cảnh vật cũng như các huynh đệ ở đây là sắc, trong con hiện tại có dòng cảm thọ lạc thọ xuất hiện, hình bóng trong tâm con chính là những lời pháp nhũ rất ý nghĩa từ sư phụ, trong lúc con nghe được những lời pháp nhũ của sư phụ cũng như không gian yên tĩnh nơi đây thì âm thanh cũng như không gian chứa trong tâm con là hành trong tâm con, rõ biết cảm thọ, tưởng cũng như rõ biết các suy nghĩ chính là thức.
Sư Phụ: Nói chậm lại.
Sinh viên A: Thân con chính là sắc, cảm thọ trong con là lạc thọ, hình bóng trong con là tưởng là những dòng pháp nhũ của sư phụ cũng như những âm thanh.
Sư Phụ: Nhắm mắt lại, để ý vào trong tâm có hình bóng gì?
Sinh viên A: Dạ, hình bóng của các huynh đệ và các quý thầy.
Sư Phụ: Hình bóng đó là gì?
Sinh viên A: Đó chính là tưởng.
Sư Phụ: Tiếp theo.
Sinh viên A: Có cảm giác dễ chịu trong con. Sau đó con có suy nghĩ "con cảm thấy biết ơn giây phút hiện tại khi được có mặt ở nơi này cùng các huynh đệ cũng như tất cả mọi người được tu tập về Linh Quy Pháp Ấn và được nghe sư phụ cũng như được các thầy hướng dẫn trong hiện tại".
Sư Phụ: Suy nghĩ đó là gì?
Sinh viên A: Dạ, đó là hành. Sự rõ biết cảm giác, rõ biết được hình bóng trong tâm cũng như rõ biết về những suy nghĩ trong tâm chính là thức.
Sư Phụ: Rất rõ. Khi các bạn xuống núi mà nhận diện được năm uẩn sẽ không uổng một chuyến đi, vì khi các bạn đem sự học hiểu này về nhà sẽ thấy giá trị của nó dùng suốt đời, mình sẽ biết được thật sự thân tâm mình cấu thành từ những gì và đang vận hành như thế nào, mình sẽ có khả năng nhiếp phục và làm chủ cảm xúc, những suy nghĩ của chính mình.
Sinh viên B: Bạch sư phụ, bạch quý thầy, bạch quý sư cô và các huynh đệ. Con tên Đỗ Ngọc Kim Tuyến, pháp danh Trúc Thiên Ân, con xin nêu ngũ uẩn. Sắc là thân tứ đại đang đứng ở đây. Thọ đối với thân con là lạc thọ, con thấy rất thoải mái với không khí và không gian nơi này, tâm con có hỷ thọ vì con thấy biết ơn được ở đây cùng với các huynh đệ. Trong con có hình bóng hiện ra là con đứng đây cùng mọi người để trình bày với thầy với sư phụ. Hành trong con là phải cố gắng để giải thích cho mọi người hiểu ngũ uẩn. Thức của con là hiểu được thân, hiểu được thọ; tưởng; hành đang vận hành trong tâm. Con xin hết.
Sư Phụ: Rất dễ. Ngày mai xuống núi phải nắm vững được nhận diện ngũ uẩn, chỉ cần một cái này là có chìa khóa mở được kho tàng Thánh Pháp của Đức Phật.
Sinh viên C: Thân con đang đứng là sắc. Con cảm thấy rất biết ơn nhưng cũng có hồi hộp.
Sư Phụ: Đó là khổ thọ.
Sinh viên C: Dạ. Về tưởng thì con đang có hình bóng về không gian yên tĩnh và được các thầy chia sẻ với tụi con.
Sư Phụ: Tưởng là hình bóng trong tâm, bây giờ bạn nhắm mắt lại rồi xem trong đó có hình bóng gì.
Sinh viên C: Dạ. Về tưởng thì con đang cảm giác được các thầy và các huynh đệ đang ở đây để nghe các thầy chia sẻ ngũ uẩn cho tụi con. Về hành thì con đang suy nghĩ trả lời sao cho rõ về ngũ uẩn. Về thức thì con đang nhận thức rõ con đang ở tại đây cùng với các thầy và các huynh đệ.
Sư Phụ: Chúng ta đừng để bị lẫn lộn giữa sắc và tưởng vì nó khác nhau, khung cảnh chúng ta đang ngồi đây là sắc pháp, hình bóng trong tâm mới là tưởng. Sắc là thân người, đồ vật, cảnh vật tứ đại. Thức chỉ biết thọ; tưởng; hành, ý thức biết được cảm giác, hình bóng, suy nghĩ.
Có ai hỏi gì về buổi học nhóm chiều nay không? Xoay quanh vấn đề chúng ta được chia sẻ hoặc có thể hỏi những câu liên hệ đến sự tìm hiểu, thực tập Phật Pháp, hoặc những sự khó khăn trong tâm. Chúng ta đã nghe giảng rất nhiều rồi nên bây giờ phải có phương pháp thực hành thiết thực sẽ quý hơn.
Sinh viên D: Kính bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, kính bạch sư cô và kính thưa quý huynh đệ. Con xin phép được trình sư phụ một câu hỏi nhỏ, chúng con là những chúng sinh đi trên con đường giác ngộ của Đức Phật, trên con đường đó chúng con phải gội rửa rất nhiều lầm lỗi của bản thân như bản ngã, ích kỉ, kiêu mạn… ngấm ngầm trong tâm. Con cũng xin bạch sư phụ trong giờ phút thiêng liêng năm cũ sắp qua, năm mới sắp đến sư phụ cho chúng con xin lời pháp nhũ nói về đạo đức. Trong rất nhiều đạo đức chúng con cần tu dưỡng có một đạo đức quan trọng nhất mà chúng con thiết thực được trong đời sống hoặc ít nhất là trong năm mới sắp tới, rộng mở ra là trong suốt đường đời chúng con đi sau này. Xin sư phụ cho chúng con những lời pháp nhũ, con xin cám ơn sư phụ.
Sư Phụ: Tại sao chúng ta phải học nhận diện ngũ uẩn? Chúng ta biết rất nhiều kiến thức về hóa học, sinh học… nhưng kiến thức về chính mình lại không hiểu được bao nhiêu. Nhận diện ngũ uẩn chính là sự tìm hiểu chính mình, nếu mình không hiểu được mình thì những điều mình hiểu không đem lại giá trị thiết thực, thực dụng để mình có cuộc sống bình an và hạnh phúc, cho nên đạo Phật gọi là đạo giác ngộ, tức là thấu hiểu chính mình hoàn toàn triệt để tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ đầy đủ, viên mãn về tự thân tâm mình thì gọi là giác ngộ, phương pháp chúng ta vừa được hướng dẫn chính là tìm hiểu chính mình. Chúng ta đặt những kiến thức xuống và trực tiếp, trực chỉ nhìn vào nội tâm chính mình, nhìn vào thân thể của mình, nếu chúng ta không biết cái gì đang ở trong này, cái gì đang vận hành, điều khiển, hoạt động trong nội tâm thì chúng ta sẽ không dừng lại được sự phiền não, lo âu, sợ hãi, bất an và đau khổ vì mình không hiểu chính mình. Cho nên điều đơn giản nhất chúng ta phải hiểu tâm là gì, đó là những cảm giác, nghĩ tưởng, chúng ta thường tìm hôm nay ăn mặc, phải mặc đồ gì, đi đâu, học ngành gì… trong khi lại không biết trong thân này cái gì đang thúc giục và điều khiển chúng ta, chỉ có Đức Thế Tôn, bậc Chánh Biến Tri thấy biết cùng tột mới chỉ cho mình biết được thật sự cái gì đang vận hành, hoạt động, điều khiển và làm chúng ta đau khổ.
Chúng ta đã học qua ba loại cảm giác, cảm thọ. Trong con người chúng ta là những dòng cảm giác, cảm xúc điều khiển mọi thứ, tất cả mọi suy nghĩ, ngôn ngữ và hành vi. Khi chúng ta có cảm giác khó chịu thì lúc đó có sân giận, cơn giận khi nó sanh khởi sẽ như thế nào?
Chú Bảo Huy: Thưa sư phụ, khi cơn giận sanh khởi lên thì cảm giác nóng trong người. Trong ba loại cảm giác thì giận lên sẽ dính vào cảm giác khó chịu nhưng có nghịch lý là mình lại muốn thỏa mãn cảm giác khó chịu đó. Con đang phân vân là nếu mình thỏa mãn cơn giận đó thì đó là cảm giác dễ chịu hay vẫn là cảm giác khó chịu ạ?
Sư Phụ: Khi cảm giác khó chịu thì luôn có sân hận, tức giận, bực bội trong cảm giác khó chịu đó. Do bình thường mình không nhìn ngó, chăm sóc, huấn luyện, giáo dục cảm giác nên khi cảm giác bung ra thì mình hoàn toàn bất lực và có những chuyện đau lòng xảy ra, như trong trường học giữa các bạn với nhau. Những cảm giác tức giận khi bung ra thì hoàn toàn xâm chiếm, áp đảo và sai khiến, điều khiển mình, lúc đó mình không thể làm chủ bản thân được nữa, mình không biết cảm giác đó chỉ là cảm giác mà mình bị đồng hóa với cảm giác "tôi đang tức giận", mình nhận cảm giác khó chịu, sân hận, bực bội đó là mình và nhập một với nó, mình để cảm giác đó điều khiển, sai khiến, áp đảo. Sau đó phát ra ngôn ngữ, hành động làm đau khổ mình, đau khổ người rồi ăn năn, hối hận.
Điều chúng ta đang thực tập ở đây mà Đức Phật gọi là quán thọ trên các thọ. Thọ ở đây chính là cảm thọ, cảm xúc, cảm giác, tức là mình phải thường xuyên để ý xem trong người mình cảm giác lúc này như thế nào. Có những người tuy có tiền bạc, nhà cửa, xe cộ nhưng lúc nào trong người họ cũng có cảm giác gắt gỏng, cộc cằn thì người đó sống có hạnh phúc, thoải mái, thảnh thơi không? Vì thế điều quan trọng trong tu học là chăm sóc cảm xúc, cảm thọ của mình, nuôi dưỡng những cảm thọ hiền thiện, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Chúng ta trồng cây phải có tưới nước, bón phân, chăm sóc mới ra hoa kết trái, cũng vậy, mình chỉ biết chăm sóc cho gương mặt, mái tóc, bộ đồ, món ăn, căn phòng… mà mình không biết điều quan trọng cần chăm sóc là cảm xúc, cảm giác. Vì hạnh phúc hay không hạnh phúc chính là ở cảm giác, những điều bên ngoài chỉ là cái phụ còn cái chính yếu là bên trong thân tâm mình. Trong việc ngồi thiền Đức Phật dạy cảm giác toàn thân để thường xuyên nhìn ngó lại cảm xúc hiện tại trong người như thế nào, nó thuộc về cảm thọ dễ chịu hay khó chịu hay không dễ chịu không khó chịu. Nếu là cảm thọ dễ chịu, khoan khoái, thích thú thì lúc nào cũng có tham, cảm thọ khó chịu, bực bội lúc nào cũng có sân, mình phải chăm sóc chứ đừng để cảm thọ khó chịu đó tăng trưởng, phát triển bành trướng, xâm chiếm, áp đảo, dẫn dắt mình. Nếu để cảm giác sân hận đó phát triển nhiều sẽ không ai dám lại gần mình, tự mình làm khổ mình, làm khổ cho người ở chung mình và thậm chí làm khổ luôn cho những người xung quanh mình vì lúc nào mình cũng như lò lửa. Cho nên thực tập là thực tập những cảm giác dễ chịu, lắng dịu, ngọt ngào.
Chúng ta đưa tay lên ngực, vừa vuốt ngực vừa nói "an tịnh nè, lắng dịu nè, dễ chịu nè". Chúng ta làm phải có sự nhiệt tâm trong đó, không được làm máy móc hoặc chỉ nói trên miệng, khi nói phải hướng vào lồng ngực ngay cảm giác rồi kêu nó "an tịnh" để cảm giác trong người mình nghe được tiếng nói đó và nó ngoan ngoãn thực hành theo. Lúc đầu thực tập có người sẽ nghĩ giống như tiểu học nhưng điều này rất quan trọng và cần thực tập trong mỗi buổi sáng hoặc trong lúc ngồi thiền, nếu không ngồi thiền được thì sáng thức dậy ngồi trên gường thực tập luôn, mỗi ngày mình đều thực tập như vậy thì cảm giác của mình sẽ nghe lời theo mình. Khi ngủ dậy sẽ có cảm giác thúc giục bên trong kêu làm cái gì, làm cái kia cho nhanh lẹ nhưng lúc đó mình lại kêu "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu", mình ngồi đó thở thật sâu và cảm nhận cảm giác toàn thân, từ đỉnh đầu đến gót chân là cảm giác ngọt ngào, bình an, lắng dịu, dễ thương. Mình thấy dòng cảm xúc đó lan từ lồng ngực lên mặt, mắt, hai tai, lan đến miệng thì miệng mỉm cười, lan đến đâu mát mẻ, dễ chịu đến đó, lan khắp đỉnh đầu đến gót chân và cả châu thân mình là dòng nước mát cực kì lắng dịu, ngọt ngào, dễ thương. Phải làm cho dòng cảm thọ đó luân lưu, tuôn trào, nó ngấm và nhuần thấm toàn bộ cơ thể. Ngay giờ phút này chúng ta hãy cảm nhận một cảm giác thật an tịnh, chúng ta hướng tâm mình về lồng ngực cảm nhận hơi thở và một cảm giác an tịnh, lắng dịu trong giờ phút này. Một cảm giác thật an bình, dễ chịu đang nhuần thấm, lan tỏa cùng khắp châu thân chúng ta, một cảm giác ngọt ngào, êm ái, dễ chịu và bình an. Chúng ta có thấy cảm giác dễ chịu, ngọt ngào không? Đây là bài tập hãy tập nó mỗi ngày trước khi ngủ hoặc lúc thức dậy, khi đã thực tập quen mới mở rộng bài tập ra, khi đã quen thì trong người chúng ta bắt đầu xuất hiện một dòng cảm xúc lắng dịu, an tịnh, dễ chịu, ngọt ngào có mặt bên trong chúng ta. Khi nó đã có mặt bên trong mà mỗi khi chúng ta mệt thì đây chính là nguồn năng lượng, chỉ cần năm mười phút ngay đó thực tập bài tập này chúng ta sẽ thấy thân mình khỏe lại. Khi đã có sự thực tập thuần thục, nhuần nhuyễn mà bực bội, sân giận thì phải nhớ đem bài tập này ra thực tập ngay lúc đó "dễ thương đi, đừng quậy nữa".
Bây giờ chúng ta học thêm một bài tập nữa là Như lý tác ý, khi nãy là chúng ta học về cảm thọ, còn giờ chúng ta qua hành uẩn, tức là tác động tâm ý bằng suy nghĩ. Thật sự tâm mình rất khó nghe lời, khó dạy cho nên muốn cho tâm ngoan hiền phải có công phu, đây gọi là chánh tư duy trong Bát Chánh Đạo, tức là dùng suy nghĩ đúng để huấn luyện, giáo dục, chuyển hóa suy nghĩ sai quấy, không thể tự nhiên vào ngồi hoặc lạy Phật là được trí tuệ, thiền định mà phải có sự để tâm vào trong những suy nghĩ, cảm giác. Suy nghĩ, cảm giác, hình bóng là ba điều cực kì quan trọng, không được quên. Lúc nào cũng xem lại trong người đang có cảm giác gì, có cảm giác bực bội, khó chịu, ganh tị, đố kị, hơn thua không. Xem trong người đang có suy nghĩ gì, suy nghĩ này là thiện hay bất thiện, suy nghĩ này là tốt hay xấu, suy nghĩ này hại mình hại người hay lợi mình lợi người, suy nghĩ này đưa đến bình an hay đưa đến bất an, đau khổ. Chúng ta phải kiểm tra, kiểm soát, kiểm tâm mình, đừng lo đếm tiền mà đếm tâm, đừng lo nhìn cảnh, người nhìn bên ngoài mà hãy lo nhìn lại thân tâm. Mình bỏ quên cảm xúc, bỏ quên nội tâm, suốt cuộc đời chúng ta bị những cảm giác bên trong thúc giục đi tìm cái này cái kia, muốn cái này cái nọ, khi chưa tìm được thì mong muốn, ước ao, tưởng mơ, khát khao, mộng mơ và mình đau khổ trong cái tìm không được. Mình tưởng khi có được sẽ hạnh phúc nhưng khi có được thì hỡi ơi lại có cái khổ khác, cái khổ của có được. Đến khi mất rồi lại có cái khổ của mất đi. Nhưng vì trí tuệ không thành tựu nên cứ luôn bị sự thúc giục bên trong đòi hỏi, Đức Phật nói thân này là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái.
"Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái", thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla).
Câu này cần chiêm nghiệm kĩ càng nhất là tuổi trẻ. Chính sự đòi hỏi, thèm thuồng, thúc giục, khao khát bên trong làm cho mình phải chạy đi tìm kiếm mãi, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu sự thất vọng, đau khổ, buồn rầu chỉ vì cảm giác thúc giục bên trong. Chúng ta có sự nhận diện ngũ uẩn mới nhìn ra được thủ phạm thật sự, nguyên nhân thật sự làm chúng ta mệt mỏi, chạy đi tìm kiếm, thèm muốn, đói khát hoài, chúng ta sẽ phát hiện đó là cảm giác thúc giục bên trong điều khiển chúng ta. Chúng ta có rất nhiều kiến thức và sự hiểu biết bên ngoài nhưng lại nghèo nàn trong sự thấy biết chính tự tâm mình, sự nhận diện năm uẩn là để tìm hiểu chính mình. Chúng ta để ý cảm giác, chăm sóc, huấn luyện, dạy dỗ, lèo lái cảm giác để có nhiều cảm giác hiền thiện, dễ thương, an tịnh, đây là bài tập tuyệt đối quan trọng, nhất là khi chúng ta ở ngoài xã hội sẽ gặp rất nhiều chuyện khó khăn, cản trở, nếu không sự trầm tĩnh, không có sự thực tập cảm giác sẽ gặp nhiều bất trắc, nguy hiểm xảy ra.
Điều thứ hai chính là sự tác động tâm ý bằng suy nghĩ, bằng sự nhắc nhở chính mình. Khi nổi cơn giận thì tác ý "Ưa giận lắm hả? Thích giận lắm phải không? Muốn đốt, muốn thiêu, muốn cháy nhà phải không? Cảm giác này hãy an tịnh đi, lắng dịu đi, hãy dập tắt cảm giác sân hận, bực bội này đi, cảm giác thiêu đốt này hãy mát lạnh đi. Đừng thiêu đốt ta nữa, chính ngươi đốt cháy ta, làm ta bức xức, khó chịu, cau có, hơn thua hoài, chính ngươi là nguyên nhân làm cho ta đau khổ, chính ngươi là nguyên nhân làm mọi người lánh xa ta". Tác động tâm ý để cảm giác này tan ra như lấy chổi quét ra khỏi căn nhà nội tâm, chúng ta quét nhà, dọn rác phòng ốc thì bây giờ phải quét rác nội tâm. Trong căn nhà nội tâm chúng ta có rất nhiều rác bẩn, cấu uế sân hận, tham muốn, ích kỉ, sự vô tri, si mê không hiểu biết, rác bẩn của cái ta, cái tôi, bản ngã, kiêu mạn, thị phi, nhân ngã bỉ thử, tranh đấu… có rất nhiều rác và thiền của đạo Phật tức là ở yên trong nhà, không chạy ra ngoài nữa để nhìn vào nội tâm, tìm rác trong ngõ ngách, hóc kẹt để làm vệ sinh căn nhà nội tâm, đó gọi là thiền chứ không phải thiền là vào ngồi nhắm mắt thở ra thở vô rồi ngủ gục. Thiền là ngồi nhìn lại trong cảm giác của mình, xem lại suy nghĩ, hình bóng trong tâm đang có suy nghĩ, cảm giác, hình bóng gì hoặc nhìn lại cả ngày mình đã có lời nói, hành vi như thế nào. Nếu là xú uế, cấu nhiễm, dơ bẩn thì phải lau chùi, làm vệ sinh, tẩy sạch thân tâm mới gọi là thiền, đây là cách làm sạch nội tâm, quét căn nhà nội tâm. Căn nhà lúc nào cũng bóng lưỡng, sạch sẽ trong khi nội tâm là một đống rác to lớn vì lâu ngày không quét rác nội tâm. Có rất nhiều suy nghĩ bất thiện, xấu ác, hơn thua, nhỏ mọn, ganh tị, cống cao ngã mạn đưa mình đến khổ đau mà mình cứ nghĩa tại người này người kia làm mình khổ đau, thật ra là tại tâm ích kỉ, nhỏ hẹp, tâm cộc cằn mới biểu hiện ra những ngôn ngữ, hành vi nên người ta thấy mình như vậy thì làm sao thương được, người ta ghét hoặc thậm chí có sự trả đũa nên mình nghĩ người đó ghét mình rồi hại mình, kinh Pháp Cú có câu:
Kẻ thù hại kẻ thù,
Oan gia hại oan gia,
Không bằng tâm hướng tà,
Gây ác cho tự thân.
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 42)
Kẻ thù hại kẻ thù, oan gia hại oan gia nhưng hai cái này cũng không bằng cái tâm hướng tà, tâm xấu ác, tâm bất chánh và chính tâm này gây ác cho tự thân, cái tâm đó như chất gỉ sét sanh ra từ sắt rồi hủy hoại chính thanh sắt ấy. Cũng vậy, những cảm giác bất thiện, những suy nghĩ xấu ác của tham sân si, bản ngã, những tư tưởng hẹp hòi, đố kị, ganh tị, hơn thua đó làm hại chúng ta, chính những thứ đó mới thật sự là kẻ thù của chúng ta chứ không phải người bên ngoài. Nếu một người kiếm chuyện gây sự với chúng ta mà chúng ta thường niệm "an tịnh nè, lắng dịu nè, ngọt ngào nè, dễ thương nè, tha thứ nè", mình không giận, không cự cãi, không đánh nhau thì người ta có hại mình được không? Còn đằng này mới nói một câu mà mình nói lại đến ba câu thì đương nhiên sẽ xảy ra chuyện, đó là tâm hướng tà, gây ác cho tự thân cho nên điều quan trọng trong tất cả cái quan trọng làm chúng ta không bình an, không hạnh phúc không phải những cái bên ngoài mà chính là những cảm giác, nghĩ tưởng thọ; tưởng; hành. Sự đau khổ của chúng ta không phải từ bên ngoài mà sự đau khổ thật sự của chúng ta chính là từ những cảm giác và nghĩ tưởng trong tâm. Chính vì vậy sự tu tập của đạo Phật là chăm sóc cảm giác, suy nghĩ và những tu tưởng. Phải thanh lọc, huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ, rèn luyện những cảm giác, nghĩ tưởng đó, ngoài ra phải kiểm tra nó hằng ngày hằng giờ, đọc từng suy nghĩ nếu suy nghĩ nào xuất phát từ tâm sân hận, nóng giận thì suy nghĩ này chắc chắn hại mình, hại người, làm cho mình trở thành người không mắt, làm cho mình đau khổ người đau khổ nên phải nhiếp phục, quét nó ra khỏi căn nhà nội tâm, đó gọi là suy nghĩ đúng Chánh Pháp, là ly sân tư duy, bất hại tư duy. Suy nghĩ nào làm cho mình rời xa nóng giận, hại người thì đó là suy nghĩ đúng pháp, gọi là chánh tư duy. Suy nghĩ nào làm cho tham muốn không chánh đáng thì phải hạ gục, đập tan, đuổi nó ra khỏi thân tâm hoàn toàn sạch sẽ, đó là sự tu tập của chúng ta, đây là đức hạnh tối thượng trong tất cả đức hạnh của người tu, chính là sự kiểm soát cảm giác và suy nghĩ. Tham sân si, bản ngã làm cho chúng ta đau khổ, nó cũng là nguyên nhân sanh ra đau khổ trên toàn thế giới, nó nằm trong cảm giác, nghĩ tưởng. Nếu chúng ta không nhìn thấy nguồn cội, căn cứ địa phát ra tham sân si, bản ngã thì làm sao chúng ta có thể chấm dứt được đau khổ? Cho nên Tứ Thánh Đế chính là đây, nguyên nhân của đau khổ là những cảm giác ta đây, ngông nghênh, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc, cho mình là tài giỏi, hiểu biết… đó là những cái làm khổ mình làm khổ người. Chúng ta phải nhìn ta được những thứ này, chúng ta tập tác động tâm ý đúng như chân lý (Như lý tác ý), đó là sự suy nghĩ đúng đắn theo lời dạy của Đức Phật, suy nghĩ đuổi dục tham, si mê, sân hận, chấp ngã ra khỏi thân tâm, đó là bí quyết của bình an và hạnh phúc dài lâu trong hiện tại và tương lai về sau.
Như vậy chúng ta cần nhận diện ngũ uẩn. Thứ hai là thực tập cảm giác dễ chịu, ngọt ngào, đó là thuốc bổ của tâm linh cho những cái tâm bị suy dinh dưỡng. Thứ ba là Như lý tác ý, là những suy nghĩ chân chánh để đuổi những suy nghĩ sai quấy, dùng suy nghĩ đúng để dẹp suy nghĩ sai, dùng suy nghĩ chân chánh để dẹp suy nghĩ tà bại, dùng suy nghĩ của trí huệ để phá suy nghĩ vô minh. Sau cùng là luôn luôn và thường xuyên quét dọn căn nhà nội tâm, chăm sóc, tổng vệ sinh căn nhà nội tâm, tức là để ý những cảm giác, nghĩ tưởng đang có mặt bên trong, nó là thiện hay bất thiện, tốt hay xấu, tham sân si, bản ngã hay từ bi hỷ xả, bao dung, tha thứ, độ lượng, yêu thương. Chúng ta luôn luôn dòm ngó, quán xét để làm sạch căn nhà nội tâm để chúng ta có căn nhà tâm linh thanh lương và mát dịu.
Minh Thành rất xúc động trước tấm lòng của các bạn trẻ phải thức sáng đêm lên núi, vác đồ lên cúng dường và tu học nghiêm túc. Mong rằng chuyến đi lần này của tất cả các bạn không uổng phí mà có thành tích, có thu hoạch, nắm được những pháp hành, những phương pháp thực tập thiết thực, hữu ích dài lâu trong cuộc đời. Chúc các bạn có được hai ngày nếm trải được hương vị của thiên nhiên, của tự nhiên, của giáo pháp, hương vị ngọt ngào của Tam Bảo tại Linh Quy Pháp Ấn.
Sinh viên E: Con chào thầy, con chào quý thầy, quý sư cô và các huynh đệ ở đây ạ. Hôm nay lúc sư phụ chia sẻ con cũng nhìn ra được nhiều suy nghĩ trong con, nó không tốt đẹp như mình biểu hiện ra bên ngoài. Từ lúc tu tập con dễ nhận ra cái sân nhưng còn tham con không nhìn ra được cho đến khi nó thể hiện ra hành động. Lâu lâu con có thời gian nhìn lại thì mới thấy cái tham trổi dậy, còn cái sân thì sư phụ chỉ dạy là tác ý kêu nó nghe lời mình, con nghĩ đó là bài thực hành con sẽ áp dụng để sân không lấn áp. Còn cái tham thì sư phụ có bài tập nào để chúng con thực hành để loại bỏ được tham ra khỏi suy nghĩ được không ạ. Con cám ơn sư phụ.
Sư Phụ: Thời gian không được nhiều nên Minh Thành chỉ nói ngắn ngọn vài câu thôi. Nếu các bạn muốn tìm hiểu kĩ thì trên trang linhquyphapan.vn có những bài "Tham sân si ở đâu", "tại sao có tham sân si", "sự vận hành tham sân si và cách nhiếp phục tham sân si". Vì thời gian không có nhiều thì tham cũng giống vậy, phải để ý cảm giác, suy nghĩ, xem sự ham muốn này có phù hợp không, có chánh đáng không. Nếu không chánh đáng thì tác động tâm ý suy nghĩ về sự nguy hiểm và tác hại của tham bất chánh này. Cái tham này đưa đến kết quả gì, cái tham này dẫn mình đến đâu, cái tham này sẽ đưa mình đến vực thẳm, đến hố than hừng, đến hầm lửa, đến khổ đau. Tức là mình suy nghĩ về sự nguy hiểm và tác hại của cái tham không đúng này, sâu hơn nữa Đức Phật dạy quán bất tịnh, tức là chiêm nghiệm về sự thật của thân xác này, bên trong này là đầu lâu, hộp sọ, phèo phổi, gan, nước tiểu, gân, xương da… thì lúc đó tâm tham sẽ giảm bớt. Bài tập này không phải tập vài lần mà thành công mà phải tập rất nhiều lần để trí huệ thấm vào từ từ, khi suy nghĩ và chiêm nghiệm như vậy đã nhiếp phục được tâm tham ngay đó và mình suy nghĩ nhiều, quán chiếu nhiều, nhớ tưởng nhiều thì càng ngày ấn tượng đó càng ghi đậm trong tâm, mình dùng cái đó để nhắc nhở bản thân, Đức Phật gọi là tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình.
Tự mình chỉ trích mình
Tự mình dò xét mình,
Tỷ kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỷ Kheo, kệ 379)
Tự mình đi đến mình là nhận diện ngũ uẩn, là tự mình xem cảm giác, nghĩ tưởng của mình là gì. Tự mình dò xét mình là xem trong cảm giác, nghĩ tưởng có tham sân si, bản ngã, có ác bất thiện pháp không. Nếu có thì tự mình chỉ trích mình, tức là la rầy, quở trách, thậm chí chửi mắng những suy nghĩ xấu ác. Như thế chúng ta sẽ huấn luyện nội tâm chúng ta càng ngày dễ nghe, dễ bảo, dễ thương và chúng ta làm chủ được cảm xúc, làm chủ được nội tâm, sẽ là một người tự do tự chủ.
Sinh viên F: Con kính bạch sư phụ, con muốn gửi một vài lời tri ân đến sư phụ, quý thầy cùng quý cô, trước khi tụi con gửi lời tri ân, tụi con cũng muốn trích dẫn công hạnh rất vĩ đại của ngài Xá-lợi-phất, từ đó giờ chúng con rất kính ngưỡng ngài Xá-lợi-phất vì hạnh nguyện của ngài đã vượt khỏi những gì trí tuệ của chúng ta có thể hiểu được. Thứ nhất là ngài khiêm hạ tột cùng, lúc nào ngài cũng thấy mình như cỏ rác. Điều thứ hai là đạo đức biết ơn của ngài, thể hiện qua những hành động rất nhỏ nhặt, lúc ngài Xá-lợi-phất chưa biết đến Đức Phật, khi ngài đi trong thành đã gặp ngài Assaji, Tỳ-kheo Assaji lúc đó cầm bình bát đi khất thực, hình ảnh của ngài Assaji rất thiêng liêng, thanh tịnh thì ngài Xá-lợi-phất mới đảnh lễ và hỏi dung nghi thanh tịnh này học từ ai, ngài Assaji nói những gì ngài có được là nhờ Đức Phật bổn sư, sau đó ngài Assaji đọc bốn câu kệ cho ngài Xá-lợi-phất:
Các pháp do duyên sinh
Rồi cũng do duyên diệt
Thầy ta Đại Sa Môn
Đã tuyên thuyết như thế.
Khi nghe bốn câu kệ này ngài Xá-lợi-phất chứng Sơ Quả Tu-đà-hoàn, sau đó ngài Xá-lợi-phất quay về gặp người bạn thân thiết của mình là Mục-kiền-liên đã đọc lại bốn câu kệ, sau đó Mục-kiền-liên cũng chứng Sơ Quả Tu-đà-hoàn. Duyên lành bắt dầu nảy nở nên hai vị đã gia nhập Tăng đoàn và trở thành thượng thủ Tăng đoàn trong một khoảng thời gian ngắn với tuổi đời còn rất trẻ. Khi đã trở thành thượng thủ Tăng đoàn thì ngài Xá-lợi-phất lúc nào cũng nhớ đến người thầy năm xưa đã đưa mình đến duyên gặp Đức Phật bổn sư. Ngài Xá-lợi-phất đang ở phía Đông nhưng biết được thầy của mình là ngài Assaji đang ở phía Tây nên khi nằm ngủ đầu của ngài Xá-lợi-phất hướng về phía Tây để kính ngưỡng ngài Assaji. Khi ngài Xá-lợi-phất nhớ đến hình ảnh người thầy năm xưa ngài sẽ chắp tay hướng về phía có thầy mình, hạnh nguyện của ngài Xá-lợi-phất rất vĩ đại. Qua câu chuyện nhỏ này chúng con cũng muốn học hỏi theo hạnh của người, chúng con nhớ đến sư phụ. Cách đây sáu năm về trước có duyên lành đưa chúng con đến với người, đến với Linh Quy Pháp Ấn, chúng con vẫn nhớ như in về giây phút đó, thực sự rất bỡ ngỡ và chùa cũng còn hoang sơ, chưa được khang trang như bây giờ. Sư phụ đã hướng dẫn chúng con lên Quán Chiếu Đường, hướng dẫn những công trình để chúng con được tận hưởng thiên nhiên ở đây, thấm thoát đã sáu năm trôi qua, chúng con rất biết ơn người. Ở núi đồi lạnh lẽo thế này mà người đã vượt qua rất nhiều khó khăn, nghịch cảnh để giữ được ngọn lửa Chánh Pháp thiêng liêng làm chỗ nương tựa cho chúng con, chỗ nương tựa ở đây bao hàm rất nhiều nghĩa nhưng chúng con sẽ trích ra nghĩa gần gũi nhất, đó là chính là hình ảnh của chúng con hôm nay. Sau một năm bôn ba ngược xuôi ở dòng đời, lúc nào chúng con cũng nung nấu trong lòng được về nhà, ở nơi đó chúng con nhận được rất nhiều bài học quý giá từ người, sau chuyến đi này chắc chắn huynh đệ chúng con sẽ mang sức mạnh đó, mang những lời dạy thiêng liêng của người về với cuộc sống để sống có ích hơn, sống hướng thiện hơn, gột rửa nhiều lầm lỗi hơn và chúng con mong những việc thiện lành, những sự tu tập có được lấy đó làm lời tri ân gửi lên sư phụ, chúng con sẽ cố gắng nhiều hơn trong những ngày tháng sắp tới. Con kính chúc người, quý thầy, quý sư cô có được nhiều sức khỏe, đạo tâm kiên cố và mãi là những bóng cây bồ đề đại thụ che mát cho hàng hậu học chúng con nương theo, chúng con nguyện sẽ tinh tấn hết mình và cầu mong tất cả huynh đệ một ngày nào đó cùng đi trên con đường Phật Đạo không nhanh cũng chậm nhưng nhất định phải đến được đích cuối cùng chính là giải thoát hoàn toàn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
Thích Minh Thành
Xin đại chúng rõ biết trước mặt, mắt chúng ta nhìn xuống về phía trước, tầm nhìn rộng mở. Cảm giác hơi thở, cảm nhận hơi thở, cảm giác cơ thể, cảm giác nơi lồng ngực, cảm giác toàn thân. Hít vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm tâm lắng dịu. An tịnh… lắng dịu, an tịnh… lắng dịu… dễ chịu… ngọt ngào. Cảm nhận sự an tịnh của không gian nơi này, cảm nhận sự thanh tịnh, bình an. Thở vào, thở ra làm cho cảm giác dễ chịu, an tịnh và lắng dịu, cảm nhận sâu sắc khoảnh khắc bình an này.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác. (ba lần)
Kính thưa quý thầy, quý cô, đại chúng. Bây giờ đang là những ngày cuối năm, những bạn sinh viên với tấm lòng rất chân thành, quý mến Tam Bảo cũng như thương Linh Quy Pháp Ấn nên đã giành thời gian quý báu, công sức và tiền của để hộ trì Tam Bảo, trở về để cảm nhận không gian của núi đồi, của rừng thiền. Đây là tấm lòng quý kính Tam Bảo của các bạn, tối nay chúng ta có buổi pháp đàm, chiều nay tất cả các bạn được quý thầy, quý sư cô hướng dẫn cho mình thực tập nhận diện ngũ uẩn.
Chú Khiêm Định: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, con kính bạch quý sư cô. Con xin phép được đọc định nghĩa ngũ uẩn.
Thân người là sắc
Cảm giác là thọ
Hình bóng là tưởng
Suy nghĩ là hành
Rõ biết là thức.
Sinh viên A: Con kính bạch sư phụ, quý thầy và các huynh đệ. Thân con hiện tại cùng với các cảnh vật cũng như các huynh đệ ở đây là sắc, trong con hiện tại có dòng cảm thọ lạc thọ xuất hiện, hình bóng trong tâm con chính là những lời pháp nhũ rất ý nghĩa từ sư phụ, trong lúc con nghe được những lời pháp nhũ của sư phụ cũng như không gian yên tĩnh nơi đây thì âm thanh cũng như không gian chứa trong tâm con là hành trong tâm con, rõ biết cảm thọ, tưởng cũng như rõ biết các suy nghĩ chính là thức.
Sư Phụ: Nói chậm lại.
Sinh viên A: Thân con chính là sắc, cảm thọ trong con là lạc thọ, hình bóng trong con là tưởng là những dòng pháp nhũ của sư phụ cũng như những âm thanh.
Sư Phụ: Nhắm mắt lại, để ý vào trong tâm có hình bóng gì?
Sinh viên A: Dạ, hình bóng của các huynh đệ và các quý thầy.
Sư Phụ: Hình bóng đó là gì?
Sinh viên A: Đó chính là tưởng.
Sư Phụ: Tiếp theo.
Sinh viên A: Có cảm giác dễ chịu trong con. Sau đó con có suy nghĩ "con cảm thấy biết ơn giây phút hiện tại khi được có mặt ở nơi này cùng các huynh đệ cũng như tất cả mọi người được tu tập về Linh Quy Pháp Ấn và được nghe sư phụ cũng như được các thầy hướng dẫn trong hiện tại".
Sư Phụ: Suy nghĩ đó là gì?
Sinh viên A: Dạ, đó là hành. Sự rõ biết cảm giác, rõ biết được hình bóng trong tâm cũng như rõ biết về những suy nghĩ trong tâm chính là thức.
Sư Phụ: Rất rõ. Khi các bạn xuống núi mà nhận diện được năm uẩn sẽ không uổng một chuyến đi, vì khi các bạn đem sự học hiểu này về nhà sẽ thấy giá trị của nó dùng suốt đời, mình sẽ biết được thật sự thân tâm mình cấu thành từ những gì và đang vận hành như thế nào, mình sẽ có khả năng nhiếp phục và làm chủ cảm xúc, những suy nghĩ của chính mình.
Sinh viên B: Bạch sư phụ, bạch quý thầy, bạch quý sư cô và các huynh đệ. Con tên Đỗ Ngọc Kim Tuyến, pháp danh Trúc Thiên Ân, con xin nêu ngũ uẩn. Sắc là thân tứ đại đang đứng ở đây. Thọ đối với thân con là lạc thọ, con thấy rất thoải mái với không khí và không gian nơi này, tâm con có hỷ thọ vì con thấy biết ơn được ở đây cùng với các huynh đệ. Trong con có hình bóng hiện ra là con đứng đây cùng mọi người để trình bày với thầy với sư phụ. Hành trong con là phải cố gắng để giải thích cho mọi người hiểu ngũ uẩn. Thức của con là hiểu được thân, hiểu được thọ; tưởng; hành đang vận hành trong tâm. Con xin hết.
Sư Phụ: Rất dễ. Ngày mai xuống núi phải nắm vững được nhận diện ngũ uẩn, chỉ cần một cái này là có chìa khóa mở được kho tàng Thánh Pháp của Đức Phật.
Sinh viên C: Thân con đang đứng là sắc. Con cảm thấy rất biết ơn nhưng cũng có hồi hộp.
Sư Phụ: Đó là khổ thọ.
Sinh viên C: Dạ. Về tưởng thì con đang có hình bóng về không gian yên tĩnh và được các thầy chia sẻ với tụi con.
Sư Phụ: Tưởng là hình bóng trong tâm, bây giờ bạn nhắm mắt lại rồi xem trong đó có hình bóng gì.
Sinh viên C: Dạ. Về tưởng thì con đang cảm giác được các thầy và các huynh đệ đang ở đây để nghe các thầy chia sẻ ngũ uẩn cho tụi con. Về hành thì con đang suy nghĩ trả lời sao cho rõ về ngũ uẩn. Về thức thì con đang nhận thức rõ con đang ở tại đây cùng với các thầy và các huynh đệ.
Sư Phụ: Chúng ta đừng để bị lẫn lộn giữa sắc và tưởng vì nó khác nhau, khung cảnh chúng ta đang ngồi đây là sắc pháp, hình bóng trong tâm mới là tưởng. Sắc là thân người, đồ vật, cảnh vật tứ đại. Thức chỉ biết thọ; tưởng; hành, ý thức biết được cảm giác, hình bóng, suy nghĩ.
Có ai hỏi gì về buổi học nhóm chiều nay không? Xoay quanh vấn đề chúng ta được chia sẻ hoặc có thể hỏi những câu liên hệ đến sự tìm hiểu, thực tập Phật Pháp, hoặc những sự khó khăn trong tâm. Chúng ta đã nghe giảng rất nhiều rồi nên bây giờ phải có phương pháp thực hành thiết thực sẽ quý hơn.
Sinh viên D: Kính bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, kính bạch sư cô và kính thưa quý huynh đệ. Con xin phép được trình sư phụ một câu hỏi nhỏ, chúng con là những chúng sinh đi trên con đường giác ngộ của Đức Phật, trên con đường đó chúng con phải gội rửa rất nhiều lầm lỗi của bản thân như bản ngã, ích kỉ, kiêu mạn… ngấm ngầm trong tâm. Con cũng xin bạch sư phụ trong giờ phút thiêng liêng năm cũ sắp qua, năm mới sắp đến sư phụ cho chúng con xin lời pháp nhũ nói về đạo đức. Trong rất nhiều đạo đức chúng con cần tu dưỡng có một đạo đức quan trọng nhất mà chúng con thiết thực được trong đời sống hoặc ít nhất là trong năm mới sắp tới, rộng mở ra là trong suốt đường đời chúng con đi sau này. Xin sư phụ cho chúng con những lời pháp nhũ, con xin cám ơn sư phụ.
Sư Phụ: Tại sao chúng ta phải học nhận diện ngũ uẩn? Chúng ta biết rất nhiều kiến thức về hóa học, sinh học… nhưng kiến thức về chính mình lại không hiểu được bao nhiêu. Nhận diện ngũ uẩn chính là sự tìm hiểu chính mình, nếu mình không hiểu được mình thì những điều mình hiểu không đem lại giá trị thiết thực, thực dụng để mình có cuộc sống bình an và hạnh phúc, cho nên đạo Phật gọi là đạo giác ngộ, tức là thấu hiểu chính mình hoàn toàn triệt để tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ đầy đủ, viên mãn về tự thân tâm mình thì gọi là giác ngộ, phương pháp chúng ta vừa được hướng dẫn chính là tìm hiểu chính mình. Chúng ta đặt những kiến thức xuống và trực tiếp, trực chỉ nhìn vào nội tâm chính mình, nhìn vào thân thể của mình, nếu chúng ta không biết cái gì đang ở trong này, cái gì đang vận hành, điều khiển, hoạt động trong nội tâm thì chúng ta sẽ không dừng lại được sự phiền não, lo âu, sợ hãi, bất an và đau khổ vì mình không hiểu chính mình. Cho nên điều đơn giản nhất chúng ta phải hiểu tâm là gì, đó là những cảm giác, nghĩ tưởng, chúng ta thường tìm hôm nay ăn mặc, phải mặc đồ gì, đi đâu, học ngành gì… trong khi lại không biết trong thân này cái gì đang thúc giục và điều khiển chúng ta, chỉ có Đức Thế Tôn, bậc Chánh Biến Tri thấy biết cùng tột mới chỉ cho mình biết được thật sự cái gì đang vận hành, hoạt động, điều khiển và làm chúng ta đau khổ.
Chúng ta đã học qua ba loại cảm giác, cảm thọ. Trong con người chúng ta là những dòng cảm giác, cảm xúc điều khiển mọi thứ, tất cả mọi suy nghĩ, ngôn ngữ và hành vi. Khi chúng ta có cảm giác khó chịu thì lúc đó có sân giận, cơn giận khi nó sanh khởi sẽ như thế nào?
Chú Bảo Huy: Thưa sư phụ, khi cơn giận sanh khởi lên thì cảm giác nóng trong người. Trong ba loại cảm giác thì giận lên sẽ dính vào cảm giác khó chịu nhưng có nghịch lý là mình lại muốn thỏa mãn cảm giác khó chịu đó. Con đang phân vân là nếu mình thỏa mãn cơn giận đó thì đó là cảm giác dễ chịu hay vẫn là cảm giác khó chịu ạ?
Sư Phụ: Khi cảm giác khó chịu thì luôn có sân hận, tức giận, bực bội trong cảm giác khó chịu đó. Do bình thường mình không nhìn ngó, chăm sóc, huấn luyện, giáo dục cảm giác nên khi cảm giác bung ra thì mình hoàn toàn bất lực và có những chuyện đau lòng xảy ra, như trong trường học giữa các bạn với nhau. Những cảm giác tức giận khi bung ra thì hoàn toàn xâm chiếm, áp đảo và sai khiến, điều khiển mình, lúc đó mình không thể làm chủ bản thân được nữa, mình không biết cảm giác đó chỉ là cảm giác mà mình bị đồng hóa với cảm giác "tôi đang tức giận", mình nhận cảm giác khó chịu, sân hận, bực bội đó là mình và nhập một với nó, mình để cảm giác đó điều khiển, sai khiến, áp đảo. Sau đó phát ra ngôn ngữ, hành động làm đau khổ mình, đau khổ người rồi ăn năn, hối hận.
Điều chúng ta đang thực tập ở đây mà Đức Phật gọi là quán thọ trên các thọ. Thọ ở đây chính là cảm thọ, cảm xúc, cảm giác, tức là mình phải thường xuyên để ý xem trong người mình cảm giác lúc này như thế nào. Có những người tuy có tiền bạc, nhà cửa, xe cộ nhưng lúc nào trong người họ cũng có cảm giác gắt gỏng, cộc cằn thì người đó sống có hạnh phúc, thoải mái, thảnh thơi không? Vì thế điều quan trọng trong tu học là chăm sóc cảm xúc, cảm thọ của mình, nuôi dưỡng những cảm thọ hiền thiện, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Chúng ta trồng cây phải có tưới nước, bón phân, chăm sóc mới ra hoa kết trái, cũng vậy, mình chỉ biết chăm sóc cho gương mặt, mái tóc, bộ đồ, món ăn, căn phòng… mà mình không biết điều quan trọng cần chăm sóc là cảm xúc, cảm giác. Vì hạnh phúc hay không hạnh phúc chính là ở cảm giác, những điều bên ngoài chỉ là cái phụ còn cái chính yếu là bên trong thân tâm mình. Trong việc ngồi thiền Đức Phật dạy cảm giác toàn thân để thường xuyên nhìn ngó lại cảm xúc hiện tại trong người như thế nào, nó thuộc về cảm thọ dễ chịu hay khó chịu hay không dễ chịu không khó chịu. Nếu là cảm thọ dễ chịu, khoan khoái, thích thú thì lúc nào cũng có tham, cảm thọ khó chịu, bực bội lúc nào cũng có sân, mình phải chăm sóc chứ đừng để cảm thọ khó chịu đó tăng trưởng, phát triển bành trướng, xâm chiếm, áp đảo, dẫn dắt mình. Nếu để cảm giác sân hận đó phát triển nhiều sẽ không ai dám lại gần mình, tự mình làm khổ mình, làm khổ cho người ở chung mình và thậm chí làm khổ luôn cho những người xung quanh mình vì lúc nào mình cũng như lò lửa. Cho nên thực tập là thực tập những cảm giác dễ chịu, lắng dịu, ngọt ngào.
Chúng ta đưa tay lên ngực, vừa vuốt ngực vừa nói "an tịnh nè, lắng dịu nè, dễ chịu nè". Chúng ta làm phải có sự nhiệt tâm trong đó, không được làm máy móc hoặc chỉ nói trên miệng, khi nói phải hướng vào lồng ngực ngay cảm giác rồi kêu nó "an tịnh" để cảm giác trong người mình nghe được tiếng nói đó và nó ngoan ngoãn thực hành theo. Lúc đầu thực tập có người sẽ nghĩ giống như tiểu học nhưng điều này rất quan trọng và cần thực tập trong mỗi buổi sáng hoặc trong lúc ngồi thiền, nếu không ngồi thiền được thì sáng thức dậy ngồi trên gường thực tập luôn, mỗi ngày mình đều thực tập như vậy thì cảm giác của mình sẽ nghe lời theo mình. Khi ngủ dậy sẽ có cảm giác thúc giục bên trong kêu làm cái gì, làm cái kia cho nhanh lẹ nhưng lúc đó mình lại kêu "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu", mình ngồi đó thở thật sâu và cảm nhận cảm giác toàn thân, từ đỉnh đầu đến gót chân là cảm giác ngọt ngào, bình an, lắng dịu, dễ thương. Mình thấy dòng cảm xúc đó lan từ lồng ngực lên mặt, mắt, hai tai, lan đến miệng thì miệng mỉm cười, lan đến đâu mát mẻ, dễ chịu đến đó, lan khắp đỉnh đầu đến gót chân và cả châu thân mình là dòng nước mát cực kì lắng dịu, ngọt ngào, dễ thương. Phải làm cho dòng cảm thọ đó luân lưu, tuôn trào, nó ngấm và nhuần thấm toàn bộ cơ thể. Ngay giờ phút này chúng ta hãy cảm nhận một cảm giác thật an tịnh, chúng ta hướng tâm mình về lồng ngực cảm nhận hơi thở và một cảm giác an tịnh, lắng dịu trong giờ phút này. Một cảm giác thật an bình, dễ chịu đang nhuần thấm, lan tỏa cùng khắp châu thân chúng ta, một cảm giác ngọt ngào, êm ái, dễ chịu và bình an. Chúng ta có thấy cảm giác dễ chịu, ngọt ngào không? Đây là bài tập hãy tập nó mỗi ngày trước khi ngủ hoặc lúc thức dậy, khi đã thực tập quen mới mở rộng bài tập ra, khi đã quen thì trong người chúng ta bắt đầu xuất hiện một dòng cảm xúc lắng dịu, an tịnh, dễ chịu, ngọt ngào có mặt bên trong chúng ta. Khi nó đã có mặt bên trong mà mỗi khi chúng ta mệt thì đây chính là nguồn năng lượng, chỉ cần năm mười phút ngay đó thực tập bài tập này chúng ta sẽ thấy thân mình khỏe lại. Khi đã có sự thực tập thuần thục, nhuần nhuyễn mà bực bội, sân giận thì phải nhớ đem bài tập này ra thực tập ngay lúc đó "dễ thương đi, đừng quậy nữa".
Bây giờ chúng ta học thêm một bài tập nữa là Như lý tác ý, khi nãy là chúng ta học về cảm thọ, còn giờ chúng ta qua hành uẩn, tức là tác động tâm ý bằng suy nghĩ. Thật sự tâm mình rất khó nghe lời, khó dạy cho nên muốn cho tâm ngoan hiền phải có công phu, đây gọi là chánh tư duy trong Bát Chánh Đạo, tức là dùng suy nghĩ đúng để huấn luyện, giáo dục, chuyển hóa suy nghĩ sai quấy, không thể tự nhiên vào ngồi hoặc lạy Phật là được trí tuệ, thiền định mà phải có sự để tâm vào trong những suy nghĩ, cảm giác. Suy nghĩ, cảm giác, hình bóng là ba điều cực kì quan trọng, không được quên. Lúc nào cũng xem lại trong người đang có cảm giác gì, có cảm giác bực bội, khó chịu, ganh tị, đố kị, hơn thua không. Xem trong người đang có suy nghĩ gì, suy nghĩ này là thiện hay bất thiện, suy nghĩ này là tốt hay xấu, suy nghĩ này hại mình hại người hay lợi mình lợi người, suy nghĩ này đưa đến bình an hay đưa đến bất an, đau khổ. Chúng ta phải kiểm tra, kiểm soát, kiểm tâm mình, đừng lo đếm tiền mà đếm tâm, đừng lo nhìn cảnh, người nhìn bên ngoài mà hãy lo nhìn lại thân tâm. Mình bỏ quên cảm xúc, bỏ quên nội tâm, suốt cuộc đời chúng ta bị những cảm giác bên trong thúc giục đi tìm cái này cái kia, muốn cái này cái nọ, khi chưa tìm được thì mong muốn, ước ao, tưởng mơ, khát khao, mộng mơ và mình đau khổ trong cái tìm không được. Mình tưởng khi có được sẽ hạnh phúc nhưng khi có được thì hỡi ơi lại có cái khổ khác, cái khổ của có được. Đến khi mất rồi lại có cái khổ của mất đi. Nhưng vì trí tuệ không thành tựu nên cứ luôn bị sự thúc giục bên trong đòi hỏi, Đức Phật nói thân này là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái.
"Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái", thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla).
Câu này cần chiêm nghiệm kĩ càng nhất là tuổi trẻ. Chính sự đòi hỏi, thèm thuồng, thúc giục, khao khát bên trong làm cho mình phải chạy đi tìm kiếm mãi, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu sự thất vọng, đau khổ, buồn rầu chỉ vì cảm giác thúc giục bên trong. Chúng ta có sự nhận diện ngũ uẩn mới nhìn ra được thủ phạm thật sự, nguyên nhân thật sự làm chúng ta mệt mỏi, chạy đi tìm kiếm, thèm muốn, đói khát hoài, chúng ta sẽ phát hiện đó là cảm giác thúc giục bên trong điều khiển chúng ta. Chúng ta có rất nhiều kiến thức và sự hiểu biết bên ngoài nhưng lại nghèo nàn trong sự thấy biết chính tự tâm mình, sự nhận diện năm uẩn là để tìm hiểu chính mình. Chúng ta để ý cảm giác, chăm sóc, huấn luyện, dạy dỗ, lèo lái cảm giác để có nhiều cảm giác hiền thiện, dễ thương, an tịnh, đây là bài tập tuyệt đối quan trọng, nhất là khi chúng ta ở ngoài xã hội sẽ gặp rất nhiều chuyện khó khăn, cản trở, nếu không sự trầm tĩnh, không có sự thực tập cảm giác sẽ gặp nhiều bất trắc, nguy hiểm xảy ra.
Điều thứ hai chính là sự tác động tâm ý bằng suy nghĩ, bằng sự nhắc nhở chính mình. Khi nổi cơn giận thì tác ý "Ưa giận lắm hả? Thích giận lắm phải không? Muốn đốt, muốn thiêu, muốn cháy nhà phải không? Cảm giác này hãy an tịnh đi, lắng dịu đi, hãy dập tắt cảm giác sân hận, bực bội này đi, cảm giác thiêu đốt này hãy mát lạnh đi. Đừng thiêu đốt ta nữa, chính ngươi đốt cháy ta, làm ta bức xức, khó chịu, cau có, hơn thua hoài, chính ngươi là nguyên nhân làm cho ta đau khổ, chính ngươi là nguyên nhân làm mọi người lánh xa ta". Tác động tâm ý để cảm giác này tan ra như lấy chổi quét ra khỏi căn nhà nội tâm, chúng ta quét nhà, dọn rác phòng ốc thì bây giờ phải quét rác nội tâm. Trong căn nhà nội tâm chúng ta có rất nhiều rác bẩn, cấu uế sân hận, tham muốn, ích kỉ, sự vô tri, si mê không hiểu biết, rác bẩn của cái ta, cái tôi, bản ngã, kiêu mạn, thị phi, nhân ngã bỉ thử, tranh đấu… có rất nhiều rác và thiền của đạo Phật tức là ở yên trong nhà, không chạy ra ngoài nữa để nhìn vào nội tâm, tìm rác trong ngõ ngách, hóc kẹt để làm vệ sinh căn nhà nội tâm, đó gọi là thiền chứ không phải thiền là vào ngồi nhắm mắt thở ra thở vô rồi ngủ gục. Thiền là ngồi nhìn lại trong cảm giác của mình, xem lại suy nghĩ, hình bóng trong tâm đang có suy nghĩ, cảm giác, hình bóng gì hoặc nhìn lại cả ngày mình đã có lời nói, hành vi như thế nào. Nếu là xú uế, cấu nhiễm, dơ bẩn thì phải lau chùi, làm vệ sinh, tẩy sạch thân tâm mới gọi là thiền, đây là cách làm sạch nội tâm, quét căn nhà nội tâm. Căn nhà lúc nào cũng bóng lưỡng, sạch sẽ trong khi nội tâm là một đống rác to lớn vì lâu ngày không quét rác nội tâm. Có rất nhiều suy nghĩ bất thiện, xấu ác, hơn thua, nhỏ mọn, ganh tị, cống cao ngã mạn đưa mình đến khổ đau mà mình cứ nghĩa tại người này người kia làm mình khổ đau, thật ra là tại tâm ích kỉ, nhỏ hẹp, tâm cộc cằn mới biểu hiện ra những ngôn ngữ, hành vi nên người ta thấy mình như vậy thì làm sao thương được, người ta ghét hoặc thậm chí có sự trả đũa nên mình nghĩ người đó ghét mình rồi hại mình, kinh Pháp Cú có câu:
Kẻ thù hại kẻ thù,
Oan gia hại oan gia,
Không bằng tâm hướng tà,
Gây ác cho tự thân.
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 42)
Kẻ thù hại kẻ thù, oan gia hại oan gia nhưng hai cái này cũng không bằng cái tâm hướng tà, tâm xấu ác, tâm bất chánh và chính tâm này gây ác cho tự thân, cái tâm đó như chất gỉ sét sanh ra từ sắt rồi hủy hoại chính thanh sắt ấy. Cũng vậy, những cảm giác bất thiện, những suy nghĩ xấu ác của tham sân si, bản ngã, những tư tưởng hẹp hòi, đố kị, ganh tị, hơn thua đó làm hại chúng ta, chính những thứ đó mới thật sự là kẻ thù của chúng ta chứ không phải người bên ngoài. Nếu một người kiếm chuyện gây sự với chúng ta mà chúng ta thường niệm "an tịnh nè, lắng dịu nè, ngọt ngào nè, dễ thương nè, tha thứ nè", mình không giận, không cự cãi, không đánh nhau thì người ta có hại mình được không? Còn đằng này mới nói một câu mà mình nói lại đến ba câu thì đương nhiên sẽ xảy ra chuyện, đó là tâm hướng tà, gây ác cho tự thân cho nên điều quan trọng trong tất cả cái quan trọng làm chúng ta không bình an, không hạnh phúc không phải những cái bên ngoài mà chính là những cảm giác, nghĩ tưởng thọ; tưởng; hành. Sự đau khổ của chúng ta không phải từ bên ngoài mà sự đau khổ thật sự của chúng ta chính là từ những cảm giác và nghĩ tưởng trong tâm. Chính vì vậy sự tu tập của đạo Phật là chăm sóc cảm giác, suy nghĩ và những tu tưởng. Phải thanh lọc, huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ, rèn luyện những cảm giác, nghĩ tưởng đó, ngoài ra phải kiểm tra nó hằng ngày hằng giờ, đọc từng suy nghĩ nếu suy nghĩ nào xuất phát từ tâm sân hận, nóng giận thì suy nghĩ này chắc chắn hại mình, hại người, làm cho mình trở thành người không mắt, làm cho mình đau khổ người đau khổ nên phải nhiếp phục, quét nó ra khỏi căn nhà nội tâm, đó gọi là suy nghĩ đúng Chánh Pháp, là ly sân tư duy, bất hại tư duy. Suy nghĩ nào làm cho mình rời xa nóng giận, hại người thì đó là suy nghĩ đúng pháp, gọi là chánh tư duy. Suy nghĩ nào làm cho tham muốn không chánh đáng thì phải hạ gục, đập tan, đuổi nó ra khỏi thân tâm hoàn toàn sạch sẽ, đó là sự tu tập của chúng ta, đây là đức hạnh tối thượng trong tất cả đức hạnh của người tu, chính là sự kiểm soát cảm giác và suy nghĩ. Tham sân si, bản ngã làm cho chúng ta đau khổ, nó cũng là nguyên nhân sanh ra đau khổ trên toàn thế giới, nó nằm trong cảm giác, nghĩ tưởng. Nếu chúng ta không nhìn thấy nguồn cội, căn cứ địa phát ra tham sân si, bản ngã thì làm sao chúng ta có thể chấm dứt được đau khổ? Cho nên Tứ Thánh Đế chính là đây, nguyên nhân của đau khổ là những cảm giác ta đây, ngông nghênh, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc, cho mình là tài giỏi, hiểu biết… đó là những cái làm khổ mình làm khổ người. Chúng ta phải nhìn ta được những thứ này, chúng ta tập tác động tâm ý đúng như chân lý (Như lý tác ý), đó là sự suy nghĩ đúng đắn theo lời dạy của Đức Phật, suy nghĩ đuổi dục tham, si mê, sân hận, chấp ngã ra khỏi thân tâm, đó là bí quyết của bình an và hạnh phúc dài lâu trong hiện tại và tương lai về sau.
Như vậy chúng ta cần nhận diện ngũ uẩn. Thứ hai là thực tập cảm giác dễ chịu, ngọt ngào, đó là thuốc bổ của tâm linh cho những cái tâm bị suy dinh dưỡng. Thứ ba là Như lý tác ý, là những suy nghĩ chân chánh để đuổi những suy nghĩ sai quấy, dùng suy nghĩ đúng để dẹp suy nghĩ sai, dùng suy nghĩ chân chánh để dẹp suy nghĩ tà bại, dùng suy nghĩ của trí huệ để phá suy nghĩ vô minh. Sau cùng là luôn luôn và thường xuyên quét dọn căn nhà nội tâm, chăm sóc, tổng vệ sinh căn nhà nội tâm, tức là để ý những cảm giác, nghĩ tưởng đang có mặt bên trong, nó là thiện hay bất thiện, tốt hay xấu, tham sân si, bản ngã hay từ bi hỷ xả, bao dung, tha thứ, độ lượng, yêu thương. Chúng ta luôn luôn dòm ngó, quán xét để làm sạch căn nhà nội tâm để chúng ta có căn nhà tâm linh thanh lương và mát dịu.
Minh Thành rất xúc động trước tấm lòng của các bạn trẻ phải thức sáng đêm lên núi, vác đồ lên cúng dường và tu học nghiêm túc. Mong rằng chuyến đi lần này của tất cả các bạn không uổng phí mà có thành tích, có thu hoạch, nắm được những pháp hành, những phương pháp thực tập thiết thực, hữu ích dài lâu trong cuộc đời. Chúc các bạn có được hai ngày nếm trải được hương vị của thiên nhiên, của tự nhiên, của giáo pháp, hương vị ngọt ngào của Tam Bảo tại Linh Quy Pháp Ấn.
Sinh viên E: Con chào thầy, con chào quý thầy, quý sư cô và các huynh đệ ở đây ạ. Hôm nay lúc sư phụ chia sẻ con cũng nhìn ra được nhiều suy nghĩ trong con, nó không tốt đẹp như mình biểu hiện ra bên ngoài. Từ lúc tu tập con dễ nhận ra cái sân nhưng còn tham con không nhìn ra được cho đến khi nó thể hiện ra hành động. Lâu lâu con có thời gian nhìn lại thì mới thấy cái tham trổi dậy, còn cái sân thì sư phụ chỉ dạy là tác ý kêu nó nghe lời mình, con nghĩ đó là bài thực hành con sẽ áp dụng để sân không lấn áp. Còn cái tham thì sư phụ có bài tập nào để chúng con thực hành để loại bỏ được tham ra khỏi suy nghĩ được không ạ. Con cám ơn sư phụ.
Sư Phụ: Thời gian không được nhiều nên Minh Thành chỉ nói ngắn ngọn vài câu thôi. Nếu các bạn muốn tìm hiểu kĩ thì trên trang linhquyphapan.vn có những bài "Tham sân si ở đâu", "tại sao có tham sân si", "sự vận hành tham sân si và cách nhiếp phục tham sân si". Vì thời gian không có nhiều thì tham cũng giống vậy, phải để ý cảm giác, suy nghĩ, xem sự ham muốn này có phù hợp không, có chánh đáng không. Nếu không chánh đáng thì tác động tâm ý suy nghĩ về sự nguy hiểm và tác hại của tham bất chánh này. Cái tham này đưa đến kết quả gì, cái tham này dẫn mình đến đâu, cái tham này sẽ đưa mình đến vực thẳm, đến hố than hừng, đến hầm lửa, đến khổ đau. Tức là mình suy nghĩ về sự nguy hiểm và tác hại của cái tham không đúng này, sâu hơn nữa Đức Phật dạy quán bất tịnh, tức là chiêm nghiệm về sự thật của thân xác này, bên trong này là đầu lâu, hộp sọ, phèo phổi, gan, nước tiểu, gân, xương da… thì lúc đó tâm tham sẽ giảm bớt. Bài tập này không phải tập vài lần mà thành công mà phải tập rất nhiều lần để trí huệ thấm vào từ từ, khi suy nghĩ và chiêm nghiệm như vậy đã nhiếp phục được tâm tham ngay đó và mình suy nghĩ nhiều, quán chiếu nhiều, nhớ tưởng nhiều thì càng ngày ấn tượng đó càng ghi đậm trong tâm, mình dùng cái đó để nhắc nhở bản thân, Đức Phật gọi là tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình.
Tự mình chỉ trích mình
Tự mình dò xét mình,
Tỷ kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỷ Kheo, kệ 379)
Tự mình đi đến mình là nhận diện ngũ uẩn, là tự mình xem cảm giác, nghĩ tưởng của mình là gì. Tự mình dò xét mình là xem trong cảm giác, nghĩ tưởng có tham sân si, bản ngã, có ác bất thiện pháp không. Nếu có thì tự mình chỉ trích mình, tức là la rầy, quở trách, thậm chí chửi mắng những suy nghĩ xấu ác. Như thế chúng ta sẽ huấn luyện nội tâm chúng ta càng ngày dễ nghe, dễ bảo, dễ thương và chúng ta làm chủ được cảm xúc, làm chủ được nội tâm, sẽ là một người tự do tự chủ.
Sinh viên F: Con kính bạch sư phụ, con muốn gửi một vài lời tri ân đến sư phụ, quý thầy cùng quý cô, trước khi tụi con gửi lời tri ân, tụi con cũng muốn trích dẫn công hạnh rất vĩ đại của ngài Xá-lợi-phất, từ đó giờ chúng con rất kính ngưỡng ngài Xá-lợi-phất vì hạnh nguyện của ngài đã vượt khỏi những gì trí tuệ của chúng ta có thể hiểu được. Thứ nhất là ngài khiêm hạ tột cùng, lúc nào ngài cũng thấy mình như cỏ rác. Điều thứ hai là đạo đức biết ơn của ngài, thể hiện qua những hành động rất nhỏ nhặt, lúc ngài Xá-lợi-phất chưa biết đến Đức Phật, khi ngài đi trong thành đã gặp ngài Assaji, Tỳ-kheo Assaji lúc đó cầm bình bát đi khất thực, hình ảnh của ngài Assaji rất thiêng liêng, thanh tịnh thì ngài Xá-lợi-phất mới đảnh lễ và hỏi dung nghi thanh tịnh này học từ ai, ngài Assaji nói những gì ngài có được là nhờ Đức Phật bổn sư, sau đó ngài Assaji đọc bốn câu kệ cho ngài Xá-lợi-phất:
Các pháp do duyên sinh
Rồi cũng do duyên diệt
Thầy ta Đại Sa Môn
Đã tuyên thuyết như thế.
Khi nghe bốn câu kệ này ngài Xá-lợi-phất chứng Sơ Quả Tu-đà-hoàn, sau đó ngài Xá-lợi-phất quay về gặp người bạn thân thiết của mình là Mục-kiền-liên đã đọc lại bốn câu kệ, sau đó Mục-kiền-liên cũng chứng Sơ Quả Tu-đà-hoàn. Duyên lành bắt dầu nảy nở nên hai vị đã gia nhập Tăng đoàn và trở thành thượng thủ Tăng đoàn trong một khoảng thời gian ngắn với tuổi đời còn rất trẻ. Khi đã trở thành thượng thủ Tăng đoàn thì ngài Xá-lợi-phất lúc nào cũng nhớ đến người thầy năm xưa đã đưa mình đến duyên gặp Đức Phật bổn sư. Ngài Xá-lợi-phất đang ở phía Đông nhưng biết được thầy của mình là ngài Assaji đang ở phía Tây nên khi nằm ngủ đầu của ngài Xá-lợi-phất hướng về phía Tây để kính ngưỡng ngài Assaji. Khi ngài Xá-lợi-phất nhớ đến hình ảnh người thầy năm xưa ngài sẽ chắp tay hướng về phía có thầy mình, hạnh nguyện của ngài Xá-lợi-phất rất vĩ đại. Qua câu chuyện nhỏ này chúng con cũng muốn học hỏi theo hạnh của người, chúng con nhớ đến sư phụ. Cách đây sáu năm về trước có duyên lành đưa chúng con đến với người, đến với Linh Quy Pháp Ấn, chúng con vẫn nhớ như in về giây phút đó, thực sự rất bỡ ngỡ và chùa cũng còn hoang sơ, chưa được khang trang như bây giờ. Sư phụ đã hướng dẫn chúng con lên Quán Chiếu Đường, hướng dẫn những công trình để chúng con được tận hưởng thiên nhiên ở đây, thấm thoát đã sáu năm trôi qua, chúng con rất biết ơn người. Ở núi đồi lạnh lẽo thế này mà người đã vượt qua rất nhiều khó khăn, nghịch cảnh để giữ được ngọn lửa Chánh Pháp thiêng liêng làm chỗ nương tựa cho chúng con, chỗ nương tựa ở đây bao hàm rất nhiều nghĩa nhưng chúng con sẽ trích ra nghĩa gần gũi nhất, đó là chính là hình ảnh của chúng con hôm nay. Sau một năm bôn ba ngược xuôi ở dòng đời, lúc nào chúng con cũng nung nấu trong lòng được về nhà, ở nơi đó chúng con nhận được rất nhiều bài học quý giá từ người, sau chuyến đi này chắc chắn huynh đệ chúng con sẽ mang sức mạnh đó, mang những lời dạy thiêng liêng của người về với cuộc sống để sống có ích hơn, sống hướng thiện hơn, gột rửa nhiều lầm lỗi hơn và chúng con mong những việc thiện lành, những sự tu tập có được lấy đó làm lời tri ân gửi lên sư phụ, chúng con sẽ cố gắng nhiều hơn trong những ngày tháng sắp tới. Con kính chúc người, quý thầy, quý sư cô có được nhiều sức khỏe, đạo tâm kiên cố và mãi là những bóng cây bồ đề đại thụ che mát cho hàng hậu học chúng con nương theo, chúng con nguyện sẽ tinh tấn hết mình và cầu mong tất cả huynh đệ một ngày nào đó cùng đi trên con đường Phật Đạo không nhanh cũng chậm nhưng nhất định phải đến được đích cuối cùng chính là giải thoát hoàn toàn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.