Lành & Dữ Làm sao Vượt qua tham ái - trạo cử - hôn trầm Ước Muốn sắc bén
Soi Sáng Nikāya
LÀNH VÀ DỮ
LÀM SAO VƯỢT QUA THAM ÁI
TRẠO CỬ - HÔN TRẦM
ƯỚC MUỐN SẮC BÉN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thước đo thiện – ác PAGEREF _Toc100923790 \h 1
1.Căn bản bất thiện PAGEREF _Toc100923791 \h 1
2.Căn bản thiện PAGEREF _Toc100923792 \h 3
II.Làm sao vượt qua tham ái PAGEREF _Toc100923793 \h 4
III.Nhiếp phục trạo cử và hôn trâm PAGEREF _Toc100923794 \h 9
1.Trạo cử PAGEREF _Toc100923795 \h 9
2.Hôn trầm PAGEREF _Toc100923796 \h 11
IV.Ước muốn sắc bén của người tu PAGEREF _Toc100923797 \h 12
Sự tu học của chúng ta quan trọng là nắm được phương pháp hành trì, khi đó dù có chuyện gì xảy ra thì ở bất cứ nơi đâu chúng ta vẫn được an ổn. Ngược lại, nếu không nắm được pháp hành, mà chỉ tu học trên hình thức, chữ nghĩa, kiến thức thì chúng ta không giải quyết được những thắt gút của nội tâm, khi đau khổ đến thì mình không có phương pháp, cách thức phù hợp để xử lý.
Thước đo thiện – ác
Câu hỏi: Mọi người thường nói “làm lành, lánh dữ”, vậy, thước đo nào để biết việc đang làm là lành hay dữ và dựa vào đâu để phán xét mọi việc được đúng đắn, chín chắn?
Câu hỏi nghe tuy đơn giản nhưng lại rất quan trọng, không phải dễ hiểu, chữ “lành” và “dữ”, “thiện” và “ác” trong Nikāya vô cùng thâm sâu. Vậy, thế nào là chuẩn mực của lành và những điều kiện gì xác định đó là dữ?
Theo cái nhìn thông thường, khi thấy một người giúp đỡ người khác bằng cách cho quà, đồ đạc, tiền của hoặc giúp điều gì đó thì chúng ta xem đó là việc lành, việc từ thiện. Còn nếu thấy ai la rầy, quở trách, chửi mắng người khác thì chúng ta xem đó là việc ác, bất thiện. Thế nhưng, nếu chúng ta chỉ nhìn trên hành vi rồi xác định thiện, ác thì không chính xác.
Ví dụ, một người đệ tử làm việc sai quấy nên mới bị Thầy của vị ấy quở trách, la rầy, hay thậm chí là phạt quỳ nhang. Chúng ta chỉ thấy lúc người Thầy la rầy, nhắc nhở, phạt quỳ thì lại nghĩ rằng vị Thầy này đang bị sân chi phối nên nóng giận và có hành động như vậy. Qua đó, chúng ta thấy rằng, nếu chỉ nhìn bên ngoài để phán xét thiện ác, lành dữ thì chưa chắc là đúng. Ví dụ dễ thấy, có người cho người khác đồ nhưng thật sự là với mục đích, ý đồ cá nhân chứ không phải cho tặng vì lòng thương. Cho nên, chúng ta phải suy xét, nhìn sâu vào động cơ đằng sau của hành động thì mới thấy được thiện hay bất thiện.
Căn bản bất thiện
Trong kinh Trung Bộ, Đức Phật định nghĩa rằng tham, sân, si là căn bản của bất thiện:
“Và chư Hiền, thế nào là căn bổn bất thiện?
Tham là căn bổn bất thiện,
Sân là căn bổn bất thiện,
Si là căn bổn bất thiện.
Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn bất thiện”
(Trích Trung Bộ Kinh, bài 9. Kinh Chánh tri kiến)
Nghĩa là khi chúng ta làm bất cứ điều gì với động cơ là tham muốn, tức giận, si mê, muốn làm hại người thì Đức Phật định nghĩa đó là gốc rễ của bất thiện pháp. Tham, sân, si trong kinh Nikāya rất thâm sâu, chỉ khi nhận diện được ngũ uẩn thì mới thấy được chúng.
Nhờ nhận diện ngũ uẩn, chúng ta sẽ thấy tham nằm trong những cảm thọ, hình bóng, nghĩ, tưởng chứ không phải tham đơn thuần là ăn trộm món đồ nào đó, nếu như vậy mới xem là tham thì người không học pháp cũng biết được. Cho nên, tham nằm trong từng ý niệm, suy nghĩ bên trong, dù cho những hành vi bên ngoài là việc làm thiện, không thể hiện sự tham muốn đó nhưng động cơ, xuất phát điểm, ý đồ bên trong có tham thì đó là bất thiện.
Ví dụ, có vị Phật tử, điều kiện khá giả đến chùa, vị này được lo cho ăn uống, chăm sóc kỹ lưỡng, đặc biệt hơn những vị khác thì chúng ta hãy nhìn kỹ xem điều gì ẩn đằng sau hành động đó. Nếu chúng ta chăm sóc, quan tâm trên tinh thần tình thương thì khác; mà chăm sóc, quan tâm trên tinh thần mong muốn một điều gì khác từ vị đó thì là đây là bất thiện mặc dù bên ngoài thấy là làm việc tốt. Hoặc đại chúng đang pháp đàm với nhau về chủ đề từ bi, nhưng sau một hồi thảo luận thì mọi người sân si lên với nhau. Như vậy, ở bên ngoài thì đó là việc thiện lành khi chúng ta đàm luận về chủ đề từ bi nhưng lúc đó bên trong lại có những cảm thọ sân giận, hơn thua, giành phần đúng, giành phần thắng về mình thì việc này trở thành bất thiện pháp.
Căn bản thiện
Tiếp theo, Đức Phật dạy rằng vô tham, vô sân, vô si; ly tham, ly sân, ly si; lìa tham muốn, lìa sân hận, lìa si mê, làm hại người khác chính là gốc rễ, là chuẩn mực của thiện pháp.
“Chư Hiền, thế nào là căn bổn thiện?
Không tham là căn bổn thiện,
Không sân là căn bổn thiện,
Không si là căn bổn thiện.
Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn thiện”
(Trích Trung Bộ kinh, bài 9. Kinh Chánh tri kiến)
Chúng ta chỉ tìm hiểu một cách tổng quát, vì nếu đi vào chi tiết thì bao trùm hết đời sống này. Phàm những suy nghĩ, lời nói, hành động gì mà hướng đến ly tham, lìa tham, đoạn tham, dứt tham, đoạn sân, lìa si mê, bản ngã thì đó là thiện pháp, là gốc rễ của thiện pháp.
Ví dụ như việc chưng hoa cúng Phật, đừng nghĩ cứ nhiều là tốt, rồi chúng ta chất chồng hoa đầy tràn xung quanh Phật. Với người hiểu biết sẽ nhìn nhận việc làm đó là kết quả của tâm tham, mặc dù với bề ngoài là một việc làm cho thiện pháp. Vì vậy, chưng hoa vừa đủ, tạo nên nét thiền, sự thanh nhã, thanh thoát, tỏ sự cung kính với Phật đã là rất tốt. Đừng quá nặng nề bởi hình thức, cái đẹp, sắc uẩn bên ngoài, đó là những thứ vừa khiến chúng ta tốn tiền của, thời gian, công sức mà có khi lại còn mang về phiền não. Vì vậy, trong tất cả ngôn ngữ, hành vi, công việc hãy lấy chuẩn mực này để tu tập.
Mọi lúc mọi nơi đều để tâm phát giác, phát hiện ra cảm giác của thúc dục, ham muốn; cảm giác của nóng giận; cảm giác của vô minh, bản ngã để chế ngự, nhiếp phục… đó chính là thiện pháp.
Tụng kinh cũng vậy, để ý xem chúng ta có đang tụng với tâm tham, thúc giục đọc cho xong quyển kinh không, nếu tụng như vậy thì không có lợi ích lớn. Thay vào đó, hãy tụng kinh với tâm thanh tịnh, nhẹ nhàng, lắng dịu, an lạc, đừng tụng để được số lượng nhiều bài kinh, đừng tụng vì danh, vì lợi. Khi tụng kinh trong sự thanh tịnh, chánh niệm, an lạc để thấm thía được trí tuệ mà Đức Phật muốn truyền trao thì việc tụng đó lợi ích nhiều hơn so với người tụng lẹ, tụng nhanh, tụng mau cho hết bộ kinh. Chúng ta cố gắng để ý vào những việc này để tự tu tập cho bản thân, cũng như hướng dẫn cho những người có duyên với mình. Và điều quan trọng hơn hết trong sự tu này là luôn nhận diện những cảm thọ ham muốn, thúc giục, sân giận, hơn thua, bản ngã trong nội tâm mình để nhiếp phục và chết ngự chúng.
Làm sao vượt qua tham ái
Câu hỏi: Người tu hiện giờ phần lớn đều bị sắc tướng làm sanh khởi ái dục, tham ưa cái đẹp. Xin thầy chỉ dẫn phương pháp tránh xa sự tham ái, tham dục này?
Khi ngồi thiền và theo dõi hơi thở, con chỉ tập trung được 15 phút đầu, sau đó tham dục nổi lên là không còn tập trung được nữa. Có lúc con quán bất tịnh nhưng lại có cảm giác sợ hãi nên dừng lại mà không tiếp tục. Con vẫn chưa thắng được dục ái, tham dục về sắc đẹp. Xin thầy chỉ dẫn con thêm?
Đây là những câu hỏi rất quan trọng. Chúng ta phải thực tập nhận diện sắc uẩn chứ không chỉ đọc qua rồi học thuộc bài là xong, vì đây là sự chứng ngộ của Đức Phật. Tất cả những thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại là sắc. Trong Tương Ưng Bộ Kinh, kinh “Đáng được ăn”, Đức Phật cũng định nghĩa rằng: “Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc”. Như vậy, những sắc pháp là thứ vô thường, biến hoại, tan rã, huỷ hoại, tan nát, hoại diệt. Chính vì vậy, Đức Phật đã nói, ai ưa thích sắc thì người đó ưa thích khổ, ai ưa thích khổ thì người đó không thể thoát khỏi khổ đau. Ngược lại, ai không ưa thích sắc thì người đó không ưa thích khổ, người không ưa thích khổ thì Phật tuyên bố người đó thoát khỏi khổ đau.
“Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ sắc, người ấy hoan hỷ khổ. Ai hoan hỷ khổ, Ta nói người ấy không giải thoát khỏi khổ.
Này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ sắc, người ấy không hoan hỷ khổ. Ai không hoan hỷ khổ, Ta nói người ấy giải thoát khỏi khổ.”
(Tương Ưng Bộ Kinh – tập III. Thiên uẩn, Tương ưng uẩn, III. phẩm Gánh nặng, bài kinh Hoan hỷ).
Đây là Thánh chuông mà Đức Thế Tôn đã chứng ngộ và truyền trao nhưng nhiều khi chúng ta không ghi nhớ. Thời đại ngày nay, phần nhiều là bị vướng vào sắc tướng, ai ai cũng lo phát huy những hình tướng, màu sắc và bị những thứ đó quay trở lại vây hãm, trói cột mình, đó là do đi không đúng đường. Trong khi sự tu học mà Đức Phật dạy là phải quán tính nguy hiểm và tác hại của sắc pháp. Sắc tiềm ẩn những sự nguy hại trong đó. Không chỉ là con người mới là sắc pháp, mà tất cả những món đồ, căn phòng, tịnh thất, ngôi chùa, chiếc xe đẹp… đều là những sắc pháp, vì vậy chúng vẫn đem lại những nguy hiểm và tác hại cho chúng ta. Hằng ngày có rất nhiều sự cướp giựt, tù tội, chém giết nhau cũng đều bởi sự tham đối với sắc. Đó chính là “Ai hoan hỷ sắc, người ấy hoan hỷ khổ”.
Tinh thần Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya là nhìn thấy bản chất của sắc là biến đổi, biến hoại, tan hoại, mục nát, tan rã, huỷ diệt, hoại diệt. Khi thường tư duy, quán chiếu, nghiền ngẫm, chiêm nghiệm thì sẽ sanh khởi được tâm nhàm chán và muốn từ bỏ đối với các sắc. Trong Nikāya, Đức Phật dùng từ yểm ly, viễn ly, xuất ly tức là thấy chán lìa, muốn xa lìa và muốn thoát khỏi các sắc. Nếu đem hết thời gian, công sức, tâm huyết của mình đầu tư vào sắc tướng, để rồi lại ưa thích, tham đắm vào trong những cái đẹp đó thì chúng ta đang đi sai đường, bởi vậy càng tu càng phiền não.
Cũng như câu: “Chưa khoác Cà-sa than nhiều việc – Đã khoác Cà-sa việc lại nhiều”. Chưa đắp y thì than ngoài đời nhiều việc quá, muốn đi tu để giải thoát; vậy rồi vào tu thì việc nhiều hơn ở ngoài đời nữa. Đó là bởi chúng ta đi sai đường, đặt tâm không đúng hướng. Lấy những sắc uẩn, sắc tướng, sắc pháp vô thường làm sự nghiệp đời tu. Nếu cho rằng lập nên được ngôi chùa, có được danh tiếng, có đệ tử, nhiều tín đồ là thành công trong đời tu thì đây không phải là Chánh pháp, mà chỉ là Thế pháp. Trong khi sự tu học là đi đến sự thấy rõ bản chất của tất cả các hình sắc, sắc tướng, sắc uẩn này là vô thường, tan hoại, huỷ hoại, hoại diệt; từ đó hướng tâm đến sự rời xa, từ bỏ, chán lìa, thoát ra. Đó mới là Thánh đạo lộ của bậc Thánh mà Đức Phật đã chỉ bày. Tức là sự yểm ly, viễn ly, xuất ly đối với sắc uẩn, sắc pháp, sắc tướng – tu như vậy mới là đi đúng đường của Đức Phật.
Từ vấn đề này chúng ta mới thấy rằng, mỗi khi ngồi thiền thì chướng ngại lớn và khó khăn nhất đối với người tu là dục ái, dâm dục, tham dục. Vậy, hằng ngày chúng ta lấy phương thức gì để đối trị, xử lý, chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận, diệt tận những dục, tham ái này? Nếu không có những chiến lược, chiến thuật, không có phương pháp tác chiến, không có sự chiến đấu thiện xảo thì làm sao chiến thắng nổi con ma dục, tâm ma bên trong này. Cho nên, trong sự tu này, chúng ta phải là những chiến sĩ, dũng sĩ để đi theo bậc Vô Thượng Sĩ!
Còn nếu cứ tu như “lục bình trôi sông”, tới đâu thì tới, sống khoả lấp, che đậy, né tránh qua ngày thì không thể đối diện trực tiếp, trực chỉ, trực diện để xử lý triệt để những cảm thọ tham dục, ái dục, những thứ quấy rối, đay nghiến, hành hạ, dày xéo, dày vò, dẫn dắt, thúc dục, xâm chiếm, áp đảo trong thân tâm mình. Cho nên, tu mà không có phương pháp, cách thức, chiến thuật, chiến lược tác chiến thì không thể nào nhiếp phục, đoạn tận được dục tham.
Trong sự chứng ngộ của Đức Thế Tôn thì phương pháp diệt dục duy nhất là quán bất tịnh. Quán bất tịnh có nhiều phương diện, trong Tứ Niệm Xứ, phần thân hành niệm gồm có ba phương diện: quán tứ đại, quán Ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn tử thi – ba pháp quán này là thời khoá tu hằng ngày của chư Tỷ-kheo lúc Đức Thế Tôn còn tại thế. Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi đêm là đều thực tập để phá được hình hài nguyên vẹn của lớp da này; nếu không phân tích, phẫu thuật, mổ xẻ lớp da này ra thì không ai có thể nhiếp phục, đoạn tận, ly dục được. Đây là những phương pháp đào sâu nên cần thời gian chiêm nghiệm, thực tập sâu sắc. Cần có sự thao thức, trăn trở, ưu tư trong sự tu học, từ đó chúng ta sẽ có cơ hội thành tựu những pháp của bậc Thượng nhân. Còn nếu không chúng ta mãi vẫn là phàm phu, không thành tựu được tri kiến của bậc Thánh.
Khi ngồi lại, phải mổ xẻ, chia chẻ thân thể này ra từng phần. Trong đó, phân loại ra: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tuỷ, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử” là thuộc về địa đại; những thứ “phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu” là thuộc về thuỷ đại; những chuyển động trong cơ thể như hô hấp, tuần hoàn thuộc về phong đại; nhiệt độ, hơi ấm, làm tiêu hoá thức ăn trong cơ thể là thuộc về hoả đại. Từ đó, chúng ta quán chiếu, quán xét, nhìn sâu vào bản chất thân này.
Tiếp theo, chúng ta quán tưởng đưa từng bộ phận ra trước mặt để nhìn thấy được trong lớp da này thật ra là gì. Nếu không, chỉ vì lớp da này bao phủ mà khiến chúng ta đui mù, si mê, ngu si, ám độn, hôn ám… đây là cú lừa ngoạn mục trong vô lượng vô biên kiếp mà chúng ta đã trải qua. Vậy nên chúng ta phải phá vỡ sự ngu si, đập nát đi sự si ám, vô minh để trí tuệ này nhìn thấu, xuyên thấu, xuyên thủng vào lớp da đầy bất tịnh, hôi dơ, bẩn thỉu này và thấy được, biết được, thực chứng được sự thật ngay nơi thân tâm mình.
Khi chúng ta đánh răng, đi tắm, đi vệ sinh, chảy nước mũi, chảy nước miếng; tác ý mạnh mẽ: “Đây nè, mở mắt ra, nhìn kỹ đi, mê gì?”, để đánh thức tâm mê này, cho nó thể nhập trí tuệ chân thật. Khi nhìn ra thân mình dơ bẩn, hôi thối thì cũng sẽ nhìn ra được thân của người khác cũng vậy:“Mê đắm gì sự bẩn thỉu này. Mê sống, mê chết vào những thứ này đó là vô minh, ngu si, ám độn”.
Để phá được cái ngu si này thì phải có trí tuệ của bậc Chánh đẳng giác đã chứng ngộ. Ngọn đèn tuệ của Ngài đã được thắp lên, chúng ta cũng đã có đèn, có dầu, nhưng chưa có lửa. Vì vậy những lúc nghe pháp, quán chiếu, thiền tập, tư duy là những lúc chúng ta đang được châm ngọn lửa từ ngọn đèn Chánh Đẳng Giác và chúng ta sáng được lúc đó, tuy vậy, khi trở ra ngọn đèn lại bị tắt. Đến khi được nghe pháp và để tâm hành trì theo lời dạy của Đức Thế Tôn thì ngọn đèn trí tuệ lại tiếp tục được thắp lên. Quá trình thắp – tắt, thắp – tắt, thắp – tắt diễn ra hoài hoài rồi đến lúc ngọn đèn được thắp sáng luôn, không tắt nữa, cũng là lúc trí tuệ được thể nhập, chứng ngộ.
Mỗi khi quán bất tịnh, nếu thấy sợ hãi, muốn dừng lại thì cần tỉnh giác nhận diện được cái gì đang sợ hãi? Đó chính là dục ái, vô minh, khát ái, dục vọng đang sợ hãi, bởi vì chúng là bóng đêm nên sợ hãi ánh sáng của trí tuệ, không chấp nhận đối diện với sự thật. Lúc đó, cần tác ý mắng nó: “Hỡi tâm mê ơi, ngươi đã mê vô lượng vô biên kiếp trong những đống máu, mủ, thịt, da này. Bây giờ được nhìn thấy bằng Thánh trí tuệ mà tại sao ngươi không chịu chấp nhận hả tâm ngu”.
Bên cạnh việc dạy bảo nhẹ nhàng để tâm thấm thía, thì chúng ta cũng cần kèm theo mắng, chửi, thẳng tay trừng trị để nó tỉnh ngộ ra. “Tại sao giờ này tiếp nhận Thánh trí tuệ mà lại không chịu chấp nhận hả tâm mê? Ngươi muốn trầm luân sanh tử, muốn những đống máu, mủ, xương, da này lại được sanh ra dài dài để sầu, bi, khổ, ưu, não nữa đúng không? Ngươi muốn tiếp tục những bộ xương, đống tro này nữa đúng không? Muốn tiếp tục chui vào những thân xác mang lông, đội sừng nữa phải không? Tại sao ngươi không chấp nhận sự thật của bậc Chánh đẳng chánh giác? Ngươi đi tu để làm gì hả tâm u mê này?”.
Chúng ta cần rầy la tâm mình để nó chịu chấp nhận học pháp, đều này rất quan trọng. Tâm của chúng ta là những tâm cứng cỏi, ương ngạnh, cứng đầu, cứng cổ. Thế nên, khi đi vào tu học Thánh pháp thì điều đầu tiên Đức Phật dạy là tu tâm hiền trí để tâm này được mềm ra, nhu nhuyến, dễ sử dụng thì chúng ta mới tiếp nhận được pháp. Bằng không thì tâm này chống đối, không chịu nghe, không chịu học pháp. Tâm chống đối này phải được diệt tận, chế ngự, tẩy sạch thì mới tu học được và đây chính là tâm của bản ngã.
Khi tu học sâu vào, chúng ta sẽ thấy biết được hết về thân, tâm mình. Những lầm thầm “ghê quá, ớn quá, thôi đừng quán tưởng về những thứ đó nữa” là sự chống đối với bất tịnh quán, chống đối với Thánh trí tuệ của Đức Phật. Khi đó phải nhận diện được đây là tâm dục ái, tâm vô minh để tác ý diệt tận tâm này, rồi sau đó chúng ta mới tu được. Thiền quán về chín giai đoạn một tử thi, Minh Thành cũng đã chia sẻ, quý vị tìm nghe và thực tập. Chúng ta mở lên, nghe và quán theo những gì Minh Thành hướng dẫn. Một thời gian sau quen rồi, chúng ta sẽ tự thiền quán.
Nhiếp phục trạo cử và hôn trâm
Câu hỏi: Xin thầy chỉ cách đối trị với trạo cử và hôn trầm trong lúc làm việc cũng như lúc hành thiền?
Trạo cử là một trạng thái dao động giữa thân và tâm. Ví dụ như ngồi thiền mà chúng ta bị ngứa, nhúc nhích người, đổi chân, quay qua lại nhìn người khác; hoặc ngồi học, không ngồi yên mà quay qua quay lại nhìn người này, người kia, ngồi học không chuyên chú…. thì đây gọi là thân trạo cử. Thậm chí có người ngồi học nhưng lờ đờ hoặc nằm ngả ra bàn ngủ luôn thì đó là hôn trầm.
Trạo cử
Trong Trung bộ kinh, bài kinh “Đại kinh Xóm ngựa”, Đức Phật ví những người bị trạo cử như những kẻ nô lệ, còn những người bị hôn trầm thì như người bị nhốt trong ngục, không được tự do. Ví như đang ngồi, thấy một người nhịp chân thì chúng ta cũng làm theo như vậy, đó là trạo cử; chúng ta không làm chủ thân, tâm của mình, bị ngoại cảnh tác động. Cho nên đầu tiên là chúng ta phải cố gắng nhiếp phục sự trạo cử, dao động ở thân. Một người tu tập mà có sự an tường, khinh an, an tịnh, lắng dịu thì người đó đã chiến đấu, chế ngự, nhiếp phục được trạo cử trong năm triền cái, điều này hết sức cần thiết. Khi đó, chúng ta thấy những oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, cử chỉ, hành xử của họ rất an tịnh, lắng dịu, rất khinh an, nhẹ nhàng chứ không tháo động, thô thiển, không lăng xăng, vội vàng, tất bật.
Tâm có trạo cử là tâm luôn nghĩ đến cái này, cái kia. Chúng ta không thâu nhiếp được, dù thực hành thiền cũng bị buông lung, phóng dật. Như vậy, không thể tu tập thiền định và trí tuệ cũng không thể sanh khởi, phát triển, tăng trưởng được. “Ví như, một bát nước bị gió thổi, dao động, chấn động, nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết được và thấy được” (Tăng Chi Bộ Kinh, chương V. Năm pháp, XX. phẩm Bà-la-môn, bài kinh Bà-la-môn Sangarava). Cũng vậy, một tâm trạo cử như vậy không thể thấy được các lậu hoặc, cấu nhiễm, rác bẩn ở trong nội tâm; và một khi không thấy thì không thể chế ngự, nhiếp phục, tẩy sạch, đoạn tận. Do vậy, một người lăng xăng, lao xao thì ở ngoài đời cũng không làm được việc gì lớn huống gì là người xuất gia. Thành ra, trạo cử là một trong “năm chướng ngại, triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ.” (Tăng chi bộ kinh, Chương V. Năm pháp, VI. Phẩm Triền cái, bài kinh Ngăn chặn).
Đức Phật dạy chúng ta phải nhiếp phục, đoạn tận thân và tâm lăng xăng, dao động này. Bằng cách thường thường nhắc nhở mình với câu niệm “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu”, khi niệm như vậy, chúng ta hướng tâm vào lồng ngực, nơi cảm thọ sanh khởi. Mỗi khi để ý có sự dao động, thô tháo nơi thân, có sự thúc dục làm điều gì đó, chúng ta phải nhận diện ra được và chế ngự nó bằng câu “An tịnh, lắng dịu. Ngồi yên nha thân!”; cũng như chúng ta ra pháp lệnh cho thân này vậy, bắt nó phải nghe theo, không được cãi. Tập dần dần thì những tác ý, ý nghĩ của mình trở thành pháp lệnh, khi đó chúng ta mới làm chủ được thân, tâm.
Như khi dạy trẻ nhỏ, nếu đứa bé có quậy phá thì mình phân tích để chúng thấy được hậu quả của hành vi đó và từ đó trẻ nhỏ chịu nghe lời, không làm những việc nguy hiểm. “Không được nha con, rớt xuống hố này là chết nè”, “Đi ra khỏi hàng rào là nguy hiểm, xe đụng vào nha con”. Việc dạy dỗ, huấn luyện tâm cũng như vậy, bởi đã từ vô lượng kiếp đến nay, tâm đã trở thành tâm rừng rú, hoang vu, khỉ vượn, tâm lậu hoặc. Nếu không được sự thấy biết, huấn luyện, giáo dục, dạy bảo, quán xuyến, kiểm tra, thâu nhiếp, phòng hộ, bảo vệ thì tâm này sẽ giết mình chết.
Cho nên tu tập là một sự huấn luyện nội tâm một cách điêu luyện, nhuần nhuyễn, thuần thục, thiện xảo. Người tu nếu buông lung, phóng dật, còn tệ hơn những người ngoài đời, như vậy thì sự tu của chúng ta không có ý nghĩa. Tất cả những lời nói, cử chỉ, hành vi, tâm niệm, cảm thọ đều phải thực hành Thượng nhân pháp – pháp tu của bậc Thượng nhân và sống với những đức tính cao thượng của bậc Hiền thánh; chứ không được sống với nếp sống của phàm phu, của hạ nhân. Chúng ta phải rèn luyện, trui rèn, tu luyện để có được những đức hạnh cao thượng của Hiền thánh trong mỗi suy nghĩ, cảm thọ, nhận thức, cử chỉ, hành vi, hình bóng; từ đó đưa tâm vào trong Thánh đạo, Thánh trí tuệ, Phạm hạnh. Với một tâm trạo cử, lăng xăng, rừng rú thì không thể tu tập được. Tâm của chúng sanh là tâm rừng rậm, rừng núi, hoang vu, hoang dã, tâm chưa được khai phá và sự tu tập đó là chúng ta khai phá khu rừng hoang này, bởi vậy bao nhiêu công phu, nỗ lực, tinh tấn chứ không phải đơn giản.
Hôn trầm
Với hôn trầm thì chúng ta phải nhận diện được cảm thọ khi hôn trầm đến. Chúng ta phải để ý nơi mắt, khi có cảm giác đơ đơ, muốn nhắm mắt lại cần nhận diện ngay được và lập tức mở rộng tầm mắt ra hết cỡ về phía trước mặt, đồng thời cảm thọ thật mạnh ở nơi mắt để đánh đuổi cơn buồn ngủ.
Năm 1994, tu học ở Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt, Minh Thành buồn ngủ rất nhiều. Ba giờ sáng là bắt đầu ngồi thiền, mỗi ngày thiền sáu tiếng, một thời là hai tiếng. Minh Thành dùng nước lạnh thật lạnh lau mặt cũng không tỉnh ngủ, rồi lấy dầu xanh bôi vào mắt. Mà sau đó khi đã chiến thắng được rồi là không bao giờ bị buồn ngủ nữa, cảm giác an lạc lắm.
Thế nên, chúng ta phải có phương pháp tác chiến, có chiến lược, chiến thuật, chiến đấu trong mọi trường hợp, chứ không phải thiền là chỉ ngồi đó nhắm mắt, rồi tâm trí đi đâu cũng chẳng biết thì dù cho ngồi bao lâu thì trí tuệ cũng không thể sanh khởi được. Ngồi thiền như vậy còn thua ở ngoài đi chơi nữa, bởi đi chơi là còn biết mình đang làm gì, còn ngồi thiền bị hôn trầm dẫn dắt là u mê trong đó. Vì lẽ đó, tu là phải diệt được trạo cử và hôn trầm thì mới sanh trí tuệ, sau đó mới đến diệt dục tham, sân hận, nghi hoặc. Sau khi diệt trừ năm triền cái này chúng ta mới vào được sơ thiền.
Đạo lộ tu tập của tất cả các bậc Chánh đẳng chánh giác ở quá khứ, hiện tại, vị lai là: “Sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu kém trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, sau khi như thật tu tập bảy giác chi, đã chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác” (Tương ưng bộ kinh, V. Thiên đại, Tương ưng Niệm xứ, II. Phẩm Nālandā, bài kinh Nālandā). Đây là truyền thống về Chánh pháp, tất cả chư Phật đều đi qua con đường này. Chúng ta tu mười năm, mười lăm năm rồi mà năm triền cái còn y nguyên, không hiểu rõ về chúng để nhiếp phục, đoạn tận, diệt tận thì như vậy không gọi là tu, chỉ là làm được chút ít thiện pháp, rồi sau khi mạng chung vẫn có thể bị đoạ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Tu mà chỉ chơi chơi thì chúng ta đang mang nợ của đàn na tín thí và đời sau chắc chắn đoạ ba đường ác.
Nếu không cạo đầu, mặc áo người tu thì ở ngoài đời mỗi tháng chúng ta phải chi tiêu nào là tiền phòng ở, tiền xăng, tiền ăn, tiền điện, tiền nước, tiền học phí. Hơn nữa, không chỉ tài vật, Phật tử nhiều người đáng tuổi cha, chú, ông, bà mình lúc cúng dường còn phải quỳ xuống lạy. Một người tu mà tham, sân, si còn đầy tràn, buông lung phóng giật không nhiếp phục, giới hạnh không giữ gìn, thiền định không thành tựu, trí tuệ thì u mê… như vậy có phải quá xứng đáng để đoạ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh không? Cho nên, phải tác ý, quán tưởng mạnh mẽ, nhìn thấy cảnh đó như đang trước để hoảng sợ, khiếp sợ, kinh sợ, lo sợ mà lo tu học. Người tu chúng ta phải biết sợ hãi trước kiếp sống mang lông, đội sừng, cô hồn, ngạ quỷ, súc sanh sau này, để từ đó cố gắng, nỗ lực, tăng thượng giới đức, tăng thượng thiền định, tăng thượng trí tuệ. Như vậy mới xứng đáng là người tu.
Ước muốn sắc bén của người tu
Bài kinh “Sa-môn”, Căn bản trí 2, Nghi thức tu học Nikāya:
Này các Tỷ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?
- Thọ trì tăng thượng giới học
- Thọ trì tăng thượng tâm học
- Thọ trì tăng thượng tuệ học.
Ðây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tâm học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
(Tăng chi bộ kinh, Chương III. Chương Ba pháp, IX. Phẩm Sa-môn, Bài kinh Sa Môn)
Đây là ước muốn sắc bén của một người tu. Không những là ước muốn mà đây còn là ước muốn sắc bén. “Tăng thượng” ở đây là tăng trưởng ba hạnh của một người xuất gia cần làm. Người này luôn luôn ước muốn một cách sắc bén, mãnh liệt, thao thức, trăn trở, day dứt, ưu tư về giới hạnh, giới đức của mình được tăng thêm lên chứ không đứng tại chỗ.
Mỗi một ngày ở trong đạo, mỗi một tuần ở trong chùa, mỗi một tháng ở trong đạo tràng, mỗi một năm ở trong thiền môn phải thấy được sự lớn mạnh về giới đức, giới hạnh của tự thân mình. Phải có thao thức, ước muốn sắc bén sao cho giới đức mình càng ngày càng được tròn đầy, lớn mạnh hơn lúc hiện tại. Những vị như vậy Đức Phật mới gọi là những người tu thật sự, mới là những đệ tử của Ngài. Nếu không có khao khát, ước muốn sắc bén như vậy thì Đức Phật không xem những người đó là đệ tử.
Chúng ta tự nhìn lại chính mình xem đã có được ước muốn sắc bén đó chưa, hay là chấp nhận cuộc đời của “lục bình trôi sông”, bình thường, phàm phu, buông lung, phóng dật, tham, sân, si, bản ngã, vô minh. Chúng ta đã có ước muốn thật sự sắc bén hay không? Ước muốn sao cho tâm mình vào được sự an định của các tầng thiền, gọi là Thánh chánh định – bốn tầng thiền của bậc Thánh. Hãy tự hỏi mình xem đi tu bao nhiêu năm nay đã nếm được hương vị của Sơ thiền chưa? Nếu đã thật sự nếm được thì hương vị của Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền mình đã nếm được chưa? Mình đã tăng thượng được tâm an định, thành tựu sự thấy biết, tri kiến của bậc Thánh chưa? Tu trong sự khát khao, tha thiết như vậy thì được gọi là ba đức hạnh của vị Sa-môn.
“Ví như, này các Tỷ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng một đàn bò nghĩ rằng: “Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò”, nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: “Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò”.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: “Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo”. Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tâm học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỷ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: “Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo”.
(Tăng chi bộ kinh, Chương III. Chương Ba pháp, IX. Phẩm Sa-môn, Bài kinh Sa Môn)
Đức Phật ví những Tỷ-kheo tu không chân chánh thì cũng như những con lừa đi sau lưng con bò thôi, không phải là Tỷ-kheo, không phải là đệ tử chân chánh của Ngài. Chỉ được cái danh, còn ngay cả dáng vẻ bên ngoài cũng không giống Tỷ-kheo, không có oai nghi tế hạnh, không có sự an tịnh, lắng dịu, trí tuệ. Mỗi lần phát ngôn ra là thể hiện bản ngã, đầy dẫy tham dục, hơn thua, sự bất kính. Cho nên, Đức Phật lấy hình ảnh“con lừa không có màu sắc, không có tiếng, không có chân giống như con bò” để ví cho một vị Tỷ-kheo tu mà không có Giới, Định, Tuệ, như vậy thì cũng giống một con lừa theo sau một đàn bò.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tâm học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
./.
LÀNH VÀ DỮ
LÀM SAO VƯỢT QUA THAM ÁI
TRẠO CỬ - HÔN TRẦM
ƯỚC MUỐN SẮC BÉN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thước đo thiện – ác PAGEREF _Toc100923790 \h 1
1.Căn bản bất thiện PAGEREF _Toc100923791 \h 1
2.Căn bản thiện PAGEREF _Toc100923792 \h 3
II.Làm sao vượt qua tham ái PAGEREF _Toc100923793 \h 4
III.Nhiếp phục trạo cử và hôn trâm PAGEREF _Toc100923794 \h 9
1.Trạo cử PAGEREF _Toc100923795 \h 9
2.Hôn trầm PAGEREF _Toc100923796 \h 11
IV.Ước muốn sắc bén của người tu PAGEREF _Toc100923797 \h 12
Sự tu học của chúng ta quan trọng là nắm được phương pháp hành trì, khi đó dù có chuyện gì xảy ra thì ở bất cứ nơi đâu chúng ta vẫn được an ổn. Ngược lại, nếu không nắm được pháp hành, mà chỉ tu học trên hình thức, chữ nghĩa, kiến thức thì chúng ta không giải quyết được những thắt gút của nội tâm, khi đau khổ đến thì mình không có phương pháp, cách thức phù hợp để xử lý.
Thước đo thiện – ác
Câu hỏi: Mọi người thường nói “làm lành, lánh dữ”, vậy, thước đo nào để biết việc đang làm là lành hay dữ và dựa vào đâu để phán xét mọi việc được đúng đắn, chín chắn?
Câu hỏi nghe tuy đơn giản nhưng lại rất quan trọng, không phải dễ hiểu, chữ “lành” và “dữ”, “thiện” và “ác” trong Nikāya vô cùng thâm sâu. Vậy, thế nào là chuẩn mực của lành và những điều kiện gì xác định đó là dữ?
Theo cái nhìn thông thường, khi thấy một người giúp đỡ người khác bằng cách cho quà, đồ đạc, tiền của hoặc giúp điều gì đó thì chúng ta xem đó là việc lành, việc từ thiện. Còn nếu thấy ai la rầy, quở trách, chửi mắng người khác thì chúng ta xem đó là việc ác, bất thiện. Thế nhưng, nếu chúng ta chỉ nhìn trên hành vi rồi xác định thiện, ác thì không chính xác.
Ví dụ, một người đệ tử làm việc sai quấy nên mới bị Thầy của vị ấy quở trách, la rầy, hay thậm chí là phạt quỳ nhang. Chúng ta chỉ thấy lúc người Thầy la rầy, nhắc nhở, phạt quỳ thì lại nghĩ rằng vị Thầy này đang bị sân chi phối nên nóng giận và có hành động như vậy. Qua đó, chúng ta thấy rằng, nếu chỉ nhìn bên ngoài để phán xét thiện ác, lành dữ thì chưa chắc là đúng. Ví dụ dễ thấy, có người cho người khác đồ nhưng thật sự là với mục đích, ý đồ cá nhân chứ không phải cho tặng vì lòng thương. Cho nên, chúng ta phải suy xét, nhìn sâu vào động cơ đằng sau của hành động thì mới thấy được thiện hay bất thiện.
Căn bản bất thiện
Trong kinh Trung Bộ, Đức Phật định nghĩa rằng tham, sân, si là căn bản của bất thiện:
“Và chư Hiền, thế nào là căn bổn bất thiện?
Tham là căn bổn bất thiện,
Sân là căn bổn bất thiện,
Si là căn bổn bất thiện.
Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn bất thiện”
(Trích Trung Bộ Kinh, bài 9. Kinh Chánh tri kiến)
Nghĩa là khi chúng ta làm bất cứ điều gì với động cơ là tham muốn, tức giận, si mê, muốn làm hại người thì Đức Phật định nghĩa đó là gốc rễ của bất thiện pháp. Tham, sân, si trong kinh Nikāya rất thâm sâu, chỉ khi nhận diện được ngũ uẩn thì mới thấy được chúng.
Nhờ nhận diện ngũ uẩn, chúng ta sẽ thấy tham nằm trong những cảm thọ, hình bóng, nghĩ, tưởng chứ không phải tham đơn thuần là ăn trộm món đồ nào đó, nếu như vậy mới xem là tham thì người không học pháp cũng biết được. Cho nên, tham nằm trong từng ý niệm, suy nghĩ bên trong, dù cho những hành vi bên ngoài là việc làm thiện, không thể hiện sự tham muốn đó nhưng động cơ, xuất phát điểm, ý đồ bên trong có tham thì đó là bất thiện.
Ví dụ, có vị Phật tử, điều kiện khá giả đến chùa, vị này được lo cho ăn uống, chăm sóc kỹ lưỡng, đặc biệt hơn những vị khác thì chúng ta hãy nhìn kỹ xem điều gì ẩn đằng sau hành động đó. Nếu chúng ta chăm sóc, quan tâm trên tinh thần tình thương thì khác; mà chăm sóc, quan tâm trên tinh thần mong muốn một điều gì khác từ vị đó thì là đây là bất thiện mặc dù bên ngoài thấy là làm việc tốt. Hoặc đại chúng đang pháp đàm với nhau về chủ đề từ bi, nhưng sau một hồi thảo luận thì mọi người sân si lên với nhau. Như vậy, ở bên ngoài thì đó là việc thiện lành khi chúng ta đàm luận về chủ đề từ bi nhưng lúc đó bên trong lại có những cảm thọ sân giận, hơn thua, giành phần đúng, giành phần thắng về mình thì việc này trở thành bất thiện pháp.
Căn bản thiện
Tiếp theo, Đức Phật dạy rằng vô tham, vô sân, vô si; ly tham, ly sân, ly si; lìa tham muốn, lìa sân hận, lìa si mê, làm hại người khác chính là gốc rễ, là chuẩn mực của thiện pháp.
“Chư Hiền, thế nào là căn bổn thiện?
Không tham là căn bổn thiện,
Không sân là căn bổn thiện,
Không si là căn bổn thiện.
Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn thiện”
(Trích Trung Bộ kinh, bài 9. Kinh Chánh tri kiến)
Chúng ta chỉ tìm hiểu một cách tổng quát, vì nếu đi vào chi tiết thì bao trùm hết đời sống này. Phàm những suy nghĩ, lời nói, hành động gì mà hướng đến ly tham, lìa tham, đoạn tham, dứt tham, đoạn sân, lìa si mê, bản ngã thì đó là thiện pháp, là gốc rễ của thiện pháp.
Ví dụ như việc chưng hoa cúng Phật, đừng nghĩ cứ nhiều là tốt, rồi chúng ta chất chồng hoa đầy tràn xung quanh Phật. Với người hiểu biết sẽ nhìn nhận việc làm đó là kết quả của tâm tham, mặc dù với bề ngoài là một việc làm cho thiện pháp. Vì vậy, chưng hoa vừa đủ, tạo nên nét thiền, sự thanh nhã, thanh thoát, tỏ sự cung kính với Phật đã là rất tốt. Đừng quá nặng nề bởi hình thức, cái đẹp, sắc uẩn bên ngoài, đó là những thứ vừa khiến chúng ta tốn tiền của, thời gian, công sức mà có khi lại còn mang về phiền não. Vì vậy, trong tất cả ngôn ngữ, hành vi, công việc hãy lấy chuẩn mực này để tu tập.
Mọi lúc mọi nơi đều để tâm phát giác, phát hiện ra cảm giác của thúc dục, ham muốn; cảm giác của nóng giận; cảm giác của vô minh, bản ngã để chế ngự, nhiếp phục… đó chính là thiện pháp.
Tụng kinh cũng vậy, để ý xem chúng ta có đang tụng với tâm tham, thúc giục đọc cho xong quyển kinh không, nếu tụng như vậy thì không có lợi ích lớn. Thay vào đó, hãy tụng kinh với tâm thanh tịnh, nhẹ nhàng, lắng dịu, an lạc, đừng tụng để được số lượng nhiều bài kinh, đừng tụng vì danh, vì lợi. Khi tụng kinh trong sự thanh tịnh, chánh niệm, an lạc để thấm thía được trí tuệ mà Đức Phật muốn truyền trao thì việc tụng đó lợi ích nhiều hơn so với người tụng lẹ, tụng nhanh, tụng mau cho hết bộ kinh. Chúng ta cố gắng để ý vào những việc này để tự tu tập cho bản thân, cũng như hướng dẫn cho những người có duyên với mình. Và điều quan trọng hơn hết trong sự tu này là luôn nhận diện những cảm thọ ham muốn, thúc giục, sân giận, hơn thua, bản ngã trong nội tâm mình để nhiếp phục và chết ngự chúng.
Làm sao vượt qua tham ái
Câu hỏi: Người tu hiện giờ phần lớn đều bị sắc tướng làm sanh khởi ái dục, tham ưa cái đẹp. Xin thầy chỉ dẫn phương pháp tránh xa sự tham ái, tham dục này?
Khi ngồi thiền và theo dõi hơi thở, con chỉ tập trung được 15 phút đầu, sau đó tham dục nổi lên là không còn tập trung được nữa. Có lúc con quán bất tịnh nhưng lại có cảm giác sợ hãi nên dừng lại mà không tiếp tục. Con vẫn chưa thắng được dục ái, tham dục về sắc đẹp. Xin thầy chỉ dẫn con thêm?
Đây là những câu hỏi rất quan trọng. Chúng ta phải thực tập nhận diện sắc uẩn chứ không chỉ đọc qua rồi học thuộc bài là xong, vì đây là sự chứng ngộ của Đức Phật. Tất cả những thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại là sắc. Trong Tương Ưng Bộ Kinh, kinh “Đáng được ăn”, Đức Phật cũng định nghĩa rằng: “Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc”. Như vậy, những sắc pháp là thứ vô thường, biến hoại, tan rã, huỷ hoại, tan nát, hoại diệt. Chính vì vậy, Đức Phật đã nói, ai ưa thích sắc thì người đó ưa thích khổ, ai ưa thích khổ thì người đó không thể thoát khỏi khổ đau. Ngược lại, ai không ưa thích sắc thì người đó không ưa thích khổ, người không ưa thích khổ thì Phật tuyên bố người đó thoát khỏi khổ đau.
“Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ sắc, người ấy hoan hỷ khổ. Ai hoan hỷ khổ, Ta nói người ấy không giải thoát khỏi khổ.
Này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ sắc, người ấy không hoan hỷ khổ. Ai không hoan hỷ khổ, Ta nói người ấy giải thoát khỏi khổ.”
(Tương Ưng Bộ Kinh – tập III. Thiên uẩn, Tương ưng uẩn, III. phẩm Gánh nặng, bài kinh Hoan hỷ).
Đây là Thánh chuông mà Đức Thế Tôn đã chứng ngộ và truyền trao nhưng nhiều khi chúng ta không ghi nhớ. Thời đại ngày nay, phần nhiều là bị vướng vào sắc tướng, ai ai cũng lo phát huy những hình tướng, màu sắc và bị những thứ đó quay trở lại vây hãm, trói cột mình, đó là do đi không đúng đường. Trong khi sự tu học mà Đức Phật dạy là phải quán tính nguy hiểm và tác hại của sắc pháp. Sắc tiềm ẩn những sự nguy hại trong đó. Không chỉ là con người mới là sắc pháp, mà tất cả những món đồ, căn phòng, tịnh thất, ngôi chùa, chiếc xe đẹp… đều là những sắc pháp, vì vậy chúng vẫn đem lại những nguy hiểm và tác hại cho chúng ta. Hằng ngày có rất nhiều sự cướp giựt, tù tội, chém giết nhau cũng đều bởi sự tham đối với sắc. Đó chính là “Ai hoan hỷ sắc, người ấy hoan hỷ khổ”.
Tinh thần Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya là nhìn thấy bản chất của sắc là biến đổi, biến hoại, tan hoại, mục nát, tan rã, huỷ diệt, hoại diệt. Khi thường tư duy, quán chiếu, nghiền ngẫm, chiêm nghiệm thì sẽ sanh khởi được tâm nhàm chán và muốn từ bỏ đối với các sắc. Trong Nikāya, Đức Phật dùng từ yểm ly, viễn ly, xuất ly tức là thấy chán lìa, muốn xa lìa và muốn thoát khỏi các sắc. Nếu đem hết thời gian, công sức, tâm huyết của mình đầu tư vào sắc tướng, để rồi lại ưa thích, tham đắm vào trong những cái đẹp đó thì chúng ta đang đi sai đường, bởi vậy càng tu càng phiền não.
Cũng như câu: “Chưa khoác Cà-sa than nhiều việc – Đã khoác Cà-sa việc lại nhiều”. Chưa đắp y thì than ngoài đời nhiều việc quá, muốn đi tu để giải thoát; vậy rồi vào tu thì việc nhiều hơn ở ngoài đời nữa. Đó là bởi chúng ta đi sai đường, đặt tâm không đúng hướng. Lấy những sắc uẩn, sắc tướng, sắc pháp vô thường làm sự nghiệp đời tu. Nếu cho rằng lập nên được ngôi chùa, có được danh tiếng, có đệ tử, nhiều tín đồ là thành công trong đời tu thì đây không phải là Chánh pháp, mà chỉ là Thế pháp. Trong khi sự tu học là đi đến sự thấy rõ bản chất của tất cả các hình sắc, sắc tướng, sắc uẩn này là vô thường, tan hoại, huỷ hoại, hoại diệt; từ đó hướng tâm đến sự rời xa, từ bỏ, chán lìa, thoát ra. Đó mới là Thánh đạo lộ của bậc Thánh mà Đức Phật đã chỉ bày. Tức là sự yểm ly, viễn ly, xuất ly đối với sắc uẩn, sắc pháp, sắc tướng – tu như vậy mới là đi đúng đường của Đức Phật.
Từ vấn đề này chúng ta mới thấy rằng, mỗi khi ngồi thiền thì chướng ngại lớn và khó khăn nhất đối với người tu là dục ái, dâm dục, tham dục. Vậy, hằng ngày chúng ta lấy phương thức gì để đối trị, xử lý, chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận, diệt tận những dục, tham ái này? Nếu không có những chiến lược, chiến thuật, không có phương pháp tác chiến, không có sự chiến đấu thiện xảo thì làm sao chiến thắng nổi con ma dục, tâm ma bên trong này. Cho nên, trong sự tu này, chúng ta phải là những chiến sĩ, dũng sĩ để đi theo bậc Vô Thượng Sĩ!
Còn nếu cứ tu như “lục bình trôi sông”, tới đâu thì tới, sống khoả lấp, che đậy, né tránh qua ngày thì không thể đối diện trực tiếp, trực chỉ, trực diện để xử lý triệt để những cảm thọ tham dục, ái dục, những thứ quấy rối, đay nghiến, hành hạ, dày xéo, dày vò, dẫn dắt, thúc dục, xâm chiếm, áp đảo trong thân tâm mình. Cho nên, tu mà không có phương pháp, cách thức, chiến thuật, chiến lược tác chiến thì không thể nào nhiếp phục, đoạn tận được dục tham.
Trong sự chứng ngộ của Đức Thế Tôn thì phương pháp diệt dục duy nhất là quán bất tịnh. Quán bất tịnh có nhiều phương diện, trong Tứ Niệm Xứ, phần thân hành niệm gồm có ba phương diện: quán tứ đại, quán Ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn tử thi – ba pháp quán này là thời khoá tu hằng ngày của chư Tỷ-kheo lúc Đức Thế Tôn còn tại thế. Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi đêm là đều thực tập để phá được hình hài nguyên vẹn của lớp da này; nếu không phân tích, phẫu thuật, mổ xẻ lớp da này ra thì không ai có thể nhiếp phục, đoạn tận, ly dục được. Đây là những phương pháp đào sâu nên cần thời gian chiêm nghiệm, thực tập sâu sắc. Cần có sự thao thức, trăn trở, ưu tư trong sự tu học, từ đó chúng ta sẽ có cơ hội thành tựu những pháp của bậc Thượng nhân. Còn nếu không chúng ta mãi vẫn là phàm phu, không thành tựu được tri kiến của bậc Thánh.
Khi ngồi lại, phải mổ xẻ, chia chẻ thân thể này ra từng phần. Trong đó, phân loại ra: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tuỷ, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử” là thuộc về địa đại; những thứ “phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu” là thuộc về thuỷ đại; những chuyển động trong cơ thể như hô hấp, tuần hoàn thuộc về phong đại; nhiệt độ, hơi ấm, làm tiêu hoá thức ăn trong cơ thể là thuộc về hoả đại. Từ đó, chúng ta quán chiếu, quán xét, nhìn sâu vào bản chất thân này.
Tiếp theo, chúng ta quán tưởng đưa từng bộ phận ra trước mặt để nhìn thấy được trong lớp da này thật ra là gì. Nếu không, chỉ vì lớp da này bao phủ mà khiến chúng ta đui mù, si mê, ngu si, ám độn, hôn ám… đây là cú lừa ngoạn mục trong vô lượng vô biên kiếp mà chúng ta đã trải qua. Vậy nên chúng ta phải phá vỡ sự ngu si, đập nát đi sự si ám, vô minh để trí tuệ này nhìn thấu, xuyên thấu, xuyên thủng vào lớp da đầy bất tịnh, hôi dơ, bẩn thỉu này và thấy được, biết được, thực chứng được sự thật ngay nơi thân tâm mình.
Khi chúng ta đánh răng, đi tắm, đi vệ sinh, chảy nước mũi, chảy nước miếng; tác ý mạnh mẽ: “Đây nè, mở mắt ra, nhìn kỹ đi, mê gì?”, để đánh thức tâm mê này, cho nó thể nhập trí tuệ chân thật. Khi nhìn ra thân mình dơ bẩn, hôi thối thì cũng sẽ nhìn ra được thân của người khác cũng vậy:“Mê đắm gì sự bẩn thỉu này. Mê sống, mê chết vào những thứ này đó là vô minh, ngu si, ám độn”.
Để phá được cái ngu si này thì phải có trí tuệ của bậc Chánh đẳng giác đã chứng ngộ. Ngọn đèn tuệ của Ngài đã được thắp lên, chúng ta cũng đã có đèn, có dầu, nhưng chưa có lửa. Vì vậy những lúc nghe pháp, quán chiếu, thiền tập, tư duy là những lúc chúng ta đang được châm ngọn lửa từ ngọn đèn Chánh Đẳng Giác và chúng ta sáng được lúc đó, tuy vậy, khi trở ra ngọn đèn lại bị tắt. Đến khi được nghe pháp và để tâm hành trì theo lời dạy của Đức Thế Tôn thì ngọn đèn trí tuệ lại tiếp tục được thắp lên. Quá trình thắp – tắt, thắp – tắt, thắp – tắt diễn ra hoài hoài rồi đến lúc ngọn đèn được thắp sáng luôn, không tắt nữa, cũng là lúc trí tuệ được thể nhập, chứng ngộ.
Mỗi khi quán bất tịnh, nếu thấy sợ hãi, muốn dừng lại thì cần tỉnh giác nhận diện được cái gì đang sợ hãi? Đó chính là dục ái, vô minh, khát ái, dục vọng đang sợ hãi, bởi vì chúng là bóng đêm nên sợ hãi ánh sáng của trí tuệ, không chấp nhận đối diện với sự thật. Lúc đó, cần tác ý mắng nó: “Hỡi tâm mê ơi, ngươi đã mê vô lượng vô biên kiếp trong những đống máu, mủ, thịt, da này. Bây giờ được nhìn thấy bằng Thánh trí tuệ mà tại sao ngươi không chịu chấp nhận hả tâm ngu”.
Bên cạnh việc dạy bảo nhẹ nhàng để tâm thấm thía, thì chúng ta cũng cần kèm theo mắng, chửi, thẳng tay trừng trị để nó tỉnh ngộ ra. “Tại sao giờ này tiếp nhận Thánh trí tuệ mà lại không chịu chấp nhận hả tâm mê? Ngươi muốn trầm luân sanh tử, muốn những đống máu, mủ, xương, da này lại được sanh ra dài dài để sầu, bi, khổ, ưu, não nữa đúng không? Ngươi muốn tiếp tục những bộ xương, đống tro này nữa đúng không? Muốn tiếp tục chui vào những thân xác mang lông, đội sừng nữa phải không? Tại sao ngươi không chấp nhận sự thật của bậc Chánh đẳng chánh giác? Ngươi đi tu để làm gì hả tâm u mê này?”.
Chúng ta cần rầy la tâm mình để nó chịu chấp nhận học pháp, đều này rất quan trọng. Tâm của chúng ta là những tâm cứng cỏi, ương ngạnh, cứng đầu, cứng cổ. Thế nên, khi đi vào tu học Thánh pháp thì điều đầu tiên Đức Phật dạy là tu tâm hiền trí để tâm này được mềm ra, nhu nhuyến, dễ sử dụng thì chúng ta mới tiếp nhận được pháp. Bằng không thì tâm này chống đối, không chịu nghe, không chịu học pháp. Tâm chống đối này phải được diệt tận, chế ngự, tẩy sạch thì mới tu học được và đây chính là tâm của bản ngã.
Khi tu học sâu vào, chúng ta sẽ thấy biết được hết về thân, tâm mình. Những lầm thầm “ghê quá, ớn quá, thôi đừng quán tưởng về những thứ đó nữa” là sự chống đối với bất tịnh quán, chống đối với Thánh trí tuệ của Đức Phật. Khi đó phải nhận diện được đây là tâm dục ái, tâm vô minh để tác ý diệt tận tâm này, rồi sau đó chúng ta mới tu được. Thiền quán về chín giai đoạn một tử thi, Minh Thành cũng đã chia sẻ, quý vị tìm nghe và thực tập. Chúng ta mở lên, nghe và quán theo những gì Minh Thành hướng dẫn. Một thời gian sau quen rồi, chúng ta sẽ tự thiền quán.
Nhiếp phục trạo cử và hôn trâm
Câu hỏi: Xin thầy chỉ cách đối trị với trạo cử và hôn trầm trong lúc làm việc cũng như lúc hành thiền?
Trạo cử là một trạng thái dao động giữa thân và tâm. Ví dụ như ngồi thiền mà chúng ta bị ngứa, nhúc nhích người, đổi chân, quay qua lại nhìn người khác; hoặc ngồi học, không ngồi yên mà quay qua quay lại nhìn người này, người kia, ngồi học không chuyên chú…. thì đây gọi là thân trạo cử. Thậm chí có người ngồi học nhưng lờ đờ hoặc nằm ngả ra bàn ngủ luôn thì đó là hôn trầm.
Trạo cử
Trong Trung bộ kinh, bài kinh “Đại kinh Xóm ngựa”, Đức Phật ví những người bị trạo cử như những kẻ nô lệ, còn những người bị hôn trầm thì như người bị nhốt trong ngục, không được tự do. Ví như đang ngồi, thấy một người nhịp chân thì chúng ta cũng làm theo như vậy, đó là trạo cử; chúng ta không làm chủ thân, tâm của mình, bị ngoại cảnh tác động. Cho nên đầu tiên là chúng ta phải cố gắng nhiếp phục sự trạo cử, dao động ở thân. Một người tu tập mà có sự an tường, khinh an, an tịnh, lắng dịu thì người đó đã chiến đấu, chế ngự, nhiếp phục được trạo cử trong năm triền cái, điều này hết sức cần thiết. Khi đó, chúng ta thấy những oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, cử chỉ, hành xử của họ rất an tịnh, lắng dịu, rất khinh an, nhẹ nhàng chứ không tháo động, thô thiển, không lăng xăng, vội vàng, tất bật.
Tâm có trạo cử là tâm luôn nghĩ đến cái này, cái kia. Chúng ta không thâu nhiếp được, dù thực hành thiền cũng bị buông lung, phóng dật. Như vậy, không thể tu tập thiền định và trí tuệ cũng không thể sanh khởi, phát triển, tăng trưởng được. “Ví như, một bát nước bị gió thổi, dao động, chấn động, nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết được và thấy được” (Tăng Chi Bộ Kinh, chương V. Năm pháp, XX. phẩm Bà-la-môn, bài kinh Bà-la-môn Sangarava). Cũng vậy, một tâm trạo cử như vậy không thể thấy được các lậu hoặc, cấu nhiễm, rác bẩn ở trong nội tâm; và một khi không thấy thì không thể chế ngự, nhiếp phục, tẩy sạch, đoạn tận. Do vậy, một người lăng xăng, lao xao thì ở ngoài đời cũng không làm được việc gì lớn huống gì là người xuất gia. Thành ra, trạo cử là một trong “năm chướng ngại, triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ.” (Tăng chi bộ kinh, Chương V. Năm pháp, VI. Phẩm Triền cái, bài kinh Ngăn chặn).
Đức Phật dạy chúng ta phải nhiếp phục, đoạn tận thân và tâm lăng xăng, dao động này. Bằng cách thường thường nhắc nhở mình với câu niệm “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu”, khi niệm như vậy, chúng ta hướng tâm vào lồng ngực, nơi cảm thọ sanh khởi. Mỗi khi để ý có sự dao động, thô tháo nơi thân, có sự thúc dục làm điều gì đó, chúng ta phải nhận diện ra được và chế ngự nó bằng câu “An tịnh, lắng dịu. Ngồi yên nha thân!”; cũng như chúng ta ra pháp lệnh cho thân này vậy, bắt nó phải nghe theo, không được cãi. Tập dần dần thì những tác ý, ý nghĩ của mình trở thành pháp lệnh, khi đó chúng ta mới làm chủ được thân, tâm.
Như khi dạy trẻ nhỏ, nếu đứa bé có quậy phá thì mình phân tích để chúng thấy được hậu quả của hành vi đó và từ đó trẻ nhỏ chịu nghe lời, không làm những việc nguy hiểm. “Không được nha con, rớt xuống hố này là chết nè”, “Đi ra khỏi hàng rào là nguy hiểm, xe đụng vào nha con”. Việc dạy dỗ, huấn luyện tâm cũng như vậy, bởi đã từ vô lượng kiếp đến nay, tâm đã trở thành tâm rừng rú, hoang vu, khỉ vượn, tâm lậu hoặc. Nếu không được sự thấy biết, huấn luyện, giáo dục, dạy bảo, quán xuyến, kiểm tra, thâu nhiếp, phòng hộ, bảo vệ thì tâm này sẽ giết mình chết.
Cho nên tu tập là một sự huấn luyện nội tâm một cách điêu luyện, nhuần nhuyễn, thuần thục, thiện xảo. Người tu nếu buông lung, phóng dật, còn tệ hơn những người ngoài đời, như vậy thì sự tu của chúng ta không có ý nghĩa. Tất cả những lời nói, cử chỉ, hành vi, tâm niệm, cảm thọ đều phải thực hành Thượng nhân pháp – pháp tu của bậc Thượng nhân và sống với những đức tính cao thượng của bậc Hiền thánh; chứ không được sống với nếp sống của phàm phu, của hạ nhân. Chúng ta phải rèn luyện, trui rèn, tu luyện để có được những đức hạnh cao thượng của Hiền thánh trong mỗi suy nghĩ, cảm thọ, nhận thức, cử chỉ, hành vi, hình bóng; từ đó đưa tâm vào trong Thánh đạo, Thánh trí tuệ, Phạm hạnh. Với một tâm trạo cử, lăng xăng, rừng rú thì không thể tu tập được. Tâm của chúng sanh là tâm rừng rậm, rừng núi, hoang vu, hoang dã, tâm chưa được khai phá và sự tu tập đó là chúng ta khai phá khu rừng hoang này, bởi vậy bao nhiêu công phu, nỗ lực, tinh tấn chứ không phải đơn giản.
Hôn trầm
Với hôn trầm thì chúng ta phải nhận diện được cảm thọ khi hôn trầm đến. Chúng ta phải để ý nơi mắt, khi có cảm giác đơ đơ, muốn nhắm mắt lại cần nhận diện ngay được và lập tức mở rộng tầm mắt ra hết cỡ về phía trước mặt, đồng thời cảm thọ thật mạnh ở nơi mắt để đánh đuổi cơn buồn ngủ.
Năm 1994, tu học ở Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt, Minh Thành buồn ngủ rất nhiều. Ba giờ sáng là bắt đầu ngồi thiền, mỗi ngày thiền sáu tiếng, một thời là hai tiếng. Minh Thành dùng nước lạnh thật lạnh lau mặt cũng không tỉnh ngủ, rồi lấy dầu xanh bôi vào mắt. Mà sau đó khi đã chiến thắng được rồi là không bao giờ bị buồn ngủ nữa, cảm giác an lạc lắm.
Thế nên, chúng ta phải có phương pháp tác chiến, có chiến lược, chiến thuật, chiến đấu trong mọi trường hợp, chứ không phải thiền là chỉ ngồi đó nhắm mắt, rồi tâm trí đi đâu cũng chẳng biết thì dù cho ngồi bao lâu thì trí tuệ cũng không thể sanh khởi được. Ngồi thiền như vậy còn thua ở ngoài đi chơi nữa, bởi đi chơi là còn biết mình đang làm gì, còn ngồi thiền bị hôn trầm dẫn dắt là u mê trong đó. Vì lẽ đó, tu là phải diệt được trạo cử và hôn trầm thì mới sanh trí tuệ, sau đó mới đến diệt dục tham, sân hận, nghi hoặc. Sau khi diệt trừ năm triền cái này chúng ta mới vào được sơ thiền.
Đạo lộ tu tập của tất cả các bậc Chánh đẳng chánh giác ở quá khứ, hiện tại, vị lai là: “Sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu kém trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, sau khi như thật tu tập bảy giác chi, đã chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác” (Tương ưng bộ kinh, V. Thiên đại, Tương ưng Niệm xứ, II. Phẩm Nālandā, bài kinh Nālandā). Đây là truyền thống về Chánh pháp, tất cả chư Phật đều đi qua con đường này. Chúng ta tu mười năm, mười lăm năm rồi mà năm triền cái còn y nguyên, không hiểu rõ về chúng để nhiếp phục, đoạn tận, diệt tận thì như vậy không gọi là tu, chỉ là làm được chút ít thiện pháp, rồi sau khi mạng chung vẫn có thể bị đoạ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Tu mà chỉ chơi chơi thì chúng ta đang mang nợ của đàn na tín thí và đời sau chắc chắn đoạ ba đường ác.
Nếu không cạo đầu, mặc áo người tu thì ở ngoài đời mỗi tháng chúng ta phải chi tiêu nào là tiền phòng ở, tiền xăng, tiền ăn, tiền điện, tiền nước, tiền học phí. Hơn nữa, không chỉ tài vật, Phật tử nhiều người đáng tuổi cha, chú, ông, bà mình lúc cúng dường còn phải quỳ xuống lạy. Một người tu mà tham, sân, si còn đầy tràn, buông lung phóng giật không nhiếp phục, giới hạnh không giữ gìn, thiền định không thành tựu, trí tuệ thì u mê… như vậy có phải quá xứng đáng để đoạ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh không? Cho nên, phải tác ý, quán tưởng mạnh mẽ, nhìn thấy cảnh đó như đang trước để hoảng sợ, khiếp sợ, kinh sợ, lo sợ mà lo tu học. Người tu chúng ta phải biết sợ hãi trước kiếp sống mang lông, đội sừng, cô hồn, ngạ quỷ, súc sanh sau này, để từ đó cố gắng, nỗ lực, tăng thượng giới đức, tăng thượng thiền định, tăng thượng trí tuệ. Như vậy mới xứng đáng là người tu.
Ước muốn sắc bén của người tu
Bài kinh “Sa-môn”, Căn bản trí 2, Nghi thức tu học Nikāya:
Này các Tỷ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?
- Thọ trì tăng thượng giới học
- Thọ trì tăng thượng tâm học
- Thọ trì tăng thượng tuệ học.
Ðây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tâm học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
(Tăng chi bộ kinh, Chương III. Chương Ba pháp, IX. Phẩm Sa-môn, Bài kinh Sa Môn)
Đây là ước muốn sắc bén của một người tu. Không những là ước muốn mà đây còn là ước muốn sắc bén. “Tăng thượng” ở đây là tăng trưởng ba hạnh của một người xuất gia cần làm. Người này luôn luôn ước muốn một cách sắc bén, mãnh liệt, thao thức, trăn trở, day dứt, ưu tư về giới hạnh, giới đức của mình được tăng thêm lên chứ không đứng tại chỗ.
Mỗi một ngày ở trong đạo, mỗi một tuần ở trong chùa, mỗi một tháng ở trong đạo tràng, mỗi một năm ở trong thiền môn phải thấy được sự lớn mạnh về giới đức, giới hạnh của tự thân mình. Phải có thao thức, ước muốn sắc bén sao cho giới đức mình càng ngày càng được tròn đầy, lớn mạnh hơn lúc hiện tại. Những vị như vậy Đức Phật mới gọi là những người tu thật sự, mới là những đệ tử của Ngài. Nếu không có khao khát, ước muốn sắc bén như vậy thì Đức Phật không xem những người đó là đệ tử.
Chúng ta tự nhìn lại chính mình xem đã có được ước muốn sắc bén đó chưa, hay là chấp nhận cuộc đời của “lục bình trôi sông”, bình thường, phàm phu, buông lung, phóng dật, tham, sân, si, bản ngã, vô minh. Chúng ta đã có ước muốn thật sự sắc bén hay không? Ước muốn sao cho tâm mình vào được sự an định của các tầng thiền, gọi là Thánh chánh định – bốn tầng thiền của bậc Thánh. Hãy tự hỏi mình xem đi tu bao nhiêu năm nay đã nếm được hương vị của Sơ thiền chưa? Nếu đã thật sự nếm được thì hương vị của Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền mình đã nếm được chưa? Mình đã tăng thượng được tâm an định, thành tựu sự thấy biết, tri kiến của bậc Thánh chưa? Tu trong sự khát khao, tha thiết như vậy thì được gọi là ba đức hạnh của vị Sa-môn.
“Ví như, này các Tỷ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng một đàn bò nghĩ rằng: “Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò”, nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: “Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò”.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: “Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo”. Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tâm học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỷ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: “Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo”.
(Tăng chi bộ kinh, Chương III. Chương Ba pháp, IX. Phẩm Sa-môn, Bài kinh Sa Môn)
Đức Phật ví những Tỷ-kheo tu không chân chánh thì cũng như những con lừa đi sau lưng con bò thôi, không phải là Tỷ-kheo, không phải là đệ tử chân chánh của Ngài. Chỉ được cái danh, còn ngay cả dáng vẻ bên ngoài cũng không giống Tỷ-kheo, không có oai nghi tế hạnh, không có sự an tịnh, lắng dịu, trí tuệ. Mỗi lần phát ngôn ra là thể hiện bản ngã, đầy dẫy tham dục, hơn thua, sự bất kính. Cho nên, Đức Phật lấy hình ảnh“con lừa không có màu sắc, không có tiếng, không có chân giống như con bò” để ví cho một vị Tỷ-kheo tu mà không có Giới, Định, Tuệ, như vậy thì cũng giống một con lừa theo sau một đàn bò.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tâm học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
./.