Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thiền Quán - Khuyên Ba Tu Tập

2026-03-03 00:55:19
Tinh Hoa Nikāya

Thiền Quán

KHUYÊN BA TU TẬP

–Thích Minh Thành–

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài “Khuyên mẹ tu tập” PAGEREF _Toc109618987 \h 1

II.Quán chiếu ngọn gió vô thường PAGEREF _Toc109618988 \h 3

III.Quán chiếu nghiệp quả PAGEREF _Toc109618989 \h 6

IV.Đạo lộ tu tập PAGEREF _Toc109618990 \h 8

1.Đặt tâm đúng hướng PAGEREF _Toc109618991 \h 8

2.Diệt tâm hướng ngoại PAGEREF _Toc109618992 \h 9

3.Thực hành an tịnh, lắng dịu, xả bỏ ngũ uẩn PAGEREF _Toc109618993 \h 10

4.Như lý tác ý PAGEREF _Toc109618994 \h 13

V.Báo hiếu đúng pháp PAGEREF _Toc109618995 \h 13

Bài “Khuyên mẹ tu tập”

Nhờ nhân duyên có lễ giáp năm của bà Diệu Hiền là thân mẫu Minh Thành nên Minh Thành có cảm xúc đặc biệt với bài Khuyên mẹ tu tập, nhân dịp có thầy Pháp An là thân phụ Minh Thành nên chúng ta sẽ chia sẻ tiếp bài này, đây là tư liệu quý giá giúp cho Tăng Ni và quý Phật tử chia sẻ với cha mẹ mình để báo hiếu. Có rất ít bài thơ nói về con cái khuyên cha mẹ tu, vì thế nhiều khi đi tu cũng chưa biết khuyên cha mẹ thế nào ngoài cái chung ăn chay, niệm Phật, bố thí. Nhất là trong đạo tràng Nikāya muốn khuyên cũng không biết làm thế nào, chỉ nói vài câu khuyên nhủ vậy thôi, bây giờ có bài này thì mở cho cha mẹ nghe để báo hiếu họ.

Minh Thành chia sẻ ở đây ngoài việc nhắn nhủ đến thầy Pháp An, đồng thời, Minh Thành còn gửi đến tất cả quý Tăng Ni, Phật tử làm tài liệu tu học cũng như để báo hiếu. Từ lúc đám giỗ mẹ đến giờ Minh Thành đã đọc bài này rất nhiều lần mà vẫn còn cảm xúc, tối hôm qua Minh Thành cũng nghe tới nghe lui để nhắc nhở, hun đúc hiếu hạnh của người con. Trong bài nói về mẹ nhưng mình muốn nói về cha thì thay từ “mẹ” thành từ “cha”. Hoặc muốn báo hiếu với cô chú thì mình đổi thành “cô ơi, chú ơi” chứ không phải báo hiếu, báo ơn chỉ riêng cho mẹ. Chúng ta mang ơn rất nhiều người cho nên hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu, chia sẻ ý nghĩa bài “Khuyên mẹ tu tập”.

Mẹ ơi, đời sống có thường đâu

Mẹ mau quay lại kẻo khổ sầu

Cơn gió vô thường đâu yên nghỉ

Mẹ ơi, xin mẹ hãy tu mau.

Bao nhiêu đau khổ mẹ trải qua

Nhìn kỹ mẹ ơi, nhân quả mà

Quá khứ, vị lai ngay hiện tại

Rõ rồi, buông xả hết mẹ nha.

Quả nhân, nhân quả, chất chồng nhau

Nguồn gốc khổ đau tại chỗ nào?

Vô minh, vô trí về năm uẩn

Để rồi tham ái với sân si.

Sân si, phiền não thế đủ rồi!

Từ nay buông bỏ hết mẹ nha,

Con đây, mẹ hãy an lòng bước

Tâm mẹ quên đường, con dẫn đi.

Đó đó, kìa kìa, tâm mẹ đi

Về thôi mẹ nhỉ, dẫn tâm về

Mẹ "nhận diện đâu là năm uẩn",

Thấy ngũ uẩn rồi mẹ nhớ buông.

Mẹ nhớ niệm thầm trong tự tâm.

Niệm "Bỏ hết đi, cảnh vô thường!"

Niệm "Tâm lặng yên, tâm dễ chịu!"

Niệm "Ngũ uẩn này, không phải ta"

Mẹ ráng tinh cần niệm vậy nha

Đừng quên nhận diện ngũ uẩn nha

Định, Tuệ đồng tu là như vậy,

Sanh tử xa dần, bảy lần thôi.

Buồn vui, thương ghét, thế đủ rồi!

Mẹ ơi, buông xả hết, mẹ ơi!

Tâm mẹ bình an, con hạnh phúc!

Lòng con mong mẹ thoát tử sanh.

Luân hồi, sanh tử, thế đủ rồi!

Thôi lo tu tập nhé, mẹ ơi!

Mẹ thoát tử sanh, con hạnh phúc!

Không uổng đời này mẹ sanh con.

(trích Cửa vào bất tử - Khuyên mẹ tu tập)

Quán chiếu ngọn gió vô thường

Chỉ cần thay "mẹ ơi" bằng "ba ơi" sẽ có "Ba ơi, đời sống có thường đâu" và câu này làm rực sáng pháp ấn của chư Phật.

Ba ơi, đời sống có thường đâu

Ba mau quay lại kẻo khổ sầu

Cơn gió vô thường đâu yên nghỉ

Ba ơi, xin ba hãy tu mau.

Đây không phải là thơ bình thường mà là tinh hoa trí tuệ của Nikāya. Ba nhìn đi, mẹ nhìn đi, cô chú nhìn đi, đời sống này có mãi thường đâu, mái tóc trên đầu con đã bạc rồi, ngày nào con còn là đứa trẻ thơ chạy nô đùa quấn quýt vậy mà giờ nhìn lại tóc con đã bạc rồi. Ngày nào mẹ còn đi đứng chăm sóc từng miếng ăn giấc ngủ cho con, bây giờ mẹ đã trở thành cát bụi. Ngày nào thế giới rộn ràng, náo nhiệt mà giờ đã thành vắng lặng, thôn không còn là thôn nữa, làng không còn là làng nữa, thị trấn không còn là thị trấn, thành thị không còn là thành thị, quốc độ không còn là quốc độ mà thế giới trống không, tất cả nhà cửa, con cái, sự nghiệp đều biến đổi.

Ba ơi, đời sống có thường đâu, làm sao ba có thể nghĩ rằng tuổi già của mình lại trải qua trong một ngôi chùa trên núi, tất cả đều vật đổi sao dời, vô thường, biến hoại, đổi thay, vạn vật đều như mây khói, như ảo ảnh, như một giấc mơ, một cơn mộng, cảnh vật biến hoại, thân xác tiều tuỵ, hao mòn, tâm niệm đổi thay sanh diệt liên tục. Đây là nói cho ba, cho mẹ nhưng cũng phải nhớ đây là nói cho chính tự thân mình, phải nhắc nhở bản thân. "Ba mau quay lại kẻo khổ sầu", không phải ai cũng được như thầy Pháp An lên chùa tu tập, có những người cha giờ này có lẽ đang tức giận, sân si cho nên ba phải quay lại mau kẻo khổ sầu.

Quay lại ở đây là quay lại nội tâm, quay lại nhận diện ngũ uẩn, là nhìn vào cảm thọ, là biết phòng hộ sáu căn, giữ gìn thân miệng ý, biết kiểm soát hành vi, đừng hướng ngoại nữa, đừng chỉ nhìn bên ngoài tìm kiếm, chạy đuổi theo những thứ bên ngoài rồi làm cho thân thể này nhọc nhằn, vất vả, cực khổ. Cho nên hãy gọi "mẹ mau quay lại, ba mau quay lại kẻo khổ sầu".

"Cơn gió vô thường đâu yên nghỉ", "ba ơi, xin ba hãy tu mau". Cơn gió vô thường này thổi tới đâu là ngã đổ tới đó, thổi tới đâu là sụp đổ, tan nát tới đó. Chúng ta vừa chứng kiến căn nhà chứa củi đổ sập, bên Ni xá bị tốc mái nhà, đó là cơn gió vô thường không yên nghỉ, lá tre rụng tả tơi, những cây tre vàng ngã đổ mọi nơi, không phải cơn gió nhẹ nhàng mát mẻ mà đó là bão táp phong ba. Đức Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác nhưng khi cơn gió vô thường thổi đến thân tứ đại của ngài cũng tan rã, công đức đầy ba cõi mà gió vô thường thổi qua cũng hoại. Các bậc Thánh chúng là những bậc đại trí tối thượng như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, đó là bậc thần thông đệ nhất trong Thánh chúng nhưng vẫn không thể nào thoát khỏi ngọn gió vô thường. Đức Thế Tôn nói ngài nhìn hội chúng dường như trống vắng vì Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đã nhập diệt, hai bậc tướng quân của chánh pháp đã vắng bóng, các bậc tối thượng nhân cũng không tránh được quy luật tự nhiên, huống gì hạng phàm phu ngu si, vô minh, mê muội với thân thể bèo bọt này.

"Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Vajjii, tại Ukkacelà, trên bờ sông Hằng, với đại chúng Tỳ-kheo, sau khi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Moggalàna mệnh chung không bao lâu.

Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, xung quanh có chúng Tỳ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn, sau khi nhìn quanh chúng Tỳ-kheo im lặng, liền nói với các Tỳ-kheo:

-- Này các Tỳ-kheo, chúng này của Ta được xem hình như trống không. Nay Sàriputta và Moggalàna đã mệnh chung, này các Tỳ-kheo, chúng của Ta thành trống không. Phương hướng nào Sàriputta và Moggalàna trú, phương hướng ấy không còn có ước vọng gì (anapekkhà).

Này các Tỳ-kheo, các bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, các vị Thế Tôn ấy đã có một cặp đệ tử tối thắng như Ta có Sàriputta và Moggalàna. Này các Tỳ-kheo, các bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nào trong đời vị lai, những bậc Thế Tôn ấy sẽ có một cặp đệ tử tối thắng như Ta có Sàriputta và Moggalàna.

Thật là vi diệu thay về các đệ tử, này các Tỳ-kheo! Thật hy hữu thay về các đệ tử, này các Tỳ-kheo! Họ thực hành những lời dạy của đức Bổn sư. Họ làm trách nhiệm giáo giới. Họ được bốn chúng ái kính, khả ý, khả kính, quý mến. Thật vi diệu thay, này các Tỳ-kheo, về Như Lai! Thật hy hữu thay, này các Tỳ-kheo, về Như Lai! Trong khi cặp đệ tử như vậy mệnh chung, Như Lai không có sầu buồn, hay không có than khóc. Làm sao, này Ananda, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: 'Mong sao cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!'? Sự kiện như vậy không xảy ra" . (Tương Ưng Bộ,  Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), II. Phẩm Nàlanda, IV. Celam) 

Cơn gió vô thường này thổi tới đâu tan nát, huỷ hoại, sụp đổ tới đó, chỉ cần cơn gió virut thổi qua thôi là không biết bao nhiêu người gặp thống khổ, một cơn gió vô thường thổi qua thôi là thân thể chất chồng nhiều như sân vận động, trước ngọn gió vô thường này không có bất cứ cái gì đứng vững được. Người đó hôm qua là cửu ngũ chí tôn, hôm nay nằm bất động đem đi hoả táng rồi cũng thành nắm tro tàn, người kia là kẻ cơ hàn đói lả, hành khất khi chết đi cũng là một nắm tro, chẳng khác gì nhau. Vấn đề là cơn gió vô thường này thổi không ngừng nghỉ, trong giây phút chúng ta ngồi tĩnh lặng tại đây có biết bao người chết ngoài kia, nhất là trong thời điểm Covid-19 này, trong một giờ có biết bao mạng người ra đi. Chúng ta không được chỉ biết bản thân đang ngồi đây, ngoài ra không còn biết gì nữa, trong khi đó, ngoài kia, những bác sĩ đang giành giật mạng sống cho bệnh nhân bằng những bình oxy, bằng những máy trợ thở, không có oxy là tan hoại hết. Cũng vì vô minh và chấp ngã nên chúng ta nghĩ bản thân to lớn chứ thực tế mình chẳng là gì trên cuộc đời này, một cơn gió vô thường thổi qua là nằm bất động.

Vì vậy, ba ơi, xin ba hãy mau tu đừng hướng ngoại nhiều nữa, đừng nhớ thương con cháu nữa, tập trung hết tất cả thời gian vào nghe pháp và hành pháp vì không còn kịp nữa, thời gian của ba không còn nhiều nữa, chỉ như ngọn đèn trước gió, thổi nhẹ cũng làm phụt tắt. Ba đã gần 80 tuổi, mạng sống như chỉ mành treo chuông nên từ giờ hãy tập trung tâm ý nghe pháp, hành pháp, quán chiếu sâu sắc.

Quán chiếu nghiệp quả

Bao nhiêu đau khổ ba trải qua

Nhìn kỹ ba ơi, nhân quả mà

Quá khứ, vị lai ngay hiện tại

Rõ rồi, buông xả hết ba nha.

Sống từng tuổi này ba đã trải qua biết bao đau khổ, khổ vì vợ con, cha mẹ, anh em, khổ vì bạn bè, quyến thuộc, khổ vì đồng nghiệp, đồng sự, khổ vì bị lợi dụng, phụ bạc, lừa gạt. "Nhìn kỹ ba ơi, nhân quả mà", nhìn sâu, nhìn kĩ, xét tường tận trong đó sẽ thấy chẳng qua chỉ là nhân quả mà thôi, không ai hại mình, không ai làm khổ mình mà chỉ là nhân quả, mình thiếu nợ thì bị đòi nợ. Nếu không biết là nhân quả sẽ hờn trách, oán hận, đổ lỗi "tại sao tôi sống như vầy mà người ta đối xử với tôi như vậy", càng oán hận thì càng chồng chất nghiệp lên thêm thôi. Tất cả đều là nhân quả, mà nhân quả luôn công bằng và chính xác, vì thế bao nhiêu đau khổ mà mình trải qua chính là nhân quả, có nhìn bằng nhân quả mới buông xả được.

"Quá khứ, vị lai ngay hiện tại", muốn biết đời trước mình như thế nào thì hãy nhìn vào hiện tại; muốn biết tương lai ra sau cũng vẫn nhìn vào hiện tại. Đời sống được bình an, thân thể lành lặn, đẹp đẽ, gia đình ấm êm thì phải biết quá khứ mình có tu tập, tạo thiện nghiệp; còn hiện tại bệnh hoạn, tật nguyền cũng biết quá khứ đã gây tội. Hoặc ngay trong hiện tại mình sát sanh, gây thị phi, lừa đảo, lừa gạt thì tương lai phía trước là u ám, đó gọi là quá khứ hay vị lại đều ở hiện tại. Chỉ cần nhìn vào hiện tại sẽ biết được quá khứ và tương lai ra sao, nhìn vào những ý niệm, lời nói, hành động ngay bây giờ sẽ biết đời sau mình sẽ như thế nào, căn cứ vào nhân quả sẽ thấy biết được quá khứ và vị lai. Cho nên mới nói quá khứ hay tương lai đều ở hiện tại, nhìn vào đôi mắt, bàn tay, đôi chân, nhìn vào hình hài này sẽ thấy được quá khứ.

Khi hiểu rõ được nhân quả công bằng, chính xác thì tâm mình sẽ không hờn, không trách, không oán, không thận, không thù, mình làm thì mình phải chịu. "Rõ rồi, buông xả hết ba nha", khi đã hiểu rõ nhân quả nghiệp báo thì tâm sẽ bớt vướng mắc, tháo ra được khỏi những ràng buộc, hệ luỵ bên ngoài. Có hai đứa con mà một người thì hiếu thảo, lo lắng ngày đêm cho gia đình, người kia thì phá phách, nhìn bằng nhân quả sẽ thấy đứa con hiếu thảo đang trả nợ, người còn lại đang đòi nợ gia đình, hiểu rõ được như vậy thì lòng sẽ buông xả vấn đề thương ghét.

Thương cho ta đau khổ

Mà chẳng hiểu vì sao

Thương cho ta bất hạnh

Mà chẳng biết vì sao.

Không biết tại sao ta đau khổ, ta gặp bất hạnh là do không biết nhân quả, không biết nghiệp báo. Còn giờ đã biết gốc rễ, nguyên nhân thì phải buông xả, không luyến ái nhiều với đứa con có hiếu và cũng không hờn trách với đứa con bất hiếu, đó gọi là rõ rồi buông xả hết, tâm của mình được bình an, an lạc, nhẹ nhàng. Rõ ở đây là rõ bằng trí tuệ, nhân quả, nghiệp báo, thấu suốt ba đời nhân quả, nếu không rõ là ân ân hận hận, oán oán hờn hờn chồng chất lên nhau, không thể kết thúc được mà cứ dây dưa, nhùng nhằng trong tâm, cứ hỏi tại sao mà không bao giờ có câu trả lời thoả đáng, "tại sao đứa chị lại vậy mà đứa em lại thế", "tại sao chồng lại đối xử như vậy", trong tâm không buông ra được những câu hỏi này, không an tịnh được, vì thế rõ được pháp thì tâm mới an, tâm an là nhờ thấu được pháp, rõ được pháp mà pháp ở đây chính là pháp nhân quả, pháp nghiệp báo.

Quả nhân, nhân quả, chất chồng nhau

Nguồn gốc khổ đau tại chỗ nào?

Vô minh, vô trí về năm uẩn

Để rồi tham ái với sân si.

Nhân quả chất chồng lên nhau chứ không phải chỉ có một lớp. Mình ghét đứa con bất hiếu quậy phá, oán trách, nặng hơn thì thù hận, người con bất hiếu đó là chủ nợ cũ, nghiệp cũ chờ thời ra tay mà mình trả đũa thẳng tay, một bên ra tay còn một bên thẳng tay, như vậy nhân quả chất chồng lên nhau, nợ cũ còn chưa trả còn tạo nợ mới, ngoài ra còn lời lãi nữa thì nghiệp chồng chất nghiệp. Bạn bè, vợ chồng, anh em với nhau cũng vậy, thương yêu hay thù hận cũng giống vậy, huynh đệ, thầy trò, tỉ muội cũng vậy, nếu không thấy không biết nhân quả, không rõ thì nhân quả chất chồng lên nhau không có ngày kết thúc, hết thị phi, phải quấy, hơn thua lại đến vinh nhục, đấu tranh, cự cãi diễn ra liên tục và chất chồng lên nhau, đó gọi là hai mặt của cuộc đời, cũng là nghiệp báo, chính là sự đối lập.

Đạo lộ tu tập

Đặt tâm đúng hướng

"Nguồn gốc khổ đau tại chỗ nào"? Chính là không biết, không rõ, không có trí tuệ về năm uẩn, không biết nhân duyên sanh diệt của hình hài này, không biết những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức bên trong nội tâm, vừa không thấy không biết lại còn chấp ngã thì tất nhiên sẽ có tham ái với sân si. Hễ có "tôi" thì có "người đó tôi thương", "người đó tôi ghét", "cái đó tôi thích", "cái này tôi không ưa", đó gọi là "Vô minh, vô trí về năm uẩn, để rồi tham ái với sân si", ưa với không ưa, thích với không thích chỉ là cảm thọ, cảm xúc. Vô minh, vô trí là không thấy sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không biết ba loại cảm thọ tham, sân, si trú ẩn trong tâm, vì không thấy, không biết nên tham ái, sân si.

Sân si, phiền não thế đủ rồi!

Từ nay buông bỏ hết ba nha,

Con đây, ba hãy an lòng bước

Tâm ba quên đường, con dẫn đi.

Nào là sân si, phiền não, bực bội, nóng giận, hơn thua… Bao nhiêu thứ như vậy là quá đủ rồi, mệt mỏi, nặng nề quá rồi nên từ nay buông bỏ hết thôi. Tại sao lại có thể buông bỏ được? Vì đã biết rõ nó rồi, biết nó là thứ tạo ra khổ, biết nó là nguyên nhân sanh ra sầu não, ưu bi. Ba bỏ đi, ba buông đi, má bỏ đi, má buông đi, để trong lòng chỉ thêm sầu khổ. Khi tu rồi, quý vị có dám về nói với cha mẹ "có con đây, ba hãy an lòng bước theo con", chúng ta phải làm được như vậy, phải vững trú trong pháp, phải có chân đứng trong pháp và luật, phải có con mắt trí tuệ nhìn thấy, phải đi được thì mới tự tin nói với ba mẹ: " con đây, ba mẹ hãy an lòng bước theo, tâm ba mẹ quên đường, con dẫn đi", đó là sự vững trú, sự an trú, sự xác quyết "con đi được, con biết đường, con dẫn ba mẹ đi".

Làm thế nào có thể biết được người đó thật sự biết đúng đường? Muốn biết được người đó có biết đúng đường hay không thì mình phải biết trước, một người không biết đường thì không thể biết được người kia có biết đường đúng hay không? Vì thế một bậc không phải là chân nhân thì không thể biết được người đó có phải là chân nhân hay không, một người không phải là chánh kiến thì không thể biết được người kia có phải bậc thành tựu chánh kiến hay không. Phải là một bậc thành tựu chánh kiến mới biết được người kia có thành tựu chánh kiến hay không, đây là chỗ sâu sắc trong sự tu, mình biết con đường đó đúng thì người kia chỉ đường là mình biết người đó biết đúng đường hay không, mình không thể nhìn vào vị trí, danh tiếng, hình tướng mà có thể xác định được trí tuệ của người đó, nhất là đối với Thánh trí huệ này.

Diệt tâm hướng ngoại

Đó đó, kìa kìa, tâm ba đi

Về thôi ba nhỉ, dẫn tâm về

Ba "nhận diện đâu là năm uẩn",

Thấy ngũ uẩn rồi ba nhớ buông.

"Đó đó, kìa kìa, tâm ba đi" nghĩa là lúc này tâm đang hướng ngoại hoặc đang sân giận, khó chịu, lúc này phải nhận ra tâm đang rong chơi nên phải kéo tâm về. Người thấy đúng là người lúc nào cũng phải nhận diện năm uẩn vì thế cần đảnh lễ bốn Thánh trí ngũ uẩn và bốn Thánh trí lậu hoặc, đây là cốt tuỷ của tạng kinh Nikāya, là sự chứng ngộ của Đức Phật, nếu không thấy được hai điều này thì không thể thành tựu chánh kiến trong pháp và luật này. Nếu không thấy ngũ uẩn thì không thấy được cảm thọ, không thấy cảm thọ thì không thể thấy được tham, sân, si, bản ngã, đó là pháp bảo, là Thánh trí, là đạo lộ tu tập, không thấy được những cái này thì không thể đi đến chỗ nhiếp phục, tẩy sạch và diệt tận. Tu tập theo dòng pháp này thì cái nào đúng hay không đúng đều nhìn thấy rõ như chỉ trong lòng bàn tay, học rồi sẽ biết một bài pháp đó đúng hay không, người đó đang đứng ở vị trí nào.

"Ba nhận diện đâu là năm uẩn, thấy ngũ uẩn rồi ba nhớ buông", đây là Thánh pháp ấn, là chánh tri kiến, là đạo lộ, là con đường tu tập, ngoài con đường này ra không có con đường nào khác, không có cách nào ngoài việc nhìn lại cảm giác, nghĩ tưởng, thân thể để nhiếp phục các cấu nhiễm tham, sân, si. Chỉ có nhận diện ngũ uẩn rồi nhiếp phục, buông bỏ mới an lạc, còn không thấy nguy hiểm, tác hại, khổ đau trong ngũ uẩn thì không thể buông bỏ. Cục lửa than mà cứ nhìn ra hồng ngọc thì làm sao có thể từ bỏ ý định ham thích viên hồng ngọc đó? Phải từ bỏ ý định ham muốn, ưa thích đó.

Tâm hướng ngoại luôn chạy theo những ham muốn, sân si, phiền não, vì vậy, phải gọi tâm quay trở về, đừng nhìn ra bên ngoài nữa. Phần hướng ngoại này rất sâu sắc, đừng nghĩ rằng ở trên núi là sống viễn ly, chỉ có thân viễn ly chứ tâm vẫn còn hướng ngoại, chưa viễn ly được, đừng nghĩ rằng vào thất ở một mình là viễn ly, điều này chưa chắc, nếu không thấy tâm hướng ngoại thì không chặn được, vô tri không biết nó thì không nhiếp phục được nó.

Vì thế thực hành ba pháp là cực kì quan trọng, mình muốn thể nhập vào pháp thì phải nhiếp phục dục, nhiếp phục bản ngã và nhiếp phục tâm hướng ngoại, phải thành tựu được ba cái này nhưng muốn được vậy phải biết nó ra sao mới nhiếp phục được. Ngay cả việc ngồi trên bồ đoàn cũng chưa chắc tu hoàn toàn trong khoảng thời gian đó mà tâm sẽ bị hướng ngoại nhiều lần, nếu tâm bị phóng theo thọ; tưởng; hành quá khứ, những suy nghĩ lan man mà mình không chịu nhiếp phục bảo tâm quay trở về thực hành ba pháp, không nhận diện năm uẩn, không biết như lý tác ý, không biết an trú vào đề mục tu thì vẫn là hướng ngoại dù đang ngồi trên bồ đoàn. Tâm hướng ngoại là tâm không an trú vào pháp môn, vào đề mục, vào sự tẩy sạch cấu uế, lậu hoặc trong thọ; tưởng; hành.

Thực hành an tịnh, lắng dịu, xả bỏ ngũ uẩn

Ba nhớ niệm thầm trong tự tâm.

Niệm "Bỏ hết đi, cảnh vô thường!"

Niệm "Tâm lặng yên, tâm dễ chịu!"

Niệm "Ngũ uẩn này, không phải ta"

Không phải chỉ có hướng dẫn người ta mà bản thân mình cũng phải tự niệm thầm trong tự tâm. Ở câu đầu là "ba ơi, đời sống có thường đâu", còn ở đây là "Niệm "Bỏ hết đi, cảnh vô thường!", Niệm "Tâm lặng yên, tâm dễ chịu!", Niệm "Ngũ uẩn này, không phải ta", đây là những trình tự tu tập

Như vậy, đầu tiên, khi tâm hướng ngoại thì phải kêu tâm quay trở về hướng nội, sau đó nhận diện ngũ uẩn, thấy ngũ uẩn rồi buông xả, tiếp theo là hướng dẫn cách tác ý "Ba nhớ niệm thầm trong tự tâm", những câu này rất tha thiết, chân thành, khó có từ ngữ để diển tả được hết cảm xúc trong câu nói, những thứ vô thường hãy bỏ hết đi, những thứ tan nát này ấp ủ, cất giữ làm gì. Cần tác ý nhắc nhở bản thân thì từ từ tâm sẽ nghe lời. Niệm "Tâm lặng yên, tâm dễ chịu!", nghĩa là khi đã có sự thực tập, nghe lời và buông bỏ thì tác ý "tâm lặng yên, tâm dễ chịu, tâm an tịnh, tâm lắng dịu", mình niệm những câu này như niệm chú Đại Bi, chú Vãng Sanh, lúc làm bếp cũng niệm, quét nhà cũng niệm, rửa chén cũng niệm, nhất là trong lúc đối nhân xử thế, lúc tiếp xúc dễ sanh khởi bản ngã, sân si nên cần phải niệm để nhắc tự thân.

Niệm "Ngũ uẩn này, không phải ta", câu này thật sự rất có giá trị. Khi giận lên có cảm giác bực bội thì niệm "cảm giác này không phải mình, không phải của mình" thì từ từ cảm giác sẽ lắng dịu, "ta từ bỏ cảm giác này, ta từ bỏ cảm xúc này. Thôi cảm thọ này ta tin từ bỏ, cảm thọ này ta xin buông bỏ, buông xả". Khi bị mất món đồ quý giá, yêu thích thì bực mình, sân si lên thì tác ý "món đồ đó vô thường, tan hoại, món đồ này không phải của ta nên từ bỏ, xả ly món đồ này", niệm liên tục sẽ từ từ lắng dịu, an tịnh trở lại. Lần đầu tác ý trong tâm sẽ chống đối vì món đồ đó của mình rõ ràng mà giờ lại nói không phải của mình nhưng cứ tác ý liên tục để áp đảo suy nghĩ món đồ đó của mình, tác ý liên tục sẽ thấm vào đầu rồi từ từ tâm sẽ nghe lời. Khi thực tập tác ý lần đầu sẽ có ý nghĩ đây là lời kinh, lời của Phật nhưng tác ý thường xuyên thì lời tác ý đó trở thành trí huệ của mình, gọi là thể nhập tri kiến. Khi có hình bóng nào xâm chiếm trong tâm thì niệm "hình bóng này không phải là mình, không phải của mình", "hình bóng này tan biến hết đi, tan thành mây, thành khói, thành hư không đi", siêng năng tác ý sẽ thành công chứ không phải giống như bây giờ tu là không cần làm gì, ngồi im là được, ngược lại cần phải như lý giác sát, như lý tác ý.

Thôi nay ta buông xả

Các chấp ngã về thân.

Ta xả lòng ham thích

Lòng bênh vực thân này.

Thôi nay ta buông xả

Xả chấp sắc thân này

Xả chấp năm uẩn này

Là của ta, là ta.

Nay ta bỏ ý nghĩ

Thân này là của ta.

Nay ta bỏ ý nghĩ

Thân này chính là ta

Nay ta bỏ ý nghĩ

Thọ này chính là ta

Nay ta bỏ ý nghĩ

Tưởng này chính là ta.

Nay ta bỏ ý nghĩ

Hành này chính là ta

Nay ta bỏ ý nghĩ

Thức này chính là ta.

Những câu thơ này cũng giống như câu Niệm "Ngũ uẩn này, không phải ta". Chúng ta chia ra từng phần trong năm uẩn để niệm, càng chia nhiều chừng nào thì cảm thọ càng kéo dài chừng đó, như vậy pháp quán mới thành tựu. Nếu có tập khí làm biếng, cái gì cũng muốn nhanh gọn lẹ, tác ý đúng một câu "sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không phải là ta, không phải của ta" cho xong, lược bớt, gom lại lời Đức Phật rồi ba chấm, phải đọc nhiều để thấm vào thân tâm để không mất đi là thành tựu, còn đọc phớt qua một lần cho xong vậy là quên hết, Đức Phật gọi là trí tuệ bắp vế. Bỏ ý nghĩ “sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là ta” nhưng khi tu tập phải đi sâu vào kiểm tra trong đó có thọ gì, tưởng gì bị dính mắc thì lấy ngay cái thọ, cái tưởng đó tác ý sâu vào, kêu gọi buông bỏ, tan biến. Chúng ta cần phải thực hành thường xuyên và liên tục cho đến khi nào thành tựu thì thôi, tác ý cho đến khi nào tan biến hoàn toàn thì thôi, như vậy mới gọi là tinh cần, tinh tấn.

Như lý tác ý

Thường xuyên kiểm tra những thứ nào là chướng ngại pháp thì ngày đêm tác ý, chưa sanh khởi vẫn tác ý, đang sanh khởi càng phải tác ý, lắng dịu rồi vẫn tiếp tục tác ý, như vậy mới gọi là đào xới, bứng tận gốc rễ, chặt ra, nghiền nát rồi đốt thành tro thành bụi, đổ xuống sông để gió mười phương tám hướng thổi cho bay vào hư không chứ không phải để yên là nó tự mất đi. Chỉ khi nào quá sức chịu không nổi mới để qua một bên nhưng khi khoẻ thì phải tiếp tục tác ý. Giống như khi chặt cây cổ thụ, mệt quá thì nghỉ, khoẻ thì chặt tiếp cho đến khi nào gãy thì thôi, nếu lại cưa vài cái, chặt vài nhánh rồi nghỉ thì có cưa, có chặt đến chết cái cây cũng chưa ngã.

Ngày xưa có một thầy quản chúng hay kể câu chuyện con chuột bị rơi vào cái rương bằng gỗ rồi bị nhốt trong cái rương đó, nếu nó cắn mỗi góc một ít trong cái rương đó thì nó sẽ chết, chỉ cần nó cắn một chỗ thôi nhưng cắn hoài, cắn liên tục thì chỗ đó đương nhiên sẽ bị lủng và nó sẽ thoát ra được. Pháp tu này cũng giống như vậy, mình nặng về cái nào thì dồn hết tâm lực vào ngay chỗ đó nhưng phải nỗ lực, cố gắng rất nhiều vì khi đối diện trực diện với nội tâm thì đa số sẽ bị quật ngã. Nếu nhìn bình thường thì không sao nhưng khi nhìn sâu vào tập khí nó bùng lên sẽ quật ngã mình, lúc đó phải có sức mạnh, phải có tác ý mãnh liệt, vững trú, đánh cho tới khi nào nhiếp phục được thì mới thành tựu được pháp đó. Kiểm tra trong tâm mình bất thiện pháp nào nặng nhất thì ngày đêm chuyên chú vào đó tác ý đánh đuổi để thành tựu, ai nặng về bản ngã thì tác ý liên tục đánh đuổi bản ngã nhưng nếu nặng về dục thì cứ tác ý đánh đuổi dục, nhiều lúc sẽ có những cái khác sanh khởi thì giải quyết cái đó nhưng sau đó trở về đề mục chính của mình, phải có một pháp chính để tu còn những cái kia là phụ và phải làm cho được mới thôi.

Báo hiếu đúng pháp

Ba ráng tinh cần niệm vậy nha

Đừng quên nhận diện ngũ uẩn nha

Định, Tuệ đồng tu là như vậy,

Sanh tử xa dần, bảy lần thôi.

Tinh là ròng rặc, cần là chuyên cần. Tinh cần là sự siêng năng, phải niệm như những gì đã nói ở trên. Định là quay trở về nhìn ngũ uẩn, sau khi thấy biết thì nhiếp phục, tẩy sạch thì đó là tuệ, như vậy mới gọi là định tuệ đồng tu chứ không phải lên tu là ngồi im ru, thấy rồi thôi là không đúng, mà phải xử lý nó, nếu làm được như vậy thì sanh tử chỉ còn bảy lần thôi, tức là mình mong cha mẹ Nhập Lưu và đương nhiên mình cũng phải Nhập Lưu.

Buồn vui, thương ghét, thế đủ rồi!

Ba ơi, buông xả hết, ba ơi!

Tâm ba bình an, con hạnh phúc!

Lòng con mong ba thoát tử sanh.

Luân hồi, sanh tử, thế đủ rồi!

Thôi lo tu tập nhé, ba ơi!

Ba thoát tử sanh, con hạnh phúc!

Không uổng đời này ba sanh con.

Công ơn cha mẹ thật là to lớn. Người con chỉ có thể trả ơn trọn vẹn cho cha mẹ khi hướng dẫn và an trú cha mẹ trong Thánh trí về ngũ uẩn mà Đức Phật đã chỉ dạy, để cha mẹ thoát khỏi biển trầm luân sanh tử. Đó là sự báo đền ơn nghĩa cho cha mẹ một cách xứng đáng và đầy đủ nhất. Hạnh phúc thay cho những bậc cha mẹ có được người con hiền trí và khéo đền đáp ơn nghĩa sanh thành của cha mẹ đúng theo pháp mà Đức Phật đã chỉ dạy.

Mong rằng tất cả những người đang ngồi đây sẽ trở thành người con hiền trí, hiếu thảo. Mong rằng tất cả đạo tràng Nikāya, Tăng Ni, Phật tử sẽ trở thành người con hiền trí, khéo đền đáp ân nghĩa sanh thành của cha mẹ đúng pháp mà Đức Phật đã dạy.

./.