Thánh Trí Năm Uẩn 8 - Thế Nào Là Chúng Sanh
THÁNH TRÍ NĂM UẨN 8
THẾ NÀO LÀ CHÚNG SANH
ĐĐ.Thích Minh Thành giảng
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Bạch thầy cùng đại chúng. Con xin đọc do đâu có danh xưng về chúng sanh, uẩn quy tụ thông tục gọi chúng sanh.
Nhân duyên ở Sàvatthi.
Tỳ-kheo-ni Vijayà vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi để khất thực. Khất thực xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Tỳ-kheo-ni Vijayà đi sâu vào rừng, ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
Ác ma muốn làm cho Tỳ-kheo-ni Vijayà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỳ-kheo-ni nói bài kệ:
Do ai, hữu tình này,
Ðược sanh, được tạo tác?
Người tạo hữu tình này,
Hiện nay tại đâu?
Từ đâu hữu tình sanh?
Ði đâu hữu tình diệt?
Rồi Tỳ-kheo-ni Vajirà suy nghĩ: "Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?"
Rồi Tỳ-kheo-ni Vajirà lại suy nghĩ: "Chính là Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến ta từ bỏ Thiền định, nên đã nói lên bài kệ này".
Tỳ-kheo-ni biết được: "Ðây là Ác ma", liền trả lời Ác ma với bài kệ:
Sao Ông lại nói hoài,
Ðến hai chữ chúng sanh?
Phải chăng, này Ác ma,
Ông rơi vào tà kiến?
Ðây quy tụ các hành,
Chúng sanh được hình thành,
Như bộ phận quy tụ,
Tên xe được nói lên.
Cũng vậy, uẩn quy tụ,
Thông tục gọi chúng sanh.
Chỉ có khổ được sanh,
Khổ tồn tại, khổ diệt,
Ngoài khổ, không gì sanh,
Ngoài khổ không gì diệt.
Rồi Ác ma biết được: "Tỳ-kheo-ni Vajirà đã biết ta", nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy (Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V.Tương Ưng Tỷ Kheo Ni, X. Vajirà).
Phá tan. Phá vỡ, phá sập ngôi nhà năm uẩn. Kinh "Chúng sanh", Tương Ưng Bộ, tập 3, trang 331.
Nhân duyên ở Sàvatthi.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
"Chúng sanh, chúng sanh", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là chúng sanh?
Này Ràdha, dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với sắc, thọ, tưởng, các hành, đối với thức, triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là chúng sanh.
Ví như, này Ràdha, các đứa con trai hay các đứa con gái chơi với cái nhà bằng đất. Cho đến khi đối với những nhà bằng đất ấy, lòng tham chưa thoát ly, lòng dục chưa thoát ly, lòng ái chưa thoát ly, lòng khát chưa thoát ly, lòng nhiệt tình chưa thoát ly, lòng khát ái chưa thoát ly, thời chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và đắm trước những nhà bằng đất ấy.
Nhưng khi nào các đứa con trai hay các đứa con gái ấy đối với những nhà bằng đất kia, lòng tham đã thoát ly, lòng dục đã thoát ly, lòng ái đã thoát ly, lòng khát đã thoát ly, lòng nhiệt tình đã thoát ly, lòng khát ái đã thoát ly, thời với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy.
Cũng vậy, này Ràdha, Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với năm uẩn.
Ðoạn diệt khát ái, này Ràdha, là Niết-bàn ( Tập III - Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Ràdha, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Chúng Sanh ).
Quý huynh đệ thấy được một điều là chúng ta nhìn chữ trong giấy mà đọc trật thì các huynh đệ có biết công đức của các ngài dịch cả tạng kinh là như thế nào không? Chúng ta có biết được sự truyền thừa của các bậc thánh A-la-hán trải qua 2600 năm khổ như thế nào không? Sẵn có cơ duyên này Minh Thành chia sẻ để các huynh đệ thấy được giá trị của thánh pháp không đơn giản một chút nào, những kinh sách mà chúng ta đang học đây phải đánh đổi bằng xương máu huyết lệ, đừng xem thường mà cười. Chữ đánh sẵn mà mình đọc còn trật, không phải nói riêng cá nhân ai nhưng thường là như vậy, đọc mà còn sai thì khi nói lại bằng trí nhớ của mình là càng sai hơn nữa. Khi nói lên bằng trí nhớ đã sai thì người nghe càng sai, cuối cùng chánh pháp hoại diệt. Cho nên thật sự bây giờ muốn tìm thánh đạo thật sự của Đức Phật là thiên nan, vạn nan vì mình học theo kiểu đó. Đây là một chứng minh thực tế, trên truyền hình có chương trình "Tam sao thất bản", người này nói với người kia, người kia nói với người nữa, cuối cùng ra người thứ ba nói sai hết. Đây là câu chuyện bình thường của thế tục, ba người truyền miệng thì cuối cùng là trật lất, huống hồ gì thánh trí tối thượng của bậc Chánh Đẳng Giác thì người vô minh phàm phu làm sao hiểu được, chỉ có các bậc A-la-hán mới có đủ khả năng để truyền thừa. Hiện tại bây giờ ở Myanmar vẫn còn những vị Tam Tạng pháp sư, chính Minh Thành đã qua đảnh lễ và cúng dường các ngài. Các ngài được xem là quốc bảo của quốc gia, ba mươi mấy ngàn trang A4 đều thuộc lòng, thuộc hết Trường Bộ Kinh, Tăng Chi Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ Kinh và Tiểu Bộ Kinh, các ngài không chỉ thuộc kinh tạng không mà còn thuộc luôn cả luật tạng, mọi người có thấy sức học của các ngài không? Vì vậy mình là ếch ngồi đáy giếng, nhiều khi mình học được chút ít kinh, hiểu được chút ít là tưởng mình ngon, tại mình chưa thấy trời cao đất rộng, mình chưa bát văn quảng kiến để mình nhìn thấy được những bậc long tượng sư tử, những bậc vĩ nhân để truyền thừa chánh pháp tạng, thành ra với sức học và sức tu của mình bây giờ thì thật sự là tu chơi, không có khả năng gánh vách được đại pháp. Mình để ý thì mình sẽ học được nhiều cái hay, hàng mấy chục ngàn trang A4 như vậy là hàng chục ngàn bản kinh mà các vị đều thuộc lòng. Mình ở đây học hết Cao đẳng lên tới Học viện Đại học mà kêu đọc một bài kinh "Chuyển pháp luân" được thuộc lòng, mà treo giải thưởng cũng chưa biết có người thuộc được không. Nếu mình không học thuộc lòng thì xin thưa là mình sẽ diễn giải theo kiểu nhớ, nghĩ của mình thì chỉ cần sai một chữ thôi, mà trúng ngay mấy chữ quan trọng là mình sẽ tẩu hỏa nhập ma, tu xong là khùng. Vì vậy mình đọc thì mình phải biết ơn các bậc A-la-hán, các bậc thánh Tăng, các bậc truyền trì pháp tạng.
Hiện tại cố Hòa Thượng Thượng Minh Hạ Châu của chúng ta là một bậc vĩ nhân. Bộ tạng kinh này được dịch trên 40 năm nhưng để phát huy được công năng, lợi ích thật sự của tạng kinh này thì hết sức là hiếm hoi. Trên tay quý huynh đệ là cuốn "Nghi thức tu học kinh Nikāya", trong đây là những phần quan trọng trong tạng kinh này, toàn bộ tạng kinh chỉa mũi dùi vào đánh sập, đánh tan dục tham ái, sân si, vô minh và bản ngã, chấp thủ đối với năm uẩn. Đó là toàn bộ tông chỉ của tạng kinh Nikāya, chính những thứ đó làm cho mình khổ và mình tiêu diệt những cái làm mình khổ là mình hết khổ, thẳng tiến Niết-bàn. Nó trực chỉ như vậy chứ không có trải qua những lớp phương tiện khác, nhìn thẳng vào chỗ nào phát sanh ra đau khổ rồi diệt tận ngay chỗ đó là xong, đó là tinh thần của kinh Nikāya, đó mới thật sự là thánh tri kiến của Đức Phật. Những cái mình đang học ở đây thì các huynh đệ sẽ nắm được thần công để tự mình tu học và hướng dẫn cho những người có duyên với mình sau này. Điều này khó chứ không phải dễ, trong đạo tràng Nikāya của Minh Thành hướng dẫn là phải học thuộc lòng những định nghĩa về năm uẩn. Định nghĩa về sắc, thọ, tưởng, hành, thức là phải thuộc lòng. Định nghĩa về duyên sanh pháp là phải thuộc học, tại vì không thuộc thì không biết cái gì để quán khi mình ngồi thiền, quán tầm bậy tầm bạ hết. Đứng lên nói "theo suy nghĩ của con", suy nghĩ của con thì làm sao có thể đưa đến thánh quả? Suy nghĩ của con là suy nghĩ theo vô minh, theo dục tham, theo bản ngã, làm sao có thể đi theo suy nghĩ của con? Thành ra trong phần học thuộc lòng thì phần đó hết sức quan trọng. Cuối khóa Minh Thành sẽ treo giải thưởng lớn, người nào có thể đọc thuộc lòng những bản kinh Nikāya là đạt giải lớn. Các huynh đệ hãy xem qua phần định nghĩa năm uẩn, duyên sanh pháp, căn bản trí trong cuốn "Nghi thức tu học kinh Nikāya", những phần này đều phải thuộc lòng. Nếu không thuộc thì làm sao biết thọ là cái gì, tưởng, hành, thức là cái gì, cái gì cũng không biết thì làm sao nhận diện năm uẩn? Hơn nữa những cái này chính là thứ đang sanh khởi trong tâm của mình mà mình lại không biết nó là gì, há chẳng phải là vô minh, si ám hay sao? Tóm gọn là phải học thuộc lòng.
Định nghĩ về chúng sanh có một điều quan trọng là "Ác ma", với một sự hiểu biết không qua nổi tờ giấy trắng, tức là chỉ cần một tờ giấy che mắt là mình không thấy gì thì mình đừng vội kết luận trong kinh. Cái này cực kì nguy hiểm, sẽ bị đọa nặng, cái trí mình chưa biết thì mình phải y cứ vào thánh trí của Phật, thành ra ác ma là có thật, không phải chuyện bình thường. Các huynh đệ đọc trong tạng kinh sẽ thấy đầy rẫy ác ma, chứ không phải mình học kinh rồi mình nói địa ngục cũng không, cái gì cũng không tới chừng lọt xuống rồi ai cứu mình? Trong kinh có Tương Ưng Địa Ngục và Tương Ưng Chư Thiên, Tương Ưng những phần trong ác ma, người tu tàng tàng thì sẽ không gặp còn những người tu tới một mức nào đó sẽ xuất hiện ác ma. Sợ chưa? Quý huynh đệ nghĩ thử xem, thường dân thì làm sao gặp được thừa tướng, thống lãnh cho nên những vị tu thâm sâu ở ngưỡng cửa sắp Nhập lưu hoặc đã Nhập lưu để chuẩn bị bước lên các tầng có thể đi đến tịch diệt Niết-bàn của các thánh quả Bất lai và A-la-hán thì lúc đó ác ma đến thăm. Thành ra ác ma trong kinh sẽ có hai nghĩa: Một là dục tham ái trong lòng của mình, đây cũng gọi là ác ma. Nghĩa thứ hai là ác ma có thật, có những thần thông, thống lãnh một thế giới, và chư Thiên là có thật, những vị tu hành ở núi rừng có thể giao tiếp được với chư Thiên, những bậc tu đúng dòng pháp thánh trí này là chư Thiên đến cúng dường, mà chư Thiên là một dạng thức chúng sanh, có bóng dáng thôi chứ không có thân thịt như mình, như mình nằm chiêm bao mà thấy mình đi đây đi đó thì chư Thiên cũng vậy. Cho nên cõi chư Thiên gọi là cõi sắc, tức là các vị này do phước đức sẽ biểu hiện ra sắc đẹp mà sắc đẹp này không phải các sắc phàm tục dơ bẩn như mình, mà đó là một ánh sáng và màu sắc, một cái bóng có thật. Những bậc tu hành có giới hạnh, có thiền định, nhất là tu đúng theo dòng pháp này thì việc tiếp xúc chư Thiên là chuyện bình thường. Thành ra mình đọc kinh rồi suy nghĩ theo cái phàm tình và mình đưa ra những cái đánh giá thì hết sức nguy hiểm, chẳng những mình lầm lạc mà còn làm cho tất cả chúng sanh bị tà kiến. Từ bài đầu tiên là lời xác quyết của bậc Chánh Đẳng Giác, ngài nói "này các Tỳ-kheo khi nào ta đã như thật, thắng tri năm thủ uẩn này, bốn chuyển cho đến khi ấy trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác"(Tập V.Thiên Đại Phẩm, Chương XII.Tương Ưng Sự Thật, II.Phẩm Chuyển Pháp Luân, I.Như Lai Thuyết).Câu này rất là thường, Đức Phật xác định với thế giới của chư Thiên, thế giới của ma, thế giới của Phạm thiên là có ma giới. Vì thế ngay trong chùa, chỗ mình sống thì mình đừng tưởng người ta không thấy mình, mình làm cái gì người ta đều thấy hết. Ác thần và thiện thần đều có, những thiện thần hay chư Thiên hiền thiện thì người ta hỗ trợ cho những người giữ giới, thiền định, hành trì đúng chánh pháp thì người ta đi theo yểm trợ. Còn những người làm ác, phá trai phạm giới, làm những chuyện tổn đức tổn phước thì những người hộ pháp sẽ sân hận lên thì có thể người ta quở trách và phạt. Chính Minh Thành chứng kiến lúc nhỏ, đó là chùa Sư Bà ở Sa Đéc (Đồng Tháp) mà nhà Minh Thành hay đi chùa này, khi đó có một ông uống say vào quậy chùa, chỉ trỏ tượng Phật này nọ rồi chỉ tới tượng ông hộ pháp mà hai ông hộ pháp nhìn dữ lắm, tượng được sơn nâu có hai mắt trắng, tròn đen. Người đàn ông này chỉ tới tượng hai ông hộ pháp thì bị cứng người, đứng im luôn rồi la lên "ơ, ơ", sau đó được đưa ra phía trước thì chết hộc máu, thành ra mình đừng xem thường thần thánh, đừng xem thường thế giới của thần linh. Mình không mê tín nhưng mình phải xác quyết có những thế giới đó, có chư Thiên, chư thần và có ma, tất cả những gì mình làm người ta đều thấy hết, không thể che giấu được, xung quanh mình có đầy rẫy tất cả các loài chúng sanh, phi nhân.
Một hôm ngài Mục-kiền-liên cùng một vị Tỳ-kheo đang từ núi Linh Thứu đi xuống, đang đi thì ngài Mục-kiền-liên mới mỉm cười. Vị Tỳ-kheo mới hỏi sao tôn giả lại cười. Ngài Mục-kiền-liên trả lời rằng bây giờ chưa đúng thời, chừng nào ở trước mặt Đức Thế Tôn thì ngài hãy hỏi. Khi về tới trước Thế Tôn, vị Tỳ-kheo kia lặp lại câu hỏi thì ngài Mục-kiền-liên đã nói khi ấy ta nhìn thấy trong hư không có một chúng sanh trong hình tướng một bộ xương dính máu, xung quanh là những con kên kên, con quạ bay theo mổ vào chỗ bị dính máu. Bộ xương này đau đớn kêu la, mà bộ xương này trước đây là một nhân vật nổi tiếng trong thành này, ta thấy lạ một chúng sanh như vậy mà bây giờ lại mang một tự ngã như vậy. Nghĩa là một con người như vầy mà lại trở thành như vậy thì không thể tin được. Ngài nói có nhiều trường hợp như vậy thì Đức Phật nói ta cũng thấy nhiều như vậy nhưng ta không nói, ta sợ nói ra thì những người không tin ta sẽ phỉ báng ta, và do phỉ báng nên họ sẽ chịu đau khổ lâu dài. Cho nên không phải cái gì Đức Phật cũng nói, do đệ tử nói nên sẵn duyên thì ngài xác nhận có sự thật như vậy. Có một người đàn bà là đệ nhất phu nhân, ghen với vợ nhỏ của chồng, bà này lấy than hồng đổ vào người vợ nhỏ. Khi bà này đọa vào đời sau thì ôi cha ơi, kêu la thảm thiết, than lửa đổ từ trên xuống, những con vật ăn thịt chạy theo cắn xé thân thể. Đó là đệ nhất phu nhân của đời trước và đời sau trở thành loài ngạ quỷ kêu la thảm thiết, vô những loài đó thì một ngày như năm trăm năm của thế giới loài người, đó là bình thường. Thành ra nghiệp quả là cực kì đáng sợ, cực kì nguy hiểm, không được xem thường, mình nhắm mắt rồi là không biết mình đi đâu. Khi sống cứ tưởng mình ngon, muốn làm gì là làm, muốn nói gì là nói, kiếp sau là khủng khiếp, quý huynh đệ về nghe bài "Nhân quả đáng sợ", mấy ông thầy, mấy sư cô, mấy Sa Di bị lửa cháy khắp y, kêu la thảm thiết từ thời Đức Phật Ca-diếp cho tới thời Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Quý huynh đệ có biết mỗi một vị Phật như vậy là cách nhau bao lâu không? Đức Phật nói trong kinh Nikāya thì một kiếp hay một do tuần thấp nhất là 7 km, nhiều nhất là 19km. Một thành trì dài 19km, bỏ hạt cải xuống hết 19km rồi 100 năm lấy một hạt, mà lấy hết số hạt cải trong suốt 19km như vậy vẫn chưa thành một kiếp. Sự thành hoại của Trái Đất một lần như vậy gọi là một đại kiếp, 91 đại kiếp như vậy mà chỉ có 7 Đức Phật ra đời. Hết sức khủng khiếp! Mình sống ở đây, mình làm những việc rồi mình chết một cái là không biết mình đi đâu. Và chuyện mình bị lọt vào con đường ngạ quỷ, súc sanh, ma giới là vô cùng dễ dàng, hằng ngày Minh Thành đọc tin tức toàn thấy địa ngục, ngạ quỷ súc sanh, hở một tí là đâm chém, giết người thì ngay hiện tại đã là địa ngục rồi, còn sau khi chết là kinh khiếp. Chết với một cái tâm sân hận, hãm hiếp, giết người như vậy thì sau khi chết sẽ đọa vào đâu? Cánh cửa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh mở ra sẵn sàng chào đón những con người này.
Trong người tu chúng ta phải sợ chính mình trước, cho nên đừng xem thường, đừng nói rằng không có thế giới của thần thánh, của ma, của địa ngục. Đức Phật nói trong kinh là có những thế giới đó, mọi người về đọc trong "Tương Ưng Địa ngục", trong kinh nói rõ một ngày bao nhiêu địa ngục, tên gì, hình phục ra sao đều có đầy đủ tất cả, Đức Phật còn nói "những điều này chỉ có Ta thấy, chỉ có Ta biết" mà thôi, câu này được lặp đi lặp lại nhiều lần trong kinh. Có những vị A-la-hán không có thần thông cũng không thể thấy được, không phải bậc A-la-hán nào cũng chứng đắc được lục thông, có những người không có thần thông. Có được thần thông hay không là do túc duyên của những đời trước tu tập của vị đó, trí huệ đều ngang nhau nhưng do cái duyên của mỗi người thì có những khả năng khác nhau, cho nên mình đừng nghĩ đã là A-la-hán là có lục thông, trong tạng kinh cũng nói ngài Xá-lợi-phất không có thần thông mà ngài Xá-lợi-phất là bậc trí tuệ tối thượng, chí thượng thanh văn, còn ngài Mục-kiền-liên thì đi lên cung trời thuyết pháp cho vua, cho chư Thiên rất nhiều. Cho nên trong đây còn nhiều vấn đề mình cần phải học rồi mới thấy biết được, còn bây giờ mình hiểu không có đúng, lệch rất nhiều thậm chí là sai. Phải bám sát vào tạng kinh này mình mới thấy được sự thật khi Đức Phật còn tại thế như thế nào.
Ác ma này nói với vị Tỳ-kheo-ni
Do ai, hữu tình này,
Ðược sanh, được tạo tác?
Người tạo hữu tình này,
Hiện nay tại đâu?
Từ đâu hữu tình sanh?
Ði đâu hữu tình diệt?
Trong bài kệ này tất cả chúng sanh là do cái gì tạo ra? Ai là người tạo ra? "Ðây quy tụ các hành, chúng sanh được hình thành", ai có thể giải thích "quy tụ các hành" là như thế nào? Không phải mở kinh ra đọc là có thể hiểu được, phải có sự giải mã mới mở tung ra hết được. "Các hành" ở đây là chỉ sự vận hành của năm uẩn, chứ không phải hành ở đây chỉ nói đến suy nghĩ, cái này không phải là hành uẩn mà là nói chung cho năm uẩn. Do sắc quy tụ, cảm giác quy tụ, những tưởng quy tụ, những suy nghĩ quy tụ và nhận thức quy tụ, năm uẩn này tụ hợp lại và sanh khởi. Giống như chiếc xe phải có bánh xe, căm xe, cổ xe…các bộ phận ráp lại thì mới ra chiếc xe, một bộ máy mà chúng ta gọi là cơ thể, cái thân này như cái máy được ráp từng bộ phận đúng một quy trình vận hành như vậy gọi là chúng sanh.
"Chỉ có khổ được sanh, khổ tồn tại, khổ diệt. Ngoài khổ, không gì sanh, ngoài khổ không gì diệt". Đây là chỗ thâm sâu, ai giải thích được câu này là hướng Dự lưu. Mình nói miệng là khổ tập diệt đạo nhưng thật sự mình có thấy nó là khổ không? Thành ra đó chỉ là từ ngữ, chữ nghĩa thôi, chứ thật sự thấy được khổ Thánh đế là bậc chánh tri kiến, Dự lưu thánh quả, tối thiểu cũng phải hướng Dự lưu. Giả sử có ai đem lại cúng cho mình tiền thì mình thấy khổ hay sướng? Hoặc mình ngồi bàn tiệc có tận 30 món thì khổ hay vui? Vậy thì khổ nằm ở đâu? Đây là vấn đề quan trọng, đây là pháp hành chứ không còn nói suông hay mở kinh ra đọc nữa, nếu các huynh đệ không giải mã được vấn đề này thì học suốt đời cũng không thật sự biết được cốt lõi của Phật pháp là gì. Trong Tương Ưng Bộ kinh và Trung Bộ kinh, Đức Phật tuyên bố xưa và nay Ta chỉ tuyên bố sự thật khổ và con đường chấm dứt khổ đau. Xưa và nay Như Lai chỉ tuyên bố hai điều là sự thật về khổ và con đường chấm dứt khổ. Hai câu nói đó là tóm thâu hết trái tim của Đức Thế Tôn, nếu không hiểu hai câu đó thì mình chỉ đứng ngoài cổng chùa dù cho mình ở trong chùa suốt đời, thậm chí lên tới Hòa Thượng vẫn là người đứng ngoài cổng chùa. Đây là pháp ấn, là con dấu ấn định đây là chánh pháp thật sự của Đức Phật, nếu không có cái đó không phải là pháp của Phật. Mình giảng mà mình nói cái này vui, cái kia vui, nhìn gió thổi cành trúc la đà thấy an lạc, hạnh phúc là mình đang dạy cho người ta tham ái đối với ngũ uẩn. Hết sức là nguy hiểm, nếu cái đó là pháp thế gian thì được nhưng đi vào thánh pháp là nguy hiểm, đó là đang dạy cho người ta dục tham và ái. Không chỉ được cho người ta thấy bản chất của cuộc đời là khổ, không chỉ ra sự bất tịnh, hoại diệt, vô thường để người ta nhàm chán, ly tham, giảng không khéo còn khuyến khích người ta tăng trưởng cái tham. Ôi cha ơi! Cực kì nguy hiểm. Các huynh đệ bây giờ vẫn chưa thành tựu được cái trí để phân định được đâu là chánh pháp của Đức Phật, chánh pháp này đã tồn tại đến 2600 thì không phải dễ để cho quý huynh đệ hiểu được, mình đừng nghĩ vào chùa cạo đầu và học như vậy là chánh pháp. Phải xét lại mình học cái gì.
Học trong tạng kinh Nikāya mới nêu rõ còn mình học bình thường là không có nêu bật cái khổ. Mình đã học sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, cầu bất đắc khổ, ái biệt ly khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ (năm ấm hừng hực).Năm ấm hừng hực khổ là cái gì không biết thành ra mình học như vậy là không thấy được gì hết. Bên tạng kinh Nikāya nói rất rõ, này các Tỳ-kheo sanh là khổ, bệnh là khổ, già là khổ, chết là khổ, ái xa lìa là khổ, ghét mà gặp nhau là khổ nhưng câu này chỉ có tạng kinh Nikāya mới có: "Tóm lại năm thủ uẩn là khổ", câu này làm nên lịch sử của tạng kinh Nikāya, câu này là câu tóm thâu pháp nhãn của Như Lai, câu này mới giải quyết được tất cả mọi vấn đề vì những cái sanh, già, bệnh, lão là trên hiện tượng, mình chạy theo mấy cái đó nói khổ thì không có chân đứng vì cái gì sanh? Cái gì già? Cái gì bệnh? Cái gì chết? Cái gì thương yêu xa lìa? Cái gì oán ghét? Chính là cái thân ngũ uẩn này. Cho nên năm thủ uẩn là khổ, câu này phải khắc ghi vào tim. Câu này mới làm sáng tỏ được đoạn kinh "chỉ có khổ được sanh, khổ tồn tại, khổ diệt", sắc là khổ, thọ là những cảm giác là khổ, các tưởng trong nội tâm, những hình bóng là khổ, những suy nghĩ liên miên là khổ, nhận thức trong mê muội vô minh, khát ái là khổ, năm thủ uẩn là khổ. Ngũ uẩn sanh khởi ra là "chỉ có khổ được sanh, khổ tồn tại, khổ diệt", đây là khổ bản chất, còn sanh, già, bệnh, chết là hiện tượng, là cành nhánh bên ngoài. Tại sao có sanh? Tại sao có già? Tại sao có bệnh? Tại sao có chết? Có phải từ năm thủ uẩn không? Thành ra cái này mới giải quyết được vấn đề nhưng cái này không phải trên lý thuyết, chữ nghĩa, phải đến để mà thấy, tức là hằng ngày mình luôn luôn nhìn lại những sắc chất, cảm giác biến động thôi thúc, khao khát tìm kiếm. Những cảm giác bực tức, sân hận, tức tối đó là các hành, mà các hành đó là khổ, rồi những tưởng hiện đủ thứ. Ví dụ cậu này 17 tuổi quen cô này 15 tuổi, thời gian sau cô này muốn chia tay để quen người mới, hai người này chụp hình đưa lên Facebook thì cậu 17 tuổi này nhìn thấy thì lập tức ngũ uẩn vận hành, đem dao ra giải quyết. Khủng khiếp! Hành là khổ, sự vận hành của các cảm giác, sự vận hành của các tưởng. Nhìn thấy tấm hình là thọ sanh khởi, các tưởng sanh lên, những suy nghĩ ý hành sanh lên, thức sanh lên dẫn cái thân đi cầm dao đâm là chung thân hoặc tử hình hoặc 18 năm. Đó là khổ, không phải một chuyện mà một trăm ngàn chuyện như vầy. Ngao ngán lắm! Mở kênh An ninh TV lên thì thấy những tin tức rùng rợn, toàn là chém giết, ma túy, xâm hại tình dục, cướp giật. Hai người đàn ông mới ra tù không bao lâu thì ngồi bàn với nhau ở tù sướng hay khổ, một ông nói sướng, một ông nói khổ, hai ông cãi qua cãi lại án mạng xảy ra, một người chết, một người vào tù lại cho sướng. Cho nên Đức Phật dạy mình giới thứ tư là không nói chuyện phù phiếm, hý luận. Đây là giới chứ không phải chuyện bình thường, mình nói chuyện một hồi là cãi lộn, tự nhiên vô sự thành sanh sự, rồi xảy ra đại sự từ đó đi đến hình sự. Cho nên không có sự mà bày ra cho có sanh sự, rồi cái sự đó sanh ra thành đại sự, đi thẳng tới hình sự. Tất cả những cái đó là sự vận hành của ngũ uẩn chính là khổ. Không biết cảm giác lúc đó là cái gì, cái tưởng, hành, thức cũng không biết, phải nhận diện ngũ uẩn.
Minh Thành phân tích ngũ uẩn vận hành trong khi nhìn tấm hình trên Facebook cho các huynh đệ thấy. Do duyên có con mắt, do duyên có tấm hình là sắc, khởi lên sự rõ biết tấm hình. Căn – trần – thức giao thoa, ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của con mắt là nhãn xúc, rồi sanh thọ, sanh ra cảm giác thì cảm giác đó là bực tức, ghen tuông, nóng cháy trong người. Những tưởng sanh khởi, hình bóng hiện lên hai người này đi ăn, đi chơi… Các hành hiện lên "để tôi xử cho biết mặt", thức lúc đó chỉ biết thọ sân, tưởng sân, hành sân, cái thọ lúc đó chỉ biết có sân hận thôi thì cái tâm lúc đó hết sức nhỏ hẹp, gói gọn trong sân hận. Tất cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều sân hận, bao trùm cả người thì làm sao cậu bé này thoát ra được là bắt đầu kéo cái thân ngũ uẩn đó đi tới hành động để thỏa mãn cơn tức giận. Thì cái thúc giục bên trong chính là dục, sự thúc giục đi xử lý tụi này, giải quyết vấn đề là dục và nếu thích làm điều đó là ái. Nhiều vụ án khủng khiếp, đâm không phải một nhát mà đâm vô số nhát, người tình, vợ chồng, người yêu thương mà đâm 19 nhát. Đây là khổ! Khổ là đây! Các huynh đệ nghĩ cái thọ thay đổi như thế nào? Tại sao khi xưa yêu thương nhau vô bờ bến mà bây giờ lại đâm chém nhau thẳng tay như vậy, tan nát hết. Báo đăng những tin như vậy đều phải làm mờ hình ảnh của nạn nhân, chỉ thấy được một vũng máu đỏ tứ tung. Khủng khiếp! Minh Thành cho quý huynh đệ thấy cái trí tuệ 3000 năm cổ xưa kết hợp với sự kiện bây giờ để nhận diện được năm uẩn dục tham ái, sân si và bản ngã. Đó mới là pháp của ta, thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, có hiệu quả tức thời, không có trải qua thời gian, có khả năng hướng thượng được người trí tự mình giác hiểu"( Tập V. Đại Thiên Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu). Cái pháp này rõ ràng như vậy thì còn gì mà không tin, còn gì để ngờ vực. Ví dụ thọ sanh khởi thì mình biết đây là cảm giác "Đừng chạy theo cảm giác này, muốn vô tù ngồi phải không? Muốn tử hình hay sao? Muốn lên bàn thờ ngồi cho cha mẹ khóc phải không?" Nếu như mình nhìn biết được như vậy và mình thoát ra khỏi cảm giác này là không có chuyện gì xảy ra.
Minh Thành đưa ra sự kiện có thật để các huynh đệ thấy cái pháp này không phải cao xa, viễn vông. Có hai người mới 18,19 tuổi ở Đắk Lắk thương nhau mà bị gia đình ngăn cấm, thế là buộc dây vào nhau nhảy sông tự vẫn chết luôn. Mình nhận diện năm uẩn lúc đó là dục, ái đã xâm chiếm toàn bộ, cảm giác là đau khổ vì không được cha mẹ chấp nhận, cứ nghĩ về điều này hoài sanh ra cảm giác khổ, cái tưởng hiện ra hình bóng gia đình la mắng, cái hành chỉ biết bao nhiêu đó. Cuối cùng là buộc dây nhảy. Nếu mình thấy ngũ uẩn thì "có nhiều cách giải quyết, đâu phải buộc dây nhảy là giải quyết được vấn đề", thí dụ cha mẹ không cho thì đi chỗ khác, nhưng vào đó rồi là vô minh, một khi dục tham ái chiếm lĩnh ngũ uẩn là lòng vòng trong đó, không đi ra được. Đọa là chắc chắn. Trong phim nói "em đã đợi anh bốn ngàn năm" mà mình tưởng nói giỡn rồi mình cười, nhưng cái đó là có thật vì không siêu thoát được, có thành cây cũng mọc dính vào nhau. Trên thế giới có nhiều trường hợp hai anh, chị em dính liền thân, có những đứa trẻ sanh ra y hệt con ếch ở Ấn Độ, trong vòng mấy ngày là chết. Cái nghiệp quả là bất khả tư nghị, nhưng tất cả những cái đó là diễn tuồng của ngũ uẩn, là kết quả của ác nghiệp, của tham sân si và bản ngã.
Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn chúng sanh là gì?
Này Ràdha, dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với sắc, thọ, tưởng, các hành, đối với thức, triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là chúng sanh (Tập III. Thiên Uẩn, Chương II.Tương Ưng Ràdha)
Câu này rất thâm thúy, mình phải gặm nhắm. Ôi hay sao là hay! Quý huynh đệ xem tất cả cái dục của mình tập trung trong năm uẩn, mình dục là mình muốn, mà muốn cái gì? Mình tham là tham cái gì, ưa thích với cái gì? Có phải mình ưa thích với những sắc chất, thân thể, vật chất không? Có phải mình ưa thích với những cảm giác không? Ví dụ mình qua nước ngoài có tục lệ bắt tay, ôm hôn mà gặp ngay người xấu xí, hôi thì người đó lại bắt tay và ôm mình thì làm sao? Còn gặp người thơm tho, đẹp đẽ lại bắt, ôm mình thì "sao không ôm lâu lâu chút nữa". Cho nên những cái tham, dục, hỷ của mình đều nằm trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, khi tay nắm vào, ôm vào thì có sắc không? Có xúc, thọ, ái, dục, tham không? Có chấp thủ không? Như vậy tất cả dục, tham, hỷ, ái là trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nó đã bao trùm hết thế giới này. Một người đàn ông bị giao thông phạt, người này không xuống xe vì xe này trị giá 5 tỷ, nhiều tiền quá nên không xuống, bây giờ mình được tiếp xúc chiếc xe giống vậy thì muốn dứt xe cũng hết sức khó chứ không phải chuyện dễ, mình nói trường hợp chiếc xe 5 tỷ thì trong lòng mình cũng đã có thọ rồi, mình tưởng tượng hình bóng mình ngồi trên chiếc xe đó, một khi nói là tưởng đã sanh khởi rồi, thọ, hành, thức đã có, đó chỉ mới sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng, sắc ái, thanh ái, vị ái, xúc ái, pháp ái thôi. Chỉ mới tưởng tượng cái xe là đã ái rồi thì đừng nói tới bên ngoài khi đã lên ngồi thì khoái chí, sung sướng. Như vậy là cảm giác, xúc, thọ, ái, dục tham đầy rẫy hết trong đó trói buộc mình triền miên, dài đăng đẳng không có ngày ra. Cho nên "Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc"(Tập II.Thiên Nhân Duyên, Chương IV.Tương Ưng Vô Thỉ, I.Phẩm Thứ Nhất).
Nước mắt mà các ông đã đổ xuống vì mất cha, mất mẹ, mất anh em, mất những người thương yêu. Nước mắt đổ xuống vì thù hận, khổ sở, sầu bi là đầy hơn khắp bốn biển. Máu mà các ông đã đổ vì đánh nhau, chém giết là đầy khắp bốn biển, các ông có biết không này các Tỳ-kheo. Đến đây là vừa đủ rồi, đến đây là nhàm chán rồi, các ông hãy từ bỏ các hành để giải thoát. Khủng khiếp như vậy chứ mình đừng tưởng nào giờ mình chưa nếm để giờ mình thử cho biết, thật ra mình đã thử hết ngàn tỷ kiếp tham dục, dâm dục rồi mà giờ vẫn còn mê. Đức Phật nói rượu, ngủ, và chuyện nam nữ dâm dục là vĩnh viễn không bao giờ thỏa mãn. Cho nên mình đừng tưởng là già sẽ không còn nữa, cái này hết mà cái kia chưa hết vì thế bảy, tám chục tuổi mà xâm hại đứa trẻ đáng tuổi cháu, chắt mình. Khủng khiếp vô cùng! Kinh khủng vô cùng! Đây là chứng minh lời của Đức Phật, mặc dù đã trải qua ba ngàn năm nhưng chân lý này vẫn bất diệt, này các Tỳ-kheo từ khi ta thành Chánh Giác dưới cội Bồ Đề cho đến khi Ta nhập diệt dưới Sala song thọ thì ở khoảng giữa đó tất cả lời của Như Lai nói không thể đổi khác, không thể biến đổi được. Những lời Như Lai nói là đúng như sự thật, các huynh đệ thấy được thánh trí của Đức Phật là khủng khiếp, phải cố gắng học, cố gắng tư duy quán chiếu, phải nhìn thấy được năm uẩn thì mới nhiếp phục được tham sân si, bản ngã. Nếu không mình học cái gì? Học tùm lum cuối cùng nhìn lại nội tâm mình là một đống xà bần, không biết thọ, tưởng, hành, có khi lại lấy thức làm chân tâm.
Mình mua đất, xây chùa, tham khảo các chùa cho kiến trúc sư vẽ lên, xây một ngôi chùa hoành tráng, khi già rồi mình nhìn "cái tượng Phật này thỉnh từ Đài Loan về đẹp quá. Toàn là đồ cổ thời Minh Mạng, đem vô phòng cất", trong đây toàn là tham, dục, hỷ, khát ái. Làm sao mình giải thoát được? Nhưng nói ra là tu vì Tam bảo, phụng sự cho chúng sanh, "cái này tôi vì Tam bảo chứ không phải vì bản thân tôi, cúng là cúng cho Tam bảo". Cái này hết sức nguy hiểm, đây là tâm tham đang trá hình, mình sẽ rẽ sang con đường sai lầm. Mình nói bần Tăng xuất gia tu hành, nghĩa là sống không nhà, không gia đình, vô sản, nhà ở xụp xệ có hai, ba tấm tôn mà giờ có cái chùa to tướng, rồi đi đâu cũng trưng ra Card Visit trong đó ghi tùm lum chức danh trong giáo hội. Quý huynh đệ phải nhớ kĩ, không khéo là mình đi lạc đường, như vậy mới có cớ cho người đời phê phán. Từ lúc đầu mình đã không học cái này, mình không hành trì cái này, không đi theo thánh đạo thì đi theo thế đạo là phải rồi. Mình cứ nghĩ thành công là việc được mọi người công nhận nhưng không phải vậy, mình đừng nghĩ ông đó nổi tiếng, được bao nhiêu người kính ngưỡng là thành công trong đạo, đó là thế pháp. Thành công về thánh trí năm uẩn này mới xác định được thánh – phàm, chánh – tà, mê – ngộ, không phải chuyện bình thường, đây là thánh trí xác quyết, là pháp ấn của chư Phật. Quý huynh đệ học cái này xong là thần nhãn, là Dương Tiễn, là nhìn ra được hết tất cả. Ít nhất mình chưa chứng ngộ, chưa đắc nhưng mình biết cái nào đúng, cái nào sai, mà biết thì mình hướng dẫn không trật. Còn mình mù luôn thì hướng dẫn người ta cái gì, mình có biết năm uẩn là cái gì đâu, không biết dục tham ái đối với năm uẩn thì làm sao mình thoát ra được. Cho nên những đứa trẻ lấy đất làm nhà, chơi nhà chòi. Cho đến khi những đứa trẻ đối với những đồ chơi bằng đất này, "lòng tham chưa thoát ly, lòng dục chưa thoát ly, lòng ái chưa thoát ly, lòng khát chưa thoát ly, lòng nhiệt tình chưa thoát ly, lòng khát ái chưa thoát ly, thời chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và đắm trước những nhà bằng đất ấy" (Tập III.Thiên Uẩn, Chương II.Tương Ưng Ràdha, I.Phẩm Thứ nhất, II. Chúng Sanh). Các huynh đệ có thấy Đức Phật ví dụ khủng khiếp không? Ngũ uẩn này món đồ chơi của chúng sanh, và nó chơi máu đổ, chơi tới nỗi anh em chém giết nhau chỉ vì mấy tấc đất, lúc xưa vợ chồng yêu nhau bao nhiêu lần thì bây giờ kéo nhau ra tòa kiện bấy nhiêu đợt. Cái ngũ uẩn này là khổ ách, hiểm nạn, là tai nạn, tất cả những mầm mống nguy hiểm đều nằm trong đây chỉ chờ đến lúc đủ duyên, đủ thời thì kích hoạt. Hỡi ơi! Thôi rồi còn chi đâu anh ơi, từ thầy trò, anh em cho đến vợ chồng chẳng còn biết gì nữa, có chăng chỉ là dư âm thôi. Lúc đó dục tham ái, sân si và bản ngã đã thống lĩnh toàn bộ ngũ uẩn, thay thế cho bát chánh đạo sẽ là bát quái trận được tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định hỗ trợ nên không cách nào mình có thể thoát ra được cái mê hồn trận đã giăng lưới này. Vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều mê muội, có muốn ra cũng không có người chỉ nên không biết được con đường xuất ly, đạo lộ để thoát thân. Vì không có người hướng dẫn nên không biết gì là vị ngọt, không biết gì là sự nguy hại, không thành tựu trí năm uẩn cho nên chúng ta ngồi đây là hạnh phúc vô cùng, sung sướng vô tận, phước báu phước đức vô biên chứ không có thời mạt pháp nào mà chúng ta học được thánh pháp tối thượng, thánh trí năm uẩn xuất ly này. Không phải chuyện đơn giản. Tuyệt vời là thánh trí này, chỉ có thánh trí này mới có khả năng đưa đến ly tham, nhàm chán, chấm dứt và từ bỏ đối với năm uẩn. Nhưng khi các đứa trẻ đó "đối với những nhà bằng đất kia, lòng tham đã thoát ly, lòng dục đã thoát ly, lòng ái đã thoát ly, lòng khát đã thoát ly, lòng nhiệt tình đã thoát ly, lòng khát ái đã thoát ly, thời với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy" (Tập III.Thiên Uẩn, Chương II.Tương Ưng Ràdha, I.Phẩm Thứ nhất, II. Chúng Sanh). Lúc này thánh trí đã xuất hiện, từ bậc Nhập lưu cho đến các bậc Nhất lai, Bất lai và A-la-hán mới có khả năng phá vỡ ngôi nhà bằng đất của ngũ uẩn. Vì vậy các huynh đệ có thể thấy rằng nếu mình không quán chiếu về bất tịnh, ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn của một tử thi thì làm sao mình có thể ly tham đối với sắc uẩn này. Mới nói một sắc uẩn thôi là mình đã bị trói buộc hàng bao nhiêu lớp rồi, cái tấm thân khốn khổ và hoạn nạn này đòi hỏi đủ thứ, thúc giục đủ thứ, nó hành hạ đày đọa mình, ăn bao nhiêu cũng không vừa lòng, ngủ bao nhiêu năm cũng muốn ngủ nữa, đi chơi hoài, dục tham ái hoài, khao khát hoài. Nhìn được chỗ này chính là thánh trí chứ không phải là cái trí bình thường. Chỉ có Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác mới phát hiện ra được cái này, ngoài ra tất cả chúng sanh là nô lệ cho dục, đầy tớ cho tham, đệ tử cho bản ngã. Mình tu không khéo là càng ngày mình càng nuôi lớn dục tham ái và bản ngã, đây là một sự thật hết sức đau lòng mà chúng ta phải nhìn lại chính thân tâm mình, phải thanh lọc và tẩy rửa, đừng nhìn người khác.
Cũng vậy, này Ràdha, Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với năm uẩn.
Ðoạn diệt khát ái, này Ràdha, là Niết-bàn (Tập III.Thiên Uẩn, Chương II.Tương Ưng Ràdha, I.Phẩm Thứ nhất, II. Chúng Sanh).
Ý nghĩa của những câu này là kinh khủng, phải diệt tận sự khao khát và ưa thích với sắc, thọ, tưởng, hành, thức này. Thấy nó xuất hiện là đánh đuổi ná, phá tung nó.
Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.
THẾ NÀO LÀ CHÚNG SANH
ĐĐ.Thích Minh Thành giảng
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Bạch thầy cùng đại chúng. Con xin đọc do đâu có danh xưng về chúng sanh, uẩn quy tụ thông tục gọi chúng sanh.
Nhân duyên ở Sàvatthi.
Tỳ-kheo-ni Vijayà vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi để khất thực. Khất thực xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Tỳ-kheo-ni Vijayà đi sâu vào rừng, ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
Ác ma muốn làm cho Tỳ-kheo-ni Vijayà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỳ-kheo-ni nói bài kệ:
Do ai, hữu tình này,
Ðược sanh, được tạo tác?
Người tạo hữu tình này,
Hiện nay tại đâu?
Từ đâu hữu tình sanh?
Ði đâu hữu tình diệt?
Rồi Tỳ-kheo-ni Vajirà suy nghĩ: "Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?"
Rồi Tỳ-kheo-ni Vajirà lại suy nghĩ: "Chính là Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến ta từ bỏ Thiền định, nên đã nói lên bài kệ này".
Tỳ-kheo-ni biết được: "Ðây là Ác ma", liền trả lời Ác ma với bài kệ:
Sao Ông lại nói hoài,
Ðến hai chữ chúng sanh?
Phải chăng, này Ác ma,
Ông rơi vào tà kiến?
Ðây quy tụ các hành,
Chúng sanh được hình thành,
Như bộ phận quy tụ,
Tên xe được nói lên.
Cũng vậy, uẩn quy tụ,
Thông tục gọi chúng sanh.
Chỉ có khổ được sanh,
Khổ tồn tại, khổ diệt,
Ngoài khổ, không gì sanh,
Ngoài khổ không gì diệt.
Rồi Ác ma biết được: "Tỳ-kheo-ni Vajirà đã biết ta", nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy (Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V.Tương Ưng Tỷ Kheo Ni, X. Vajirà).
Phá tan. Phá vỡ, phá sập ngôi nhà năm uẩn. Kinh "Chúng sanh", Tương Ưng Bộ, tập 3, trang 331.
Nhân duyên ở Sàvatthi.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
"Chúng sanh, chúng sanh", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là chúng sanh?
Này Ràdha, dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với sắc, thọ, tưởng, các hành, đối với thức, triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là chúng sanh.
Ví như, này Ràdha, các đứa con trai hay các đứa con gái chơi với cái nhà bằng đất. Cho đến khi đối với những nhà bằng đất ấy, lòng tham chưa thoát ly, lòng dục chưa thoát ly, lòng ái chưa thoát ly, lòng khát chưa thoát ly, lòng nhiệt tình chưa thoát ly, lòng khát ái chưa thoát ly, thời chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và đắm trước những nhà bằng đất ấy.
Nhưng khi nào các đứa con trai hay các đứa con gái ấy đối với những nhà bằng đất kia, lòng tham đã thoát ly, lòng dục đã thoát ly, lòng ái đã thoát ly, lòng khát đã thoát ly, lòng nhiệt tình đã thoát ly, lòng khát ái đã thoát ly, thời với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy.
Cũng vậy, này Ràdha, Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với năm uẩn.
Ðoạn diệt khát ái, này Ràdha, là Niết-bàn ( Tập III - Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Ràdha, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Chúng Sanh ).
Quý huynh đệ thấy được một điều là chúng ta nhìn chữ trong giấy mà đọc trật thì các huynh đệ có biết công đức của các ngài dịch cả tạng kinh là như thế nào không? Chúng ta có biết được sự truyền thừa của các bậc thánh A-la-hán trải qua 2600 năm khổ như thế nào không? Sẵn có cơ duyên này Minh Thành chia sẻ để các huynh đệ thấy được giá trị của thánh pháp không đơn giản một chút nào, những kinh sách mà chúng ta đang học đây phải đánh đổi bằng xương máu huyết lệ, đừng xem thường mà cười. Chữ đánh sẵn mà mình đọc còn trật, không phải nói riêng cá nhân ai nhưng thường là như vậy, đọc mà còn sai thì khi nói lại bằng trí nhớ của mình là càng sai hơn nữa. Khi nói lên bằng trí nhớ đã sai thì người nghe càng sai, cuối cùng chánh pháp hoại diệt. Cho nên thật sự bây giờ muốn tìm thánh đạo thật sự của Đức Phật là thiên nan, vạn nan vì mình học theo kiểu đó. Đây là một chứng minh thực tế, trên truyền hình có chương trình "Tam sao thất bản", người này nói với người kia, người kia nói với người nữa, cuối cùng ra người thứ ba nói sai hết. Đây là câu chuyện bình thường của thế tục, ba người truyền miệng thì cuối cùng là trật lất, huống hồ gì thánh trí tối thượng của bậc Chánh Đẳng Giác thì người vô minh phàm phu làm sao hiểu được, chỉ có các bậc A-la-hán mới có đủ khả năng để truyền thừa. Hiện tại bây giờ ở Myanmar vẫn còn những vị Tam Tạng pháp sư, chính Minh Thành đã qua đảnh lễ và cúng dường các ngài. Các ngài được xem là quốc bảo của quốc gia, ba mươi mấy ngàn trang A4 đều thuộc lòng, thuộc hết Trường Bộ Kinh, Tăng Chi Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ Kinh và Tiểu Bộ Kinh, các ngài không chỉ thuộc kinh tạng không mà còn thuộc luôn cả luật tạng, mọi người có thấy sức học của các ngài không? Vì vậy mình là ếch ngồi đáy giếng, nhiều khi mình học được chút ít kinh, hiểu được chút ít là tưởng mình ngon, tại mình chưa thấy trời cao đất rộng, mình chưa bát văn quảng kiến để mình nhìn thấy được những bậc long tượng sư tử, những bậc vĩ nhân để truyền thừa chánh pháp tạng, thành ra với sức học và sức tu của mình bây giờ thì thật sự là tu chơi, không có khả năng gánh vách được đại pháp. Mình để ý thì mình sẽ học được nhiều cái hay, hàng mấy chục ngàn trang A4 như vậy là hàng chục ngàn bản kinh mà các vị đều thuộc lòng. Mình ở đây học hết Cao đẳng lên tới Học viện Đại học mà kêu đọc một bài kinh "Chuyển pháp luân" được thuộc lòng, mà treo giải thưởng cũng chưa biết có người thuộc được không. Nếu mình không học thuộc lòng thì xin thưa là mình sẽ diễn giải theo kiểu nhớ, nghĩ của mình thì chỉ cần sai một chữ thôi, mà trúng ngay mấy chữ quan trọng là mình sẽ tẩu hỏa nhập ma, tu xong là khùng. Vì vậy mình đọc thì mình phải biết ơn các bậc A-la-hán, các bậc thánh Tăng, các bậc truyền trì pháp tạng.
Hiện tại cố Hòa Thượng Thượng Minh Hạ Châu của chúng ta là một bậc vĩ nhân. Bộ tạng kinh này được dịch trên 40 năm nhưng để phát huy được công năng, lợi ích thật sự của tạng kinh này thì hết sức là hiếm hoi. Trên tay quý huynh đệ là cuốn "Nghi thức tu học kinh Nikāya", trong đây là những phần quan trọng trong tạng kinh này, toàn bộ tạng kinh chỉa mũi dùi vào đánh sập, đánh tan dục tham ái, sân si, vô minh và bản ngã, chấp thủ đối với năm uẩn. Đó là toàn bộ tông chỉ của tạng kinh Nikāya, chính những thứ đó làm cho mình khổ và mình tiêu diệt những cái làm mình khổ là mình hết khổ, thẳng tiến Niết-bàn. Nó trực chỉ như vậy chứ không có trải qua những lớp phương tiện khác, nhìn thẳng vào chỗ nào phát sanh ra đau khổ rồi diệt tận ngay chỗ đó là xong, đó là tinh thần của kinh Nikāya, đó mới thật sự là thánh tri kiến của Đức Phật. Những cái mình đang học ở đây thì các huynh đệ sẽ nắm được thần công để tự mình tu học và hướng dẫn cho những người có duyên với mình sau này. Điều này khó chứ không phải dễ, trong đạo tràng Nikāya của Minh Thành hướng dẫn là phải học thuộc lòng những định nghĩa về năm uẩn. Định nghĩa về sắc, thọ, tưởng, hành, thức là phải thuộc lòng. Định nghĩa về duyên sanh pháp là phải thuộc học, tại vì không thuộc thì không biết cái gì để quán khi mình ngồi thiền, quán tầm bậy tầm bạ hết. Đứng lên nói "theo suy nghĩ của con", suy nghĩ của con thì làm sao có thể đưa đến thánh quả? Suy nghĩ của con là suy nghĩ theo vô minh, theo dục tham, theo bản ngã, làm sao có thể đi theo suy nghĩ của con? Thành ra trong phần học thuộc lòng thì phần đó hết sức quan trọng. Cuối khóa Minh Thành sẽ treo giải thưởng lớn, người nào có thể đọc thuộc lòng những bản kinh Nikāya là đạt giải lớn. Các huynh đệ hãy xem qua phần định nghĩa năm uẩn, duyên sanh pháp, căn bản trí trong cuốn "Nghi thức tu học kinh Nikāya", những phần này đều phải thuộc lòng. Nếu không thuộc thì làm sao biết thọ là cái gì, tưởng, hành, thức là cái gì, cái gì cũng không biết thì làm sao nhận diện năm uẩn? Hơn nữa những cái này chính là thứ đang sanh khởi trong tâm của mình mà mình lại không biết nó là gì, há chẳng phải là vô minh, si ám hay sao? Tóm gọn là phải học thuộc lòng.
Định nghĩ về chúng sanh có một điều quan trọng là "Ác ma", với một sự hiểu biết không qua nổi tờ giấy trắng, tức là chỉ cần một tờ giấy che mắt là mình không thấy gì thì mình đừng vội kết luận trong kinh. Cái này cực kì nguy hiểm, sẽ bị đọa nặng, cái trí mình chưa biết thì mình phải y cứ vào thánh trí của Phật, thành ra ác ma là có thật, không phải chuyện bình thường. Các huynh đệ đọc trong tạng kinh sẽ thấy đầy rẫy ác ma, chứ không phải mình học kinh rồi mình nói địa ngục cũng không, cái gì cũng không tới chừng lọt xuống rồi ai cứu mình? Trong kinh có Tương Ưng Địa Ngục và Tương Ưng Chư Thiên, Tương Ưng những phần trong ác ma, người tu tàng tàng thì sẽ không gặp còn những người tu tới một mức nào đó sẽ xuất hiện ác ma. Sợ chưa? Quý huynh đệ nghĩ thử xem, thường dân thì làm sao gặp được thừa tướng, thống lãnh cho nên những vị tu thâm sâu ở ngưỡng cửa sắp Nhập lưu hoặc đã Nhập lưu để chuẩn bị bước lên các tầng có thể đi đến tịch diệt Niết-bàn của các thánh quả Bất lai và A-la-hán thì lúc đó ác ma đến thăm. Thành ra ác ma trong kinh sẽ có hai nghĩa: Một là dục tham ái trong lòng của mình, đây cũng gọi là ác ma. Nghĩa thứ hai là ác ma có thật, có những thần thông, thống lãnh một thế giới, và chư Thiên là có thật, những vị tu hành ở núi rừng có thể giao tiếp được với chư Thiên, những bậc tu đúng dòng pháp thánh trí này là chư Thiên đến cúng dường, mà chư Thiên là một dạng thức chúng sanh, có bóng dáng thôi chứ không có thân thịt như mình, như mình nằm chiêm bao mà thấy mình đi đây đi đó thì chư Thiên cũng vậy. Cho nên cõi chư Thiên gọi là cõi sắc, tức là các vị này do phước đức sẽ biểu hiện ra sắc đẹp mà sắc đẹp này không phải các sắc phàm tục dơ bẩn như mình, mà đó là một ánh sáng và màu sắc, một cái bóng có thật. Những bậc tu hành có giới hạnh, có thiền định, nhất là tu đúng theo dòng pháp này thì việc tiếp xúc chư Thiên là chuyện bình thường. Thành ra mình đọc kinh rồi suy nghĩ theo cái phàm tình và mình đưa ra những cái đánh giá thì hết sức nguy hiểm, chẳng những mình lầm lạc mà còn làm cho tất cả chúng sanh bị tà kiến. Từ bài đầu tiên là lời xác quyết của bậc Chánh Đẳng Giác, ngài nói "này các Tỳ-kheo khi nào ta đã như thật, thắng tri năm thủ uẩn này, bốn chuyển cho đến khi ấy trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác"(Tập V.Thiên Đại Phẩm, Chương XII.Tương Ưng Sự Thật, II.Phẩm Chuyển Pháp Luân, I.Như Lai Thuyết).Câu này rất là thường, Đức Phật xác định với thế giới của chư Thiên, thế giới của ma, thế giới của Phạm thiên là có ma giới. Vì thế ngay trong chùa, chỗ mình sống thì mình đừng tưởng người ta không thấy mình, mình làm cái gì người ta đều thấy hết. Ác thần và thiện thần đều có, những thiện thần hay chư Thiên hiền thiện thì người ta hỗ trợ cho những người giữ giới, thiền định, hành trì đúng chánh pháp thì người ta đi theo yểm trợ. Còn những người làm ác, phá trai phạm giới, làm những chuyện tổn đức tổn phước thì những người hộ pháp sẽ sân hận lên thì có thể người ta quở trách và phạt. Chính Minh Thành chứng kiến lúc nhỏ, đó là chùa Sư Bà ở Sa Đéc (Đồng Tháp) mà nhà Minh Thành hay đi chùa này, khi đó có một ông uống say vào quậy chùa, chỉ trỏ tượng Phật này nọ rồi chỉ tới tượng ông hộ pháp mà hai ông hộ pháp nhìn dữ lắm, tượng được sơn nâu có hai mắt trắng, tròn đen. Người đàn ông này chỉ tới tượng hai ông hộ pháp thì bị cứng người, đứng im luôn rồi la lên "ơ, ơ", sau đó được đưa ra phía trước thì chết hộc máu, thành ra mình đừng xem thường thần thánh, đừng xem thường thế giới của thần linh. Mình không mê tín nhưng mình phải xác quyết có những thế giới đó, có chư Thiên, chư thần và có ma, tất cả những gì mình làm người ta đều thấy hết, không thể che giấu được, xung quanh mình có đầy rẫy tất cả các loài chúng sanh, phi nhân.
Một hôm ngài Mục-kiền-liên cùng một vị Tỳ-kheo đang từ núi Linh Thứu đi xuống, đang đi thì ngài Mục-kiền-liên mới mỉm cười. Vị Tỳ-kheo mới hỏi sao tôn giả lại cười. Ngài Mục-kiền-liên trả lời rằng bây giờ chưa đúng thời, chừng nào ở trước mặt Đức Thế Tôn thì ngài hãy hỏi. Khi về tới trước Thế Tôn, vị Tỳ-kheo kia lặp lại câu hỏi thì ngài Mục-kiền-liên đã nói khi ấy ta nhìn thấy trong hư không có một chúng sanh trong hình tướng một bộ xương dính máu, xung quanh là những con kên kên, con quạ bay theo mổ vào chỗ bị dính máu. Bộ xương này đau đớn kêu la, mà bộ xương này trước đây là một nhân vật nổi tiếng trong thành này, ta thấy lạ một chúng sanh như vậy mà bây giờ lại mang một tự ngã như vậy. Nghĩa là một con người như vầy mà lại trở thành như vậy thì không thể tin được. Ngài nói có nhiều trường hợp như vậy thì Đức Phật nói ta cũng thấy nhiều như vậy nhưng ta không nói, ta sợ nói ra thì những người không tin ta sẽ phỉ báng ta, và do phỉ báng nên họ sẽ chịu đau khổ lâu dài. Cho nên không phải cái gì Đức Phật cũng nói, do đệ tử nói nên sẵn duyên thì ngài xác nhận có sự thật như vậy. Có một người đàn bà là đệ nhất phu nhân, ghen với vợ nhỏ của chồng, bà này lấy than hồng đổ vào người vợ nhỏ. Khi bà này đọa vào đời sau thì ôi cha ơi, kêu la thảm thiết, than lửa đổ từ trên xuống, những con vật ăn thịt chạy theo cắn xé thân thể. Đó là đệ nhất phu nhân của đời trước và đời sau trở thành loài ngạ quỷ kêu la thảm thiết, vô những loài đó thì một ngày như năm trăm năm của thế giới loài người, đó là bình thường. Thành ra nghiệp quả là cực kì đáng sợ, cực kì nguy hiểm, không được xem thường, mình nhắm mắt rồi là không biết mình đi đâu. Khi sống cứ tưởng mình ngon, muốn làm gì là làm, muốn nói gì là nói, kiếp sau là khủng khiếp, quý huynh đệ về nghe bài "Nhân quả đáng sợ", mấy ông thầy, mấy sư cô, mấy Sa Di bị lửa cháy khắp y, kêu la thảm thiết từ thời Đức Phật Ca-diếp cho tới thời Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Quý huynh đệ có biết mỗi một vị Phật như vậy là cách nhau bao lâu không? Đức Phật nói trong kinh Nikāya thì một kiếp hay một do tuần thấp nhất là 7 km, nhiều nhất là 19km. Một thành trì dài 19km, bỏ hạt cải xuống hết 19km rồi 100 năm lấy một hạt, mà lấy hết số hạt cải trong suốt 19km như vậy vẫn chưa thành một kiếp. Sự thành hoại của Trái Đất một lần như vậy gọi là một đại kiếp, 91 đại kiếp như vậy mà chỉ có 7 Đức Phật ra đời. Hết sức khủng khiếp! Mình sống ở đây, mình làm những việc rồi mình chết một cái là không biết mình đi đâu. Và chuyện mình bị lọt vào con đường ngạ quỷ, súc sanh, ma giới là vô cùng dễ dàng, hằng ngày Minh Thành đọc tin tức toàn thấy địa ngục, ngạ quỷ súc sanh, hở một tí là đâm chém, giết người thì ngay hiện tại đã là địa ngục rồi, còn sau khi chết là kinh khiếp. Chết với một cái tâm sân hận, hãm hiếp, giết người như vậy thì sau khi chết sẽ đọa vào đâu? Cánh cửa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh mở ra sẵn sàng chào đón những con người này.
Trong người tu chúng ta phải sợ chính mình trước, cho nên đừng xem thường, đừng nói rằng không có thế giới của thần thánh, của ma, của địa ngục. Đức Phật nói trong kinh là có những thế giới đó, mọi người về đọc trong "Tương Ưng Địa ngục", trong kinh nói rõ một ngày bao nhiêu địa ngục, tên gì, hình phục ra sao đều có đầy đủ tất cả, Đức Phật còn nói "những điều này chỉ có Ta thấy, chỉ có Ta biết" mà thôi, câu này được lặp đi lặp lại nhiều lần trong kinh. Có những vị A-la-hán không có thần thông cũng không thể thấy được, không phải bậc A-la-hán nào cũng chứng đắc được lục thông, có những người không có thần thông. Có được thần thông hay không là do túc duyên của những đời trước tu tập của vị đó, trí huệ đều ngang nhau nhưng do cái duyên của mỗi người thì có những khả năng khác nhau, cho nên mình đừng nghĩ đã là A-la-hán là có lục thông, trong tạng kinh cũng nói ngài Xá-lợi-phất không có thần thông mà ngài Xá-lợi-phất là bậc trí tuệ tối thượng, chí thượng thanh văn, còn ngài Mục-kiền-liên thì đi lên cung trời thuyết pháp cho vua, cho chư Thiên rất nhiều. Cho nên trong đây còn nhiều vấn đề mình cần phải học rồi mới thấy biết được, còn bây giờ mình hiểu không có đúng, lệch rất nhiều thậm chí là sai. Phải bám sát vào tạng kinh này mình mới thấy được sự thật khi Đức Phật còn tại thế như thế nào.
Ác ma này nói với vị Tỳ-kheo-ni
Do ai, hữu tình này,
Ðược sanh, được tạo tác?
Người tạo hữu tình này,
Hiện nay tại đâu?
Từ đâu hữu tình sanh?
Ði đâu hữu tình diệt?
Trong bài kệ này tất cả chúng sanh là do cái gì tạo ra? Ai là người tạo ra? "Ðây quy tụ các hành, chúng sanh được hình thành", ai có thể giải thích "quy tụ các hành" là như thế nào? Không phải mở kinh ra đọc là có thể hiểu được, phải có sự giải mã mới mở tung ra hết được. "Các hành" ở đây là chỉ sự vận hành của năm uẩn, chứ không phải hành ở đây chỉ nói đến suy nghĩ, cái này không phải là hành uẩn mà là nói chung cho năm uẩn. Do sắc quy tụ, cảm giác quy tụ, những tưởng quy tụ, những suy nghĩ quy tụ và nhận thức quy tụ, năm uẩn này tụ hợp lại và sanh khởi. Giống như chiếc xe phải có bánh xe, căm xe, cổ xe…các bộ phận ráp lại thì mới ra chiếc xe, một bộ máy mà chúng ta gọi là cơ thể, cái thân này như cái máy được ráp từng bộ phận đúng một quy trình vận hành như vậy gọi là chúng sanh.
"Chỉ có khổ được sanh, khổ tồn tại, khổ diệt. Ngoài khổ, không gì sanh, ngoài khổ không gì diệt". Đây là chỗ thâm sâu, ai giải thích được câu này là hướng Dự lưu. Mình nói miệng là khổ tập diệt đạo nhưng thật sự mình có thấy nó là khổ không? Thành ra đó chỉ là từ ngữ, chữ nghĩa thôi, chứ thật sự thấy được khổ Thánh đế là bậc chánh tri kiến, Dự lưu thánh quả, tối thiểu cũng phải hướng Dự lưu. Giả sử có ai đem lại cúng cho mình tiền thì mình thấy khổ hay sướng? Hoặc mình ngồi bàn tiệc có tận 30 món thì khổ hay vui? Vậy thì khổ nằm ở đâu? Đây là vấn đề quan trọng, đây là pháp hành chứ không còn nói suông hay mở kinh ra đọc nữa, nếu các huynh đệ không giải mã được vấn đề này thì học suốt đời cũng không thật sự biết được cốt lõi của Phật pháp là gì. Trong Tương Ưng Bộ kinh và Trung Bộ kinh, Đức Phật tuyên bố xưa và nay Ta chỉ tuyên bố sự thật khổ và con đường chấm dứt khổ đau. Xưa và nay Như Lai chỉ tuyên bố hai điều là sự thật về khổ và con đường chấm dứt khổ. Hai câu nói đó là tóm thâu hết trái tim của Đức Thế Tôn, nếu không hiểu hai câu đó thì mình chỉ đứng ngoài cổng chùa dù cho mình ở trong chùa suốt đời, thậm chí lên tới Hòa Thượng vẫn là người đứng ngoài cổng chùa. Đây là pháp ấn, là con dấu ấn định đây là chánh pháp thật sự của Đức Phật, nếu không có cái đó không phải là pháp của Phật. Mình giảng mà mình nói cái này vui, cái kia vui, nhìn gió thổi cành trúc la đà thấy an lạc, hạnh phúc là mình đang dạy cho người ta tham ái đối với ngũ uẩn. Hết sức là nguy hiểm, nếu cái đó là pháp thế gian thì được nhưng đi vào thánh pháp là nguy hiểm, đó là đang dạy cho người ta dục tham và ái. Không chỉ được cho người ta thấy bản chất của cuộc đời là khổ, không chỉ ra sự bất tịnh, hoại diệt, vô thường để người ta nhàm chán, ly tham, giảng không khéo còn khuyến khích người ta tăng trưởng cái tham. Ôi cha ơi! Cực kì nguy hiểm. Các huynh đệ bây giờ vẫn chưa thành tựu được cái trí để phân định được đâu là chánh pháp của Đức Phật, chánh pháp này đã tồn tại đến 2600 thì không phải dễ để cho quý huynh đệ hiểu được, mình đừng nghĩ vào chùa cạo đầu và học như vậy là chánh pháp. Phải xét lại mình học cái gì.
Học trong tạng kinh Nikāya mới nêu rõ còn mình học bình thường là không có nêu bật cái khổ. Mình đã học sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, cầu bất đắc khổ, ái biệt ly khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ (năm ấm hừng hực).Năm ấm hừng hực khổ là cái gì không biết thành ra mình học như vậy là không thấy được gì hết. Bên tạng kinh Nikāya nói rất rõ, này các Tỳ-kheo sanh là khổ, bệnh là khổ, già là khổ, chết là khổ, ái xa lìa là khổ, ghét mà gặp nhau là khổ nhưng câu này chỉ có tạng kinh Nikāya mới có: "Tóm lại năm thủ uẩn là khổ", câu này làm nên lịch sử của tạng kinh Nikāya, câu này là câu tóm thâu pháp nhãn của Như Lai, câu này mới giải quyết được tất cả mọi vấn đề vì những cái sanh, già, bệnh, lão là trên hiện tượng, mình chạy theo mấy cái đó nói khổ thì không có chân đứng vì cái gì sanh? Cái gì già? Cái gì bệnh? Cái gì chết? Cái gì thương yêu xa lìa? Cái gì oán ghét? Chính là cái thân ngũ uẩn này. Cho nên năm thủ uẩn là khổ, câu này phải khắc ghi vào tim. Câu này mới làm sáng tỏ được đoạn kinh "chỉ có khổ được sanh, khổ tồn tại, khổ diệt", sắc là khổ, thọ là những cảm giác là khổ, các tưởng trong nội tâm, những hình bóng là khổ, những suy nghĩ liên miên là khổ, nhận thức trong mê muội vô minh, khát ái là khổ, năm thủ uẩn là khổ. Ngũ uẩn sanh khởi ra là "chỉ có khổ được sanh, khổ tồn tại, khổ diệt", đây là khổ bản chất, còn sanh, già, bệnh, chết là hiện tượng, là cành nhánh bên ngoài. Tại sao có sanh? Tại sao có già? Tại sao có bệnh? Tại sao có chết? Có phải từ năm thủ uẩn không? Thành ra cái này mới giải quyết được vấn đề nhưng cái này không phải trên lý thuyết, chữ nghĩa, phải đến để mà thấy, tức là hằng ngày mình luôn luôn nhìn lại những sắc chất, cảm giác biến động thôi thúc, khao khát tìm kiếm. Những cảm giác bực tức, sân hận, tức tối đó là các hành, mà các hành đó là khổ, rồi những tưởng hiện đủ thứ. Ví dụ cậu này 17 tuổi quen cô này 15 tuổi, thời gian sau cô này muốn chia tay để quen người mới, hai người này chụp hình đưa lên Facebook thì cậu 17 tuổi này nhìn thấy thì lập tức ngũ uẩn vận hành, đem dao ra giải quyết. Khủng khiếp! Hành là khổ, sự vận hành của các cảm giác, sự vận hành của các tưởng. Nhìn thấy tấm hình là thọ sanh khởi, các tưởng sanh lên, những suy nghĩ ý hành sanh lên, thức sanh lên dẫn cái thân đi cầm dao đâm là chung thân hoặc tử hình hoặc 18 năm. Đó là khổ, không phải một chuyện mà một trăm ngàn chuyện như vầy. Ngao ngán lắm! Mở kênh An ninh TV lên thì thấy những tin tức rùng rợn, toàn là chém giết, ma túy, xâm hại tình dục, cướp giật. Hai người đàn ông mới ra tù không bao lâu thì ngồi bàn với nhau ở tù sướng hay khổ, một ông nói sướng, một ông nói khổ, hai ông cãi qua cãi lại án mạng xảy ra, một người chết, một người vào tù lại cho sướng. Cho nên Đức Phật dạy mình giới thứ tư là không nói chuyện phù phiếm, hý luận. Đây là giới chứ không phải chuyện bình thường, mình nói chuyện một hồi là cãi lộn, tự nhiên vô sự thành sanh sự, rồi xảy ra đại sự từ đó đi đến hình sự. Cho nên không có sự mà bày ra cho có sanh sự, rồi cái sự đó sanh ra thành đại sự, đi thẳng tới hình sự. Tất cả những cái đó là sự vận hành của ngũ uẩn chính là khổ. Không biết cảm giác lúc đó là cái gì, cái tưởng, hành, thức cũng không biết, phải nhận diện ngũ uẩn.
Minh Thành phân tích ngũ uẩn vận hành trong khi nhìn tấm hình trên Facebook cho các huynh đệ thấy. Do duyên có con mắt, do duyên có tấm hình là sắc, khởi lên sự rõ biết tấm hình. Căn – trần – thức giao thoa, ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của con mắt là nhãn xúc, rồi sanh thọ, sanh ra cảm giác thì cảm giác đó là bực tức, ghen tuông, nóng cháy trong người. Những tưởng sanh khởi, hình bóng hiện lên hai người này đi ăn, đi chơi… Các hành hiện lên "để tôi xử cho biết mặt", thức lúc đó chỉ biết thọ sân, tưởng sân, hành sân, cái thọ lúc đó chỉ biết có sân hận thôi thì cái tâm lúc đó hết sức nhỏ hẹp, gói gọn trong sân hận. Tất cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều sân hận, bao trùm cả người thì làm sao cậu bé này thoát ra được là bắt đầu kéo cái thân ngũ uẩn đó đi tới hành động để thỏa mãn cơn tức giận. Thì cái thúc giục bên trong chính là dục, sự thúc giục đi xử lý tụi này, giải quyết vấn đề là dục và nếu thích làm điều đó là ái. Nhiều vụ án khủng khiếp, đâm không phải một nhát mà đâm vô số nhát, người tình, vợ chồng, người yêu thương mà đâm 19 nhát. Đây là khổ! Khổ là đây! Các huynh đệ nghĩ cái thọ thay đổi như thế nào? Tại sao khi xưa yêu thương nhau vô bờ bến mà bây giờ lại đâm chém nhau thẳng tay như vậy, tan nát hết. Báo đăng những tin như vậy đều phải làm mờ hình ảnh của nạn nhân, chỉ thấy được một vũng máu đỏ tứ tung. Khủng khiếp! Minh Thành cho quý huynh đệ thấy cái trí tuệ 3000 năm cổ xưa kết hợp với sự kiện bây giờ để nhận diện được năm uẩn dục tham ái, sân si và bản ngã. Đó mới là pháp của ta, thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, có hiệu quả tức thời, không có trải qua thời gian, có khả năng hướng thượng được người trí tự mình giác hiểu"( Tập V. Đại Thiên Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu). Cái pháp này rõ ràng như vậy thì còn gì mà không tin, còn gì để ngờ vực. Ví dụ thọ sanh khởi thì mình biết đây là cảm giác "Đừng chạy theo cảm giác này, muốn vô tù ngồi phải không? Muốn tử hình hay sao? Muốn lên bàn thờ ngồi cho cha mẹ khóc phải không?" Nếu như mình nhìn biết được như vậy và mình thoát ra khỏi cảm giác này là không có chuyện gì xảy ra.
Minh Thành đưa ra sự kiện có thật để các huynh đệ thấy cái pháp này không phải cao xa, viễn vông. Có hai người mới 18,19 tuổi ở Đắk Lắk thương nhau mà bị gia đình ngăn cấm, thế là buộc dây vào nhau nhảy sông tự vẫn chết luôn. Mình nhận diện năm uẩn lúc đó là dục, ái đã xâm chiếm toàn bộ, cảm giác là đau khổ vì không được cha mẹ chấp nhận, cứ nghĩ về điều này hoài sanh ra cảm giác khổ, cái tưởng hiện ra hình bóng gia đình la mắng, cái hành chỉ biết bao nhiêu đó. Cuối cùng là buộc dây nhảy. Nếu mình thấy ngũ uẩn thì "có nhiều cách giải quyết, đâu phải buộc dây nhảy là giải quyết được vấn đề", thí dụ cha mẹ không cho thì đi chỗ khác, nhưng vào đó rồi là vô minh, một khi dục tham ái chiếm lĩnh ngũ uẩn là lòng vòng trong đó, không đi ra được. Đọa là chắc chắn. Trong phim nói "em đã đợi anh bốn ngàn năm" mà mình tưởng nói giỡn rồi mình cười, nhưng cái đó là có thật vì không siêu thoát được, có thành cây cũng mọc dính vào nhau. Trên thế giới có nhiều trường hợp hai anh, chị em dính liền thân, có những đứa trẻ sanh ra y hệt con ếch ở Ấn Độ, trong vòng mấy ngày là chết. Cái nghiệp quả là bất khả tư nghị, nhưng tất cả những cái đó là diễn tuồng của ngũ uẩn, là kết quả của ác nghiệp, của tham sân si và bản ngã.
Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn chúng sanh là gì?
Này Ràdha, dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với sắc, thọ, tưởng, các hành, đối với thức, triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là chúng sanh (Tập III. Thiên Uẩn, Chương II.Tương Ưng Ràdha)
Câu này rất thâm thúy, mình phải gặm nhắm. Ôi hay sao là hay! Quý huynh đệ xem tất cả cái dục của mình tập trung trong năm uẩn, mình dục là mình muốn, mà muốn cái gì? Mình tham là tham cái gì, ưa thích với cái gì? Có phải mình ưa thích với những sắc chất, thân thể, vật chất không? Có phải mình ưa thích với những cảm giác không? Ví dụ mình qua nước ngoài có tục lệ bắt tay, ôm hôn mà gặp ngay người xấu xí, hôi thì người đó lại bắt tay và ôm mình thì làm sao? Còn gặp người thơm tho, đẹp đẽ lại bắt, ôm mình thì "sao không ôm lâu lâu chút nữa". Cho nên những cái tham, dục, hỷ của mình đều nằm trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, khi tay nắm vào, ôm vào thì có sắc không? Có xúc, thọ, ái, dục, tham không? Có chấp thủ không? Như vậy tất cả dục, tham, hỷ, ái là trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nó đã bao trùm hết thế giới này. Một người đàn ông bị giao thông phạt, người này không xuống xe vì xe này trị giá 5 tỷ, nhiều tiền quá nên không xuống, bây giờ mình được tiếp xúc chiếc xe giống vậy thì muốn dứt xe cũng hết sức khó chứ không phải chuyện dễ, mình nói trường hợp chiếc xe 5 tỷ thì trong lòng mình cũng đã có thọ rồi, mình tưởng tượng hình bóng mình ngồi trên chiếc xe đó, một khi nói là tưởng đã sanh khởi rồi, thọ, hành, thức đã có, đó chỉ mới sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng, sắc ái, thanh ái, vị ái, xúc ái, pháp ái thôi. Chỉ mới tưởng tượng cái xe là đã ái rồi thì đừng nói tới bên ngoài khi đã lên ngồi thì khoái chí, sung sướng. Như vậy là cảm giác, xúc, thọ, ái, dục tham đầy rẫy hết trong đó trói buộc mình triền miên, dài đăng đẳng không có ngày ra. Cho nên "Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc"(Tập II.Thiên Nhân Duyên, Chương IV.Tương Ưng Vô Thỉ, I.Phẩm Thứ Nhất).
Nước mắt mà các ông đã đổ xuống vì mất cha, mất mẹ, mất anh em, mất những người thương yêu. Nước mắt đổ xuống vì thù hận, khổ sở, sầu bi là đầy hơn khắp bốn biển. Máu mà các ông đã đổ vì đánh nhau, chém giết là đầy khắp bốn biển, các ông có biết không này các Tỳ-kheo. Đến đây là vừa đủ rồi, đến đây là nhàm chán rồi, các ông hãy từ bỏ các hành để giải thoát. Khủng khiếp như vậy chứ mình đừng tưởng nào giờ mình chưa nếm để giờ mình thử cho biết, thật ra mình đã thử hết ngàn tỷ kiếp tham dục, dâm dục rồi mà giờ vẫn còn mê. Đức Phật nói rượu, ngủ, và chuyện nam nữ dâm dục là vĩnh viễn không bao giờ thỏa mãn. Cho nên mình đừng tưởng là già sẽ không còn nữa, cái này hết mà cái kia chưa hết vì thế bảy, tám chục tuổi mà xâm hại đứa trẻ đáng tuổi cháu, chắt mình. Khủng khiếp vô cùng! Kinh khủng vô cùng! Đây là chứng minh lời của Đức Phật, mặc dù đã trải qua ba ngàn năm nhưng chân lý này vẫn bất diệt, này các Tỳ-kheo từ khi ta thành Chánh Giác dưới cội Bồ Đề cho đến khi Ta nhập diệt dưới Sala song thọ thì ở khoảng giữa đó tất cả lời của Như Lai nói không thể đổi khác, không thể biến đổi được. Những lời Như Lai nói là đúng như sự thật, các huynh đệ thấy được thánh trí của Đức Phật là khủng khiếp, phải cố gắng học, cố gắng tư duy quán chiếu, phải nhìn thấy được năm uẩn thì mới nhiếp phục được tham sân si, bản ngã. Nếu không mình học cái gì? Học tùm lum cuối cùng nhìn lại nội tâm mình là một đống xà bần, không biết thọ, tưởng, hành, có khi lại lấy thức làm chân tâm.
Mình mua đất, xây chùa, tham khảo các chùa cho kiến trúc sư vẽ lên, xây một ngôi chùa hoành tráng, khi già rồi mình nhìn "cái tượng Phật này thỉnh từ Đài Loan về đẹp quá. Toàn là đồ cổ thời Minh Mạng, đem vô phòng cất", trong đây toàn là tham, dục, hỷ, khát ái. Làm sao mình giải thoát được? Nhưng nói ra là tu vì Tam bảo, phụng sự cho chúng sanh, "cái này tôi vì Tam bảo chứ không phải vì bản thân tôi, cúng là cúng cho Tam bảo". Cái này hết sức nguy hiểm, đây là tâm tham đang trá hình, mình sẽ rẽ sang con đường sai lầm. Mình nói bần Tăng xuất gia tu hành, nghĩa là sống không nhà, không gia đình, vô sản, nhà ở xụp xệ có hai, ba tấm tôn mà giờ có cái chùa to tướng, rồi đi đâu cũng trưng ra Card Visit trong đó ghi tùm lum chức danh trong giáo hội. Quý huynh đệ phải nhớ kĩ, không khéo là mình đi lạc đường, như vậy mới có cớ cho người đời phê phán. Từ lúc đầu mình đã không học cái này, mình không hành trì cái này, không đi theo thánh đạo thì đi theo thế đạo là phải rồi. Mình cứ nghĩ thành công là việc được mọi người công nhận nhưng không phải vậy, mình đừng nghĩ ông đó nổi tiếng, được bao nhiêu người kính ngưỡng là thành công trong đạo, đó là thế pháp. Thành công về thánh trí năm uẩn này mới xác định được thánh – phàm, chánh – tà, mê – ngộ, không phải chuyện bình thường, đây là thánh trí xác quyết, là pháp ấn của chư Phật. Quý huynh đệ học cái này xong là thần nhãn, là Dương Tiễn, là nhìn ra được hết tất cả. Ít nhất mình chưa chứng ngộ, chưa đắc nhưng mình biết cái nào đúng, cái nào sai, mà biết thì mình hướng dẫn không trật. Còn mình mù luôn thì hướng dẫn người ta cái gì, mình có biết năm uẩn là cái gì đâu, không biết dục tham ái đối với năm uẩn thì làm sao mình thoát ra được. Cho nên những đứa trẻ lấy đất làm nhà, chơi nhà chòi. Cho đến khi những đứa trẻ đối với những đồ chơi bằng đất này, "lòng tham chưa thoát ly, lòng dục chưa thoát ly, lòng ái chưa thoát ly, lòng khát chưa thoát ly, lòng nhiệt tình chưa thoát ly, lòng khát ái chưa thoát ly, thời chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và đắm trước những nhà bằng đất ấy" (Tập III.Thiên Uẩn, Chương II.Tương Ưng Ràdha, I.Phẩm Thứ nhất, II. Chúng Sanh). Các huynh đệ có thấy Đức Phật ví dụ khủng khiếp không? Ngũ uẩn này món đồ chơi của chúng sanh, và nó chơi máu đổ, chơi tới nỗi anh em chém giết nhau chỉ vì mấy tấc đất, lúc xưa vợ chồng yêu nhau bao nhiêu lần thì bây giờ kéo nhau ra tòa kiện bấy nhiêu đợt. Cái ngũ uẩn này là khổ ách, hiểm nạn, là tai nạn, tất cả những mầm mống nguy hiểm đều nằm trong đây chỉ chờ đến lúc đủ duyên, đủ thời thì kích hoạt. Hỡi ơi! Thôi rồi còn chi đâu anh ơi, từ thầy trò, anh em cho đến vợ chồng chẳng còn biết gì nữa, có chăng chỉ là dư âm thôi. Lúc đó dục tham ái, sân si và bản ngã đã thống lĩnh toàn bộ ngũ uẩn, thay thế cho bát chánh đạo sẽ là bát quái trận được tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định hỗ trợ nên không cách nào mình có thể thoát ra được cái mê hồn trận đã giăng lưới này. Vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều mê muội, có muốn ra cũng không có người chỉ nên không biết được con đường xuất ly, đạo lộ để thoát thân. Vì không có người hướng dẫn nên không biết gì là vị ngọt, không biết gì là sự nguy hại, không thành tựu trí năm uẩn cho nên chúng ta ngồi đây là hạnh phúc vô cùng, sung sướng vô tận, phước báu phước đức vô biên chứ không có thời mạt pháp nào mà chúng ta học được thánh pháp tối thượng, thánh trí năm uẩn xuất ly này. Không phải chuyện đơn giản. Tuyệt vời là thánh trí này, chỉ có thánh trí này mới có khả năng đưa đến ly tham, nhàm chán, chấm dứt và từ bỏ đối với năm uẩn. Nhưng khi các đứa trẻ đó "đối với những nhà bằng đất kia, lòng tham đã thoát ly, lòng dục đã thoát ly, lòng ái đã thoát ly, lòng khát đã thoát ly, lòng nhiệt tình đã thoát ly, lòng khát ái đã thoát ly, thời với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy" (Tập III.Thiên Uẩn, Chương II.Tương Ưng Ràdha, I.Phẩm Thứ nhất, II. Chúng Sanh). Lúc này thánh trí đã xuất hiện, từ bậc Nhập lưu cho đến các bậc Nhất lai, Bất lai và A-la-hán mới có khả năng phá vỡ ngôi nhà bằng đất của ngũ uẩn. Vì vậy các huynh đệ có thể thấy rằng nếu mình không quán chiếu về bất tịnh, ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn của một tử thi thì làm sao mình có thể ly tham đối với sắc uẩn này. Mới nói một sắc uẩn thôi là mình đã bị trói buộc hàng bao nhiêu lớp rồi, cái tấm thân khốn khổ và hoạn nạn này đòi hỏi đủ thứ, thúc giục đủ thứ, nó hành hạ đày đọa mình, ăn bao nhiêu cũng không vừa lòng, ngủ bao nhiêu năm cũng muốn ngủ nữa, đi chơi hoài, dục tham ái hoài, khao khát hoài. Nhìn được chỗ này chính là thánh trí chứ không phải là cái trí bình thường. Chỉ có Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác mới phát hiện ra được cái này, ngoài ra tất cả chúng sanh là nô lệ cho dục, đầy tớ cho tham, đệ tử cho bản ngã. Mình tu không khéo là càng ngày mình càng nuôi lớn dục tham ái và bản ngã, đây là một sự thật hết sức đau lòng mà chúng ta phải nhìn lại chính thân tâm mình, phải thanh lọc và tẩy rửa, đừng nhìn người khác.
Cũng vậy, này Ràdha, Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với năm uẩn.
Ðoạn diệt khát ái, này Ràdha, là Niết-bàn (Tập III.Thiên Uẩn, Chương II.Tương Ưng Ràdha, I.Phẩm Thứ nhất, II. Chúng Sanh).
Ý nghĩa của những câu này là kinh khủng, phải diệt tận sự khao khát và ưa thích với sắc, thọ, tưởng, hành, thức này. Thấy nó xuất hiện là đánh đuổi ná, phá tung nó.
Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.