Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thứ Tự Tu Tập 11

2026-03-03 00:55:20
Kinh Nikāya Giảng Giải

Thứ Tự Tu Tập 11

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. An tịnh lắng dịu PAGEREF _Toc155020821 \h 1

II. Tu trong sinh hoạt PAGEREF _Toc155020822 \h 3

III. Tâm cấu uế PAGEREF _Toc155020823 \h 6

I. An tịnh lắng dịu

Người tu phải có sự an tịnh và lắng dịu, mình phải có sức bình an, dù cho lúc đó mình đang rất gấp rút thì vẫn phải có cảm thọ an tịnh, lắng dịu, phải có một niệm lực, đạo lực, định lực, tuệ lực. Có một bài kinh trong Trung Bộ nói rằng Đức Phật đến thăm các vị này là những tôn giả tỉnh tu, đi đến nơi thì người giữ vườn không cho Thế Tôn vào vì những vị ở đây rất trang nghiêm, thanh tịnh, trong kinh dùng từ "ái tự ngã" tức là những vị này rất biết cách chăm sóc cho chính mình, yêu thương chính mình cho nên người giữ vườn không cho Thế Tôn vào.

Các vị tôn giả từ xa thấy vậy mới đi ra ngăn cản người giữ vườn và giới thiệu đây là bậc đạo sư, hãy để cho Thế Tôn vào. Sau đó người thì đem thau nước, người thì rửa chân cho Đức Phật, người thì trải tọa cụ cho Đức Phật, Đức Phật hỏi thăm các vị tôn giả ở đây có an lạc, thanh tịnh không thì mọi người đều nói an lạc, thanh tịnh. Năm ngày các ngài ấy mới tập trung lại pháp đàm, còn bình thường mỗi người đều có công việc riêng, ai gánh nước thì gánh nước, ai chùi rửa thì chùi rửa, người nào việc nấy không nói chuyện, khi tập trung lại thì pháp đàm hoặc ngồi thiền.

"Lúc bấy giờ, Tôn giả Anuruddha (A-na-luật), Tôn giả Nandiya (Nan-đề) và Tôn giả Kimbila (Kim-ty- la) trú ở Pacinavamasadaya. Người giữ vườn thấy Thế Tôn từ xa đi đến, khi thấy vậy liền bạch Thế Tôn:

Này Sa-môn, chớ có vào khu vườn này. Có ba Thiện gia nam tử, rất ái luyến tự ngã (attakamanipa) trú tại đây. Chớ có phiền nhiễu các vị ấy.

Tôn giả Anuruddha nghe người giữ khu vườn nói chuyện với Thế Tôn, liền nói với người giữ vườn:

-- Này Người giữ vườn, chớ có ngăn chặn Thế Tôn! Thế Tôn là bậc Ðạo sư của chúng tôi đã đến.

Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila và nói:

-- Chư Tôn giả hãy đến! Chư Tôn giả hãy đến! Thế Tôn, bậc Ðạo sư của chúng ta đã đến.

Rồi Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila ra đón Thế Tôn, một người cầm y bát Thế Tôn, một người sửa soạn chỗ ngồi, một người đặt sẵn nước rửa chân. Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn; sau khi ngồi, Thế Tôn rửa chân. Rồi các Tôn giả ấy đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Anuruddha đang ngồi xuống một bên:

-- Này các Anuruddha, các Ông có được an lành không? Có được sống yên vui không? Ði khất thực có khỏi mệt nhọc không?

-- Bạch Thế Tôn, chúng con được an lành. Bạch Thế Tôn, chúng con sống yên vui. Bạch Thế Tôn, chúng con đi khất thực khỏi có mệt nhọc.

-- Này các Anuruddha, các Ông có sống hòa hợp, hoan hỉ với nhau, không có cãi nhau. Như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm không?

-- Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống hòa hợp, hoan hỉ với nhau, không có cãi nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.

-- Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Và này các Anuruddha, các Ông có sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần không?

-- Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

-- Này các Anuruddha, như thế nào, các Ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần?

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con ai đi vào làng khất thực về trước, người ấy sắp đặt các chỗ ngồi, soạn sẵn nước uống, nước rửa chân, soạn sẵn một bát để bỏ đồ dư. Ai đi vào làng khất thực về sau, người ấy, còn đồ ăn để lại, nếu muốn thì ăn, nếu không muốn thời bỏ vào chỗ không có cỏ xanh hay đổ vào nước không có loài côn trùng. Người ấy xếp dọn lại các chỗ ngồi, cất đi nước uống, nước rửa chân, cất đi cái bát để bỏ đồ dư và quét sạch nhà ăn. Ai thấy ghè nước uống, ghè nước rửa chân, hay ghè nước trong nhà cầu hết nước trống không, người ấy sẽ lo liệu (nước). Nếu làm không nỗi với sức bàn tay của mình, người ấy dùng tay ra hiệu gọi người thứ hai: 'Chúng ta hãy lo liệu (nước)'. Dầu vậy, bạch Thế Tôn, chúng con không vì vậy gây ra tiếng động. Và đến ngày thứ năm, bạch Thế Tôn, suốt cả một đêm chúng con ngồi đàm luận về đạo pháp. Như vậy, bạch Thế Tôn, chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần" (Trung Bộ Kinh, 128. Kinh Tùy phiền não)

Chúng ta thường nghe nói đến sự im lặng của bậc Thánh và nói năng đúng chánh pháp, đây là hai điều khi nhóm hợp lại người tu chỉ có hai việc thôi, thứ nhất là giữ sự im lặng của bậc Thánh tức là thiền định và hai là thảo luận về pháp cho nên các vị này rất an lạc, thanh tịnh, hỷ lạc, Thế Tôn khen ngợi các vị này rất nhiều.

II. Tu trong sinh hoạt

Bây giờ hình ảnh này không dám nói là không thấy nhưng thật sự rất hiếm, con thưa các thầy các cô con quán sát rất kĩ, lúc đầu giờ học bước vào con thấy rất lăng xăng, có người nhìn thấy con nhưng có người không nhìn thấy. Khi làm việc mình phải niệm thân, thường mình làm việc là không có tu, khi làm việc mình trở thành một người khác và đây là chỗ thất bại của mình. Vàng thật thì có quăng dưới toilet cũng là vàng ròng chứ không phải đặt trong cửa hàng kim hoàn mới là vàng, nghĩa là một người tu bất cứ lúc nào cũng phải dụng tâm công phu.

Cái tu là ở chỗ đi, đứng, ngồi, nằm, làm việc, sinh hoạt của mình, chúng ta thường nói chánh niệm nhưng không phải dễ để thực tập được chánh niệm. Cái bảng này con đã nhắc ba lần vậy mà hôm nay vẫn như vậy, cho nên học những cái này có khi còn thiết thực hơn trong kinh nữa, kinh điển nói rất thâm sâu có khi mình không thấy không hiểu nhưng chỉ những cái này nếu để tâm sẽ thấy, tức là không có sự để tâm.

Khổng Tử nói như một cái đỉnh ba chân, ta chỉ cần nhấc một chân lên thì người học phải tự biết cách nhấc hai chân còn lại chứ ta không giúp nhấc cả ba chân lên, tức là người để tâm học sẽ để ý chứ vị thầy hướng dẫn cho mình sẽ không chỉ hết mọi thứ, trừ khi nào người đó rót bình đệ tử, bên Tây Tạng dùng từ "đệ tử rót bình" tức là người thị giả ở gần bên thầy nếu chịu tu học thì người đó sẽ trở thành đệ tử rót bình, tức là bao nhiêu trí tuệ của bậc thầy sẽ chảy qua người đó, giống như bình trà rót nước qua chung trà đều hứng được hết, gọi là đệ tử rót bình nhưng điều này rất hiếm, có thể trong đời bậc Thánh Tăng có được một người hoặc một người rưỡi thôi.

Chúng ta có biết một người rưỡi là như thế nào không? Trong truyện Trúc Lâm dậy sóng, khi người ta hỏi sư phụ có mấy người đệ tử thì sư phụ bảo có một người rưỡi, trong nhà thiền có câu "nhất cá bán cá", nhất cá là một cái, bán cá là nửa cái, là một người, nửa người. Cho nên trong lớp học con sẽ không chỉ hết, chỉ có người nào rót bình mới chỉ nhiều nhưng ngay cả người theo mình xuất gia cũng không thể chỉ hết được vì khả năng, trình độ, tâm tha thiết tu học của người đó ở mức độ nào thì chỉ ở mức độ đó thôi, nếu chỉ vượt quá họ sẽ không chịu nổi. Cũng như cái bảng con đã kêu đem qua đến nay là lần thứ ba vẫn không ai để tâm cho nên chánh niệm ở trong từng cái nhỏ như vậy chứ không phải tu là chuyện to tát.

Trong khi làm mình có ý thức việc mình đang làm không hay lúc đó chỉ thấy công việc chứ không thấy pháp? Lúc làm có thấy ngũ uẩn không? Lúc làm mình có nhận diện được quán pháp trên các pháp là đang có năm triền cái có mặt không, tức là buông lung phóng dật, trạo cử đang có mặt hay lúc đó mình nhập cuộc vào đó luôn? Năm triền cái là lúc con hỏi mà không ai nhìn con, chỉ lo kéo bàn, kéo ghế, mở sách mở tập, lúc đó trạo cử đang có mặt. Những cái này bây giờ khó có ai chỉ cho mình vì người dạy còn không biết thì làm sao chỉ?

Tức là khi làm việc là làm với thân tâm đều dao động, trạo cử, mình buông lỏng, buông thả, buông lung phóng dật, chỉ có một chút công việc thôi là mình mất mình, mất tâm. Nếu chỉ vì một chút công việc đó mà mình quên Thân Hành Niệm, quên quán thân trên thân, quên niệm thân, không biết được mình đang làm, không niệm cảm thọ, không an trú cảm giác toàn thân, không định tâm trên thân mà bất thình lình xe đụng thì làm sao mình bình tĩnh được, bất thình lình có người đến chửi thì làm sao tâm mình an tịnh được, bất thình lình đi khám bệnh nhận tin bị ung thư giai đoạn cuối, bất thình lình bị tai biến, đột quỵ, bất thình lình mình nghe tin cha mình chết mẹ mình qua đời, người thân mình ra đi, mình còn không có sức niệm, sức định, không có an tịnh, lắng dịu, bình tĩnh thì làm sao có thể giúp cho người nhà an tịnh được? Mình còn rối ren, rối loạn, rối rắm thì làm sao mình giúp cho người xung quanh điềm tĩnh được? Cho nên sự tu học của chúng ta rất thực tế, khi chúng ta lên thiền đường, chánh điện là một người khác, đi trở ra là biến thành con người khác.

Vàng thì lúc nào cũng phải là vàng, tại sao lúc lại thành chì, thành đồng? Như vậy không phải vàng thật, cho nên cái học của chúng ta nhìn thấy được hết. Trong sự giáo dục và đào tạo của các trường Phật học bây giờ nghiêng nhiều về kiến thức, về tri thức mà chưa chú trọng nhiều về đào tạo đạo đức, giới hạnh, đây là lỗ hổng lớn vì vậy thấy ngàn ngàn người nhưng không được bao nhiêu, chỉ đếm trên đầu ngón tay, chính vì vậy con có ý đi theo các cụ, đi theo hòa thượng Trúc Lâm, sau này sẽ không đi dạy ở các trường lớp nữa, ai muốn học thì về núi và hướng dẫn gia giáo, đào tạo trong thiền viện, trong rừng thiền, trong làng tu mới có chất lượng, còn giờ vào học rồi trở ra bên ngoài là không có chất lượng bao nhiêu cả.

Khi mình mới xuất gia giống như một đứa trẻ sơ sinh, cần phải có mẹ hoặc dưỡng mẫu chăm sóc rất kĩ, sau đó lớn lên phải được giáo dục, huấn luyện rất kĩ vì môi trường tu bây giờ người tu rất dễ hư hỏng. Xung quanh chúng ta có nhiều danh lợi dạy cho mình hư, không hướng dẫn cho mình thành tựu cái thấy biết của bậc Thánh, Thánh tri kiến mà lại huân tập những cái thấy biết theo danh theo lợi, mình huân tập những cái đó là lầm đường lạc lối, những lời của con nói là từ trong trái tim, là huyết lệ. Tại sao bản thân con ở trong chùa 30 năm mà con có thể vượt qua được hết mọi thứ khó khăn trong nhận thức để tìm ra được Thánh pháp nguyên chất của Đức Phật? Đó là cả một trái tim nhiệt huyết, chúng ta nhìn thử xem bây giờ tu học cái gì? Một ngày mình quán bất tịnh được mấy tiếng? Pháp tàm, pháp quý mình đã thành tựu chưa? Sự xấu hổ và sợ hãi đối với những tội lỗi, sai lầm đã thành tựu chưa?

III. Tâm cấu uế

Pháp đầu tiên trong tuần tự đạo lộ tu học là gì? Đó là hãy hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, thành tựu chánh niệm tỉnh giác. Sự đào tạo và giáo dục tu học của chúng ta hiện nay nếu không thay đổi thì Phật giáo không thể phát triển nữa, có phát triển thì cũng phát triển theo hình thức, số lượng, còn chất lượng thì rất khó. Lâu lâu ở chùa hay ở lớp phải có những buổi ngồi lại, không cần hình thức quảng cáo, gắn bảng hiệu, chụp hình gì cả mà chỉ cần ngồi lại suy tư những trăn trở, thao thức, những khó khăn trong đời tu phải được trình bày hoặc viết ra, phải tìm những bậc tôn đức có đức hạnh, có thiền định, có trí tuệ để thưa hỏi, tư vấn, đây là một trong những pháp làm cho Phật giáo phát triển.

Con không thấy lớp mình hỏi bao nhiêu cả vì người hỏi là người có thực hành, có học thì mới có nghi vấn, nếu không hỏi thì có hai trường hợp, một là ngộ rồi, hai là không học, không tu, không nghiên cứu, thực hành gì cả nên không biết gì để hỏi. Bây giờ chúng ta thích cái học một chiều để nhàn hạ, tu cũng muốn nhàn hạ, học cũng muốn nhàn hạ, vô ngồi nghe nói cho hết giờ rồi về, không có sự tương tác, không trăn trở, không thao thức, không suy tư. Một người mê xe là suốt ngày đi tìm xe, nghĩ về xe, người mê cây kiểng là nắn nót cây, đi tìm dáng cây đẹp, người tu cũng phải như vậy, suốt ngày niệm pháp, quán pháp trên các pháp, nhưng kêu trình pháp lại bảo không có gì trình, đó là không có niệm pháp, nhưng lạ ở chỗ mình muốn làm giảng sư.

Một người giảng sư chân chánh thì đầu tiên phải thấy pháp, kế đó là hành pháp, thành tựu pháp, sau đó mới hoằng pháp, chia sẻ pháp, trình tự phải như vậy. Mình không thấy pháp thì mình giảng cái gì? Không thấy pháp giống như người mù vậy, làm sao chỉ cho người ta thấy đường được? Một người mù có thể chỉ cho người ta cái này cái kia không? Còn thấy pháp là thấy ngũ uẩn, thấy được dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã của mình, đó gọi là thấy pháp, còn chưa thấy được những cái đó thì làm sao tu được? Mình có thấy bản ngã của mình hoạt động như thế nào không? Mình có thấy sự buông lung phóng dật, vô minh như thế nào chưa? Mình nói "con tu thấy an ổn lắm, sao thầy nói con vô minh, tham, sân, si?", đó là mình chưa mở mắt thì làm sao thấy được?

Chánh kiến mà chúng ta hay học hay là Thánh tri kiến chính là nhìn thấy được tâm cấu uế. Trong cái trình pháp đó thứ nhất phải chiến thắng được bản ngã của mình vì có nhiều người sợ nói ra bị mọi người chê dở, thứ hai là phải trực tâm vì đó là chúng đệ tử của Thế Tôn, trực tâm là tâm ngay thẳng, tâm thành thực.

"Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời". (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)

Trên đây là bốn đức tánh mà một người đệ tử Phật phải có được, đó cũng là định nghĩa về Tăng bảo trong Nikāya. Cho nên chánh kiến, thấy biết của bậc Thánh mình đừng nghĩ nó khủng khiếp mà thấy đúng là thấy được tâm cấu uế. Mình sân hận lên, mình đố kỵ, ganh tỵ, mình bực bội, nhiều khi mình nghĩ muốn hại người ta, trong bài sám có câu "hạnh tai lạc họa yểm tha năng" nghĩa là vui sướng trên sự đau khổ của người khác, chèn ép, đè ép những người có tài năng, không để họ phát huy tài năng.

Người mà mình ghét bị tai nạn là mình vui lắm, mình mừng vì đáng đời, mình sung sướng khi mình thấy người mình ghét gặp tai họa, đây gọi là hại tâm và tất cả chúng sanh đều có tâm này nhưng mình cứ nói "con không có đâu", đó là do mình không thấy, thứ hai là mình ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm. Bản ngã rất bao biện, rất ngụy biện, xảo biện, chỉ có người nhận diện ngũ uẩn mới thấy được, còn không nhận diện ngũ uẩn là không thấy được, tức là ai góp ý một cái gì đó nhưng bản ngã vẫn dùng mọi cách để biện hộ, lý lẽ, tại người này người kia chứ không phải tại mình, đó là góp ý đúng, còn góp ý sai là sừng sộ, phẫn nộ lên, thấy được điều này là cái thấy của bậc Thánh.

Yểm tha năng là ém nhẹm tài năng của người khác, yểm là đè xuống, mình có tài thì phô diễn cho mọi người biết, còn người ta có tài thì không muốn cho người khác biết. Như vậy toàn bộ công trình tu học của chúng ta chỉ có mấy bước thôi, chỉ có Thánh quả thứ nhất cho đến Thánh quả thứ tư, Thánh quả thứ nhất là thấy được tâm cấu uế, đây là bậc Tu-đà-hoàn, thấy được tâm cấu uế nghĩa là thấy được nhiều góc độ, khía cạnh, thấy đến nỗi bị kinh hãi, không thể tưởng tượng cái tâm mình lại xấu xa, bẩn thỉu đến mức độ như vậy thì đây là cái thấy của bậc Thánh, muốn có được cái thấy này thì trước tiên phải nhận diện năm uẩn, bắt buộc phải thấy năm uẩn rồi mới thấy được tâm cấu uế vì cấu uế nằm trong năm uẩn, nằm trong những suy nghĩ, cảm giác của mình.

Mình chịu khó quay vào tâm nhìn liên tục sẽ thấy nhưng phải nhìn đúng. Một năm có rất nhiều buổi lễ, mình làm nhưng quan trọng trong tâm có nhiếp phục được những cấu nhiễm không, đó mới là việc làm của người tu, đó mới là bổn phận của người xuất gia nhưng chúng ta lại không nhiệt tâm tu học mà rất nhiệt tâm trong sự hướng ngoại. Giả sử ngày mai tổ chức lễ thì mọi người hào hứng chung tay giúp đỡ, cái này cũng là thiện pháp nhưng nó không quan trọng mà quan trọng là sự thấy biết của bậc Thánh.

Tiếp theo là lau chùi, vệ sinh, quét dọn những cấu uế, Thánh quả thứ tư là sạch mọi cấu uế. Nếu bây giờ chúng ta không biết năm uẩn là gì, không nhận diện năm uẩn thì làm sao thấy được tâm cấu uế? Không thấy tâm cấu uế thì làm sao tẩy sạch? Không tẩy sạch, lau chùi thì làm sao đi đến chỗ sạch hoàn toàn được? Một người thấy được tâm cấu uế thì người này sẽ vượt qua khỏi tri kiến của phàm phu, đối với người không thấy ngũ uẩn thì chỉ hướng ngoại, tà kiến, nghĩa là nhìn người này đúng hay sai, người này tốt hay xấu, người này phải quay quấy, nhìn món đồ đẹp hay xấu, mắc tiền hay đồ dỏm, nhìn chùa lớn chùa nhỏ, chùa giàu chùa nghèo, tất cả những cái nhìn đó là cái nhìn của tà kiến, của phàm phu, vì chưa thấy pháp nên mới nhìn như vậy.

Một người đã thấy pháp là luôn thấy tâm cấu nhiễm của mình, khi thấy được tâm cấu nhiễm thì người này suốt ngày suốt đêm, từng giây từng phút tìm mọi cách tẩy rửa tâm đó, không còn quan trọng những cái bên ngoài nữa, bao nhiêu thứ lòe loẹt của thế giới không còn quan trọng với họ nữa, cho đi Mỹ cũng không ham, tiền vàng chất đống cũng không còn thích nữa vì họ nhìn thấy những thứ đó là nguyên nhân của khổ, dính vào những thứ đó là hết tu, đó là đồ bỏ của người tu. Một người còn quan trọng vật chất thì người đó chưa thấy pháp, người thấy pháp là người quan trọng tẩy rửa tâm cấu nhiễm vì chỉ có tẩy rửa khỏi những thứ đó mới đi đến chấm dứt khổ, hết khổ.

Nếu mình là người không đủ năng lực, không đủ tầm mà mình nhận trách nhiệm trụ trì thì coi chừng mang họa, cổ nhân có câu "đức mỏng mà địa vị cao tất sẽ sinh tai họa".

Nếu quý thầy này được mời làm trưởng ban trị sự của Phật giáo quận này thì mình chỉ thấy được chức cao, đi đâu cũng được mọi người chắp tay xá, đi đâu cũng được đón rước, mình chỉ thấy được vị ngọt mà không thấy nguy hiểm tác hại trong đó, mình không biết sự xuất ly cho nên cái thấy của mình là một cái thấy nhỏ hẹp, cái thấy của mù lòa, của chột, của đui chứ không phải cái thấy toàn diện tất cả những phương diện, khía cạnh của khổ, của sự thật đời sống này nên mình say mê, mình yêu thích, khoan khoái. Mình nhìn người kia là minh tinh điện ảnh quốc tế thì thấy thích thú, sung sướng nhưng bản thân người đó có nhiều nỗi khổ đến mức tự vẫn lúc mới 26 tuổi, mình không thấy được cái khổ bao trùm trong tất cả ngũ uẩn này, mình chỉ ảo tưởng về vị ngọt chứ không thấy sự nguy hiểm và tác hại của nó, còn người trí huệ chẳng những thấy cái khổ đó mà còn thấy được nguyên nhân của khổ.

Nguyên nhân của khổ chính là tâm cấu uế, tâm ham thích những cái đó là khổ, tâm khao khát thèm muốn những cái đó là nguyên nhân của khổ, chừng nào hết thèm thì thành Thánh, còn thèm là phàm. Chúng ta còn thèm sắc, thèm thanh, thèm hương, thèm vị, thèm xúc, còn thèm muốn, còn khao khát là còn phàm, còn khổ đau, hết thèm hết muốn, tâm hoàn toàn tịch tịnh thì lúc đó an lạc, mình tu để đạt đến trạng thái đó nhưng mình lại không chịu "bây giờ không muốn gì nữa thì buồn chết", đó là suy nghĩ của phàm phu, nó sẽ cột mình trong luân hồi.

Điều quan trọng là phải nhìn ra được tâm cấu nhiễm, trong ba tuần vừa qua chúng ta có nhìn thấy được tâm cấu nhiễm này sanh khởi không? Nó vận hành, hoạt động ra sao? Chúng ta không nhìn được tâm cấu uế của mình một cách sâu sắc, chúng ta chưa nhìn được tâm cấu uế một cách đầy đủ, bên trong bản ngã chúng ta rất xảo quyệt, rất ma lanh, tinh ranh, nếu không có con mắt tròng vàng được nung luyện trong lò bát quái, không có ánh nhìn rực lửa trí tuệ như Tôn Ngộ Không là mình không nhìn ra được các pháp đang có mặt, đang vận hành, đang xâm chiếm áp đảo mình như thế nào.

Bản ngã sẽ bao biện, bao che, nó sẽ bảo vệ rất kĩ, tâm mình rất xảo biện, tức là hành thủ uẩn, lời nói lầm thầm trong tâm sẽ có nhiều lý lẽ, khi nó làm cái gì sai thì nó có nhiều lý lẽ "không sao đâu, mình cũng vì tốt cho mọi người mà, mình cũng vì công việc cho tốt", "mình làm để phụng sự chúng sanh, vì tam bảo chứ không phải làm cho mình", những lý lẽ này rất hợp lý nhưng đó là bản ngã bảo vệ cho cái tôi của mình, bảo vệ cho cái tâm cấu uế của mình, bảo vệ cho những tập khí, thói quen của mình.

Tại sao lúc giận lên không thể nói chuyện nhẹ nhàng? Vì mình bị cảm thọ sân sanh khởi, nó xâm chiếm, xô ngã mình, lúc đó chúng ta không đủ sức mạnh để nhận diện được cảm thọ sân, không đủ tỉnh táo chánh niệm để nhìn ra, thứ hai là mình không đủ định lực, niệm lực để nhiếp phục, chế ngự, thứ ba là không đủ tuệ lực để diệt nó cho nên mình chấp nhận nó, để cho nó sanh khởi, chi phối, áp đảo mình, cộng thêm tội ngụy biện, có lỗi nhưng không nhận lỗi mà còn bao biện "tôi cũng vì công chuyện chùa thôi mà", "tôi muốn tốt cho người đó". Muốn tốt cho họ thì tại sao không thể nói chuyện nhẹ nhàng, ngọt ngào? Muốn tốt tại sao không an tịnh, dễ chịu?

Muốn tốt tại sao không nói bằng tâm từ? Bây giờ đặt trường hợp người kia thương mình mà họ chửi, họ quát mình thì mình chịu thương theo kiểu đó không? Tất nhiên là không chịu rồi cho nên sự thực tập nhận diện ngũ uẩn phải thường xuyên và liên tục, trong vô lượng vô biên kiếp đến nay chúng ta nhận sắc; thọ; tưởng; hành; thức là mình vì thế bất cứ cái gì sanh khởi trong ngũ uẩn là mình nhập cuộc liền "tôi đang giận", "tôi vui quá", vậy là mình nhận thọ là mình, hành là mình, tưởng là mình, mình nhận cảm giác sân đó là mình, là của mình, là tự ngã của mình. Thế lực của những tập khí, cấu nhiễm này đã được huân tập trong vô lượng vô biên kiếp mà bây giờ tu tâm an tịnh lắng dịu chỉ mới vài tháng nhưng vẫn chưa dụng công nhiều thì làm sao chiến thắng được nó?

Khi nào có chuyện xảy ra mới tu tâm từ thì làm sao hiệu quả? Ví dụ mình và người đó không quen biết nhiều, hữu sự mình đi nhờ người ta thì họ có sốt sắng làm cho mình nhiều không? Bình thường phải có qua có lại, có tình có nghĩa thì hữu sự, chuyện quan trọng xảy ra mình nhờ họ mới được, cũng vậy, bình thường mình không nhận diện ngũ uẩn, không tu tập cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào thì đến khi sân lên kêu nó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào làm sao được. Bình thường mình không luyện tập, không có nội công thâm hậu đến khi gặp kẻ địch quá mạnh thì mới tìm dao, kiếm thì làm sao đánh thắng?

Cho nên điều quan trọng trong sự tu chúng ta là thực tập an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, mỗi ngày phải tập ít nhất 10 lần, tác ý nhắc tâm "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương", kêu cảm thọ trong lồng ngực mình như vậy, bình thường kêu như vậy thì đến khi lăng xăng kêu lên mới được, còn bình thường không kêu, đến khi lăng xăng mới kêu thì nó đâu có nghe, tâm chưa thuần thục.

Không phải vừa vào đã tu được từ vô lượng tâm, phải tu an tịnh, lắng dịu trước rồi mới tu tâm hiền. Tu tâm hiền thành tựu tương đối khá rồi bắt đầu tu tâm từ, tu tâm từ một thời gian mới tu tâm từ rộng lớn, quảng đại. Tu tâm từ rộng lớn một thời gian cho thuần thục thì mới tu được từ vô lượng tâm. Mình ngồi thiền nhắm mắt là không được nhưng vì thói quen nên ngồi là nhắm mắt để ngủ, nhắm mắt là mình đi vào si, vào tưởng, vào hôn trầm, phải mở mắt 1/3 hoặc là ½, phải đặt niệm trước mặt, phải chánh niệm trước mặt, phải rõ biết trước mặt.

Đại đa số chúng ta ngồi thiền còn mê hơn cả lúc không ngồi thiền vì ngồi nhắm mắt nên không tỉnh táo, thứ nhất là không được nhắm mắt, thứ hai là những cái đó là oan gia trái chủ của mình. Bình thường không sao nhưng có khi vừa lên pháp tòa bị con gì cắn một cái vừa ngứa vừa đau, gãi thì mất oai nghi nên phải nhiếp phục, chế ngự cảm thọ đó lại, có khi không thể chịu nổi phải đưa tay lên gãi nhẹ, mình phải biết đó là những oan gia trái chủ, nghiệp chướng, nó đòi nợ mình nên mình phải trải tâm từ với nó và diệt tâm sân hận, khó chịu để làm cho mình an tịnh, lắng dịu trong khi ngồi thiền hoặc khi đang chia sẻ pháp.

Vì thế chỉ có dùng tâm từ mới hóa giải được những oan trái trong nhiều đời nhiều kiếp của mình, mình có nhiều oan trái nhưng mình không biết, không thấy, mình chỉ nghĩ "tự nhiên lại kiếm chuyện với mình", "tự nhiên cắn tôi", "tự nhiên chích tôi", tất cả những cái đó là oan gia trái chủ nhiều đời nhiều kiếp của mình, những cái gì đến với mình một cách bất bình thường thì phải biết đó là những oan gia trái chủ, là những chủ nợ của mình.

Phải biết như vậy để quán chiếu chứ đừng vừa trả vừa vay, nợ cũ mình trả chưa xong mà đi vay thêm nợ mới, ví dụ bị con ruồi đậu lên mặt lúc ngồi thiền khó chịu quá nên mình đập cho nó chết, vậy là nợ chồng nợ oan trái đó, không phải tự nhiên nó tới, từ con người, con vật, khí hậu, thời tiết hoặc những cái vô tình như đang đứng bị gió thổi vật lạ bay vào người chảy máu, tất cả những cái đó đều phải nhiếp phục cảm thọ sân hận, khó chịu, phải trải tâm từ.

Có rất nhiều thứ mình không thể thấy hết được nhưng điều quan trọng nhất là nhiếp phục cảm thọ sân hận, khó chịu của mình, tu tập cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, hiền lành, từ ái, điều này là quan trọng nhất, cái đó mới chặn được cái nghiệp, hóa giải cái nghiệp, mới làm cho mình an ổn, không có nó thì giống như ra trận mà không có áo giáp, chạy xe mà không có nón bảo hiểm, giống như đi xe mà không có thắng. Nếu không có cảm giác an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, hiền lành trong con người mình là rất nguy hiểm, bất cứ lúc nào mình cũng có thể chết tức chết tưởi, chết oan chết ức, chết bờ chết bụi, mình có thể xảy ra tai nạn bất cứ lúc nào nếu không tu tập những cảm giác hiền thiện, ngọt ngào đó.

Có vài người nuôi sư tử, beo, cọp trong nhà làm thú cưng, có người nuôi cá sấu làm thú cưng. Con nhìn vào thấy rằng không phải chỉ có những người đó nuôi cọp, beo, sư tử mà tất cả chúng ta đều có nuôi những con đó trong tâm, có một lúc nào đó nó sẽ quay trở lại xé xác mình, đó chính là những cảm giác bất thiện, tâm cấu uế của mình.

Mình còn nuôi dưỡng những cảm xúc sân hận, bực bội, thù hằn là mình còn nuôi dưỡng những cái tâm cọp sói, mình còn nuôi dưỡng cái tâm ác độc muốn làm hại người khác là mình còn nuôi hổ mang chúa trong nhà, mình còn nuôi dưỡng tâm niệm hung hăng, hung bạo, hung tàn là mình còn nuôi cá mập, cá sấu trong chính căn nhà của mình và mình sẽ bị nó cắn bất cứ lúc nào cho nên sự tu tập là đánh đuổi những cảm giác đó ra khỏi con người mình, diệt tận những cảm giác đó hoàn toàn bằng cách tu tập những cảm thọ ngọt ngào, dễ chịu, hiền đức, hiền trí, hiền lương, hiền đức, hiền lành, muốn tu được những cảm giác này phải có sự luyện tập liên tục và thường xuyên, tác ý nhắc nhở để an trú trong cảm giác đó, để cảm giác đó lớn mạnh trong con người mình, điều này sẽ quyết định sự an lạc của mình.

./.