Chia Sẻ Lợi Ích Tu Học Nikāya
Chia Sẻ Lợi Ích Tu Học Nikāya
Tăng Ni Linh Quy Pháp Ấn
Ngày 06 tháng 09 năm 2024
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lời mở đầu PAGEREF _Toc217412164 \h 1
II. Chia sẻ lợi ích tu học PAGEREF _Toc217412165 \h 2
1. Thầy Pháp Nghĩa PAGEREF _Toc217412166 \h 2
2. Phật tử 1 PAGEREF _Toc217412167 \h 5
3. Phật tử 2 PAGEREF _Toc217412168 \h 12
4. Phật tử 3 PAGEREF _Toc217412169 \h 18
4. Phật tử 4 PAGEREF _Toc217412170 \h 21
5. Phật tử 5 PAGEREF _Toc217412171 \h 26
6. Sư thầy Thiện Huệ PAGEREF _Toc217412172 \h 30
III. Lời kết PAGEREF _Toc217412173 \h 32
I. Lời mở đầu
Đảnh lễ Đức Thế Tôn – bậc A-la-hán chánh đẳng giác.
Đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát.
Đảnh lễ bốn đôi tám chúng hiền thánh Tăng. Là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Đảnh lễ thánh giới tối thượng, đem lại bình an và hạnh phúc cho muôn loài.
Chúng con kính bạch trên sư phụ và chư tôn đức, cùng các chư vị hiền trí. Chiều hôm nay đạo tràng chúng ta có 1 buổi chia sẻ những lợi ích tu học, trong kinh tạng Nikāya. Chiều nay các giới tử, các vị nam nữ cư sĩ, chúng ta sẽ được nghe trên quý thầy, sư cô chia sẻ lợi ích. Mà quý thầy, quý sư cô đã tu học trong thời gian vừa qua cho các vị. Trong những điều mà Đức Thế Tôn dạy trong kinh “Đại Bát Niết Bàn”. Điều để làm cho chúng Tăng được cường thịnh, mà không có bị suy giảm. Một trong 7 điều đó là Đức Thế Tôn nói: “Khi nào mà chúng Tỳ-kheo thường xuyên tụ họp đông đảo với nhau, tụ họp trong niệm đoàn kết và giải tán trong niệm đoàn kết. Chúng Tỳ-kheo sẽ được cường thịnh, tức là lớn mạnh, không có suy giảm”.
Cho nên sự phụ cũng có nhắc rất là nhiều lần, trong đạo tràng chúng ta tụ họp đông đảo với nhau. Đức Thế Tôn cũng có dạy chỉ có 2 việc thôi, là im lặng đúng như chánh pháp và nói năng đúng như chánh pháp. Chúng ta gặp nhau 1 là chúng ngồi thiền, còn 2 là chúng ta học pháp, nghe pháp, chia sẻ, đàm luận, pháp đàm với nhau. Thì trong đạo tràng chúng ta sẽ được lớn mạnh, không có bị suy giảm. Sự gặp gỡ, sự nghe, sự thấy của chúng ta trong giờ phút này, là sự gặp gỡ tối thượng, sự nghe tối thượng trên tất cả sự nghe, sự thấy. Đó là chúng ta nghe Như Lai, và đệ tử Như Lai nói pháp, đây là 1 trong 6 pháp tối thượng. Một điều nghe mà trên tất cả các điều nghe, ở trên thế gian.
Tại vì khi chúng ta nghe tất cả những tiếng bên ngoài, thì nó đưa đến toàn là những tham, sân, si, bản ngã. Khi chúng ta yết kiến, gặp gỡ, lắng nghe Như Lai và đệ tử của Như Lai nói pháp. Chúng ta sẽ đi đến chỗ ly tham, bớt tham, sân, si, bớt khổ, giảm khổ. Chúng ta sẽ đi đến con đường an vui và hạnh phúc. Bằng chứng là trong tuần lễ khóa tu vừa qua, các giới tử và quý Phật tử có cảm nhận được điều này không? Trong tuần lế vừa qua chúng ta nghe Như Lai nói pháp, nghe đệ tử của Như Lai nói pháp, chúng ta hưởng được những niềm vui, niềm hạnh phúc, tịnh lạc của đời sống viễn ly. Giúp chúng ta hướng đến chỗ nhàm chán, ly tham, từ bỏ, giảm bớt tham, sân, si, bản ngã. Đó là sự gặp gỡ tối thượng, trên tất cả sự gặp gỡ.
“Kính lễ và hạ mình
Yết kiến các Sa môn
Đúng thời đàm luận pháp
Là điềm lành tối thượng”
Vào giờ này con cung thỉnh quý thầy, quý sư cô chúng ta chia sẻ những lợi ích tu học, trong kinh tạng Nikāya. Để cho toàn thể đạo tràng chúng ta hân hoan, hoan hỉ, trong đời sống tu học.
II. Chia sẻ lợi ích tu học
1. Thầy Pháp Nghĩa
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con cung kính trên sư phụ.
Con cung kính trên chư tôn đức Tăng, chư tôn đức Ni, cùng các chư hiền trí.
Nhân duyên hôm nay được trên sư phụ cho phép, vì lòng thương tưởng, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh. Đã cho phép đệ tử con chia sẻ lợi ích tu học, mà con đã thực hành thời gian qua với đại chúng. Kính thưa đại chúng, đệ tử con cũng mới được sư phụ thương tưởng, cho xuất gia thời gian gần đây. Con cũng chưa thọ nhận được nhiều pháp, nhưng bản thân con đã thấy mình được rất nhiều lợi ích. Từ việc tu học, thực hành theo lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya. Ngày đầu tiên con vào chùa, con cũng giống như nhiều vị Phật tử mới lên núi tu lần đầu. Có những thắc mắc, có những nghi ngờ về đường lối, dòng pháp mà mình định hướng muốn tu học.
Nhưng lúc đó con quay lại và tự hỏi: “Mình đang là ai? Mình có hiểu biết gì chưa? Mà mình có thể nhận biết được đó là dòng pháp chân chánh, dòng pháp tối thượng để mình theo đuổi”. Cho nên lúc đó con luôn an trú là 1 người đi học, 1 người mong muốn tầm cầu chánh pháp. Với tâm của 1 người vô minh, ngu si, mong muốn được ánh sáng trí tuệ chiếu soi. Cho nên lúc đó con chỉ nghe pháp, và thực hành, nghe theo nhữn lời chỉ dạy của sư phụ, và hầu như không có những ý kiến gì nhiều. Đối với con sau khi thực hành 1 thời gian, con thấy con được lợi ích rất nhiều. Đó là được hưởng đời sống nhiều hỷ lạc, niềm niềm an vui, bớt đau khổ, bớt sầu bi, ưu não.
Và dần dần tránh xa được những tham muốn, của đời sống của thế tục, mà trước đây con từng bị cuốn vào. Như các vị ở đây cũng đã được trên sư phụ, cùng quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô chia sẻ rất nhiều. Thì trước tiên 1 người muốn bước vào dòng pháp này, trước tiên phải thực hành được tâm hiền và diệt ngã. Đó là 2 pháp bắt buộc, mà người muốn theo dòng pháp Nikāya này phải có được những thành tựu nhất định, có được những sự tu học nhất định. Cũng như sư phụ đã giảng trong 1 số bài, ta không thể mang 1 cái tâm của người muốn dạy bảo, của 1 người thầy mà muốn đi học pháp, ta không thể rót vào 1 ly nước đã đầy. Cũng như mặt trời không thể chiếu vào những cái cây, mà nó được 1 cái chậu úp lên trên.
Cũng vậy, người đi học pháp cầu đạo, thì với 1 cái tâm rộng mở, mong muốn được học hỏi, và từ bỏ những chấp thủ mà trước đây mình đã được lãnh hội. Thì mới có thể tu học được dòng pháp này. Trong bài đảnh lễ ngài Xá Lợi Phất cũng đã hướng dẫn:
“Hôm nay con xin nguyện tập tâm hiền
Hiền lành lắng dịu chẳng phiền ai
Dễ chịu, dễ thương và dễ mến.
Dễ bảo, dễ nghe pháp thánh hiền”
Rồi cũng vậy, khi đi học ta không thể là 1 người mang bản ngã to lớn. Để học được pháp của thánh hiền, chỉ có những cái tâm khiêm cung, khiêm hạ như sư phụ chỉ dạy. Lấy chỗ cao nhất của mình, đặt ở chỗ thấp nhất của người, thì lúc đó ta mới đủ để lãnh hội giáo pháp của Đức Thế Tôn. Nhiều khi chúng ta đi tìm ai là người làm khổ mình, ai là người giết mình. Như các chư hiền trí đã được nghe sư phụ sáng nay, cho thiền quán về bản ngã. Không ai làm khổ mình, chỉ có khổ hiện hữu khổ đang hiện hữu. Và cũng không có ai, không có người nào giết mình. Mà chính cái bản ngã to lớn này đã giết mình, từ vô lượng kiếp vừa qua.
Sáng nay trong lúc thiền quán, con cũng nghe thấy âm thanh của những con chó. Lúc đầu nó cải nhau, sau đó nó khóc, nó đánh nhau. Con thấy trước đây mình cũng như vậy, chính cái bản ngã của mình đã làm khổ mình, khổ người. Như sư phụ đã nói, khi cái bản ngã này lên ngôi thì không còn cha con, không còn mẹ con, không còn huynh đệ, không còn thầy trò gì nữa, mà lúc đó chỉ thấy có cái bản ngã to lớn. Chính vì vậy cho nên từ khi học dòng pháp này, con lúc nào cũng luôn để ý tới cái bản ngã của mình. Tuy nó vẫn còn dâng cao, vẫn còn mạnh mẽ, nhưng cũng phần nào nhờ sự tu học thánh trí, con đã làm cho nó bé lại hơn hồi trước.
Con đã thấy nó hiện diện, con cũng đã biết chế ngự nó phần nào. Và điều cuối cùng con muốn chia sẻ đến đại chúng, là về thánh trí ngũ uẩn. Con chỉ biết nói đến giờ này thật là may mắn, phước báu cho con vì đã có đủ nhân duyên thù thắng, để biết đến thánh trí ngũ uẩn tối thượng này. Hôm qua con có nhân duyên đi qua thư viện, cũng có 1 huynh đệ có hỏi con: “Dạ thưa thầy, con thấy tu dòng pháp này làm sao nó cứ cảm xúc, nó cứ như là đời thường vậy, cũng khóc, cũng buồn”. Con có nói với huynh đệ đó thực ra sự tu của mỗi người chúng ta, như sư phụ có nói là sự nhìn nhận lại lỗi lầm của mình, và sửa lại lỗi lầm của mình.
Cũng giống như trong đời sống này, ta khổ đau ở đâu, thì ta phải đứng dậy ở đó. Không phải là ta tránh nó, né nó, mà tìm được bình an, an ổn cho mình. Cái đống rác trong nhà mình không quét dọn, không lau chùi, thì nó còn nguyên đống rác đó, không mất đi được. Vì vậy, người tu theo dòng pháp Nikāya, là phải đối mặt với những thực tại, chướng ngại trong đời sống hằng ngày. Không phải là mình xa lánh, mình tìm nơi yên ổn, bình yên, để mong được sự bình an, tốt đẹp, hướng thượng. Thì dòng pháp về thánh trí ngũ uẩn, có chỉ ra cho chúng ta rất nhiều cách rất rõ ràng. Đó là nguyên nhân của sự khổ đau, trong đời sống này.
Cái mấu chốt, cái chìa khóa chính là cái cảm giác, hình bóng, những suy nghĩ, nhận thức. Chính những cái đó làm cho chúng ta đau khổ, chúng ta sẽ tu tập ngay tại chỗ đó. Ngay tại những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, sự rõ biết. Trên đây là 1 số chia sẻ của con, với sự học hỏi còn mới mẻ. Và với sự tu tập chưa được đầy đủ, con trong lúc trình pháp, con có những lỗi lầm, những bản ngã. Kính mong chư tôn đức Tăng, chư tôn đức Ni cùng các chư hiền trí từ bi chỉ dạy thêm cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
2. Phật tử 1
“Con kính bạch trên sư phụ, kính thưa trên chư tôn đức Tăng Ni, cùng toàn thể đại chúng hiền trí. Được sự cho phép trên sư phụ, cũng như trên quý thầy và toàn thể đại chúng. Hôm nay con xin chia sẻ 1 số lợi ích trong quá trình con tu học, với chủ đề được mang tên là “Sư vi diệu của chánh pháp”. Trước khi con chia sẻ lợi ích tu học, thì con sẽ mong mọi người hoan hỉ làm dùm cho con bài tập như sau. Đầu tiên mọi người quay lại cảm giác toàn thân, nhìn xuống ở phía dưới. Bắt đầu mình để ý cảm thọ bên trong của mình, bây giờ quý vị nhìn ở dưới nền đất và xem xét lại cảm thọ của mình hiện tại khi nhìn nền đất này như thế nào, trong 3 loại cảm thọ.
Rồi bây giờ mọi người để ý cảm thọ đó nha, rồi bây giờ mọi người bắt đầu nhìn lên chư tôn đức, và cũng tiếp tục nhìn lại cảm thọ của mình. Rồi cuối cùng chúng ta nhìn lên trên tượng của Đức Bổn Sư, và cũng tiếp tục nhìn lên cảm thọ của mình. Khi mà mình 3 lần như vậy, mình có thấy cảm thọ của mình thay đổi không? Có thấy thay đổi không ạ? Vấn đề ở đây nghĩa là trước đây chúng ta chưa có sự tu học vào trong chánh pháp, khi 1 người bình thường khi nói về chữ vô thường. Người nghĩ là sanh rồi phải già và chết, trong đầu mình thực sự hiểu như vậy. Nhưng thực sự không hiểu được chữ vô thường, nghĩa là gì. Khi mình tu tập theo dòng pháp này, ngay hiện tại, pháp thiết thực hiện tại nghĩa là ngay khi chúng ta vừa nhìn ở dưới mặt đất là cảm thọ khác.
Khi chúng ta nhìn lên chư tôn đức là 1 cảm thọ khác. Và khi chúng ta nhìn lên trên Đức Bổn Sư, là 1 cảm thọ khác. Nếu chúng ta có 1 sự để ý, chúng ta sẽ thấy rằng cảm thọ của chúng ta thay đổi liên tục, đó được gọi là sự vô thường trong cảm giác của mình. Nếu thực sự mình có sự nhìn nhận, và đây là 1 sự vi diệu. Nếu như mình có 1 sự nhận diện ngũ uẩn, mình sẽ thấy được sự vô thường trong từng cảm giác của mình. Cũng như những hình bóng khác, những suy nghĩ, hay những cái rõ biết trong tự thân của mình. Đây là điều mà con nghĩ rằng nó thật sự là vi diệu đối với con, khi con nhận diện ngũ uẩn.
Nếu trước đây khi mình có 1 cảm thọ sanh khởi, thì mình thường nghĩ rằng mình có cảm thọ như thế này, cảm thọ của mình như thế này, và không 1 ai được đụng vào cảm thọ này của mình. Nhưng khi mình có 1 sự tu tập nhận diện ngũ uẩn, thì đầu tiên khi chúng ta bước vào dòng pháp này, chúng ta học thật sự đó chính là nhận diện thân tâm của mình. Khi chúng ta thấy được rằng mình đang có cảm giác vui, cảm giác buồn hay cảm giác bình thường. Thì dòng pháp này cho chúng ta thấy được rằng, cảm giác đó chỉ là cảm thọ. Và những cái hình bóng mà mình nghĩ rằng tôi đang nghĩ về người này, tôi đang nghĩ về người kia.
Thì những hình bóng đó cho chúng ta thấy được rằng đó chỉ là 1 cái tưởng, và không có 1 cái gì gọi là mình nằm ở trong tất cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức cả. Cho nên rằng khi mình tu học dòng pháp này, mình sẽ thấy được rằng nhiều thú vị, nhiều sự hạnh phúc. Nếu như mình thật sự chú tâm, cố gắng tu tập, học hỏi trong dòng pháp này. Con nhớ có 1 bài kinh mà con đã từng đọc, con nghĩ ngày hôm nay có những vị hiền trí rất là mới, thành ra con không có dám nói sâu vào 1 vấn đề nào cả. Con chỉ dám nói những vấn đề hết sức là đơn giản, cho mọi người dễ hiểu. Có 1 bài kinh mà con từng đọc qua, bài kinh đó Đức Phật nói như thế này:
“Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đối với 1 cái thân do đất, nước, gió, lửa tạo thành này, kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán. Nhưng đối với tâm này, ý này, thức này, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể ly tham và không đủ để có thể giải thoát”. Có nghĩa là khi chúng ta tu tập trong dòng pháp này, hoặc là trước đây chúng ta chưa có sự nhận diện hoặc là chưa có sự đi vào trong chánh pháp. Chúng ta vẫn có 1 sự nhìn nhận lại tự thân của mình, và mình khởi lên 1 sự không có sự là mình biết cái thân mình là khổ, mình không hề yêu thích cái thân này. Tại vì cái thân này cũng là bệnh tật, là vô thường thế này thế kia.
Nhưng chúng ta chỉ nhìn được 1 khía cạnh, 1 sắc pháp thôi, tại vì thân chính là sắc do tứ đại tạo thành. Và khi chúng ta tu tập trong dòng pháp này, chính dòng pháp này chỉ cho chúng ta thấy được rằng thế nào là tâm, là ý, là thức trong chính tự thân này. Khi chúng ta thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nghĩa là chúng ta thấy được rằng cái thân này chỉ cấu tạo bởi 5 phần, không tìm đâu ra được cái tên của mình, hay 1 cái ngã nào nằm trong ngũ uẩn này cả. Đó chính là sự vi diệu, sự thù thắng của dòng pháp này. Và khi chúng ta tu học trong dòng pháp này, khi nhận diện được ngũ uẩn rồi, chúng ta sẽ hiểu được rằng khi chúng ta có 1 cảm giác sanh khởi, chúng ta có 1 cảm giác khổ, thống khổ sanh khởi trong tự thân của mình.
Chúng ta biết được rằng đây chỉ là 1 cảm thọ, và cảm thọ này là vô thường, và cảm thọ này không phải là mình. Chúng ta có 1 sự tác ý như vậy, chúng ta không có 1 sự đau khổ nhiều. Khi những cảm giác hay khi chúng ta đối duyên xúc cảnh, những cảm giác, những suy nghĩ, những hình bóng nào đó sanh khởi mình không có sự đau buồn. Nhưng phải là 1 sự thực hành, nghĩa là khi vị các vị vào đây các vị phải thực hành được những cái này. Thì các vị mới thấy được sự vi diệu, của những điều mà con đã vừa mới nói. Và con nghĩ rằng đối với con và đối với dong pháp này, khi mình hiểu được những gì đang sanh khởi trong tự thân của mình.
Và khi mình nhìn vào trong bất kỳ 1 đối phương nào đó đang nhìn, mình thấy họ hành xử như vậy, có 1 tập khí như vậy. Thì mình biết được rằng đó chỉ là những thọ, tưởng, hành nó đang hoạt động mà thôi. Có nghĩa là khi mình có 1 sự thực hành, nhìn nhận lại thọ, tưởng, hành trong tự thân của mình. Thì đối với con mắt trí tuệ của mình, mình mới có thể nhìn được đối phương đó bằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chứ không phải là 1 con người nữa. Thí dụ khi con có 1 lời nói nào đó không có hài lòng với mình, hoặc người nào đó xử sự không hoàn toàn đúng. Có nghĩa là theo phương diện người đó là làm hoàn toàn sai, và mình là đúng. Nhưng khi nhìn lại chẳng có gì sai hay đúng gì ở đây cả.
Mình đi tìm cái đúng, cái sai gì trên cuộc đời này. Khi mình đã bước chân vào dòng pháp này tu tập, mình muốn tìm tới 1 con đường hướng thượng, thì mình phải thực sự nhìn ra được như vậy. Tức là mình nhìn tất cả đều là pháp, mình không nhìn đó là con người. Tại vì nếu khi mình nhìn người đó là người thân, hoặc là 1 người ghét, hoặc là người không thực sự yêu thích đối với mình. Thì khi mình xử sự thì mình sẽ xử sự theo 2 cái lập trình, đó chính là thương và ghét. Nếu người đó là 1 người thân ái với mình, mình sẽ xử sự theo hướng người đó nhiều hơn. Nếu là 1 người mình không yêu thích, mình sẽ xử sự theo hướng mình sẽ tìm cái lỗi của người đó nhiều hơn.
Khi mình nhìn ra được điều đó, mình sẽ có sự cảm thông người rất là nhiều. Cảm thông là như thế này, con nghĩ rằng trong cuộc đời của con có nhiều nhân duyên tụ họp lại, làm cho con có 1 cái duyên với cái pháp, và hiểu được chữ khổ trên cuộc đời này. Nghĩa là những vị lớn tuổi, có thể con sẽ không thấm nỗi khổ như các vị. Con nhìn lại quãng đời khi con từ nhỏ, cho đến lớn, đến khi con gặp dòng pháp này, con mới hiểu được sự khổ là như thế nào. Đó chính là khi con còn nhỏ, với 1 gia đình có thể gọi là có điều kiện. Nhưng khi con nhìn vào trong đó, trước mắt con vào năm 6, 7 tuổi gì đó, thì cha mẹ con cãi nhau, thì con thấy trên cuộc đời này có cái gì gọi là hạnh phúc.
Có nghĩa là khi con nhìn lại, con nhớ lại, con nhìn thấy cảnh cha mẹ mình cãi nhau mỗi ngày. Cho dù lúc đó cũng gọi là gia đình có điều kiện, và trải qua 1 vấn đề là mình bị người khác xâm hại tự thân này là 1 điều. Nhìn thấy cha mẹ của mình cãi nhau mỗi ngày như vậy, khi bắt đầu mình lớn lên tầm 10, 11 tuổi mình đi đến chùa, mình hiểu được Phật pháp. Bắt đầu mình gặp được 1 nhân duyên, để cho mình xuất gia tu học. Nhưng tu học được rồi mình cảm thấy được rằng càng ngày, cái bản ngã của mình càng lớn lên như vậy. Tại sao người ta nói mình 1 câu, là mình lại sân giận với 1 hình tướng là 1 người xuất gia. Tại sao mình lại có cái tâm độc ác như thế này, mình nhìn lại tự thân của mình.
Rồi mình ở chùa mười mấy năm như vậy, và mình cũng không cảm thấy lợi íc gì cả. Mình thấy mình có 1 sự thống khổ, khi mình có những tham, sân, si trong tự thân của mình. Rồi lớn hơn chút nữa là 19, 20 tuổi, thì mình muốn đi tìm hiểu bên ngoài, tìm hiểu những nơi khác xem con người có thay đổi không hay con người sẽ như thế này. Khi mình đi hết nước này tới nước nọ, thì mình thấy được tất cả mọi người cũng đều là như vậy. Cùng lắm thì sự hiện đại của họ, làm cho phát triển về tư duy. Nhưng thực sự bản chất về tập khí, dục ái của họ thì vẫn là như vậy. Và cho đến 1 ngày, sự dồn nén trong tự thân làm cho mình bị trầm cảm.
Cái sự trầm cảm của con nghĩ là khoảng 10 năm, con không thể nào bộc lộ được tất cả cảm xúc của con ra bên ngoài. Con cảm thấy rất khó chịu, khi con nhìn thấy 1 người nào đó, hoặc khi người nào đó nói gì với con. Con cảm thấy rằng con không giải tỏa được tự thân của mình. Và đến 1 ngày con nghĩ rằng mình không còn muốn sống được nữa, đối với cuộc đời này. Nhân duyên đưa đẩy con gặp được dòng pháp này, khi con nghe được chánh pháp này, cái đầu tiên là con nhìn ra được cái cảm thọ của mình. Con bắt đầu tự khai mở cảm thọ của mình ra, con hiểu được rằng trầm cảm là cảm xúc, trầm là bị chìm. Tức là cảm xúc bị chìm đắm, nghĩa là mình bị cảm thọ đau khổ đó nhấn chìm mình, mà mình không thể nào thoát ra được.
Khi con hiểu được điều đó, tự con thoát ra khỏi cảm xúc đó. Con hiểu được rằng thì ra đây chính là cảm thọ. Tiếp tục lúc đó con nhìn nhận lại thấy được bản ngã của mình, thấy được những tham sân si, thấy được những dục ái của mình. Mình khởi lên 1 sự thương xót mình vô cùng. Thương xót ở đây là mình bị những tham dục, những sân hận, bản ngã nó nhấn chìm mình. Có nghĩa là khi các vị có những cơn sân, hoặc là các vị khởi lên dục ái nào đó, thì các vị sẽ thấy những cái đó nó sẽ nhấn chìm mình thế nào. Thì cái cảm giác lúc đó con hiểu được cái điều đó là như vậy. Khi con hiểu được rằng, thì lúc đó con mới bậc khóc lên. Mình bậc khóc ở đây, là mình thấy mình thương mình thật nhiều.
Mình thương mình tại sao sanh ra trên cuộc đời này, mình phải chịu đựng những điều này. Khi con nghe được pháp, con hiểu được pháp, con học được pháp, con thực hành được pháp. Thì con hiểu được rằng bởi vì do có cái thân này, thì sự đau khổ đã bắt đầu nảy nở trong chính cái thân này. Khi con hiểu được điều đó, đầu tiên con đó chính là lòng cảm thông của con đối với người. Có nghĩa là khi mà khi một người nào đó hành xử như vậy, đối xử những điều không tốt đối với mình như vậy, mình sẵn sàng có thể tha thứ được cho họ. Bởi vì mình hiểu được cảm giác mà họ bị dục, bị sân chi phối là như thế nào. Đó chính là lý do mà khi con đối với người mà học đã xâm hại con, có nghĩa là mình nghĩ rằng mình không thể nào tha thứ được cho họ.
Nhưng khi mình nhìn họ, cái đầu tiên là mình cảm thấy thương họ vô cùng. Thương ở đây là khi mình lớn lên với những tập khí về dục của mình, được sanh sôi nảy nở, mà mình không thể nào kìm chế được. Thì làm sao 1 người không có sự tu tập, họ có thể kìm chế được dục vọng của họ. Mình có thể tha thứ được cho họ, tha thứ được sự sân giận, hoặc là cho những sự tức giận, hiềm hận của mình. Khi con tha thứ được như vậy, thì đầu tiên là con quỳ xuống con xin lỗi họ. Mình hiểu được rằng, tất cả những cái này là nghiệp của quá khứ. Có thể các vị nghĩ rằng trên cuộc đời này đều có luật pháp, hay là thế này thế kia. Nhưng con nghĩ rằng bây giờ mìh nhờ luật pháp hay gì đó, thì sự đau khổ nó vẫn ở trong mình, luật pháp chỉ làm vơi nhẹ điều đó.
Mình là người tu, mình phải làm như thế nào đó, mà thân tâm của mình trở nên hoàn toàn dịu lại, những cái sự đau khổ ngay trong chính tự thân này. Con đã từng suy nghĩ như vậy, và con đã thực hành được điều đó. Và con nghĩ khi mình thực hành được những điều này, mình cảm thấy tất cả những lời nói mà người ta có sĩ nhiếc, sỉ vả, mắng nhiếc mình nhiều khi thế nào đi chẳng nữa. Thì đối với mình những điều này hết sức là bình thường. Con nói ở đây không phải cho mọi người thấy điều này là hay. Mà con nói ở đây có nghĩa rằng con đã thực hành được 1 đôi phần nào đó, trong chính tự thân của mình.
Con hiểu được rằng khi con bước chân vào dòng pháp này tu học, con thường hay suy nghĩ tất cả những người mình gặp như con gặp tất cả các vị ngày hôm nay. Tất cả các vị lắng nghe điều con nói, và con nghĩ rằng chúng ta điều có nhân duyên nhiều đời, nhiều kiếp trong dòng sanh tử luân hồi này. Không phải là mình gặp nhau đây rồi lại hết, mà khi chúng ta gặp nhau ở đây, có nghĩa trong dòng luân hồi sanh tử này tất cả các vị từng là cha, là mẹ, là người thân của con rất là nhiều. Ngày hôm nay khi chúng ta gặp lại nhau ở đây, cũng chỉ là những người xa lạ trên cuộc đời này, và đó là điều cay đắng con nhìn ra được.
Con hiểu được rằng trong dòng pháp này, khi mình có 1 sự tu tập sắc vào trong dòng pháp này. Mình sẽ thấy được rằng dòng pháp này thực sự là vi diệu, và mình thấy khó khăn vô cùng là cái mình gặp được chánh pháp này. Con nhớ lại có 1 lần thầy Pháp Lực đọc 1 bài kinh, mà con nghe con rất là xúc động, đó chính là Đức Phật nói rằng: “Các ông được làm người rất là khó, được Đức Thế Tôn ra đời lại càng khó hơn. Pháp và luật do Đức Thế Tôn thuyết giảng không có được chiếu sáng trên cuộc đời này”. Có nghĩa là gặp nó rất là khó khăn, Đức Thế Tôn nói tiếp: “Cũng vậy này các Tỳ-kheo, các ông được làm người, được gặp Đức Như Lai, được pháp và luật của Đức Như Lai thuyết giảng đang chói sáng trên cuộc đời này”.
Có nghĩa là ngay tại lúc này, chúng ta đang được gặp nhau, được làm người, và được luật và pháp của Đức Như Lai thuyết giảng thực sự đang chói sáng trong đạo tràng này. Con nói vậy mọi người ở đây có ai hoan hỉ không ạ? Khi con hiểu được, thực hành được sự thông cảm. Mình thông cảm có nghĩa là mình hiểu được tập khí của mình, hiểu được sự khó khăn trong sự tu tập của mình. Thì mình không có sự khó chịu, đối với những người khác bên ngoài. Bản thân của con thường có suy nghĩ trước khi vào dòng pháp này, là những người lớn tuổi mình coi đó là cha mẹ của mình. Bởi vì 1 ngày nào đó cha mẹ của mình sẽ đi xuất gia.
Mà bây giờ mình đối sự với họ không được thiện cảm, không được tốt đẹp. Thì sau này chắc chắn cha mẹ mình sẽ bị lại những điều đó, và mình không muốn cha mẹ của mình bị những điều đó. Đối với những vị nhỏ tuổi, mình suy nghĩ không có muốn chèn ép họ, không có muốn làm khó họ. Bởi vì mình không muốn họ gặp lại con đường trước đây, mà mình đã từng. Mình đối với họ bằng 1 tình thường, sự thông cảm vô cùng. Cho dù thỉnh thoảng có những điều họ làm trái ý, nghịch lòng mình thật. Rồi mình nhồi mình suy nghĩ, mình có thể tha thứ cho họ một cách hoàn toàn. Con nhớ lại có 1 lần, sự phu đã từng nói, từng chia sẻ với chúng con như thế này:
“Thật sự bản thân của con khi con vào dòng pháp này, con bị người ta quay lưng lại rất là nhiều, con bị người ta sỉ nhục, sỉ vả rất là nhiều. Nhưng mà rồi con nhìn lại, con thấy rằng không có 1 cái ta nào ở đây cả”. Lời nói đó của sư phụ, đã làm cho con hoàn toàn có 1 sự hoan hỉ vô cùng. Hoan hỉ ở đây có nghĩa là khi ngài có 1 sự thực hành chánh pháp, có 1 sự hiểu pháp. Ngài nói với con là nhiều người chửi sư phụ rất là nhiều, có những người đã quay lưng, có những người nói sư phụ rất là nặng lời. Nhưng chính bởi vì sư phụ nhìn ra rằng, không có 1 cái ta nào ở trong thân tứ đại này cả. Thành ra không có đâu buồn, có nghĩa là không có người nào đang chửi tôi, và chỉ là 1 ngũ uẩn đang nói 1 tập khí nó như vậy thôi.
Khi mình nhìn ra được như vậy, con hiểu được điều đó, và con thấy rằng đúng thật sự là như vậy. Có nghĩa là sau 1 thời gian mình tu tập, phải có 1 sự thực hành, mình nhìn, mình đối diện với 1 người nào đó với 1 danh xưng như vậy, với thọ, tưởng, hành, thức như vậy. Mình sẽ thấy được trong con mắt trí tuệ của mình đó là cảm giác đang khởi lên, 1 hình bóng đang sanh khởi và 1 suy nghĩ đang nói lên. Hoàn toàn không có 1 người nào nằm ở trong đó cả, thì lúc đó mình mới thực sự được hiểu là thế nào là ngũ uẩn. Chỉ có như vậy, thì mình mới có thể dấng thân sâu vào dòng pháp này. Cho nên Đức Phật đã từng nói: “Này các Tỳ-kheo, Ta không có tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Người nói pháp không có tranh luận với bất cứ 1 ai ở đời”.
Khi mà mình hiểu được pháp này, mình có đi hết toàn bộ thế giới này đi chăng nữa. Thì thế giới này vẫn nằm gọn trong chữ “sắc”, mà Đức Thế Tôn đã trình bày. Mình hiểu được rằng, mình khởi lên lòng biết ơn đối với Đức Thế Tôn vô cùng. Bởi vì 1 thế giới bao la, rộng lớn như vậy, mà Ngài có thể đem lại, gom nó trở lại thành 1 mối. Để cho chúng ta thấy được rằng đây chỉ là sắc pháp mà thôi. Thấy được điều đó, cho nên người nào đó đi đến chất vấn Ngài, hay đòi hỏi Ngài điều gì. Ngài vẫn hiểu được rằng đó là pháp đang vận hành, và mình không muốn tranh đua với những với pháp này nữa. Đó là sự vi diệu của chánh pháp này, mà ngày hôm nay con muốn gửi đến cho tất cả các vị hiền trí ở nơi đây.”
3. Phật tử 2
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính trên sư phụ, kính trên quý thầy, kính trên Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Được sự thương tưởng trên sư phụ, đã cho chúng con ngày hôm nay được ngồi lại với nhau, chia sẻ lợi ích trong việc tu học kinh Nikāya. Con xin chia sẻ lợi ích tu học trong thời gian qua của con, đó chính là việc nhiếp phục bản ngã. Trong thời gian qua, con ngồi con nhìn lại những nguyên nhân nào nó làm cho con phiền não nhất. Trước đây thì con ở đời và khi đi tu, những nguyên nhân nào nó làm cho mình dễ tạo nghiệp nhất, làm phiền cho người khác nhất. Con ngồi con chiêm nghiệm lại, con mới thấy những lúc bản ngã mình phát sanh, thì lúc đó mình thấy mình bị phiền não nhiều nhất. Và lúc đó mình dễ tạo nghiệp, và tạo nhiều phiền não cho mọi người.
Khi con thấy sự nguy hiểm của bản ngã này làm khổ mình khổ người. Con ngồi chiêm nghiệm lại những lúc nào, những nguyên nhân nào làm cho bản ngã nó sanh khởi, làm khổ mình khổ người. Chiêm nghiệm lại 1 lần nữa, con mới thấy sự nguy hiểm của cái thức này. Chính do mình tự cho mình biết nhiều, nên mình cứ hay cho đúng cho sai, rồi mình tranh cãi. Thô thì mình nói ra tranh cãi với người khác, còn tế là mình thấy ai sai thì trong ý hành đó khó chịu trong tâm. Nó chỉ trích, nó nói: “Như vậy cũng đúng”, rồi tự nhiên lại đem phiền não về mình. Con thấy chính cái thức này nó nguy hiểm, những mà lâu ngày nuôi cái thức, cứ chấp vào cái đúng cái sai. Con thấy chính bản thân con cũng vậy, từ nhỏ rất là bình an, ai nói gì cũng nghe, đời sống rất là thoải mái, vui vẻ.
Khi lớn lên 1 chút được học hành, rồi bắt đầu khi cha mẹ nói là phản ứng, cãi lại cha mẹ. Trong cuộc sống cũng vậy, khi đi làm, hay là chơi với bạn bè, thì khi cho mình là đúng thì lúc nào cũng sừng mang, trợn mắt lên bảo vệ cái đúng của mình. Nhưng khi con đi tu, con nghiệm lại thì con thấy mình bị cái thức nó lừa, đúng sai để làm cái gì. Con chiêm nghiệm lại thì cái thức đúng là trò ảo thuật, vì trong kinh Đức Phật cũng dạy thức là trò ảo thuật. Con chiêm nghiệm lại những lúc khi mà ai đó chỉ trích hay nói về mình, nhưng mà cái cho là sai thì rất là dễ nhiếp phục, nó tác ý rất là dễ nhiếp phục. Nhưng mà khi ai nói mình mà mình cho mình là đúng, thì cái thọ tưởng hành nó sân si, nó bung, nó trào lên rất là mạnh.
Trong kinh Đức Phật dạy: “Vô mình duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc”. Danh sắc chính là thọ, tưởng, tư, xúc tác ý, hay nói ngắn gọn là sắc, thọ, tưởng, hành. Thì chính thức nó sinh ra thọ, tưởng, hành, nên chính khi mình chấp vào cái thức cho mình là đúng, thì thọ tưởng hành co cớ bám vào. Những cảm giác sân si nó khởi lên, những cái suy nghĩ nó chạy theo những cảm giác sân si đó. Và nói ra những lời nói làm người khác tổn thương, mà nặng hơn là hành động. Vì có suy nghĩ mới có lời nói, mới có ra hành động. Vậy kẻ đầu sỏ sinh ra chuyện, đó chính là cái thức. Và con chiêm nghiệm lại thì con thấy cái thức này là kẻ lừa đảo thôi, vì cái thức này đó không có đúng.
Cũng như con chiêm nghiệm con số 6, người đứng bên này thì nói là con số 6, người bên kia thì nhìn góc kia lại nói là số 9, vậy khi cãi nhau thì ai đúng ai sai? Cũng như mình kêu là mình biết, nhưng đơn giản từ mình đang ngồi hay là đang di chuyển? Câu hỏi đó mình vẫn không trả lời được. Nếu như mình nói mình đang ngồi, thì so với Văn Thủy Đường, so với mọi người là mình đang ngồi. Nhưng mà thật ra trái đất đang quay, thì mình cũng đang quay, vậy mình là đang ngồi hay đang quay. Thì cả 2 cái đều đúng, nhưng trường hợp nào so với trái đất là mình đang quay, nhưng mà so với không gian này thì mình đang ngồi. Con thấy cái thức này chính những cái biết càng nhiều, nó dẫn tới tham, sân, si, phiền não càng nhiều.
Nhưng mà tại sao mình lại ôm những cái thức đó, để đưa đến tham, sân, si, phiền não vậy? Trong kinh Đức Phật có dạy thân này là khổ, sao mình không biết thân này là khổ. Rồi cái lỗ tai là khổ, tiếng là khổ, sự nghe này là khổ, rồi cảm thọ này là khổ. Đức Phật dạy như vậy, mà sao cái thức mình không biết đây là khổ, đây là ngũ uẩn. Sư phụ nói cả trăm, cả ngàn lần không có ai ở đây hết, đây là ngũ uẩn, đây là tứ đại, thì đó là sự thật. Nhưng tại sao mình không thấy, mình không biết đây là ngũ uẩn, không có ai ở đây cả, chỉ là bộ xương, chỉ là tứ đại. Mà cứ biết rằng người kia sai mình đúng, để đưa đến tham, sân, si, phiền não. Khi con chiêm nghiệm lại, con thấy cái thức này thật là ngu ngốc, nó chỉ biết giây phút hiện tại.
Hôm nay người kia làm sai, vu oan, hay chỉ trích nói oan nói xấu mình nhưng những cái trước thì nó không có biết. Đơn giản thôi mọi người tự nhìn nhận lại, bây giờ hôm nay mình mới biết ngũ uẩn, nhìn nhận lại ngũ uẩn thì đỡ 1 chút. Nhưng mà trước đây, những năm về trước khi chưa được học ngũ uẩn thì như thế nào. Đâu có biết cảm thọ, đâu có biết tưởng và hành đâu. Mà ngồi lại thì chính bản thân con có ba mươi mấy tuổi thôi, nhưng mà con nhìn nhận lại thì tội nghiệp mình gây ra rất là nhiều. Khi những lúc sân giận lên thì thật là tham lam, tạo nghiệp rất là nhiều. Hoặc bây giờ đi tu thì ăn chay, còn trước đây thì đi nhậu, rồi ăn nhưng sanh mạng chúng sanh thì ai đúng ai sai.
Rồi mình sát hại mạng của chúng sanh, rồi những chúng sanh đó như thế nào, sao mình không nhớ mình sai. Trong kinh có dạy:
“Nghiệp duyên như bóng với hình
Chờ duyên hội đủ để hành tội nhau”
Trong kinh Đức Phật cũng có dạy: “Vô thỷ là luân hồi, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự luân chuyển, luân hồi của chúng sanh. Do vô minh che đậy, tham ái trói buộc”. Thì để thấy rằng dòng sanh tử luân hồi này, rất là lâu rồi Đức Thế Tôn dùng thần thông vẫn không thể tìm ra điểm khởi đầu của sự sanh tử, luân hồi này. Sanh tử luân hồi này được vô minh che đậy, tham ái trói buộc. Thì làm sao mà khi bị vô minh che đậy, tham ái trói buộc mà không tạo nghiệp. Thì biết bao nhiêu nghiệp trong quá khứ cũng như nghiệp trong vị lai. Nhưng bây giờ thì mình chỉ biết là người kia nói oan, nói ức, hay là làm mình đau khổ. Nhưng đâu biết rằng mình đã tạo biết bao nhiêu là nghiệp.
Cũng như sư Nguyên Tú lúc nãy có nói mọi sự gặp gỡ điều là duyên nghiệp. Có khi người đó mình giúp, thì bây giờ họ giúp lại mình. Còn những oan gia trái chủ, thì họ sẽ đi theo đòi. Trong kinh có nói nghiệp theo như bóng với hình, đâu phải mình nghĩ mình lên chùa thì sẽ bình an đâu. Lên chùa chỉ qua là mình được học pháp, mình quay lại nhìn nhận thân tâm. Môi trường thì hiền thiện, mình sẽ bớt phiền não hơn. Nhưng mà chính những nghiệp trong quá khứ của mình, thì nó sẽ luôn đi theo mình. Khi nào mình trả hết nghiệp, thì nó mới hết. Cho nên con nhìn nhận lại là cái việc mình đi tu, thì mình vẫn phải tiếp tục trả nghiệp. Những chướng duyên nó tới, thì mình phải chấp nhận vui vẻ, trả thì sẽ bình an.
Còn nếu mình cứ đòi hỏi tại sao lên chùa những vẫn có chuyện phiền não, vẫn có chuyện nói xấu nhau. Nếu như mình chấp vô đó thì mình sẽ khổ, và mình sẽ chạy đi chỗ khác. Không có chỗ nào mà thoát hết, vì đã nghiệp theo như bóng với hình mà. Không bao giờ mà cái bóng rời cái hình cả, dù có đi chân trời góc biển. Có 1 bài kinh mà có 1 vị thiên gần hết thọ mạng, thì họ mới trốn lên hư không. Có vị thì trốn ở dưới biển, có vị thì trốn ở giữa động núi. Nhưng mà khi nghiệp tới thì vẫn không thể trốn được. Thì để khi mà con nhìn nhận ra, những chướng duyên nó tới con cũng vui vẻ chấp nhận, con thấy nó nhẹ nhàng hơn. Con cũng đang cố gắng, vì cái tập khí nó chấp rất nhiều vào cái thức này.
Nhưng mà con đang tập xả cái thức này, con quán nhiều về nhân quả hơn. Mình đi tu để trả nợ, chứ đâu phải để trốn nợ đâu, cứ vui vẻ trả nợ. Mỗi lần người khác nói oan nói ức, hay bị la rầy, thì mình đang trả 1 món nợ. Và cái nghiệp mình nó đang giảm, thì tới 1 ngày cái nghiệp mình sẽ hết. Con bằng lòng chấp nhận với những cái chướng duyên nó tới. Khi bị người khác nói oan ức, cái thức nó biết mình đúng, thì thọ tưởng hành nó dâng rất là mạnh. Có nhiều lúc con biết thì con quán pháp: “Đâu có ai ở đây đâu, ngũ uẩn mà. Mình cũng vô minh, người khác của vô minh mà”. Còn có nhiều lúc con không có quán được, biết là 1 chuyện, nhưng mà làm là 1 chuyện khác.
Vì đang trong quá trình tu tập để thành tựu chánh tri kiến, nên có lúc thấy có lúc không thấy. Trong quá trình qua thì con thực hành những lúc mà con bị oan ức, hay ai nói xấu. Thì lúc đó con dùng 2 câu trong kinh ngài Xá Lợi Phất:
“Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách
Không giận người lau sạch dơ
Nguyện tâm như kẻ nghèo đói nhất
Ai phỉ báng gì cũng lặng yên
Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách
Có gì để lên mặt hơn thua”
Thì những lúc mà cái thức nó cho mình là đúng, mình bị oan, thì con đọc 4 câu đó. Thì con thấy cái thọ, tưởng, hành nó dịu lại. Khi thọ, tưởng, hành nó dịu lại, thì cơn sân nó dịu lại thì lúc đó cái trí mình nó sáng. Lúc đó con quán về nhân quả, nghiệp quả, quán về ngũ uẩn, tâm từ, người khác vô minh mình cũng vô minh. Nếu lúc mà khi đang sân, cho mình là đúng, người khác nói oan nói ức cho mình. Thì dù có thấy nhưng cái cảm giác sân nó rất là mạnh, nên lúc đó trải tâm từ nó rất là khó. Nên con thấy việc mình bị oan ức, bị khó chịu, thì việc đầu tiên mình phải làm là cho cơn oan ức, khó chịu đó nó dịu xuống. Sau đó mình mới bắt đầu như lý tác ý, để hóa giải cơn khó chịu đó, vì phải sống chung với lũ.
Khi đọc kinh thì con mới thấy rấy là hoan hỉ, Đức Thế Tôn cũng rất nhiều lần bị mắng, bị chửi. Ngái Xá Lợi Phất thì con thấy trong 2 bài kinh sau khi an cư, kinh Asari Buka và kinh Kolalika thì ngài Xá Lợi Phất rất là hiền thiện, trí tuệ từ bi nhưng vẫn vu khống, còn ngài Mục Kiền Liên thì bị sát hại. Con thấy rằng Đức Thế Tôn và các bậc thánh mà còn bị như vậy, thì mình sao không bị được. Nếu như bản thân mình không còn nghiệp, thì mình đâu có ngồi đây đâu, mình đã nhập Niết-bàn rồi. Đức Thế Tôn có dạy: “Sinh ra là khổ, khi mình đã mang một thân người có lục căn này là khổ. Này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm là biết đây là khổ”.
Mình phải biết chấp nhận sống chung với lũ, mình mang cái khổ này, cái thân này, mà mình muốn không có khổ nữa thì mình phải thấy cái thân này là khổ. Khi mình thấy cái thân này là khổ, thì mình nhàm chán cái thân này. Mình không còn muốn mang những cái thân này, thì lúc đó mình mới hết khổ. Còn mình còn mang thân ngũ uẩn này, thì vẫn là khổ. Nên con thấy việc để ý vào cái thức, nhất là những cái đúng cái sai, con tập xả bỏ cái thức. Sư phụ có dạy, cái gì mà cái biết đưa đến dục ái, tham, sân, si thì cái đó là cái thức mình nên bỏ. Cái biết nào đưa đến vô thường, khổ, vô ngã, nhàm chán, li tham, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Cũng là cái biết đó, nhưng 2 cái khác nhau. Một cái biết là thức trí, cái biết đưa đến dục ái, tham, sân, si, bản ngã. Và một cái biết là đưa đến vô thường, khổ, vô ngã thì cái đó là tuệ tri. Khi con nhận ra điều đó, thì con cố gắng đập đỗ ly nước tràn. Những cái thức mà mình được học ngoài đời, những cái kiến thức nó đưa đến phiền não tập bỏ đi. Rồi đưa vào những cái biết mà Đức Thế Tôn dạy, đó là đây là khổ, cái thân này là khổ. Sự nghe, sự thấy, sự ngửi, sự nếm, sự xúc chạm này là khổ. Nên con tìm ra cái đầu mối là những cái biết đúng sai, nó sẽ làm mình khổ. Và con cố gắng buông bỏ, để ý nó trong những lúc chướng duyên nó khởi đúng sai thì cứ niệm.
Hằng ngày lúc nào rảnh, thì con niệm 4 câu của ngài Xá Lợi Phất đó. Những câu đó giúp cái tâm con thời gian qua, cái bản ngã con đang giảm, con thấy sự bình an trong mình nó nhiều hơn. Cái thức này nó hại rất là nhiều, thí dụ 1 ai đó đọc kinh sai, thì rất là nhanh: “Ủa tại sao không đọc kỹ mà đọc kinh sai vậy”. Mình cũng biết là cái thức này nó lừa đảo: “Mày học kinh để mày thực hành, hay là mày học kinh để mày đi bắt người khác”. Và mình trải tâm từ, ai cũng còn vô minh hết, thì nó rất là nhanh. Còn không nó cứ chạy lộn xộn hết, nó làm thời nghe pháp bảo của mình bị ảnh hưởng. Và rất rất là nhiều việc, mà mỗi lần mình chấp vào cái thức, thì mình tác ý.
Con dẹp được cái thức thì con bớt sân si với người khác hơn, và con thấy đem lại bình an cho bản thân mình và cho mọi người. Đó là những lợi ích không thời gian qua, mà con thực hành được. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
4. Phật tử 3
“Con chân thành đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán chánh đảnh giác.
Con kính lễ trên sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng các bậc hiền trí.
Hôm nay được sư cho phép của quý thầy, con cũng xin được chia sẻ 1 số điều lợi ích trong việc tu học kinh tạng Nikāya. Điều thứ nhất mà con thấy rằng rất là lợi lạc, và may mắn cho con đó là khi tu học trong dòng pháp Nikāya này. Con được tiếp xúc trực tiếp, với lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Được đi thẳng vào lời dạy của Đức Phật. Tại vì kinh tạng Nikāya, là được hầu hết các nhà nghiên cứu Phật học trên thế giới này công nhận. Tạng kinh này là gần sát nhất, với những lời dạy nguyên thủy của Đức Phật 2600 năm trước. Con thấy các pháp học, pháp hành mà con được học ở đây thực sự là được căn cứ, được dựa hòa toàn vào lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya.
Bởi vì vậy cho nên con thấy mình đã may mắn đến được, tìm được đúng chánh pháp. Như vậy thì mình thực sự không uổng phí, sự xuất gia ở đời này. Khi mình tìm được những lời dạy nguyên chất của Đức Phật để mình tu, thì mình sẽ tránh được sự lệch lạc. Tránh được những tư kiến, những sự hướng dẫn dựa trên những nhận định tư kiến của những người đời sau, đó là lợi ích thứ nhất. Thứ 2 là khi tu tập trong dòng pháp Nikāya này, thì con loại bỏ được rất nhiều những sự nghi hoặc, khuất mắc trong tâm trong những sự tu tập trước đây. Con thấy mình càng tu thì mình càng sáng ra, và thấy rõ được 1 đạo lộ, 1 phương pháp tu tập rất là thiết thực,k sáng tỏ, minh bạch.
Trong dòng pháp này, con thấy sự lợi ích cho mình kho con được chỉ ra những sự thật. Những sự thật rất là vĩ đại, mà có thể là nhiều đời nhiều kiếp qua trong dòng luân hồi này con chưa từng được nghe, chưa có ai nói cho con nghe. Cho nên cảm thọ trong con có rất nhiều lần, vô số lần con bị chấn động và vô cùng hoan hỉ. Đến mức mà con khóc gần như là muốn bệnh. Con biết rằng những cảm thọ đó, là những cảm thọ rất là hi hữu trong dòng luân hồi này. Bởi vì hạnh phúc được nhìn thấy sự thật. Một sự may mắn cho con là được học trực tiếp với sư phụ, sư phụ là 1 người có khả năng truyền tải. Cái lời nói, sự thiền quán của sư phụ thật sự có thể chạm được trong cảm thọ của con, của mọi người.
Thí dụ bài kinh niệm xứ con cũng đã học ở trường, đã được giảng giải, con cũng trả bài, con cũng thuộc. Nhưng mà chỉ ở trên từ ngữ, ngôn ngữ, lời lẽ, còn cái cảm thọ con cư trơ trơ. Nhưng mà khi con được thực hành pháp hành Nikāya này, thì mới thật sự chạm đến cảm thọ sâu ở trong lòng. Mình cảm nhận được 1 sự nhàm chán, sự ghê sợ những cái sự bất tịnh của thân tâm. Hay là cảm thấy nhàm chán khi thấy được sự vô thường, bắc trắc khi mà niệm chết. Thì con cảm thấy rất là lợi ích cho con, vì chính cảm thọ đó nó mới có khả năng làm cho gốc rễ vô minh và chấp thủ ở trong mình bị lung lay. Còn nếu chỉ trong ý hành, trên lời lẽ, mình suy nghĩ, mình nói lào lào.
Nhưng mà cái cảm thọ mình không có, thì sự vô minh chấp thủ trong mình nó vẫn còn nguyên, không bị đụng chạm đến được. Lợi ích thứ 3 con nhận được khi tu tập, là con nhận thấy lòng tôn kính, niềm tin với Đức Thế Tôn trong con mỗi ngày được tăng trưởng. Hồi trước khi con chưa tu tập pháp này, thì hình ảnh Đức Thế Tôn trong lòng con là 1 vị thần thánh, rất là cao xa, xa vời. Con chỉ có thể thờ, lễ lạy, cầu nguyện, cầu xin Ngài cứu độ, nó rất là mơ hồ. Nhưng mà khi con tu tập pháp Nikāya, thì con cảm thấy mình hiểu được Đức Phật nhiều hơn. Con biết được Đức Phật là ai, Ngài tu tập cái gì, và đac thành tựu điều gì. Con hiểu rằng Đức Phật cũng là 1 con người, chứ không có bị thần thánh hóa.
Ngài cũng là 1 con người bằng xương bằng thịt, nhưng Ngài là 1 con người vĩ đại. Ngài có 1 tình thương vô lượng, rộng lớn tất cả chúng sanh. Ngài có 1 trí tuệ, phước báo vô cùng lớn, để rồi Ngài có thể tự mình phát giác, phát hiện những cái cấu uế, lậu hoặc, rác bẩn ở trong tự thân. Và tự mình nhiếp phục, đoạn tận tất cả những cấu uế, lậu hoặc, thanh lọc để đi đến 1 nội tâm hoàn toàn thanh tịnh. Ngài có thể tự mình thấu suốt được, sự thật tột cùng của thân tâm và thế giới. Ngài tìm ra con đường thoát khổ, tự mình giải thoát khổ. Ngài chỉ lại con đường giải thoát khổ đó cho tất cả chúng sanh. Khi con cảm nhận điều đó thì lòng tôn kính, lòng tin của con đối với Đức Thế Tôn là vô cùng vô tận, đó là lợi ích thứ 3.
Lợi ích thứ 4 là khi con được tu tập trong dòng pháp Nikāya này, thì con thấy rõ được đạo lộ rõ ràng, minh bạch. Bám sát được bát chánh đạo, tứ niệm xứ mà Đức Phật đã chứng ngộ. Con thấy được mục đích cứu cánh của kiếp nhân sinh này, thấy được mục đích thật sự mà mình cần phải hướng tới là gì. Trong bài kinh “Sa-môn Hạnh”, Đức Phật đã dạy là: “Mục đích của Sa-môn hạnh đó là đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si”. Con thấy được mục đích mình cần hướng tới là nhận diện, chiến đấu, nhiếp phục hoàn toàn những tham, sân, si, bản ngã, chấp thủ ở bên trong nội tâm. Mình phải có được chánh kiến, nhìn rõ vào tự thân, nhìn thấy sự vận hành của thọ, tưởng, hành, thức, vận hành của bản ngã.
Sử dụng các phương pháp mà Đức Phật đã chỉ dạy, để nhiếp phục và đoạn tận tất cả những sự tham, sân, si, bản ngã, dục ái, vô minh đó. Thì đó là mục đích của sự tu tập này, lấy tham, sân, si, bản ngã, để làm thước đo trong sự xuất gia của mình. Đây là 1 điều hết sức là thiết thực, nếu như mình quên mục đích này mình sẽ tu lan man, càng tu mình sẽ càng tham, sân, si, bản ngã mà mình không có hay biết. Một lợi ích nữa con xin chia sẻ, đó là với sự thực tập còn kém cỏi của con, nhưng con thấy được rằng khi con nhìn người, nhìn đời, nhìn vào tự thân mình. Thì con nhìn với ánh mắt nhẹ nhàng hơn.
Mỗi khi nhìn người, nhìn đời thì con hay nhắc nhở chính mình là thân xác này là vô thường, tạm bợ, bản chất của nó là bất tịnh, nhơ nhớp, dễ tan, dễ vỡ. Những thân xác của những người khác, và người xung quanh cũng vậy. Chỉ là sắc, là tứ đại, bản chất là bất tịnh, duyên sanh, do thức ăn tạo thành. Là vô thường, biến hoại, không đáng để cho mình phải tham ái, không đáng để cho mình thèm muốn, chấp thủ. Khi một lời nói khen chê, hay là những lời nói đúng sai, phải quấy của những người xung quanh. Thì con tập hiểu rằng nó cũng chỉ là vô thường, những lời nói đó cũng là thanh trần, vô thường, tạm bợ, duyên sanh, rỗng không, vô nghĩa. Không đáng để cho mình sân, không đáng để cho mình đắm trước ở trong đó.
Cũng như những hành động của những người xung quanh cũng vậy. Cho dù hành động như thế nào, thái độ gì đối với mình. Thì mình cũng biết rằng những điều đó cũng chỉ là vô thường, tạm bợ, là thứ rỗng không, vô nghĩa. Không đáng để cho mình bị trói buộc vào đó, dính mắc vào đó. Để mà sân si, tham ái, đố kỵ, ghen tị khởi lên. Cũng như khi học trong dòng pháp này, có những sự chỉ dạy về phương pháp như lý tác ý. Hiểu được duyên nghiệp của mình, của những người chúng sanh. Hiểu được những phương pháp quán bất tịnh, niệm chết, quán tứ đại, an trú tâm chín pháp của ngài Xá-lợi-phất. Quán mình như nùi giẻ rách, quán đất, nước, gió, lửa.
Thì con cảm nhận được dòng pháp này là con đường hết sức là rõ ràng, rộng mở, đầy đủ tất cả mọi phương tiện. Để cho mình có thể đạt được mục đích cứu cánh của đời tu, đó là giải thoát tất cả mọi sự chấp thủ, trói buộc của ngũ uẩn. Và đạt được sự hoàn toàn, không còn đau khổ, đạt được sự Niết-bàn cứu cánh. Điều duy nhất mà mình phải làm khi mình có phương pháp rồi, chỉ cần mình tinh tấn, kiên trì, sự nỗ lực, ý chí của bản thân. Thì nhất định mình sẽ đạt được mục đích của sự tu, trong dòng pháp Nikāya này. Đó là một số lợi ích, mà con xin chia sẻ đến toàn thể chư vị hiền trí. Nếu có gì còn sai sót, con xin quý vị hoan hỉ và chỉ dạy thêm cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
4. Phật tử 4
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên sư phụ, bậc ân sự tôn kính.
Con kính bạc trên chư vị thiền đức Tăng Ni, cũng các vị tất cả các bậc hiền trí.
Hôm nay đầy đủ nhân duyên, được sự thương tưởng trên sư phụ cùng chư tôn thiền đức Tăng Ni. Cho phép cho chia sẻ về lợi ích tu học trong kinh tạng Nikāya. Con xin chia sẻ về lợi ích quán vô thường và niệm chết, mà con trong thời gian qua. Nhưng thường lệ con thường an trú, quán sát nhìn lại chính mình, nhìn lại những cảnh vật, đồ vật mà con nhìn thấy hằng ngày. Con thấy chúng mỗi ngày biến đổi, thay đổi và hoại diệt. Chúng mỗi ngày biến đổi trong từng Sát – na sinh diệt, sinh diệt. Ý hành con sinh khởi trên đời này có cái gì mà không chết, sanh và diệt là định luật vô thường. Mỗi lần con đi hành thiền, con quán sát những chiếc lá lìa cành rơi trên mái nhà. Hay là những chiếc lá lìa cành rơi rụng rải rác trên mặt đất, trên những phiến đá.
Con quán sát những hình ảnh đó, để nhắc nhở ngũ uẩn con về bài học vô thường, niệm chết. Trong tâm con thầm khởi, thầm niệm:
“Cảm ơn chiếc là lìa cành
Cho con thấy được mong manh kiếp người”
Khi con nhìn những chiếc là lìa cành, những chiếc lá vàng úa, cằn cỏi, héo tàn, lìa cành. Có những chiếc lá còn tươi tắn, trẻ trung đã lìa cành. Có những chiếc lá còn xanh mơn mởn, vừa ra lá non đã phải lìa cành. Cũng vậy, như con người có người chết già, chết trẻ, chết nửa chừng. Đâu có gì bảo đảm cho sự sống còn của 1 sinh mạng, mong manh là sự sống. Đời người ngắn ngủi, tạm bợ chỉ trong hơi thở, hít vào mà không thở ra là kết thúc một kiếp nhân sinh. Con nhìn lại chính tự thân mình, con thấy sức khỏe và tinh thần mình đã cúi đầu trước thời gian. Sức khỏe và tinh thần mình, cũng đã khấu hao tài sản sắp hết. Nó đang đi đến già, bệnh và phải chết.
Pháp tưởng, pháp tư con nghĩ tưởng và chiêm nghiệm bài kinh “Araka”, Đức Phật dạy: “Ví như con bò bị dẫn đến lò sát sanh. Mỗi bước chân của nó, là mỗi bước chân tiến gần đến cõi chết”. Mỗi một ngày trôi qua, con đang giảm dần đi một ngày của sự sống. Và con đang tiến dần đến một ngày của sự chết, đó là một điều chắc chắn chẳng đổi khác. Rồi đến bao lâu thân xác này sẽ nằm dài trên đất, bị vứt bỏ như khúc gỗ vô dụng. Như vậy mình cũng sinh sa, mang bệnh, già đi, rồi chết. Đó là 1 sự thật về thân tâm và cuộc sống, mà Đức Phật đã dạy. Không ai thoát khỏi cảnh sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, đây là khổ, khổ là đây.
Và tiếp đến hằng ngày con quán sát, nhìn lại những cái chén, cái ly con uống nước, đôi dép con đang mang hay bộ đồ con đang mặc, con mới mua về hay được mọi người cho tặng. Hay những đồ dùng, vật dụng sử dụng hằng ngày, lúc ban đầu chúng mới, đẹp, xinh xắn. Nhưng trải qua thời gian biến đổi, hoại diệt, nó xấu, cũ, không còn đẹp, trở nên tàn tạn, xấu xí, hoại diệt và mất đi. Bản chất của chúng là hoại diệt, điều kết thúc trong sự hoại diệt, điều không vượt qua sự hoại diệt. Cũng vậy, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Hằng ngày thỉnh thoảng con hay tác ý, hỏi ngũ uẩn rằng: “Nếu còn 1 giờ để sống, thì ngũ uẩn sẽ làm gì trong giây phút này?”
Thì ngũ uẩn trả lời rằng: “Tôi sẽ trân quý những giây phút còn lại, nỗ lực tu tập bằng sức mình, tu chừng nào chết thì chết, không sợ”. Vì tất cả các pháp đều vô thường, bất định, chỉ có cái chết là điều cố định. Nên hãy tập an trú trong chánh niệm, tỉnh giác trong phút giây thực tại ra đi không quan trọng, tùy duyên. Chết như thế nào không quan trọng, mà quan trong mình đã thể nhập vào pháp thân chưa, đó mới là điều quan trọng. Tưởng con nhớ đến sư phụ có hỏi chúng con rằng: “Ai là người thân nhất của mình? Chính là pháp thân. Pháp thân không chỉ trong kiếp này, không chỉ là người thân trong đời này, mà là người thân trong những kiếp về sau.
Tuy thân này mất, nhưng pháp thân không mất, pháp thân còn thân hơn cả sinh mạng nên gọi là pháp thân. Còn lại là giả tạo, tạm bợ, vô thường, vô ngã, đó là bản chất, là sự thật của các pháp. Nên hãy từ bỏ cái thân giả, cái thân thiệt, từ bỏ cái thân ung nhọt, bất hạnh, bất tịnh, tai nạn. Để có được cái thân kim cương, để có thể thể nhập vào pháp thân. Con cũng nhớ đến bậc đạo sư có dạy: “Đừng nên tưởng tượng ngày mình ra đi mà sợ hãi. Tương lai là cái gì? Tương lai là cái quả của hiện tại. Nếu lo sợ về tương lai, thì trồng ngay cái nhân ở hiện tại, thì tương lai sẽ trổ quả. Không còn ngày mai, hãy tu cho tốt ngày hôm nay, hãy sống cho tốt ngày hôm nay. Những gì mình tu tập được, trí tuệ mình thực hành như thế nào, đường hướng tâm linh mình như thế nào, thì đó là nơi mình sẽ đi tiếp.”
Khi con thường an trú tâm trong đề mục quán vô thường, niệm chết như vậy thì trong tâm con sanh khởi sự hỷ lạc tràn đầy. Có một điều thật là hay khi con thường quán an trú tâm trong đề mục quán vô thường, niệm chết như vậy. Thì trong tâm con có 1 sự chuẩn bị cho ngày ra đi, có 1 sự chuẩn bị cho mối nhân duyên từ bỏ giữa mình và ngũ uẩn. Trong tâm con sát quyết rằng trong tâm không từ bỏ ngũ uẩn, thì bất ngờ nó ra đi trong sự phũ phàng, không lời từ biệt. Thà rằng mình chủ động, mình làm chủ nó, để nó không mang đến sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não cho mình. Cũng nhờ con thường xuyên quán đề tài này, nó giúp con trân trọng những năm tháng còn lại. Khi làm gì con cố gắng làm tốt không làm dở, vì làm dở thì sau sẽ khổ đau.
Ví như nhiều lần đại chúng nhờ con giúp gì, hay khi mà con đang giặt bộ đồ, đang lỡ tay. Mà khi đó đại chúng nhờ con giúp, nếu công việc đó không quan trọng, thì con xin phép 5 phút để con khẩn trương giặt bộ đồ phơi lên. Vì con nghĩ rằng nếu chẳng may vô thường ập đến, con đột quỵ ra đi bất ngờ thì con sẽ làm phiền người khác nhiều nhất có thể. Vì con thiết nghĩ mình là 1 người tu, thì mình hạn chế làm phiền người khác ít nhất có thể. Khi con thường xuyên an trú trong tâm quán vô thường, niệm chết, nó giúp cho con sanh khởi nhiều niềm vui hỷ lạc. Trân trọng những mỗi nhân duyên trong cuộc sống này, con thấy mình sống sâu sắc hơn, sống đúng trách nhiệm, sống đẹp với đời. Nhận diện ngũ uẩn, thể nhập thánh trí, diệt tham, sân, si.
Để kết thúc chia sẻ về lợi ích tu học quán vô thường, niệm chết. Con phép con được đọc bài kệ “Nếu Chỉ Còn Một Giờ Để Sống”, mà con đã làm lúc con tác ý ở trong thất.
“Nếu chỉ còn một giờ để sống
Bạn làm gì trong giây phút này?
Tôi sẽ an trú trong thực tại
Để lắng nghe thọ, tưởng, hành
Nếu chỉ còn một giờ để sống
Bạn làm gì trong giây phút này?
Tôi sẽ dạy bảo ngũ uẩn ơi
Hãy chấp nhận sự thật về cái chết
Nếu chỉ còn một giờ để sống
Bạn làm gì trong giây phút này?
Tôi buông xả hết mọi dính mắc
Đang trói buộc trong thân và tâm
Nếu chỉ còn một giờ để sống
Bạn làm gì trong giây phút này?
Tôi xả mọi ý niệm bất thiện
Để được an trú trong pháp thân
Nếu chỉ còn một giờ để sống
Bạn làm gì trong giây phút này?
Tôi bảo rằng không gì là tôi
Không có cái gì là của tôi
Nếu chỉ còn một giờ để sống
Bạn làm gì trong giây phút này?
Tôi sẽ an tịnh thân và tâm
An trú trong an tịnh lắng dịu
Nếu chỉ còn một giờ để sống
Bạn làm gì trong giây phút này?
Tôi an trú quán niệm vô thường
Quán sự chết là điều cố định
Nếu chỉ còn một giờ để sống
Bạn làm gì trong giây phút này?
Tôi sẽ vứt bỏ liền gánh nặng
Sẽ bỏ hoàn toàn ngũ uẩn này
Nếu chỉ còn một giờ để sống
Bạn làm gì trong giây phút này?
Tôi sẽ đón nhận thời đã đến
Ra đi trong nhân quả tùy duyên”
Đó là sự chia sẻ lợi ích tu học trong đề mục quán vô thường, niệm chết. Trong khi con chia sẻ, nếu có sanh khởi gì bất thiện. Con ngưỡng mong sư phụ cùng chư vị thiền đức Tăng Ni, và các bậc hiền trí chỉ dạy, chỉ lỗi cho con được khắc phục. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
5. Phật tử 5
“Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán chánh đẳng giác.
Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý Ni sư, sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí.
Hôm nay được trên sư phụ cho phép con, cùng với các thầy cô chia sẻ lợi ích tu học Nikāya. Con cũng có 1 vài điều chia sẻ với đại chúng. Cũng nhân duyên vừa qua 3 tháng an cư, con an cư tại thiền viện Đinh Sơn. Khi được phép trên sư phụ cho đi an cư, con cũng tìm hiểu về đời sống, thời khóa tu tập ở bên thiền viện. Thật sự bên đó thời khóa không giống bên Linh Quy, cũng gây cho con rất nhiều khó khăn. Nhưng mà luôn luôn được an trú trong pháp, lấy lời dạy của Đức Phật, Đức Thế Tôn làm hành trang cho mình. Cho nên con mới có thể vượt qua được 3 tháng này, đối với con là 1 sự khó khăn. Vì bên đó thời khóa là cứ nửa tiếng đi kinh hành, nửa tiếng ngồi thiền, một ngày thì có 10 thời khóa như vậy.
Mọi người có thể hình dung là chánh điện ở bên tu viện nó rộng hơn ở đây, là gấp 4 lần như vậy. Cho nên việc đi kinh hành đối với con là 1 sự khó khăn, vì nó không giống ở Linh Quy, đi kinh hành ở bên thiền viện rất là nhanh. Nhờ con con trú trong pháp, nhưng mà phải mất mấy ngày sau, có mới có thể đi kinh hành mà không có dòng tâm ý không được thiện lành. Những ngày đầu thì con đi với 1 sự khó khăn, vì quãng đường rất là xa. Mình có để ý, có tìm hiểu, thì 1 ngày mình đi khoảng chừng 15 cây số. Cũng rất là khó khăn, một ngày trôi qua mà buổi tối con đi ngủ thì 2 cái chân của con như bị rã ra, rất là mỏi.
Vì bên núi mặc dù đi cũng nhiều, mà đi đồi núi không bằng cái quãng đường mà đi bên thiền viện, vì bên đó đi rất là nhanh. Lúc đầu con chưa có an trú trong pháp, luôn tự hỏi mình phải làm như thế nào để mình vượt qua giai đoạn khó khăn này. Không phải ngày 1 ngày 2, 1 tuần, mà là 90 ngày, thời gian 3 tháng. Việc ngồi thiền đối với con là không có khó, nhưng mà việc đi kinh hành thì rất là khó. Thì lúc đó những ngày đầu con thấy sự khó khăn, vì trong tâm con có 1 sự không hài lòng. Vì nó có sự so sánh giữa ở bên này và bên đó. Bên mình đi rất là chậm rãi, và có sự nhìn nhận, quán chiếu lại thân tâm nó cũng không có khó khăn.
Bên đó đi rất là nhanh, con phải làm quen, rồi con quay lại rà soát những gì mình đã tu học. Con nhận ra và lấy đó làm kim chỉ nam cho mình, đo là trong bài kinh “Đi Kinh Hành” của Đức Phật đã chỉ ra: “Này các Tỳ-kheo, có 5 lợi ích trong việc đi kinh hành. Thế nào là 5? Kham nhẫn được đường trường, kham nhẫn sự tinh cần, ít bệnh tật. Đưa đến tiêu hóa tốt đẹp các đồ thức ăn được ăn, được uống, được nhai, được nếm. Định chứng được trong khi đi kinh hành, được tồn tại lâu dài”. Rồi lúc đó con mới có được kim chỉ nam, một chìa khóa. Để cho con gỡ rối được trong thời kinh hành. Mười thời trong 1 ngày trôi qua tại thiền viện, lúc đó trong con không còn sự so sánh nữa. Mà lúc đó con luôn luôn an trú vào pháp, an trú vào lời dạy của Đức Thế Tôn.
Đó là mình kham nhẫn được đường trường, kham nhẫn quãng đường mình đi trong suốt trôi qua. Không chỉ kham nhẫn được đường trường không, mà lúc đó mình phải có đề mục để mình tu tập, an trú. Còn bằng không cái sự kham nhẫn đường trường đó nó không có liên tục, nó không đem lại hiệu quả trong sự tu học của mình. Mình phải có 1 đề mục, lúc đó con tự đặt ra cho chín mình là 1 bài thiền quán. Để cho con có thể liên tục an trú, bám vào bài thiền quán đó. Và khi mà con được an trú liên tục, vào đề mục thiền quán của chính mình. Thì sự tinh cần, tinh tấn của cũng tăng trưởng lên. Lúc đó có được định chứng được khi đi kinh hành, được tồn tại lâu dài. Con mới hiểu được những lời dạy của Đức Phật.
Khi mình ứng dụng vào trong việc thực hành như vậy, nó đem lại lợi ích cho mình như thế nào. Và khi được ứng dụng vào cũng mới thấy được sự hỷ lạc, không còn là 1 sự khó khăn. Không còn 1 sự so sánh giữa bên chùa mình và bên thiền viện, mà lúc đó là 1 sự hỷ lạc ở trong pháp. Mình được an trú trong pháp, được ứng dụng trong pháp. Để mình khắc chế những cái điều gây ra cho mình nhũng khó khăn, phiền não. Mà trong những ngày trước đó, mà mình không làm được. Con mới thấy được sự vi diệu trong pháp, không còn là sự so sánh giữa pháp môn này với pháp môn kia. Mà lúc này mình hãy quay về, định chứng được những lời dạy của Đức Phật, thật là tuyệt vời. Trong 3 tháng an cư 90 ngày ở bên đó, những lời kinh hành cũng đem lại cho con rất nhiều sự hỷ lạc.
Những pháp con đang tu học, những để mục con đang tu học ở bên đó, giống như 1 thời ở bên đó 1 ngày con rất là nhớ, đem lại cho con rất là nhiều cảm xúc. Nói ra mọi người chắc cũng sẽ cười, tức là con luôn luôn đặt tâm của mình. Ai ai cũng là bậc thiện tri thức của mình. Một hôm con đi kinh hành, có 1 bé nhỏ khoảng 7 tuổi hay lên thiền điền Linh Sơn chơi và tiếp xúc với quý thầy, quý cô. Bé rất là dễ thương con rất thích những đứa em nhỏ, những bé gái hay bé trai. Khi con đi kinh hành bé nhìn bé cười, con cũng cười bé và con cũng có chào. Thật là bất ngờ khi ngày hôm sau con gặp lại bé trong thời giải lao, bé nói con làm cho phải sửng sốt, làm cho phải nhìn lại chính tự thân của mình.
Bé nói 1 câu là con phải về suy nghĩ rất là nhiều, đó là: “Sao mà thầy đi kinh hành, thấy không đi đi, mà thấy nhìn con cười làm gì?” Con thật là ngỡ ngàng, vì nó mới 7 tuổi thôi mà nó nói câu đó. Lúc đầu con cũng không có để tâm, nhưng mà về nhìn nhận lại, con mới thấy được pháp ở trong câu nói của bé rất là nhiều ở trong đó. Khi con nhìn nhận, con mới thấy được sự vi diệu khi mình để tâm vào trong sự tu tập của mình. Nhìn nhận lại trong những hành động vừa qua, con mới thấy được pháp trong đó rất là nhiều. Ở trong đó những pháp gì đang vận hành? Đó là sự hướng ngoại, lúc đó mình không có an trú vào việc đi kinh hành, mà mình lo hướng ra bên ngoài.
Để mình nhìn những cảnh vật, hay những người khả ái, ở đây là em bé nhỏ. Pháp gì ở trong đó nữa? Đó là cái bản ngã, không chỉ con nhìn không, mà khi gần đến hết thời kinh hành đó, con đi ra, con về phòng con lấy sữa con cho. Con thấy được cái bản ngã của mình, nó ẩn hiện trong đó rất là vi tế. Ở đây là mình thêt hiện ra có sự yêu thương, đối với các em nhỏ hơn người khác. Mình có sự khen mình chê người, mặc dù không có nhiều, nhưng mà trong đó là sự vi tế, con thấy được trong đó. Nó không có nhiều nhưng mà con thấy được, là con thương các em nhỏ. Lúc đó mình cũng thấy được là mình đang hướng ngoại, đang buông lung phóng dật. Không có an trú vào đề mục của mình, mình đang hướng ra bên ngoài, mình buông lung phóng dật.
Lúc đó con thấy thật là xấu hổ, con hướng tâm về đứa nhỏ 7 tuổi mà con cảm ơn rất là nhiều. Khi con đặt tâm vào con mới thấy, các pháp đang vận hành trong chính tự thân của mình. Không chỉ là những đề mục thiền quán, những thời khóa, hay là những ai mà giúp cho mình thấy được những lối nhỏ của mình, phải thấy sợ hãi khi mắc lỗi nhỏ nhặt. Có như vậy thì mình mới có thể tiến bộ trong pháp và luật của Như Lai. Chứ không phải chỉ trong những lời khóa ngồi thiền, hay là những lần tụng kinh. Hay là trong đời sống hằng ngày nó vận hành, phải nhận diện ngũ uẩn. Mình phải có 1 sự trực tâm, 1 sự chân chánh đối với tự thân của mình.
Và con cũng biết ơn, khi con hiểu được những lời trong thanh quy đạo tràng:
“Nếu thấy bậc hiền trí
Chỉ lỗi và khiển trách
Như chỉ chỗ chôn vàng
Hãy thân cận người trí
Thân cận người như vậy
Chỉ tốt hơn không xấu”
Lúc đó con mới hiểu được không phải các bậc hiền trí, thiện trí thực chỉ là quý thầy, quý cô. Mà tất cả ai ai đem lại pháp cho mình, cũng như em nhỏ 7 tuổi cũng đem lại cho con sự nhìn nhận pháp. Một cách thực chất, trực tâm, nhìn nhận luôn luôn quán sát nơi bản thân của mình. Khi mà con được tu tập bên kia, con mới thấy được sự chấp thủ, nắm giữ của mình, nếu mà không có nhận diện kỹ càng. Cũng như lúc nãy con có nói mình luôn luôn cho mình là đúng, hay là cái pháp của mình là hay, pháp của người ta là không có hay. Giống như thời kinh hành bên kia rất là nhanh, bên mình đi chậm. Rồi mình so sánh, mình khen mình chê người.
Tại do mình không có để tâm, không có y cứ theo lời dạy của Đức Phật. Lúc đó mình tự gây cho mình những cái pháp bất thiện, mà mình không hay không biết. Mình luôn luôn cho mình là hay, cho pháp của mình là hay. Khi nào mình quay lại nhận diện thân tâm, y cứ theo lời dạy của Đức Phật, y cứ theo lời dạy của Thế Tôn. Mình ứng dụng vào sự tu tập của mình, đem lại sự lợi lạc trong tự thân của mình, thì lúc đó mới là đúng pháp. Chứ còn bằng không mình hướng ra bên ngoài, mình có sự so sánh thật là khập khiễng giống như người đời. Thì đó là sự thiếu sót cho chính mình. Thời gian cũng không còn nhiều, cho nên con cũng có đôi lời chia sẻ như vậy, hẹn 1 dịp khác con sẽ tiếp tục chia sẻ lợi ích tu học Nikāya.
Trong mấy phút vừa qua con chia sẻ nếu có điều gì sai sót, rất mong chư tôn đức và các bậc hiền trí thông cảm. Vì lòng từ mẫn mà bỏ qua cho con, con xin cảm ơn. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
6. Sư thầy Thiện Huệ
“Con kính bạch chư tôn đức cùng các chư vị hiền trí.
Trong sự tu học của chúng ta, nhất là các giới tử, các vị mới nam nữ cư sĩ. Ngoài việc chúng ta thực hành 3 pháp, nhận diện ngũ uẩn. Thì mình nhìn lại trong cảm thọ mình, thấy được tham, sân, si nó nằm trong cảm thọ. Phát giác, phát hiện ra cái ổ, xào quyệt, chỗ cư trú, chỗ ở của tham, sân, si. Là mình có phương pháp tác ý để mà nhiếp phục, chế ngự, đánh đuổi, diệt tận tham, sân, si. Trong tuần vừa rồi chúng ta đã được sư phụ hướng dẫn, cũng như chúng ta đã từng nghe pháp. Những chúng ta chưa dừng lại ở đó, chúng ta đang tu trên thánh đạp, trên pháp bất tử. Tức là chúng ta nhiếp phục, đoạn tận những cái vô minh, tham ái, chấp thủ đối với ngũ uẩn, đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Đây là pháp bất tử, mà mình muốn làm được điều này thì sư phụ có nhắc rất là nhiều. Chúng ta phải tu tập những bước căn bản, thiên đạo, nhân đạo, thiên đạo rồi sau đó mới thánh đạo, thánh quả. Khi chúng ta có được những phương pháp nhiếp phục tham, sân, si rồi. Chúng ta cố gắng giữ gì những cái giới của mình nó thọ, tu tập sự biết ơn và nhớ ơn. Đây là 1 địa vị của bậc chân nhân, 1 con người thực sự là 1 con người. Đây là nền tảng đạo đức, phẩm chất, nhân cách của 1 con người. Từ từ chúng ta sẽ tăng trưởng giới học, chúng ta giữ 8 giới, 10 giới. Chúng ta tu tập tứ vô lượng tâm, để tăng thượng cái tâm của mình lên từ, bi, hỷ, xả.
Để chúng ta hướng đến pháp bất tử. Chúng ta sẽ tu tập những pháp căn bản, lòng biết ơn, tâm hiền, tâm hòa kính, và diệt cái bản ngã. Bước đầu căn bản mà chúng ta tu tập trong 5 khiêm, 2 khéo, diệt dục, tu tập từ, bi, hỷ, xả. Đó là những cái pháp hành cần thiết, quan trong cho những người tu học. Chúng ta hãy nhớ 8 chữ, mà sư phụ đã đề trước hồ nước giảng đường. “Trang nghiêm, tôn trọng, cung kính và biết ơn”. Trang nghiêm chúng ta luôn nhìn lại thân hành niệm của mình. Về những oai nghi, đi đứng, ngồi nằm, ăn nói. Cung kính, tôn trọng đó là pháp diệt ngã. Địa vị của 1 bậc chân nhân đó là sự biết ơn và nhớ ơn. Đó là những cái pháp rất là quan trọng, các vị mới chúng ta cần phải để tâm, để ý và tu học.
Nền tảng căn bản của mình tu cho nó vững, chắc. Luôn luôn nhận diện ngũ uẩn, thực hành 3 pháp. Tu tập tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, tâm từ, tâm hiền, diệt ngã, diệt dục. Bằng những pháp quán bất tịnh, quán bộ xương, quán 32 thể trượt, 9 giai đoạn của 1 tử thi. Để chúng ta diệt lòng dục, lòng tham, lòng ái đối với thân xác của mình và của người. Chúng ta hãy biết trân quý, trân trọng, những giờ phút như vậy rất là quý báu trong kiếp người. Đó là những lời con nhắc nhở, chia sẻ, nhất là các vị giới tử, các vị mới. Chúng ta là các bạn trẻ rất là nhiều, chúng ta cố gắng về chúng ta nghe pháp, học kinh, ghi chép đầy đủ những gì mà trong tuần vừa qua.
Quý vị đã được sư phụ hướng dẫn, truyền trao những pháp học, pháp hành. Trước khi kết thúc buổi chia sẻ chiều nay, con cung thỉnh đạo tràng chúng ta lắng nghe những lời xách tấn từ trên sư phụ, sau đó chúng ta hồi hướng.
III. Lời kết
Thì chúng ta thấy 2 hình ảnh về cái chết, 1 cái chết bất thiện, 1 cái chết thiện lành. Tất cả chúng ta đều sẽ đi đến chết, không thể nào vượt qua khỏi chết. Đức Thế Tôn nói như vầy: “Cái chết như thế nào là do nghiệp thiện và nghiệp bất thiện”. Như vậy chúng ta nhắc đến cái chết, không phải để chúng ta ủ rủ, chán chường, buông xuôi. Mà mình quán chiếu cái chết để mình tinh tấn, nỗ lực ngay trong giây phút hiện tại. Thứ nhất là mình làm các việc lành, công phu, công quả, công đức. Thứ 2 là mình nỗ lực học tập thánh trí, thánh pháp, trí tuệ của Đức Phật. Thứ 3 là mình dốc hết khả năng của mình để mình thực hành pháp, làm việc, học và tu.
Nỗ lực này là từ cái ý thức sâu sắc, về cái chết, về cái vô thường. Nó có lên 1 sự tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh. Thì mình biến cái vô thường, khổ, cái chết đó trở thành 1 sức mạnh, đòn bẫy, nguồn sinh lực, để mình tiến lên trong cái pháp bất tử. Chúng ta nỗ lực làm tất cả những việc thiện pháp, công đức, công quả, công phu. Nhất là khi mình được ở nơi Tam Bảo, mình nỗ lực học pháp hết khả năng của mình. Cái thứ 3 là mình gắng công, chuyên tâm vào trong sự thực hành. Vì chỉ có sự thực hành, chỉ có sự học pháp, hành pháp. Chỉ có cái thiện lành của cái nghiệp thiện đó mới giúp mình có 1 cái kết viên mãn, tốt đẹp, toàn vẹn của 1 kiếp người. Còn nếu không mình sẽ chết trong hối hận, chết trong tức tưởi, tiết nuối.
Chết trong hoảng loạn, sầu não, buồn khổ bởi vì các pháp ác và bất thiện. Cho nên Đức Phật dạy mình phải cố gắng, làm các việc thiện, học thánh pháp. Để mình có cái chết cát tường, tốt lành, không phải là cái chết bất tường, xấu xí mà là cái chết tốt đẹp. Chúng ta hơn 8 tỷ người trên trái đất này, bao nhiêu người là quy y Tam Bảo. Và bao nhiêu người thật sự học hiểu giáo pháp của Đức Phật. Và bao nhiêu người thật sự tìm tới cội nguồn, lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Để mà hiểu được Đức Phật 1 cách chân chánh, cung kính Đức Phật 1 cách chân chánh. Thành tựu được chánh tín, chánh kiến đối với Đức Thế Tôn. Chúng ta hãy thưởng thức sự quý báu này, hãy chiêm nghiệm sự lợi đắc, lợi ích, có được hiếm có trong dòng sanh tử này.
Chúng ta làm cho hạnh phúc này, sự lợi ích này, sự quý báo sự hiếm có, hy hữu này lan tỏa khắp châu thân chúng ta. Từng làn da, từng thớ thịt, từng tế bào, từng lỗ chân lông ngấm vào trong xương tủy của mình. Là lòng biết ơn vô tận, vô hạn, vô cùng, vô lượng, vô biên. Trong dòng luân hồi vô tận trong kiếp người ngắn ngủi này, chúng ta là những con rùa mù trăm năm, từ đáy biển mới nổi lên mà trúng lúc bọng cây nổi trôi qua chúng ta được trúng vào. Và gió thuận chiều đưa bọng cây con rùa mù này vào trong đất liền. Con rùa mù dưới đáy biển 100 năm mới nổi lên 1 lần, tức là trong dòng lục đạo, luân hồi, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Atula, thiên giới, nhân giới này. Mà chúng ta may mắn, bởi vì tất cả các bậc chánh đẳng giác chỉ sanh ra ở thế giới của loài người.
Các bậc chánh đẳng giác không có sanh ra ở 5 thế giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Atula và thiên giới Đức Phật không sanh ra. Thế Tôn và các bậc chánh đẳng giác quá khứ, hiện tại, tương lai chỉ xuất hiện ở thế giới loài người. Mà lúc Thế Tôn xuất hiện chúng ta ở đâu không biết.
“Phật ở đời chúng con còn sa đọa
Nay được thân người, Phật niết-bàn
Ão não, buồn tủi phận mình nhiều nghiệp chướng
Chẳng gặp Như Lai kim sắc thân”
Lúc mà Thế Tôn xuất hiện thuyết pháp, các bậc Thánh Tăng ngàn ngàn, vạn vạn, lớp lớp thành đạo quả. Thì chúng ta đang chìm đắm, trôi dạt, trôi lăn ở đâu. Hay là lúc đó chúng ta cũng là người, mà chúng ta vô cảm, không đủ duyên, hoặc đủ duyên mà chúng ta không nghe lời. Và chúng ta trôi lăn cho đến 2600 năm, 2568 năm. Mà giờ này còn 1 chút ít may mắn, thù thắng, phước báo đò chiều chuyến chót. Chúng ta vẫn còn nghe được thánh pháp tạng Nikāya, những lời dạy nguyên chất, nguyên gốc, nguyên thủy, nguyên bản, nguyên vẹn, toàn vẹn. Mà chúng ta nắm cho chặt, giữ cho chắc, quyết chết cũng không bỏ ra những giáo pháp tối thượng này, để chúng ta mới kịp đò chiều chuyến chót.
Tăng Ni Linh Quy Pháp Ấn
Ngày 06 tháng 09 năm 2024
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lời mở đầu PAGEREF _Toc217412164 \h 1
II. Chia sẻ lợi ích tu học PAGEREF _Toc217412165 \h 2
1. Thầy Pháp Nghĩa PAGEREF _Toc217412166 \h 2
2. Phật tử 1 PAGEREF _Toc217412167 \h 5
3. Phật tử 2 PAGEREF _Toc217412168 \h 12
4. Phật tử 3 PAGEREF _Toc217412169 \h 18
4. Phật tử 4 PAGEREF _Toc217412170 \h 21
5. Phật tử 5 PAGEREF _Toc217412171 \h 26
6. Sư thầy Thiện Huệ PAGEREF _Toc217412172 \h 30
III. Lời kết PAGEREF _Toc217412173 \h 32
I. Lời mở đầu
Đảnh lễ Đức Thế Tôn – bậc A-la-hán chánh đẳng giác.
Đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát.
Đảnh lễ bốn đôi tám chúng hiền thánh Tăng. Là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Đảnh lễ thánh giới tối thượng, đem lại bình an và hạnh phúc cho muôn loài.
Chúng con kính bạch trên sư phụ và chư tôn đức, cùng các chư vị hiền trí. Chiều hôm nay đạo tràng chúng ta có 1 buổi chia sẻ những lợi ích tu học, trong kinh tạng Nikāya. Chiều nay các giới tử, các vị nam nữ cư sĩ, chúng ta sẽ được nghe trên quý thầy, sư cô chia sẻ lợi ích. Mà quý thầy, quý sư cô đã tu học trong thời gian vừa qua cho các vị. Trong những điều mà Đức Thế Tôn dạy trong kinh “Đại Bát Niết Bàn”. Điều để làm cho chúng Tăng được cường thịnh, mà không có bị suy giảm. Một trong 7 điều đó là Đức Thế Tôn nói: “Khi nào mà chúng Tỳ-kheo thường xuyên tụ họp đông đảo với nhau, tụ họp trong niệm đoàn kết và giải tán trong niệm đoàn kết. Chúng Tỳ-kheo sẽ được cường thịnh, tức là lớn mạnh, không có suy giảm”.
Cho nên sự phụ cũng có nhắc rất là nhiều lần, trong đạo tràng chúng ta tụ họp đông đảo với nhau. Đức Thế Tôn cũng có dạy chỉ có 2 việc thôi, là im lặng đúng như chánh pháp và nói năng đúng như chánh pháp. Chúng ta gặp nhau 1 là chúng ngồi thiền, còn 2 là chúng ta học pháp, nghe pháp, chia sẻ, đàm luận, pháp đàm với nhau. Thì trong đạo tràng chúng ta sẽ được lớn mạnh, không có bị suy giảm. Sự gặp gỡ, sự nghe, sự thấy của chúng ta trong giờ phút này, là sự gặp gỡ tối thượng, sự nghe tối thượng trên tất cả sự nghe, sự thấy. Đó là chúng ta nghe Như Lai, và đệ tử Như Lai nói pháp, đây là 1 trong 6 pháp tối thượng. Một điều nghe mà trên tất cả các điều nghe, ở trên thế gian.
Tại vì khi chúng ta nghe tất cả những tiếng bên ngoài, thì nó đưa đến toàn là những tham, sân, si, bản ngã. Khi chúng ta yết kiến, gặp gỡ, lắng nghe Như Lai và đệ tử của Như Lai nói pháp. Chúng ta sẽ đi đến chỗ ly tham, bớt tham, sân, si, bớt khổ, giảm khổ. Chúng ta sẽ đi đến con đường an vui và hạnh phúc. Bằng chứng là trong tuần lễ khóa tu vừa qua, các giới tử và quý Phật tử có cảm nhận được điều này không? Trong tuần lế vừa qua chúng ta nghe Như Lai nói pháp, nghe đệ tử của Như Lai nói pháp, chúng ta hưởng được những niềm vui, niềm hạnh phúc, tịnh lạc của đời sống viễn ly. Giúp chúng ta hướng đến chỗ nhàm chán, ly tham, từ bỏ, giảm bớt tham, sân, si, bản ngã. Đó là sự gặp gỡ tối thượng, trên tất cả sự gặp gỡ.
“Kính lễ và hạ mình
Yết kiến các Sa môn
Đúng thời đàm luận pháp
Là điềm lành tối thượng”
Vào giờ này con cung thỉnh quý thầy, quý sư cô chúng ta chia sẻ những lợi ích tu học, trong kinh tạng Nikāya. Để cho toàn thể đạo tràng chúng ta hân hoan, hoan hỉ, trong đời sống tu học.
II. Chia sẻ lợi ích tu học
1. Thầy Pháp Nghĩa
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con cung kính trên sư phụ.
Con cung kính trên chư tôn đức Tăng, chư tôn đức Ni, cùng các chư hiền trí.
Nhân duyên hôm nay được trên sư phụ cho phép, vì lòng thương tưởng, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh. Đã cho phép đệ tử con chia sẻ lợi ích tu học, mà con đã thực hành thời gian qua với đại chúng. Kính thưa đại chúng, đệ tử con cũng mới được sư phụ thương tưởng, cho xuất gia thời gian gần đây. Con cũng chưa thọ nhận được nhiều pháp, nhưng bản thân con đã thấy mình được rất nhiều lợi ích. Từ việc tu học, thực hành theo lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya. Ngày đầu tiên con vào chùa, con cũng giống như nhiều vị Phật tử mới lên núi tu lần đầu. Có những thắc mắc, có những nghi ngờ về đường lối, dòng pháp mà mình định hướng muốn tu học.
Nhưng lúc đó con quay lại và tự hỏi: “Mình đang là ai? Mình có hiểu biết gì chưa? Mà mình có thể nhận biết được đó là dòng pháp chân chánh, dòng pháp tối thượng để mình theo đuổi”. Cho nên lúc đó con luôn an trú là 1 người đi học, 1 người mong muốn tầm cầu chánh pháp. Với tâm của 1 người vô minh, ngu si, mong muốn được ánh sáng trí tuệ chiếu soi. Cho nên lúc đó con chỉ nghe pháp, và thực hành, nghe theo nhữn lời chỉ dạy của sư phụ, và hầu như không có những ý kiến gì nhiều. Đối với con sau khi thực hành 1 thời gian, con thấy con được lợi ích rất nhiều. Đó là được hưởng đời sống nhiều hỷ lạc, niềm niềm an vui, bớt đau khổ, bớt sầu bi, ưu não.
Và dần dần tránh xa được những tham muốn, của đời sống của thế tục, mà trước đây con từng bị cuốn vào. Như các vị ở đây cũng đã được trên sư phụ, cùng quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô chia sẻ rất nhiều. Thì trước tiên 1 người muốn bước vào dòng pháp này, trước tiên phải thực hành được tâm hiền và diệt ngã. Đó là 2 pháp bắt buộc, mà người muốn theo dòng pháp Nikāya này phải có được những thành tựu nhất định, có được những sự tu học nhất định. Cũng như sư phụ đã giảng trong 1 số bài, ta không thể mang 1 cái tâm của người muốn dạy bảo, của 1 người thầy mà muốn đi học pháp, ta không thể rót vào 1 ly nước đã đầy. Cũng như mặt trời không thể chiếu vào những cái cây, mà nó được 1 cái chậu úp lên trên.
Cũng vậy, người đi học pháp cầu đạo, thì với 1 cái tâm rộng mở, mong muốn được học hỏi, và từ bỏ những chấp thủ mà trước đây mình đã được lãnh hội. Thì mới có thể tu học được dòng pháp này. Trong bài đảnh lễ ngài Xá Lợi Phất cũng đã hướng dẫn:
“Hôm nay con xin nguyện tập tâm hiền
Hiền lành lắng dịu chẳng phiền ai
Dễ chịu, dễ thương và dễ mến.
Dễ bảo, dễ nghe pháp thánh hiền”
Rồi cũng vậy, khi đi học ta không thể là 1 người mang bản ngã to lớn. Để học được pháp của thánh hiền, chỉ có những cái tâm khiêm cung, khiêm hạ như sư phụ chỉ dạy. Lấy chỗ cao nhất của mình, đặt ở chỗ thấp nhất của người, thì lúc đó ta mới đủ để lãnh hội giáo pháp của Đức Thế Tôn. Nhiều khi chúng ta đi tìm ai là người làm khổ mình, ai là người giết mình. Như các chư hiền trí đã được nghe sư phụ sáng nay, cho thiền quán về bản ngã. Không ai làm khổ mình, chỉ có khổ hiện hữu khổ đang hiện hữu. Và cũng không có ai, không có người nào giết mình. Mà chính cái bản ngã to lớn này đã giết mình, từ vô lượng kiếp vừa qua.
Sáng nay trong lúc thiền quán, con cũng nghe thấy âm thanh của những con chó. Lúc đầu nó cải nhau, sau đó nó khóc, nó đánh nhau. Con thấy trước đây mình cũng như vậy, chính cái bản ngã của mình đã làm khổ mình, khổ người. Như sư phụ đã nói, khi cái bản ngã này lên ngôi thì không còn cha con, không còn mẹ con, không còn huynh đệ, không còn thầy trò gì nữa, mà lúc đó chỉ thấy có cái bản ngã to lớn. Chính vì vậy cho nên từ khi học dòng pháp này, con lúc nào cũng luôn để ý tới cái bản ngã của mình. Tuy nó vẫn còn dâng cao, vẫn còn mạnh mẽ, nhưng cũng phần nào nhờ sự tu học thánh trí, con đã làm cho nó bé lại hơn hồi trước.
Con đã thấy nó hiện diện, con cũng đã biết chế ngự nó phần nào. Và điều cuối cùng con muốn chia sẻ đến đại chúng, là về thánh trí ngũ uẩn. Con chỉ biết nói đến giờ này thật là may mắn, phước báu cho con vì đã có đủ nhân duyên thù thắng, để biết đến thánh trí ngũ uẩn tối thượng này. Hôm qua con có nhân duyên đi qua thư viện, cũng có 1 huynh đệ có hỏi con: “Dạ thưa thầy, con thấy tu dòng pháp này làm sao nó cứ cảm xúc, nó cứ như là đời thường vậy, cũng khóc, cũng buồn”. Con có nói với huynh đệ đó thực ra sự tu của mỗi người chúng ta, như sư phụ có nói là sự nhìn nhận lại lỗi lầm của mình, và sửa lại lỗi lầm của mình.
Cũng giống như trong đời sống này, ta khổ đau ở đâu, thì ta phải đứng dậy ở đó. Không phải là ta tránh nó, né nó, mà tìm được bình an, an ổn cho mình. Cái đống rác trong nhà mình không quét dọn, không lau chùi, thì nó còn nguyên đống rác đó, không mất đi được. Vì vậy, người tu theo dòng pháp Nikāya, là phải đối mặt với những thực tại, chướng ngại trong đời sống hằng ngày. Không phải là mình xa lánh, mình tìm nơi yên ổn, bình yên, để mong được sự bình an, tốt đẹp, hướng thượng. Thì dòng pháp về thánh trí ngũ uẩn, có chỉ ra cho chúng ta rất nhiều cách rất rõ ràng. Đó là nguyên nhân của sự khổ đau, trong đời sống này.
Cái mấu chốt, cái chìa khóa chính là cái cảm giác, hình bóng, những suy nghĩ, nhận thức. Chính những cái đó làm cho chúng ta đau khổ, chúng ta sẽ tu tập ngay tại chỗ đó. Ngay tại những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, sự rõ biết. Trên đây là 1 số chia sẻ của con, với sự học hỏi còn mới mẻ. Và với sự tu tập chưa được đầy đủ, con trong lúc trình pháp, con có những lỗi lầm, những bản ngã. Kính mong chư tôn đức Tăng, chư tôn đức Ni cùng các chư hiền trí từ bi chỉ dạy thêm cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
2. Phật tử 1
“Con kính bạch trên sư phụ, kính thưa trên chư tôn đức Tăng Ni, cùng toàn thể đại chúng hiền trí. Được sự cho phép trên sư phụ, cũng như trên quý thầy và toàn thể đại chúng. Hôm nay con xin chia sẻ 1 số lợi ích trong quá trình con tu học, với chủ đề được mang tên là “Sư vi diệu của chánh pháp”. Trước khi con chia sẻ lợi ích tu học, thì con sẽ mong mọi người hoan hỉ làm dùm cho con bài tập như sau. Đầu tiên mọi người quay lại cảm giác toàn thân, nhìn xuống ở phía dưới. Bắt đầu mình để ý cảm thọ bên trong của mình, bây giờ quý vị nhìn ở dưới nền đất và xem xét lại cảm thọ của mình hiện tại khi nhìn nền đất này như thế nào, trong 3 loại cảm thọ.
Rồi bây giờ mọi người để ý cảm thọ đó nha, rồi bây giờ mọi người bắt đầu nhìn lên chư tôn đức, và cũng tiếp tục nhìn lại cảm thọ của mình. Rồi cuối cùng chúng ta nhìn lên trên tượng của Đức Bổn Sư, và cũng tiếp tục nhìn lên cảm thọ của mình. Khi mà mình 3 lần như vậy, mình có thấy cảm thọ của mình thay đổi không? Có thấy thay đổi không ạ? Vấn đề ở đây nghĩa là trước đây chúng ta chưa có sự tu học vào trong chánh pháp, khi 1 người bình thường khi nói về chữ vô thường. Người nghĩ là sanh rồi phải già và chết, trong đầu mình thực sự hiểu như vậy. Nhưng thực sự không hiểu được chữ vô thường, nghĩa là gì. Khi mình tu tập theo dòng pháp này, ngay hiện tại, pháp thiết thực hiện tại nghĩa là ngay khi chúng ta vừa nhìn ở dưới mặt đất là cảm thọ khác.
Khi chúng ta nhìn lên chư tôn đức là 1 cảm thọ khác. Và khi chúng ta nhìn lên trên Đức Bổn Sư, là 1 cảm thọ khác. Nếu chúng ta có 1 sự để ý, chúng ta sẽ thấy rằng cảm thọ của chúng ta thay đổi liên tục, đó được gọi là sự vô thường trong cảm giác của mình. Nếu thực sự mình có sự nhìn nhận, và đây là 1 sự vi diệu. Nếu như mình có 1 sự nhận diện ngũ uẩn, mình sẽ thấy được sự vô thường trong từng cảm giác của mình. Cũng như những hình bóng khác, những suy nghĩ, hay những cái rõ biết trong tự thân của mình. Đây là điều mà con nghĩ rằng nó thật sự là vi diệu đối với con, khi con nhận diện ngũ uẩn.
Nếu trước đây khi mình có 1 cảm thọ sanh khởi, thì mình thường nghĩ rằng mình có cảm thọ như thế này, cảm thọ của mình như thế này, và không 1 ai được đụng vào cảm thọ này của mình. Nhưng khi mình có 1 sự tu tập nhận diện ngũ uẩn, thì đầu tiên khi chúng ta bước vào dòng pháp này, chúng ta học thật sự đó chính là nhận diện thân tâm của mình. Khi chúng ta thấy được rằng mình đang có cảm giác vui, cảm giác buồn hay cảm giác bình thường. Thì dòng pháp này cho chúng ta thấy được rằng, cảm giác đó chỉ là cảm thọ. Và những cái hình bóng mà mình nghĩ rằng tôi đang nghĩ về người này, tôi đang nghĩ về người kia.
Thì những hình bóng đó cho chúng ta thấy được rằng đó chỉ là 1 cái tưởng, và không có 1 cái gì gọi là mình nằm ở trong tất cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức cả. Cho nên rằng khi mình tu học dòng pháp này, mình sẽ thấy được rằng nhiều thú vị, nhiều sự hạnh phúc. Nếu như mình thật sự chú tâm, cố gắng tu tập, học hỏi trong dòng pháp này. Con nhớ có 1 bài kinh mà con đã từng đọc, con nghĩ ngày hôm nay có những vị hiền trí rất là mới, thành ra con không có dám nói sâu vào 1 vấn đề nào cả. Con chỉ dám nói những vấn đề hết sức là đơn giản, cho mọi người dễ hiểu. Có 1 bài kinh mà con từng đọc qua, bài kinh đó Đức Phật nói như thế này:
“Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đối với 1 cái thân do đất, nước, gió, lửa tạo thành này, kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán. Nhưng đối với tâm này, ý này, thức này, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể ly tham và không đủ để có thể giải thoát”. Có nghĩa là khi chúng ta tu tập trong dòng pháp này, hoặc là trước đây chúng ta chưa có sự nhận diện hoặc là chưa có sự đi vào trong chánh pháp. Chúng ta vẫn có 1 sự nhìn nhận lại tự thân của mình, và mình khởi lên 1 sự không có sự là mình biết cái thân mình là khổ, mình không hề yêu thích cái thân này. Tại vì cái thân này cũng là bệnh tật, là vô thường thế này thế kia.
Nhưng chúng ta chỉ nhìn được 1 khía cạnh, 1 sắc pháp thôi, tại vì thân chính là sắc do tứ đại tạo thành. Và khi chúng ta tu tập trong dòng pháp này, chính dòng pháp này chỉ cho chúng ta thấy được rằng thế nào là tâm, là ý, là thức trong chính tự thân này. Khi chúng ta thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nghĩa là chúng ta thấy được rằng cái thân này chỉ cấu tạo bởi 5 phần, không tìm đâu ra được cái tên của mình, hay 1 cái ngã nào nằm trong ngũ uẩn này cả. Đó chính là sự vi diệu, sự thù thắng của dòng pháp này. Và khi chúng ta tu học trong dòng pháp này, khi nhận diện được ngũ uẩn rồi, chúng ta sẽ hiểu được rằng khi chúng ta có 1 cảm giác sanh khởi, chúng ta có 1 cảm giác khổ, thống khổ sanh khởi trong tự thân của mình.
Chúng ta biết được rằng đây chỉ là 1 cảm thọ, và cảm thọ này là vô thường, và cảm thọ này không phải là mình. Chúng ta có 1 sự tác ý như vậy, chúng ta không có 1 sự đau khổ nhiều. Khi những cảm giác hay khi chúng ta đối duyên xúc cảnh, những cảm giác, những suy nghĩ, những hình bóng nào đó sanh khởi mình không có sự đau buồn. Nhưng phải là 1 sự thực hành, nghĩa là khi vị các vị vào đây các vị phải thực hành được những cái này. Thì các vị mới thấy được sự vi diệu, của những điều mà con đã vừa mới nói. Và con nghĩ rằng đối với con và đối với dong pháp này, khi mình hiểu được những gì đang sanh khởi trong tự thân của mình.
Và khi mình nhìn vào trong bất kỳ 1 đối phương nào đó đang nhìn, mình thấy họ hành xử như vậy, có 1 tập khí như vậy. Thì mình biết được rằng đó chỉ là những thọ, tưởng, hành nó đang hoạt động mà thôi. Có nghĩa là khi mình có 1 sự thực hành, nhìn nhận lại thọ, tưởng, hành trong tự thân của mình. Thì đối với con mắt trí tuệ của mình, mình mới có thể nhìn được đối phương đó bằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chứ không phải là 1 con người nữa. Thí dụ khi con có 1 lời nói nào đó không có hài lòng với mình, hoặc người nào đó xử sự không hoàn toàn đúng. Có nghĩa là theo phương diện người đó là làm hoàn toàn sai, và mình là đúng. Nhưng khi nhìn lại chẳng có gì sai hay đúng gì ở đây cả.
Mình đi tìm cái đúng, cái sai gì trên cuộc đời này. Khi mình đã bước chân vào dòng pháp này tu tập, mình muốn tìm tới 1 con đường hướng thượng, thì mình phải thực sự nhìn ra được như vậy. Tức là mình nhìn tất cả đều là pháp, mình không nhìn đó là con người. Tại vì nếu khi mình nhìn người đó là người thân, hoặc là 1 người ghét, hoặc là người không thực sự yêu thích đối với mình. Thì khi mình xử sự thì mình sẽ xử sự theo 2 cái lập trình, đó chính là thương và ghét. Nếu người đó là 1 người thân ái với mình, mình sẽ xử sự theo hướng người đó nhiều hơn. Nếu là 1 người mình không yêu thích, mình sẽ xử sự theo hướng mình sẽ tìm cái lỗi của người đó nhiều hơn.
Khi mình nhìn ra được điều đó, mình sẽ có sự cảm thông người rất là nhiều. Cảm thông là như thế này, con nghĩ rằng trong cuộc đời của con có nhiều nhân duyên tụ họp lại, làm cho con có 1 cái duyên với cái pháp, và hiểu được chữ khổ trên cuộc đời này. Nghĩa là những vị lớn tuổi, có thể con sẽ không thấm nỗi khổ như các vị. Con nhìn lại quãng đời khi con từ nhỏ, cho đến lớn, đến khi con gặp dòng pháp này, con mới hiểu được sự khổ là như thế nào. Đó chính là khi con còn nhỏ, với 1 gia đình có thể gọi là có điều kiện. Nhưng khi con nhìn vào trong đó, trước mắt con vào năm 6, 7 tuổi gì đó, thì cha mẹ con cãi nhau, thì con thấy trên cuộc đời này có cái gì gọi là hạnh phúc.
Có nghĩa là khi con nhìn lại, con nhớ lại, con nhìn thấy cảnh cha mẹ mình cãi nhau mỗi ngày. Cho dù lúc đó cũng gọi là gia đình có điều kiện, và trải qua 1 vấn đề là mình bị người khác xâm hại tự thân này là 1 điều. Nhìn thấy cha mẹ của mình cãi nhau mỗi ngày như vậy, khi bắt đầu mình lớn lên tầm 10, 11 tuổi mình đi đến chùa, mình hiểu được Phật pháp. Bắt đầu mình gặp được 1 nhân duyên, để cho mình xuất gia tu học. Nhưng tu học được rồi mình cảm thấy được rằng càng ngày, cái bản ngã của mình càng lớn lên như vậy. Tại sao người ta nói mình 1 câu, là mình lại sân giận với 1 hình tướng là 1 người xuất gia. Tại sao mình lại có cái tâm độc ác như thế này, mình nhìn lại tự thân của mình.
Rồi mình ở chùa mười mấy năm như vậy, và mình cũng không cảm thấy lợi íc gì cả. Mình thấy mình có 1 sự thống khổ, khi mình có những tham, sân, si trong tự thân của mình. Rồi lớn hơn chút nữa là 19, 20 tuổi, thì mình muốn đi tìm hiểu bên ngoài, tìm hiểu những nơi khác xem con người có thay đổi không hay con người sẽ như thế này. Khi mình đi hết nước này tới nước nọ, thì mình thấy được tất cả mọi người cũng đều là như vậy. Cùng lắm thì sự hiện đại của họ, làm cho phát triển về tư duy. Nhưng thực sự bản chất về tập khí, dục ái của họ thì vẫn là như vậy. Và cho đến 1 ngày, sự dồn nén trong tự thân làm cho mình bị trầm cảm.
Cái sự trầm cảm của con nghĩ là khoảng 10 năm, con không thể nào bộc lộ được tất cả cảm xúc của con ra bên ngoài. Con cảm thấy rất khó chịu, khi con nhìn thấy 1 người nào đó, hoặc khi người nào đó nói gì với con. Con cảm thấy rằng con không giải tỏa được tự thân của mình. Và đến 1 ngày con nghĩ rằng mình không còn muốn sống được nữa, đối với cuộc đời này. Nhân duyên đưa đẩy con gặp được dòng pháp này, khi con nghe được chánh pháp này, cái đầu tiên là con nhìn ra được cái cảm thọ của mình. Con bắt đầu tự khai mở cảm thọ của mình ra, con hiểu được rằng trầm cảm là cảm xúc, trầm là bị chìm. Tức là cảm xúc bị chìm đắm, nghĩa là mình bị cảm thọ đau khổ đó nhấn chìm mình, mà mình không thể nào thoát ra được.
Khi con hiểu được điều đó, tự con thoát ra khỏi cảm xúc đó. Con hiểu được rằng thì ra đây chính là cảm thọ. Tiếp tục lúc đó con nhìn nhận lại thấy được bản ngã của mình, thấy được những tham sân si, thấy được những dục ái của mình. Mình khởi lên 1 sự thương xót mình vô cùng. Thương xót ở đây là mình bị những tham dục, những sân hận, bản ngã nó nhấn chìm mình. Có nghĩa là khi các vị có những cơn sân, hoặc là các vị khởi lên dục ái nào đó, thì các vị sẽ thấy những cái đó nó sẽ nhấn chìm mình thế nào. Thì cái cảm giác lúc đó con hiểu được cái điều đó là như vậy. Khi con hiểu được rằng, thì lúc đó con mới bậc khóc lên. Mình bậc khóc ở đây, là mình thấy mình thương mình thật nhiều.
Mình thương mình tại sao sanh ra trên cuộc đời này, mình phải chịu đựng những điều này. Khi con nghe được pháp, con hiểu được pháp, con học được pháp, con thực hành được pháp. Thì con hiểu được rằng bởi vì do có cái thân này, thì sự đau khổ đã bắt đầu nảy nở trong chính cái thân này. Khi con hiểu được điều đó, đầu tiên con đó chính là lòng cảm thông của con đối với người. Có nghĩa là khi mà khi một người nào đó hành xử như vậy, đối xử những điều không tốt đối với mình như vậy, mình sẵn sàng có thể tha thứ được cho họ. Bởi vì mình hiểu được cảm giác mà họ bị dục, bị sân chi phối là như thế nào. Đó chính là lý do mà khi con đối với người mà học đã xâm hại con, có nghĩa là mình nghĩ rằng mình không thể nào tha thứ được cho họ.
Nhưng khi mình nhìn họ, cái đầu tiên là mình cảm thấy thương họ vô cùng. Thương ở đây là khi mình lớn lên với những tập khí về dục của mình, được sanh sôi nảy nở, mà mình không thể nào kìm chế được. Thì làm sao 1 người không có sự tu tập, họ có thể kìm chế được dục vọng của họ. Mình có thể tha thứ được cho họ, tha thứ được sự sân giận, hoặc là cho những sự tức giận, hiềm hận của mình. Khi con tha thứ được như vậy, thì đầu tiên là con quỳ xuống con xin lỗi họ. Mình hiểu được rằng, tất cả những cái này là nghiệp của quá khứ. Có thể các vị nghĩ rằng trên cuộc đời này đều có luật pháp, hay là thế này thế kia. Nhưng con nghĩ rằng bây giờ mìh nhờ luật pháp hay gì đó, thì sự đau khổ nó vẫn ở trong mình, luật pháp chỉ làm vơi nhẹ điều đó.
Mình là người tu, mình phải làm như thế nào đó, mà thân tâm của mình trở nên hoàn toàn dịu lại, những cái sự đau khổ ngay trong chính tự thân này. Con đã từng suy nghĩ như vậy, và con đã thực hành được điều đó. Và con nghĩ khi mình thực hành được những điều này, mình cảm thấy tất cả những lời nói mà người ta có sĩ nhiếc, sỉ vả, mắng nhiếc mình nhiều khi thế nào đi chẳng nữa. Thì đối với mình những điều này hết sức là bình thường. Con nói ở đây không phải cho mọi người thấy điều này là hay. Mà con nói ở đây có nghĩa rằng con đã thực hành được 1 đôi phần nào đó, trong chính tự thân của mình.
Con hiểu được rằng khi con bước chân vào dòng pháp này tu học, con thường hay suy nghĩ tất cả những người mình gặp như con gặp tất cả các vị ngày hôm nay. Tất cả các vị lắng nghe điều con nói, và con nghĩ rằng chúng ta điều có nhân duyên nhiều đời, nhiều kiếp trong dòng sanh tử luân hồi này. Không phải là mình gặp nhau đây rồi lại hết, mà khi chúng ta gặp nhau ở đây, có nghĩa trong dòng luân hồi sanh tử này tất cả các vị từng là cha, là mẹ, là người thân của con rất là nhiều. Ngày hôm nay khi chúng ta gặp lại nhau ở đây, cũng chỉ là những người xa lạ trên cuộc đời này, và đó là điều cay đắng con nhìn ra được.
Con hiểu được rằng trong dòng pháp này, khi mình có 1 sự tu tập sắc vào trong dòng pháp này. Mình sẽ thấy được rằng dòng pháp này thực sự là vi diệu, và mình thấy khó khăn vô cùng là cái mình gặp được chánh pháp này. Con nhớ lại có 1 lần thầy Pháp Lực đọc 1 bài kinh, mà con nghe con rất là xúc động, đó chính là Đức Phật nói rằng: “Các ông được làm người rất là khó, được Đức Thế Tôn ra đời lại càng khó hơn. Pháp và luật do Đức Thế Tôn thuyết giảng không có được chiếu sáng trên cuộc đời này”. Có nghĩa là gặp nó rất là khó khăn, Đức Thế Tôn nói tiếp: “Cũng vậy này các Tỳ-kheo, các ông được làm người, được gặp Đức Như Lai, được pháp và luật của Đức Như Lai thuyết giảng đang chói sáng trên cuộc đời này”.
Có nghĩa là ngay tại lúc này, chúng ta đang được gặp nhau, được làm người, và được luật và pháp của Đức Như Lai thuyết giảng thực sự đang chói sáng trong đạo tràng này. Con nói vậy mọi người ở đây có ai hoan hỉ không ạ? Khi con hiểu được, thực hành được sự thông cảm. Mình thông cảm có nghĩa là mình hiểu được tập khí của mình, hiểu được sự khó khăn trong sự tu tập của mình. Thì mình không có sự khó chịu, đối với những người khác bên ngoài. Bản thân của con thường có suy nghĩ trước khi vào dòng pháp này, là những người lớn tuổi mình coi đó là cha mẹ của mình. Bởi vì 1 ngày nào đó cha mẹ của mình sẽ đi xuất gia.
Mà bây giờ mình đối sự với họ không được thiện cảm, không được tốt đẹp. Thì sau này chắc chắn cha mẹ mình sẽ bị lại những điều đó, và mình không muốn cha mẹ của mình bị những điều đó. Đối với những vị nhỏ tuổi, mình suy nghĩ không có muốn chèn ép họ, không có muốn làm khó họ. Bởi vì mình không muốn họ gặp lại con đường trước đây, mà mình đã từng. Mình đối với họ bằng 1 tình thường, sự thông cảm vô cùng. Cho dù thỉnh thoảng có những điều họ làm trái ý, nghịch lòng mình thật. Rồi mình nhồi mình suy nghĩ, mình có thể tha thứ cho họ một cách hoàn toàn. Con nhớ lại có 1 lần, sự phu đã từng nói, từng chia sẻ với chúng con như thế này:
“Thật sự bản thân của con khi con vào dòng pháp này, con bị người ta quay lưng lại rất là nhiều, con bị người ta sỉ nhục, sỉ vả rất là nhiều. Nhưng mà rồi con nhìn lại, con thấy rằng không có 1 cái ta nào ở đây cả”. Lời nói đó của sư phụ, đã làm cho con hoàn toàn có 1 sự hoan hỉ vô cùng. Hoan hỉ ở đây có nghĩa là khi ngài có 1 sự thực hành chánh pháp, có 1 sự hiểu pháp. Ngài nói với con là nhiều người chửi sư phụ rất là nhiều, có những người đã quay lưng, có những người nói sư phụ rất là nặng lời. Nhưng chính bởi vì sư phụ nhìn ra rằng, không có 1 cái ta nào ở trong thân tứ đại này cả. Thành ra không có đâu buồn, có nghĩa là không có người nào đang chửi tôi, và chỉ là 1 ngũ uẩn đang nói 1 tập khí nó như vậy thôi.
Khi mình nhìn ra được như vậy, con hiểu được điều đó, và con thấy rằng đúng thật sự là như vậy. Có nghĩa là sau 1 thời gian mình tu tập, phải có 1 sự thực hành, mình nhìn, mình đối diện với 1 người nào đó với 1 danh xưng như vậy, với thọ, tưởng, hành, thức như vậy. Mình sẽ thấy được trong con mắt trí tuệ của mình đó là cảm giác đang khởi lên, 1 hình bóng đang sanh khởi và 1 suy nghĩ đang nói lên. Hoàn toàn không có 1 người nào nằm ở trong đó cả, thì lúc đó mình mới thực sự được hiểu là thế nào là ngũ uẩn. Chỉ có như vậy, thì mình mới có thể dấng thân sâu vào dòng pháp này. Cho nên Đức Phật đã từng nói: “Này các Tỳ-kheo, Ta không có tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Người nói pháp không có tranh luận với bất cứ 1 ai ở đời”.
Khi mà mình hiểu được pháp này, mình có đi hết toàn bộ thế giới này đi chăng nữa. Thì thế giới này vẫn nằm gọn trong chữ “sắc”, mà Đức Thế Tôn đã trình bày. Mình hiểu được rằng, mình khởi lên lòng biết ơn đối với Đức Thế Tôn vô cùng. Bởi vì 1 thế giới bao la, rộng lớn như vậy, mà Ngài có thể đem lại, gom nó trở lại thành 1 mối. Để cho chúng ta thấy được rằng đây chỉ là sắc pháp mà thôi. Thấy được điều đó, cho nên người nào đó đi đến chất vấn Ngài, hay đòi hỏi Ngài điều gì. Ngài vẫn hiểu được rằng đó là pháp đang vận hành, và mình không muốn tranh đua với những với pháp này nữa. Đó là sự vi diệu của chánh pháp này, mà ngày hôm nay con muốn gửi đến cho tất cả các vị hiền trí ở nơi đây.”
3. Phật tử 2
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính trên sư phụ, kính trên quý thầy, kính trên Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Được sự thương tưởng trên sư phụ, đã cho chúng con ngày hôm nay được ngồi lại với nhau, chia sẻ lợi ích trong việc tu học kinh Nikāya. Con xin chia sẻ lợi ích tu học trong thời gian qua của con, đó chính là việc nhiếp phục bản ngã. Trong thời gian qua, con ngồi con nhìn lại những nguyên nhân nào nó làm cho con phiền não nhất. Trước đây thì con ở đời và khi đi tu, những nguyên nhân nào nó làm cho mình dễ tạo nghiệp nhất, làm phiền cho người khác nhất. Con ngồi con chiêm nghiệm lại, con mới thấy những lúc bản ngã mình phát sanh, thì lúc đó mình thấy mình bị phiền não nhiều nhất. Và lúc đó mình dễ tạo nghiệp, và tạo nhiều phiền não cho mọi người.
Khi con thấy sự nguy hiểm của bản ngã này làm khổ mình khổ người. Con ngồi chiêm nghiệm lại những lúc nào, những nguyên nhân nào làm cho bản ngã nó sanh khởi, làm khổ mình khổ người. Chiêm nghiệm lại 1 lần nữa, con mới thấy sự nguy hiểm của cái thức này. Chính do mình tự cho mình biết nhiều, nên mình cứ hay cho đúng cho sai, rồi mình tranh cãi. Thô thì mình nói ra tranh cãi với người khác, còn tế là mình thấy ai sai thì trong ý hành đó khó chịu trong tâm. Nó chỉ trích, nó nói: “Như vậy cũng đúng”, rồi tự nhiên lại đem phiền não về mình. Con thấy chính cái thức này nó nguy hiểm, những mà lâu ngày nuôi cái thức, cứ chấp vào cái đúng cái sai. Con thấy chính bản thân con cũng vậy, từ nhỏ rất là bình an, ai nói gì cũng nghe, đời sống rất là thoải mái, vui vẻ.
Khi lớn lên 1 chút được học hành, rồi bắt đầu khi cha mẹ nói là phản ứng, cãi lại cha mẹ. Trong cuộc sống cũng vậy, khi đi làm, hay là chơi với bạn bè, thì khi cho mình là đúng thì lúc nào cũng sừng mang, trợn mắt lên bảo vệ cái đúng của mình. Nhưng khi con đi tu, con nghiệm lại thì con thấy mình bị cái thức nó lừa, đúng sai để làm cái gì. Con chiêm nghiệm lại thì cái thức đúng là trò ảo thuật, vì trong kinh Đức Phật cũng dạy thức là trò ảo thuật. Con chiêm nghiệm lại những lúc khi mà ai đó chỉ trích hay nói về mình, nhưng mà cái cho là sai thì rất là dễ nhiếp phục, nó tác ý rất là dễ nhiếp phục. Nhưng mà khi ai nói mình mà mình cho mình là đúng, thì cái thọ tưởng hành nó sân si, nó bung, nó trào lên rất là mạnh.
Trong kinh Đức Phật dạy: “Vô mình duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc”. Danh sắc chính là thọ, tưởng, tư, xúc tác ý, hay nói ngắn gọn là sắc, thọ, tưởng, hành. Thì chính thức nó sinh ra thọ, tưởng, hành, nên chính khi mình chấp vào cái thức cho mình là đúng, thì thọ tưởng hành co cớ bám vào. Những cảm giác sân si nó khởi lên, những cái suy nghĩ nó chạy theo những cảm giác sân si đó. Và nói ra những lời nói làm người khác tổn thương, mà nặng hơn là hành động. Vì có suy nghĩ mới có lời nói, mới có ra hành động. Vậy kẻ đầu sỏ sinh ra chuyện, đó chính là cái thức. Và con chiêm nghiệm lại thì con thấy cái thức này là kẻ lừa đảo thôi, vì cái thức này đó không có đúng.
Cũng như con chiêm nghiệm con số 6, người đứng bên này thì nói là con số 6, người bên kia thì nhìn góc kia lại nói là số 9, vậy khi cãi nhau thì ai đúng ai sai? Cũng như mình kêu là mình biết, nhưng đơn giản từ mình đang ngồi hay là đang di chuyển? Câu hỏi đó mình vẫn không trả lời được. Nếu như mình nói mình đang ngồi, thì so với Văn Thủy Đường, so với mọi người là mình đang ngồi. Nhưng mà thật ra trái đất đang quay, thì mình cũng đang quay, vậy mình là đang ngồi hay đang quay. Thì cả 2 cái đều đúng, nhưng trường hợp nào so với trái đất là mình đang quay, nhưng mà so với không gian này thì mình đang ngồi. Con thấy cái thức này chính những cái biết càng nhiều, nó dẫn tới tham, sân, si, phiền não càng nhiều.
Nhưng mà tại sao mình lại ôm những cái thức đó, để đưa đến tham, sân, si, phiền não vậy? Trong kinh Đức Phật có dạy thân này là khổ, sao mình không biết thân này là khổ. Rồi cái lỗ tai là khổ, tiếng là khổ, sự nghe này là khổ, rồi cảm thọ này là khổ. Đức Phật dạy như vậy, mà sao cái thức mình không biết đây là khổ, đây là ngũ uẩn. Sư phụ nói cả trăm, cả ngàn lần không có ai ở đây hết, đây là ngũ uẩn, đây là tứ đại, thì đó là sự thật. Nhưng tại sao mình không thấy, mình không biết đây là ngũ uẩn, không có ai ở đây cả, chỉ là bộ xương, chỉ là tứ đại. Mà cứ biết rằng người kia sai mình đúng, để đưa đến tham, sân, si, phiền não. Khi con chiêm nghiệm lại, con thấy cái thức này thật là ngu ngốc, nó chỉ biết giây phút hiện tại.
Hôm nay người kia làm sai, vu oan, hay chỉ trích nói oan nói xấu mình nhưng những cái trước thì nó không có biết. Đơn giản thôi mọi người tự nhìn nhận lại, bây giờ hôm nay mình mới biết ngũ uẩn, nhìn nhận lại ngũ uẩn thì đỡ 1 chút. Nhưng mà trước đây, những năm về trước khi chưa được học ngũ uẩn thì như thế nào. Đâu có biết cảm thọ, đâu có biết tưởng và hành đâu. Mà ngồi lại thì chính bản thân con có ba mươi mấy tuổi thôi, nhưng mà con nhìn nhận lại thì tội nghiệp mình gây ra rất là nhiều. Khi những lúc sân giận lên thì thật là tham lam, tạo nghiệp rất là nhiều. Hoặc bây giờ đi tu thì ăn chay, còn trước đây thì đi nhậu, rồi ăn nhưng sanh mạng chúng sanh thì ai đúng ai sai.
Rồi mình sát hại mạng của chúng sanh, rồi những chúng sanh đó như thế nào, sao mình không nhớ mình sai. Trong kinh có dạy:
“Nghiệp duyên như bóng với hình
Chờ duyên hội đủ để hành tội nhau”
Trong kinh Đức Phật cũng có dạy: “Vô thỷ là luân hồi, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự luân chuyển, luân hồi của chúng sanh. Do vô minh che đậy, tham ái trói buộc”. Thì để thấy rằng dòng sanh tử luân hồi này, rất là lâu rồi Đức Thế Tôn dùng thần thông vẫn không thể tìm ra điểm khởi đầu của sự sanh tử, luân hồi này. Sanh tử luân hồi này được vô minh che đậy, tham ái trói buộc. Thì làm sao mà khi bị vô minh che đậy, tham ái trói buộc mà không tạo nghiệp. Thì biết bao nhiêu nghiệp trong quá khứ cũng như nghiệp trong vị lai. Nhưng bây giờ thì mình chỉ biết là người kia nói oan, nói ức, hay là làm mình đau khổ. Nhưng đâu biết rằng mình đã tạo biết bao nhiêu là nghiệp.
Cũng như sư Nguyên Tú lúc nãy có nói mọi sự gặp gỡ điều là duyên nghiệp. Có khi người đó mình giúp, thì bây giờ họ giúp lại mình. Còn những oan gia trái chủ, thì họ sẽ đi theo đòi. Trong kinh có nói nghiệp theo như bóng với hình, đâu phải mình nghĩ mình lên chùa thì sẽ bình an đâu. Lên chùa chỉ qua là mình được học pháp, mình quay lại nhìn nhận thân tâm. Môi trường thì hiền thiện, mình sẽ bớt phiền não hơn. Nhưng mà chính những nghiệp trong quá khứ của mình, thì nó sẽ luôn đi theo mình. Khi nào mình trả hết nghiệp, thì nó mới hết. Cho nên con nhìn nhận lại là cái việc mình đi tu, thì mình vẫn phải tiếp tục trả nghiệp. Những chướng duyên nó tới, thì mình phải chấp nhận vui vẻ, trả thì sẽ bình an.
Còn nếu mình cứ đòi hỏi tại sao lên chùa những vẫn có chuyện phiền não, vẫn có chuyện nói xấu nhau. Nếu như mình chấp vô đó thì mình sẽ khổ, và mình sẽ chạy đi chỗ khác. Không có chỗ nào mà thoát hết, vì đã nghiệp theo như bóng với hình mà. Không bao giờ mà cái bóng rời cái hình cả, dù có đi chân trời góc biển. Có 1 bài kinh mà có 1 vị thiên gần hết thọ mạng, thì họ mới trốn lên hư không. Có vị thì trốn ở dưới biển, có vị thì trốn ở giữa động núi. Nhưng mà khi nghiệp tới thì vẫn không thể trốn được. Thì để khi mà con nhìn nhận ra, những chướng duyên nó tới con cũng vui vẻ chấp nhận, con thấy nó nhẹ nhàng hơn. Con cũng đang cố gắng, vì cái tập khí nó chấp rất nhiều vào cái thức này.
Nhưng mà con đang tập xả cái thức này, con quán nhiều về nhân quả hơn. Mình đi tu để trả nợ, chứ đâu phải để trốn nợ đâu, cứ vui vẻ trả nợ. Mỗi lần người khác nói oan nói ức, hay bị la rầy, thì mình đang trả 1 món nợ. Và cái nghiệp mình nó đang giảm, thì tới 1 ngày cái nghiệp mình sẽ hết. Con bằng lòng chấp nhận với những cái chướng duyên nó tới. Khi bị người khác nói oan ức, cái thức nó biết mình đúng, thì thọ tưởng hành nó dâng rất là mạnh. Có nhiều lúc con biết thì con quán pháp: “Đâu có ai ở đây đâu, ngũ uẩn mà. Mình cũng vô minh, người khác của vô minh mà”. Còn có nhiều lúc con không có quán được, biết là 1 chuyện, nhưng mà làm là 1 chuyện khác.
Vì đang trong quá trình tu tập để thành tựu chánh tri kiến, nên có lúc thấy có lúc không thấy. Trong quá trình qua thì con thực hành những lúc mà con bị oan ức, hay ai nói xấu. Thì lúc đó con dùng 2 câu trong kinh ngài Xá Lợi Phất:
“Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách
Không giận người lau sạch dơ
Nguyện tâm như kẻ nghèo đói nhất
Ai phỉ báng gì cũng lặng yên
Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách
Có gì để lên mặt hơn thua”
Thì những lúc mà cái thức nó cho mình là đúng, mình bị oan, thì con đọc 4 câu đó. Thì con thấy cái thọ, tưởng, hành nó dịu lại. Khi thọ, tưởng, hành nó dịu lại, thì cơn sân nó dịu lại thì lúc đó cái trí mình nó sáng. Lúc đó con quán về nhân quả, nghiệp quả, quán về ngũ uẩn, tâm từ, người khác vô minh mình cũng vô minh. Nếu lúc mà khi đang sân, cho mình là đúng, người khác nói oan nói ức cho mình. Thì dù có thấy nhưng cái cảm giác sân nó rất là mạnh, nên lúc đó trải tâm từ nó rất là khó. Nên con thấy việc mình bị oan ức, bị khó chịu, thì việc đầu tiên mình phải làm là cho cơn oan ức, khó chịu đó nó dịu xuống. Sau đó mình mới bắt đầu như lý tác ý, để hóa giải cơn khó chịu đó, vì phải sống chung với lũ.
Khi đọc kinh thì con mới thấy rấy là hoan hỉ, Đức Thế Tôn cũng rất nhiều lần bị mắng, bị chửi. Ngái Xá Lợi Phất thì con thấy trong 2 bài kinh sau khi an cư, kinh Asari Buka và kinh Kolalika thì ngài Xá Lợi Phất rất là hiền thiện, trí tuệ từ bi nhưng vẫn vu khống, còn ngài Mục Kiền Liên thì bị sát hại. Con thấy rằng Đức Thế Tôn và các bậc thánh mà còn bị như vậy, thì mình sao không bị được. Nếu như bản thân mình không còn nghiệp, thì mình đâu có ngồi đây đâu, mình đã nhập Niết-bàn rồi. Đức Thế Tôn có dạy: “Sinh ra là khổ, khi mình đã mang một thân người có lục căn này là khổ. Này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm là biết đây là khổ”.
Mình phải biết chấp nhận sống chung với lũ, mình mang cái khổ này, cái thân này, mà mình muốn không có khổ nữa thì mình phải thấy cái thân này là khổ. Khi mình thấy cái thân này là khổ, thì mình nhàm chán cái thân này. Mình không còn muốn mang những cái thân này, thì lúc đó mình mới hết khổ. Còn mình còn mang thân ngũ uẩn này, thì vẫn là khổ. Nên con thấy việc để ý vào cái thức, nhất là những cái đúng cái sai, con tập xả bỏ cái thức. Sư phụ có dạy, cái gì mà cái biết đưa đến dục ái, tham, sân, si thì cái đó là cái thức mình nên bỏ. Cái biết nào đưa đến vô thường, khổ, vô ngã, nhàm chán, li tham, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Cũng là cái biết đó, nhưng 2 cái khác nhau. Một cái biết là thức trí, cái biết đưa đến dục ái, tham, sân, si, bản ngã. Và một cái biết là đưa đến vô thường, khổ, vô ngã thì cái đó là tuệ tri. Khi con nhận ra điều đó, thì con cố gắng đập đỗ ly nước tràn. Những cái thức mà mình được học ngoài đời, những cái kiến thức nó đưa đến phiền não tập bỏ đi. Rồi đưa vào những cái biết mà Đức Thế Tôn dạy, đó là đây là khổ, cái thân này là khổ. Sự nghe, sự thấy, sự ngửi, sự nếm, sự xúc chạm này là khổ. Nên con tìm ra cái đầu mối là những cái biết đúng sai, nó sẽ làm mình khổ. Và con cố gắng buông bỏ, để ý nó trong những lúc chướng duyên nó khởi đúng sai thì cứ niệm.
Hằng ngày lúc nào rảnh, thì con niệm 4 câu của ngài Xá Lợi Phất đó. Những câu đó giúp cái tâm con thời gian qua, cái bản ngã con đang giảm, con thấy sự bình an trong mình nó nhiều hơn. Cái thức này nó hại rất là nhiều, thí dụ 1 ai đó đọc kinh sai, thì rất là nhanh: “Ủa tại sao không đọc kỹ mà đọc kinh sai vậy”. Mình cũng biết là cái thức này nó lừa đảo: “Mày học kinh để mày thực hành, hay là mày học kinh để mày đi bắt người khác”. Và mình trải tâm từ, ai cũng còn vô minh hết, thì nó rất là nhanh. Còn không nó cứ chạy lộn xộn hết, nó làm thời nghe pháp bảo của mình bị ảnh hưởng. Và rất rất là nhiều việc, mà mỗi lần mình chấp vào cái thức, thì mình tác ý.
Con dẹp được cái thức thì con bớt sân si với người khác hơn, và con thấy đem lại bình an cho bản thân mình và cho mọi người. Đó là những lợi ích không thời gian qua, mà con thực hành được. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
4. Phật tử 3
“Con chân thành đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán chánh đảnh giác.
Con kính lễ trên sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng các bậc hiền trí.
Hôm nay được sư cho phép của quý thầy, con cũng xin được chia sẻ 1 số điều lợi ích trong việc tu học kinh tạng Nikāya. Điều thứ nhất mà con thấy rằng rất là lợi lạc, và may mắn cho con đó là khi tu học trong dòng pháp Nikāya này. Con được tiếp xúc trực tiếp, với lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Được đi thẳng vào lời dạy của Đức Phật. Tại vì kinh tạng Nikāya, là được hầu hết các nhà nghiên cứu Phật học trên thế giới này công nhận. Tạng kinh này là gần sát nhất, với những lời dạy nguyên thủy của Đức Phật 2600 năm trước. Con thấy các pháp học, pháp hành mà con được học ở đây thực sự là được căn cứ, được dựa hòa toàn vào lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya.
Bởi vì vậy cho nên con thấy mình đã may mắn đến được, tìm được đúng chánh pháp. Như vậy thì mình thực sự không uổng phí, sự xuất gia ở đời này. Khi mình tìm được những lời dạy nguyên chất của Đức Phật để mình tu, thì mình sẽ tránh được sự lệch lạc. Tránh được những tư kiến, những sự hướng dẫn dựa trên những nhận định tư kiến của những người đời sau, đó là lợi ích thứ nhất. Thứ 2 là khi tu tập trong dòng pháp Nikāya này, thì con loại bỏ được rất nhiều những sự nghi hoặc, khuất mắc trong tâm trong những sự tu tập trước đây. Con thấy mình càng tu thì mình càng sáng ra, và thấy rõ được 1 đạo lộ, 1 phương pháp tu tập rất là thiết thực,k sáng tỏ, minh bạch.
Trong dòng pháp này, con thấy sự lợi ích cho mình kho con được chỉ ra những sự thật. Những sự thật rất là vĩ đại, mà có thể là nhiều đời nhiều kiếp qua trong dòng luân hồi này con chưa từng được nghe, chưa có ai nói cho con nghe. Cho nên cảm thọ trong con có rất nhiều lần, vô số lần con bị chấn động và vô cùng hoan hỉ. Đến mức mà con khóc gần như là muốn bệnh. Con biết rằng những cảm thọ đó, là những cảm thọ rất là hi hữu trong dòng luân hồi này. Bởi vì hạnh phúc được nhìn thấy sự thật. Một sự may mắn cho con là được học trực tiếp với sư phụ, sư phụ là 1 người có khả năng truyền tải. Cái lời nói, sự thiền quán của sư phụ thật sự có thể chạm được trong cảm thọ của con, của mọi người.
Thí dụ bài kinh niệm xứ con cũng đã học ở trường, đã được giảng giải, con cũng trả bài, con cũng thuộc. Nhưng mà chỉ ở trên từ ngữ, ngôn ngữ, lời lẽ, còn cái cảm thọ con cư trơ trơ. Nhưng mà khi con được thực hành pháp hành Nikāya này, thì mới thật sự chạm đến cảm thọ sâu ở trong lòng. Mình cảm nhận được 1 sự nhàm chán, sự ghê sợ những cái sự bất tịnh của thân tâm. Hay là cảm thấy nhàm chán khi thấy được sự vô thường, bắc trắc khi mà niệm chết. Thì con cảm thấy rất là lợi ích cho con, vì chính cảm thọ đó nó mới có khả năng làm cho gốc rễ vô minh và chấp thủ ở trong mình bị lung lay. Còn nếu chỉ trong ý hành, trên lời lẽ, mình suy nghĩ, mình nói lào lào.
Nhưng mà cái cảm thọ mình không có, thì sự vô minh chấp thủ trong mình nó vẫn còn nguyên, không bị đụng chạm đến được. Lợi ích thứ 3 con nhận được khi tu tập, là con nhận thấy lòng tôn kính, niềm tin với Đức Thế Tôn trong con mỗi ngày được tăng trưởng. Hồi trước khi con chưa tu tập pháp này, thì hình ảnh Đức Thế Tôn trong lòng con là 1 vị thần thánh, rất là cao xa, xa vời. Con chỉ có thể thờ, lễ lạy, cầu nguyện, cầu xin Ngài cứu độ, nó rất là mơ hồ. Nhưng mà khi con tu tập pháp Nikāya, thì con cảm thấy mình hiểu được Đức Phật nhiều hơn. Con biết được Đức Phật là ai, Ngài tu tập cái gì, và đac thành tựu điều gì. Con hiểu rằng Đức Phật cũng là 1 con người, chứ không có bị thần thánh hóa.
Ngài cũng là 1 con người bằng xương bằng thịt, nhưng Ngài là 1 con người vĩ đại. Ngài có 1 tình thương vô lượng, rộng lớn tất cả chúng sanh. Ngài có 1 trí tuệ, phước báo vô cùng lớn, để rồi Ngài có thể tự mình phát giác, phát hiện những cái cấu uế, lậu hoặc, rác bẩn ở trong tự thân. Và tự mình nhiếp phục, đoạn tận tất cả những cấu uế, lậu hoặc, thanh lọc để đi đến 1 nội tâm hoàn toàn thanh tịnh. Ngài có thể tự mình thấu suốt được, sự thật tột cùng của thân tâm và thế giới. Ngài tìm ra con đường thoát khổ, tự mình giải thoát khổ. Ngài chỉ lại con đường giải thoát khổ đó cho tất cả chúng sanh. Khi con cảm nhận điều đó thì lòng tôn kính, lòng tin của con đối với Đức Thế Tôn là vô cùng vô tận, đó là lợi ích thứ 3.
Lợi ích thứ 4 là khi con được tu tập trong dòng pháp Nikāya này, thì con thấy rõ được đạo lộ rõ ràng, minh bạch. Bám sát được bát chánh đạo, tứ niệm xứ mà Đức Phật đã chứng ngộ. Con thấy được mục đích cứu cánh của kiếp nhân sinh này, thấy được mục đích thật sự mà mình cần phải hướng tới là gì. Trong bài kinh “Sa-môn Hạnh”, Đức Phật đã dạy là: “Mục đích của Sa-môn hạnh đó là đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si”. Con thấy được mục đích mình cần hướng tới là nhận diện, chiến đấu, nhiếp phục hoàn toàn những tham, sân, si, bản ngã, chấp thủ ở bên trong nội tâm. Mình phải có được chánh kiến, nhìn rõ vào tự thân, nhìn thấy sự vận hành của thọ, tưởng, hành, thức, vận hành của bản ngã.
Sử dụng các phương pháp mà Đức Phật đã chỉ dạy, để nhiếp phục và đoạn tận tất cả những sự tham, sân, si, bản ngã, dục ái, vô minh đó. Thì đó là mục đích của sự tu tập này, lấy tham, sân, si, bản ngã, để làm thước đo trong sự xuất gia của mình. Đây là 1 điều hết sức là thiết thực, nếu như mình quên mục đích này mình sẽ tu lan man, càng tu mình sẽ càng tham, sân, si, bản ngã mà mình không có hay biết. Một lợi ích nữa con xin chia sẻ, đó là với sự thực tập còn kém cỏi của con, nhưng con thấy được rằng khi con nhìn người, nhìn đời, nhìn vào tự thân mình. Thì con nhìn với ánh mắt nhẹ nhàng hơn.
Mỗi khi nhìn người, nhìn đời thì con hay nhắc nhở chính mình là thân xác này là vô thường, tạm bợ, bản chất của nó là bất tịnh, nhơ nhớp, dễ tan, dễ vỡ. Những thân xác của những người khác, và người xung quanh cũng vậy. Chỉ là sắc, là tứ đại, bản chất là bất tịnh, duyên sanh, do thức ăn tạo thành. Là vô thường, biến hoại, không đáng để cho mình phải tham ái, không đáng để cho mình thèm muốn, chấp thủ. Khi một lời nói khen chê, hay là những lời nói đúng sai, phải quấy của những người xung quanh. Thì con tập hiểu rằng nó cũng chỉ là vô thường, những lời nói đó cũng là thanh trần, vô thường, tạm bợ, duyên sanh, rỗng không, vô nghĩa. Không đáng để cho mình sân, không đáng để cho mình đắm trước ở trong đó.
Cũng như những hành động của những người xung quanh cũng vậy. Cho dù hành động như thế nào, thái độ gì đối với mình. Thì mình cũng biết rằng những điều đó cũng chỉ là vô thường, tạm bợ, là thứ rỗng không, vô nghĩa. Không đáng để cho mình bị trói buộc vào đó, dính mắc vào đó. Để mà sân si, tham ái, đố kỵ, ghen tị khởi lên. Cũng như khi học trong dòng pháp này, có những sự chỉ dạy về phương pháp như lý tác ý. Hiểu được duyên nghiệp của mình, của những người chúng sanh. Hiểu được những phương pháp quán bất tịnh, niệm chết, quán tứ đại, an trú tâm chín pháp của ngài Xá-lợi-phất. Quán mình như nùi giẻ rách, quán đất, nước, gió, lửa.
Thì con cảm nhận được dòng pháp này là con đường hết sức là rõ ràng, rộng mở, đầy đủ tất cả mọi phương tiện. Để cho mình có thể đạt được mục đích cứu cánh của đời tu, đó là giải thoát tất cả mọi sự chấp thủ, trói buộc của ngũ uẩn. Và đạt được sự hoàn toàn, không còn đau khổ, đạt được sự Niết-bàn cứu cánh. Điều duy nhất mà mình phải làm khi mình có phương pháp rồi, chỉ cần mình tinh tấn, kiên trì, sự nỗ lực, ý chí của bản thân. Thì nhất định mình sẽ đạt được mục đích của sự tu, trong dòng pháp Nikāya này. Đó là một số lợi ích, mà con xin chia sẻ đến toàn thể chư vị hiền trí. Nếu có gì còn sai sót, con xin quý vị hoan hỉ và chỉ dạy thêm cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
4. Phật tử 4
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên sư phụ, bậc ân sự tôn kính.
Con kính bạc trên chư vị thiền đức Tăng Ni, cũng các vị tất cả các bậc hiền trí.
Hôm nay đầy đủ nhân duyên, được sự thương tưởng trên sư phụ cùng chư tôn thiền đức Tăng Ni. Cho phép cho chia sẻ về lợi ích tu học trong kinh tạng Nikāya. Con xin chia sẻ về lợi ích quán vô thường và niệm chết, mà con trong thời gian qua. Nhưng thường lệ con thường an trú, quán sát nhìn lại chính mình, nhìn lại những cảnh vật, đồ vật mà con nhìn thấy hằng ngày. Con thấy chúng mỗi ngày biến đổi, thay đổi và hoại diệt. Chúng mỗi ngày biến đổi trong từng Sát – na sinh diệt, sinh diệt. Ý hành con sinh khởi trên đời này có cái gì mà không chết, sanh và diệt là định luật vô thường. Mỗi lần con đi hành thiền, con quán sát những chiếc lá lìa cành rơi trên mái nhà. Hay là những chiếc lá lìa cành rơi rụng rải rác trên mặt đất, trên những phiến đá.
Con quán sát những hình ảnh đó, để nhắc nhở ngũ uẩn con về bài học vô thường, niệm chết. Trong tâm con thầm khởi, thầm niệm:
“Cảm ơn chiếc là lìa cành
Cho con thấy được mong manh kiếp người”
Khi con nhìn những chiếc là lìa cành, những chiếc lá vàng úa, cằn cỏi, héo tàn, lìa cành. Có những chiếc lá còn tươi tắn, trẻ trung đã lìa cành. Có những chiếc lá còn xanh mơn mởn, vừa ra lá non đã phải lìa cành. Cũng vậy, như con người có người chết già, chết trẻ, chết nửa chừng. Đâu có gì bảo đảm cho sự sống còn của 1 sinh mạng, mong manh là sự sống. Đời người ngắn ngủi, tạm bợ chỉ trong hơi thở, hít vào mà không thở ra là kết thúc một kiếp nhân sinh. Con nhìn lại chính tự thân mình, con thấy sức khỏe và tinh thần mình đã cúi đầu trước thời gian. Sức khỏe và tinh thần mình, cũng đã khấu hao tài sản sắp hết. Nó đang đi đến già, bệnh và phải chết.
Pháp tưởng, pháp tư con nghĩ tưởng và chiêm nghiệm bài kinh “Araka”, Đức Phật dạy: “Ví như con bò bị dẫn đến lò sát sanh. Mỗi bước chân của nó, là mỗi bước chân tiến gần đến cõi chết”. Mỗi một ngày trôi qua, con đang giảm dần đi một ngày của sự sống. Và con đang tiến dần đến một ngày của sự chết, đó là một điều chắc chắn chẳng đổi khác. Rồi đến bao lâu thân xác này sẽ nằm dài trên đất, bị vứt bỏ như khúc gỗ vô dụng. Như vậy mình cũng sinh sa, mang bệnh, già đi, rồi chết. Đó là 1 sự thật về thân tâm và cuộc sống, mà Đức Phật đã dạy. Không ai thoát khỏi cảnh sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, đây là khổ, khổ là đây.
Và tiếp đến hằng ngày con quán sát, nhìn lại những cái chén, cái ly con uống nước, đôi dép con đang mang hay bộ đồ con đang mặc, con mới mua về hay được mọi người cho tặng. Hay những đồ dùng, vật dụng sử dụng hằng ngày, lúc ban đầu chúng mới, đẹp, xinh xắn. Nhưng trải qua thời gian biến đổi, hoại diệt, nó xấu, cũ, không còn đẹp, trở nên tàn tạn, xấu xí, hoại diệt và mất đi. Bản chất của chúng là hoại diệt, điều kết thúc trong sự hoại diệt, điều không vượt qua sự hoại diệt. Cũng vậy, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Hằng ngày thỉnh thoảng con hay tác ý, hỏi ngũ uẩn rằng: “Nếu còn 1 giờ để sống, thì ngũ uẩn sẽ làm gì trong giây phút này?”
Thì ngũ uẩn trả lời rằng: “Tôi sẽ trân quý những giây phút còn lại, nỗ lực tu tập bằng sức mình, tu chừng nào chết thì chết, không sợ”. Vì tất cả các pháp đều vô thường, bất định, chỉ có cái chết là điều cố định. Nên hãy tập an trú trong chánh niệm, tỉnh giác trong phút giây thực tại ra đi không quan trọng, tùy duyên. Chết như thế nào không quan trọng, mà quan trong mình đã thể nhập vào pháp thân chưa, đó mới là điều quan trọng. Tưởng con nhớ đến sư phụ có hỏi chúng con rằng: “Ai là người thân nhất của mình? Chính là pháp thân. Pháp thân không chỉ trong kiếp này, không chỉ là người thân trong đời này, mà là người thân trong những kiếp về sau.
Tuy thân này mất, nhưng pháp thân không mất, pháp thân còn thân hơn cả sinh mạng nên gọi là pháp thân. Còn lại là giả tạo, tạm bợ, vô thường, vô ngã, đó là bản chất, là sự thật của các pháp. Nên hãy từ bỏ cái thân giả, cái thân thiệt, từ bỏ cái thân ung nhọt, bất hạnh, bất tịnh, tai nạn. Để có được cái thân kim cương, để có thể thể nhập vào pháp thân. Con cũng nhớ đến bậc đạo sư có dạy: “Đừng nên tưởng tượng ngày mình ra đi mà sợ hãi. Tương lai là cái gì? Tương lai là cái quả của hiện tại. Nếu lo sợ về tương lai, thì trồng ngay cái nhân ở hiện tại, thì tương lai sẽ trổ quả. Không còn ngày mai, hãy tu cho tốt ngày hôm nay, hãy sống cho tốt ngày hôm nay. Những gì mình tu tập được, trí tuệ mình thực hành như thế nào, đường hướng tâm linh mình như thế nào, thì đó là nơi mình sẽ đi tiếp.”
Khi con thường an trú tâm trong đề mục quán vô thường, niệm chết như vậy thì trong tâm con sanh khởi sự hỷ lạc tràn đầy. Có một điều thật là hay khi con thường quán an trú tâm trong đề mục quán vô thường, niệm chết như vậy. Thì trong tâm con có 1 sự chuẩn bị cho ngày ra đi, có 1 sự chuẩn bị cho mối nhân duyên từ bỏ giữa mình và ngũ uẩn. Trong tâm con sát quyết rằng trong tâm không từ bỏ ngũ uẩn, thì bất ngờ nó ra đi trong sự phũ phàng, không lời từ biệt. Thà rằng mình chủ động, mình làm chủ nó, để nó không mang đến sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não cho mình. Cũng nhờ con thường xuyên quán đề tài này, nó giúp con trân trọng những năm tháng còn lại. Khi làm gì con cố gắng làm tốt không làm dở, vì làm dở thì sau sẽ khổ đau.
Ví như nhiều lần đại chúng nhờ con giúp gì, hay khi mà con đang giặt bộ đồ, đang lỡ tay. Mà khi đó đại chúng nhờ con giúp, nếu công việc đó không quan trọng, thì con xin phép 5 phút để con khẩn trương giặt bộ đồ phơi lên. Vì con nghĩ rằng nếu chẳng may vô thường ập đến, con đột quỵ ra đi bất ngờ thì con sẽ làm phiền người khác nhiều nhất có thể. Vì con thiết nghĩ mình là 1 người tu, thì mình hạn chế làm phiền người khác ít nhất có thể. Khi con thường xuyên an trú trong tâm quán vô thường, niệm chết, nó giúp cho con sanh khởi nhiều niềm vui hỷ lạc. Trân trọng những mỗi nhân duyên trong cuộc sống này, con thấy mình sống sâu sắc hơn, sống đúng trách nhiệm, sống đẹp với đời. Nhận diện ngũ uẩn, thể nhập thánh trí, diệt tham, sân, si.
Để kết thúc chia sẻ về lợi ích tu học quán vô thường, niệm chết. Con phép con được đọc bài kệ “Nếu Chỉ Còn Một Giờ Để Sống”, mà con đã làm lúc con tác ý ở trong thất.
“Nếu chỉ còn một giờ để sống
Bạn làm gì trong giây phút này?
Tôi sẽ an trú trong thực tại
Để lắng nghe thọ, tưởng, hành
Nếu chỉ còn một giờ để sống
Bạn làm gì trong giây phút này?
Tôi sẽ dạy bảo ngũ uẩn ơi
Hãy chấp nhận sự thật về cái chết
Nếu chỉ còn một giờ để sống
Bạn làm gì trong giây phút này?
Tôi buông xả hết mọi dính mắc
Đang trói buộc trong thân và tâm
Nếu chỉ còn một giờ để sống
Bạn làm gì trong giây phút này?
Tôi xả mọi ý niệm bất thiện
Để được an trú trong pháp thân
Nếu chỉ còn một giờ để sống
Bạn làm gì trong giây phút này?
Tôi bảo rằng không gì là tôi
Không có cái gì là của tôi
Nếu chỉ còn một giờ để sống
Bạn làm gì trong giây phút này?
Tôi sẽ an tịnh thân và tâm
An trú trong an tịnh lắng dịu
Nếu chỉ còn một giờ để sống
Bạn làm gì trong giây phút này?
Tôi an trú quán niệm vô thường
Quán sự chết là điều cố định
Nếu chỉ còn một giờ để sống
Bạn làm gì trong giây phút này?
Tôi sẽ vứt bỏ liền gánh nặng
Sẽ bỏ hoàn toàn ngũ uẩn này
Nếu chỉ còn một giờ để sống
Bạn làm gì trong giây phút này?
Tôi sẽ đón nhận thời đã đến
Ra đi trong nhân quả tùy duyên”
Đó là sự chia sẻ lợi ích tu học trong đề mục quán vô thường, niệm chết. Trong khi con chia sẻ, nếu có sanh khởi gì bất thiện. Con ngưỡng mong sư phụ cùng chư vị thiền đức Tăng Ni, và các bậc hiền trí chỉ dạy, chỉ lỗi cho con được khắc phục. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
5. Phật tử 5
“Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán chánh đẳng giác.
Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý Ni sư, sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí.
Hôm nay được trên sư phụ cho phép con, cùng với các thầy cô chia sẻ lợi ích tu học Nikāya. Con cũng có 1 vài điều chia sẻ với đại chúng. Cũng nhân duyên vừa qua 3 tháng an cư, con an cư tại thiền viện Đinh Sơn. Khi được phép trên sư phụ cho đi an cư, con cũng tìm hiểu về đời sống, thời khóa tu tập ở bên thiền viện. Thật sự bên đó thời khóa không giống bên Linh Quy, cũng gây cho con rất nhiều khó khăn. Nhưng mà luôn luôn được an trú trong pháp, lấy lời dạy của Đức Phật, Đức Thế Tôn làm hành trang cho mình. Cho nên con mới có thể vượt qua được 3 tháng này, đối với con là 1 sự khó khăn. Vì bên đó thời khóa là cứ nửa tiếng đi kinh hành, nửa tiếng ngồi thiền, một ngày thì có 10 thời khóa như vậy.
Mọi người có thể hình dung là chánh điện ở bên tu viện nó rộng hơn ở đây, là gấp 4 lần như vậy. Cho nên việc đi kinh hành đối với con là 1 sự khó khăn, vì nó không giống ở Linh Quy, đi kinh hành ở bên thiền viện rất là nhanh. Nhờ con con trú trong pháp, nhưng mà phải mất mấy ngày sau, có mới có thể đi kinh hành mà không có dòng tâm ý không được thiện lành. Những ngày đầu thì con đi với 1 sự khó khăn, vì quãng đường rất là xa. Mình có để ý, có tìm hiểu, thì 1 ngày mình đi khoảng chừng 15 cây số. Cũng rất là khó khăn, một ngày trôi qua mà buổi tối con đi ngủ thì 2 cái chân của con như bị rã ra, rất là mỏi.
Vì bên núi mặc dù đi cũng nhiều, mà đi đồi núi không bằng cái quãng đường mà đi bên thiền viện, vì bên đó đi rất là nhanh. Lúc đầu con chưa có an trú trong pháp, luôn tự hỏi mình phải làm như thế nào để mình vượt qua giai đoạn khó khăn này. Không phải ngày 1 ngày 2, 1 tuần, mà là 90 ngày, thời gian 3 tháng. Việc ngồi thiền đối với con là không có khó, nhưng mà việc đi kinh hành thì rất là khó. Thì lúc đó những ngày đầu con thấy sự khó khăn, vì trong tâm con có 1 sự không hài lòng. Vì nó có sự so sánh giữa ở bên này và bên đó. Bên mình đi rất là chậm rãi, và có sự nhìn nhận, quán chiếu lại thân tâm nó cũng không có khó khăn.
Bên đó đi rất là nhanh, con phải làm quen, rồi con quay lại rà soát những gì mình đã tu học. Con nhận ra và lấy đó làm kim chỉ nam cho mình, đo là trong bài kinh “Đi Kinh Hành” của Đức Phật đã chỉ ra: “Này các Tỳ-kheo, có 5 lợi ích trong việc đi kinh hành. Thế nào là 5? Kham nhẫn được đường trường, kham nhẫn sự tinh cần, ít bệnh tật. Đưa đến tiêu hóa tốt đẹp các đồ thức ăn được ăn, được uống, được nhai, được nếm. Định chứng được trong khi đi kinh hành, được tồn tại lâu dài”. Rồi lúc đó con mới có được kim chỉ nam, một chìa khóa. Để cho con gỡ rối được trong thời kinh hành. Mười thời trong 1 ngày trôi qua tại thiền viện, lúc đó trong con không còn sự so sánh nữa. Mà lúc đó con luôn luôn an trú vào pháp, an trú vào lời dạy của Đức Thế Tôn.
Đó là mình kham nhẫn được đường trường, kham nhẫn quãng đường mình đi trong suốt trôi qua. Không chỉ kham nhẫn được đường trường không, mà lúc đó mình phải có đề mục để mình tu tập, an trú. Còn bằng không cái sự kham nhẫn đường trường đó nó không có liên tục, nó không đem lại hiệu quả trong sự tu học của mình. Mình phải có 1 đề mục, lúc đó con tự đặt ra cho chín mình là 1 bài thiền quán. Để cho con có thể liên tục an trú, bám vào bài thiền quán đó. Và khi mà con được an trú liên tục, vào đề mục thiền quán của chính mình. Thì sự tinh cần, tinh tấn của cũng tăng trưởng lên. Lúc đó có được định chứng được khi đi kinh hành, được tồn tại lâu dài. Con mới hiểu được những lời dạy của Đức Phật.
Khi mình ứng dụng vào trong việc thực hành như vậy, nó đem lại lợi ích cho mình như thế nào. Và khi được ứng dụng vào cũng mới thấy được sự hỷ lạc, không còn là 1 sự khó khăn. Không còn 1 sự so sánh giữa bên chùa mình và bên thiền viện, mà lúc đó là 1 sự hỷ lạc ở trong pháp. Mình được an trú trong pháp, được ứng dụng trong pháp. Để mình khắc chế những cái điều gây ra cho mình nhũng khó khăn, phiền não. Mà trong những ngày trước đó, mà mình không làm được. Con mới thấy được sự vi diệu trong pháp, không còn là sự so sánh giữa pháp môn này với pháp môn kia. Mà lúc này mình hãy quay về, định chứng được những lời dạy của Đức Phật, thật là tuyệt vời. Trong 3 tháng an cư 90 ngày ở bên đó, những lời kinh hành cũng đem lại cho con rất nhiều sự hỷ lạc.
Những pháp con đang tu học, những để mục con đang tu học ở bên đó, giống như 1 thời ở bên đó 1 ngày con rất là nhớ, đem lại cho con rất là nhiều cảm xúc. Nói ra mọi người chắc cũng sẽ cười, tức là con luôn luôn đặt tâm của mình. Ai ai cũng là bậc thiện tri thức của mình. Một hôm con đi kinh hành, có 1 bé nhỏ khoảng 7 tuổi hay lên thiền điền Linh Sơn chơi và tiếp xúc với quý thầy, quý cô. Bé rất là dễ thương con rất thích những đứa em nhỏ, những bé gái hay bé trai. Khi con đi kinh hành bé nhìn bé cười, con cũng cười bé và con cũng có chào. Thật là bất ngờ khi ngày hôm sau con gặp lại bé trong thời giải lao, bé nói con làm cho phải sửng sốt, làm cho phải nhìn lại chính tự thân của mình.
Bé nói 1 câu là con phải về suy nghĩ rất là nhiều, đó là: “Sao mà thầy đi kinh hành, thấy không đi đi, mà thấy nhìn con cười làm gì?” Con thật là ngỡ ngàng, vì nó mới 7 tuổi thôi mà nó nói câu đó. Lúc đầu con cũng không có để tâm, nhưng mà về nhìn nhận lại, con mới thấy được pháp ở trong câu nói của bé rất là nhiều ở trong đó. Khi con nhìn nhận, con mới thấy được sự vi diệu khi mình để tâm vào trong sự tu tập của mình. Nhìn nhận lại trong những hành động vừa qua, con mới thấy được pháp trong đó rất là nhiều. Ở trong đó những pháp gì đang vận hành? Đó là sự hướng ngoại, lúc đó mình không có an trú vào việc đi kinh hành, mà mình lo hướng ra bên ngoài.
Để mình nhìn những cảnh vật, hay những người khả ái, ở đây là em bé nhỏ. Pháp gì ở trong đó nữa? Đó là cái bản ngã, không chỉ con nhìn không, mà khi gần đến hết thời kinh hành đó, con đi ra, con về phòng con lấy sữa con cho. Con thấy được cái bản ngã của mình, nó ẩn hiện trong đó rất là vi tế. Ở đây là mình thêt hiện ra có sự yêu thương, đối với các em nhỏ hơn người khác. Mình có sự khen mình chê người, mặc dù không có nhiều, nhưng mà trong đó là sự vi tế, con thấy được trong đó. Nó không có nhiều nhưng mà con thấy được, là con thương các em nhỏ. Lúc đó mình cũng thấy được là mình đang hướng ngoại, đang buông lung phóng dật. Không có an trú vào đề mục của mình, mình đang hướng ra bên ngoài, mình buông lung phóng dật.
Lúc đó con thấy thật là xấu hổ, con hướng tâm về đứa nhỏ 7 tuổi mà con cảm ơn rất là nhiều. Khi con đặt tâm vào con mới thấy, các pháp đang vận hành trong chính tự thân của mình. Không chỉ là những đề mục thiền quán, những thời khóa, hay là những ai mà giúp cho mình thấy được những lối nhỏ của mình, phải thấy sợ hãi khi mắc lỗi nhỏ nhặt. Có như vậy thì mình mới có thể tiến bộ trong pháp và luật của Như Lai. Chứ không phải chỉ trong những lời khóa ngồi thiền, hay là những lần tụng kinh. Hay là trong đời sống hằng ngày nó vận hành, phải nhận diện ngũ uẩn. Mình phải có 1 sự trực tâm, 1 sự chân chánh đối với tự thân của mình.
Và con cũng biết ơn, khi con hiểu được những lời trong thanh quy đạo tràng:
“Nếu thấy bậc hiền trí
Chỉ lỗi và khiển trách
Như chỉ chỗ chôn vàng
Hãy thân cận người trí
Thân cận người như vậy
Chỉ tốt hơn không xấu”
Lúc đó con mới hiểu được không phải các bậc hiền trí, thiện trí thực chỉ là quý thầy, quý cô. Mà tất cả ai ai đem lại pháp cho mình, cũng như em nhỏ 7 tuổi cũng đem lại cho con sự nhìn nhận pháp. Một cách thực chất, trực tâm, nhìn nhận luôn luôn quán sát nơi bản thân của mình. Khi mà con được tu tập bên kia, con mới thấy được sự chấp thủ, nắm giữ của mình, nếu mà không có nhận diện kỹ càng. Cũng như lúc nãy con có nói mình luôn luôn cho mình là đúng, hay là cái pháp của mình là hay, pháp của người ta là không có hay. Giống như thời kinh hành bên kia rất là nhanh, bên mình đi chậm. Rồi mình so sánh, mình khen mình chê người.
Tại do mình không có để tâm, không có y cứ theo lời dạy của Đức Phật. Lúc đó mình tự gây cho mình những cái pháp bất thiện, mà mình không hay không biết. Mình luôn luôn cho mình là hay, cho pháp của mình là hay. Khi nào mình quay lại nhận diện thân tâm, y cứ theo lời dạy của Đức Phật, y cứ theo lời dạy của Thế Tôn. Mình ứng dụng vào sự tu tập của mình, đem lại sự lợi lạc trong tự thân của mình, thì lúc đó mới là đúng pháp. Chứ còn bằng không mình hướng ra bên ngoài, mình có sự so sánh thật là khập khiễng giống như người đời. Thì đó là sự thiếu sót cho chính mình. Thời gian cũng không còn nhiều, cho nên con cũng có đôi lời chia sẻ như vậy, hẹn 1 dịp khác con sẽ tiếp tục chia sẻ lợi ích tu học Nikāya.
Trong mấy phút vừa qua con chia sẻ nếu có điều gì sai sót, rất mong chư tôn đức và các bậc hiền trí thông cảm. Vì lòng từ mẫn mà bỏ qua cho con, con xin cảm ơn. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
6. Sư thầy Thiện Huệ
“Con kính bạch chư tôn đức cùng các chư vị hiền trí.
Trong sự tu học của chúng ta, nhất là các giới tử, các vị mới nam nữ cư sĩ. Ngoài việc chúng ta thực hành 3 pháp, nhận diện ngũ uẩn. Thì mình nhìn lại trong cảm thọ mình, thấy được tham, sân, si nó nằm trong cảm thọ. Phát giác, phát hiện ra cái ổ, xào quyệt, chỗ cư trú, chỗ ở của tham, sân, si. Là mình có phương pháp tác ý để mà nhiếp phục, chế ngự, đánh đuổi, diệt tận tham, sân, si. Trong tuần vừa rồi chúng ta đã được sư phụ hướng dẫn, cũng như chúng ta đã từng nghe pháp. Những chúng ta chưa dừng lại ở đó, chúng ta đang tu trên thánh đạp, trên pháp bất tử. Tức là chúng ta nhiếp phục, đoạn tận những cái vô minh, tham ái, chấp thủ đối với ngũ uẩn, đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Đây là pháp bất tử, mà mình muốn làm được điều này thì sư phụ có nhắc rất là nhiều. Chúng ta phải tu tập những bước căn bản, thiên đạo, nhân đạo, thiên đạo rồi sau đó mới thánh đạo, thánh quả. Khi chúng ta có được những phương pháp nhiếp phục tham, sân, si rồi. Chúng ta cố gắng giữ gì những cái giới của mình nó thọ, tu tập sự biết ơn và nhớ ơn. Đây là 1 địa vị của bậc chân nhân, 1 con người thực sự là 1 con người. Đây là nền tảng đạo đức, phẩm chất, nhân cách của 1 con người. Từ từ chúng ta sẽ tăng trưởng giới học, chúng ta giữ 8 giới, 10 giới. Chúng ta tu tập tứ vô lượng tâm, để tăng thượng cái tâm của mình lên từ, bi, hỷ, xả.
Để chúng ta hướng đến pháp bất tử. Chúng ta sẽ tu tập những pháp căn bản, lòng biết ơn, tâm hiền, tâm hòa kính, và diệt cái bản ngã. Bước đầu căn bản mà chúng ta tu tập trong 5 khiêm, 2 khéo, diệt dục, tu tập từ, bi, hỷ, xả. Đó là những cái pháp hành cần thiết, quan trong cho những người tu học. Chúng ta hãy nhớ 8 chữ, mà sư phụ đã đề trước hồ nước giảng đường. “Trang nghiêm, tôn trọng, cung kính và biết ơn”. Trang nghiêm chúng ta luôn nhìn lại thân hành niệm của mình. Về những oai nghi, đi đứng, ngồi nằm, ăn nói. Cung kính, tôn trọng đó là pháp diệt ngã. Địa vị của 1 bậc chân nhân đó là sự biết ơn và nhớ ơn. Đó là những cái pháp rất là quan trọng, các vị mới chúng ta cần phải để tâm, để ý và tu học.
Nền tảng căn bản của mình tu cho nó vững, chắc. Luôn luôn nhận diện ngũ uẩn, thực hành 3 pháp. Tu tập tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, tâm từ, tâm hiền, diệt ngã, diệt dục. Bằng những pháp quán bất tịnh, quán bộ xương, quán 32 thể trượt, 9 giai đoạn của 1 tử thi. Để chúng ta diệt lòng dục, lòng tham, lòng ái đối với thân xác của mình và của người. Chúng ta hãy biết trân quý, trân trọng, những giờ phút như vậy rất là quý báu trong kiếp người. Đó là những lời con nhắc nhở, chia sẻ, nhất là các vị giới tử, các vị mới. Chúng ta là các bạn trẻ rất là nhiều, chúng ta cố gắng về chúng ta nghe pháp, học kinh, ghi chép đầy đủ những gì mà trong tuần vừa qua.
Quý vị đã được sư phụ hướng dẫn, truyền trao những pháp học, pháp hành. Trước khi kết thúc buổi chia sẻ chiều nay, con cung thỉnh đạo tràng chúng ta lắng nghe những lời xách tấn từ trên sư phụ, sau đó chúng ta hồi hướng.
III. Lời kết
Thì chúng ta thấy 2 hình ảnh về cái chết, 1 cái chết bất thiện, 1 cái chết thiện lành. Tất cả chúng ta đều sẽ đi đến chết, không thể nào vượt qua khỏi chết. Đức Thế Tôn nói như vầy: “Cái chết như thế nào là do nghiệp thiện và nghiệp bất thiện”. Như vậy chúng ta nhắc đến cái chết, không phải để chúng ta ủ rủ, chán chường, buông xuôi. Mà mình quán chiếu cái chết để mình tinh tấn, nỗ lực ngay trong giây phút hiện tại. Thứ nhất là mình làm các việc lành, công phu, công quả, công đức. Thứ 2 là mình nỗ lực học tập thánh trí, thánh pháp, trí tuệ của Đức Phật. Thứ 3 là mình dốc hết khả năng của mình để mình thực hành pháp, làm việc, học và tu.
Nỗ lực này là từ cái ý thức sâu sắc, về cái chết, về cái vô thường. Nó có lên 1 sự tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh. Thì mình biến cái vô thường, khổ, cái chết đó trở thành 1 sức mạnh, đòn bẫy, nguồn sinh lực, để mình tiến lên trong cái pháp bất tử. Chúng ta nỗ lực làm tất cả những việc thiện pháp, công đức, công quả, công phu. Nhất là khi mình được ở nơi Tam Bảo, mình nỗ lực học pháp hết khả năng của mình. Cái thứ 3 là mình gắng công, chuyên tâm vào trong sự thực hành. Vì chỉ có sự thực hành, chỉ có sự học pháp, hành pháp. Chỉ có cái thiện lành của cái nghiệp thiện đó mới giúp mình có 1 cái kết viên mãn, tốt đẹp, toàn vẹn của 1 kiếp người. Còn nếu không mình sẽ chết trong hối hận, chết trong tức tưởi, tiết nuối.
Chết trong hoảng loạn, sầu não, buồn khổ bởi vì các pháp ác và bất thiện. Cho nên Đức Phật dạy mình phải cố gắng, làm các việc thiện, học thánh pháp. Để mình có cái chết cát tường, tốt lành, không phải là cái chết bất tường, xấu xí mà là cái chết tốt đẹp. Chúng ta hơn 8 tỷ người trên trái đất này, bao nhiêu người là quy y Tam Bảo. Và bao nhiêu người thật sự học hiểu giáo pháp của Đức Phật. Và bao nhiêu người thật sự tìm tới cội nguồn, lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Để mà hiểu được Đức Phật 1 cách chân chánh, cung kính Đức Phật 1 cách chân chánh. Thành tựu được chánh tín, chánh kiến đối với Đức Thế Tôn. Chúng ta hãy thưởng thức sự quý báu này, hãy chiêm nghiệm sự lợi đắc, lợi ích, có được hiếm có trong dòng sanh tử này.
Chúng ta làm cho hạnh phúc này, sự lợi ích này, sự quý báo sự hiếm có, hy hữu này lan tỏa khắp châu thân chúng ta. Từng làn da, từng thớ thịt, từng tế bào, từng lỗ chân lông ngấm vào trong xương tủy của mình. Là lòng biết ơn vô tận, vô hạn, vô cùng, vô lượng, vô biên. Trong dòng luân hồi vô tận trong kiếp người ngắn ngủi này, chúng ta là những con rùa mù trăm năm, từ đáy biển mới nổi lên mà trúng lúc bọng cây nổi trôi qua chúng ta được trúng vào. Và gió thuận chiều đưa bọng cây con rùa mù này vào trong đất liền. Con rùa mù dưới đáy biển 100 năm mới nổi lên 1 lần, tức là trong dòng lục đạo, luân hồi, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Atula, thiên giới, nhân giới này. Mà chúng ta may mắn, bởi vì tất cả các bậc chánh đẳng giác chỉ sanh ra ở thế giới của loài người.
Các bậc chánh đẳng giác không có sanh ra ở 5 thế giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Atula và thiên giới Đức Phật không sanh ra. Thế Tôn và các bậc chánh đẳng giác quá khứ, hiện tại, tương lai chỉ xuất hiện ở thế giới loài người. Mà lúc Thế Tôn xuất hiện chúng ta ở đâu không biết.
“Phật ở đời chúng con còn sa đọa
Nay được thân người, Phật niết-bàn
Ão não, buồn tủi phận mình nhiều nghiệp chướng
Chẳng gặp Như Lai kim sắc thân”
Lúc mà Thế Tôn xuất hiện thuyết pháp, các bậc Thánh Tăng ngàn ngàn, vạn vạn, lớp lớp thành đạo quả. Thì chúng ta đang chìm đắm, trôi dạt, trôi lăn ở đâu. Hay là lúc đó chúng ta cũng là người, mà chúng ta vô cảm, không đủ duyên, hoặc đủ duyên mà chúng ta không nghe lời. Và chúng ta trôi lăn cho đến 2600 năm, 2568 năm. Mà giờ này còn 1 chút ít may mắn, thù thắng, phước báo đò chiều chuyến chót. Chúng ta vẫn còn nghe được thánh pháp tạng Nikāya, những lời dạy nguyên chất, nguyên gốc, nguyên thủy, nguyên bản, nguyên vẹn, toàn vẹn. Mà chúng ta nắm cho chặt, giữ cho chắc, quyết chết cũng không bỏ ra những giáo pháp tối thượng này, để chúng ta mới kịp đò chiều chuyến chót.