Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nikāya Giảng Giải - Xuất Gia Sao Không Để Thành Vô Dụng - Tiểu Kinh Xóm Ngựa

2026-03-03 00:55:21
Nikāya Giảng Giải

Xuất Gia Sao Để Không Thành Vô Dụng

Tiểu Kinh Xóm Ngựa

Thích Minh Thành

Ngày 13 tháng 02 năm 2023

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bài kinh PAGEREF _Toc133935533 \h 1

II. Một bậc Sa-môn chân chánh PAGEREF _Toc133935534 \h 7

III. Chân thật và giả dối PAGEREF _Toc133935535 \h 9

IV. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc133935536 \h 11

V. Đoạn diệt những cấu uế PAGEREF _Toc133935537 \h 19

VI. Tâm từ PAGEREF _Toc133935538 \h 21

I. Bài kinh

Chúng ta sẽ nghe một bài kinh rất là ý nghĩa, Đức Phật dạy làm thế nào để người xuất gia không có trở thành vô dụng. Bài kinh là bài kinh số 40, Trung Bộ Kinh, bài “Tiểu Kinh Xóm Ngựa”. Những lời kinh chúng ta nghe rất là thấm thía, rất là sâu sắc và đầy tình thương của Đức Phật đối với chúng ta, chúng ta rất là bất ngờ trong bài kinh này.

“Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Anga (Ương già), tại một xã ấp của dân chúng Anga, tên là Assapura (xóm Ngựa). Lúc bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:

- Này các Tỳ-kheo.

- Bạch Thế Tôn.

Những Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

- Sa-môn! Sa-môn! Này các Tỳ-kheo, dân chúng biết các Ông là vậy. Và nếu các Ông có được hỏi: “Các Ông là ai!” Các Ông phải tự nhận: “Chúng tôi là Sa-môn”. Này các Tỳ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này, các Tỳ-kheo, các Ông phải tự tu tập như sau: “Những pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, chúng ta sẽ tu tập pháp môn ấy. Như vậy danh xưng này của chúng ta mới chân chính và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những thứ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích”.

Này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo không thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn? Này các Tỳ-kheo, đối với Tỳ-kheo có tâm tham dục và lòng tham dục không được đoạn diệt, có tâm sân hận và lòng sân hận không được đoạn diệt, có tâm phẫn nộ và lòng phẫn nộ không được đoạn diệt, có tâm thù hận và lòng thù hận không được đoạn diệt, có tâm giả dối và lòng giả dối không được đoạn diệt, có tâm não hại và lòng não hại không được đoạn diệt, có tâm tật đố và lòng tật đố không được đoạn diệt, có tâm xan lẩn và lòng xan lẩn không được đoạn diệt, có tâm man trá và lòng man trá không được đoạn diệt, có tâm xảo trá và lòng xảo trá không được đoạn diệt, có tâm ái dục và lòng ái dục không được đoạn diệt, có tà kiến và tà kiến không được đoạn diệt. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, nếu vị ấy không thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, thì không thể đoạn diệt được những cấu uế cho Sa-môn, những tỳ vết cho Sa-môn, những lỗi lầm cho Sa-môn, sự đọa sanh vào đọa xứ, sự thọ lãnh các ác thú.

Này các Tỳ-kheo, ví như một loại võ khí nguy hiểm tên mataja có hai lưỡi rất sắc bén, có thể được bao lại và bỏ vào trong một cái bao. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói sự xuất gia của Tỳ-kheo ấy là như vậy.

Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị mang đại y (Sanghati) chỉ tùy thuộc vào mang đại y. Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị lõa thể chỉ tùy thuộc vào lõa thể. Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị sống thoa bụi và đất chỉ tùy thuộc vào hạnh thoa bụi và đất. Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị sống theo lễ nghi tắm rửa chỉ tùy thuộc vào lễ nghi tắm rửa. Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị sống dưới gốc cây chỉ tùy thuộc vào hạnh sống dưới gốc cây. Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị sống ngoài trời chỉ tùy thuộc vào hạnh sống ngoài trời.

Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của người theo hạnh đứng thẳng chỉ tùy thuộc vào hạnh đứng thẳng. Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị ăn uống có định kỳ chỉ tùy thuộc vào hạnh ăn uống có định kỳ. Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của người sống theo chú thuật chỉ tùy thuộc vào hạnh sống theo chú thuật. Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của vị bện tóc chỉ tùy thuộc vào hạnh bện tóc.

Này các Tỳ-kheo, nếu lòng tham dục của người có tâm tham dục được đoạn diệt chỉ nhờ vào hạnh mang đại y của người mang đại y, nếu lòng sân của người có tâm sân được đoạn diệt, nếu lòng phẫn nộ của người có tâm phẫn nộ được đoạn diệt, nếu lòng hiềm hận của người có tâm hiềm hận được đoạn diệt, nếu lòng giả dối của người có tâm giả dối được đoạn diệt, nếu lòng não hại của người có tâm não hại được đoạn diệt, nếu lòng tật đố của người có tâm tật đố được đoạn diệt, nếu lòng xan lẩn của người có tâm xan lẩn được đoạn diệt, nếu lòng man trá của người có tâm man trá được đoạn diệt, nếu lòng xảo trá của người có tâm xảo trá được đoạn diệt, nếu lòng ái dục của người có tâm ái dục được đoạn diệt, nếu tà kiến của người có tà kiến được đoạn diệt, (chỉ nhờ hạnh mang đại y của người mang đại y), thì những thân hữu quyến thuộc, bà con cùng một huyết thống có thể khiến người đó mang đại y ngay khi người đó mới sanh, và khuyên người đó mặc đại y như sau: “Này hiền nhi, hãy mang đại y, nếu mang đại y thì lòng tham dục của người có tâm tham dục sẽ được đoạn diệt, lòng sân của người có tâm sân sẽ được đoạn diệt, lòng giả dối của người có tâm giả dối sẽ được đoạn diệt, lòng não hại của người có tâm não hại sẽ được đoạn diệt, lòng tật đố của người có tâm tật đố sẽ được đoạn diệt, lòng xan lẩn của người có tâm xan lẩn sẽ được đoạn diệt, lòng man trá của người có tâm man trá sẽ được đoạn diệt, lòng xảo trá của người có tâm xảo trá sẽ được đoạn diệt, lòng ái dục của người có tâm ái dục sẽ được đoạn diệt, tà kiến của người có tà kiến sẽ được đoạn diệt chỉ nhờ mang đại y.

Này các Tỳ-kheo, bởi vì Ta thấy có người mang đại y nhưng vẫn có tâm tham dục, có tâm sân hận, có tâm phẫn nộ, có tâm giả dối, có tâm não hại, có tâm tật đố, có tâm xan lẩn, có tâm man trá, có tâm xảo trá, có tâm ái dục, có tâm tà kiến, nên Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của người có tham dục chỉ tùy thuộc vào hạnh mang đại y của vị ấy.

Này các Tỳ-kheo, nếu lòng tham dục của người có tâm tham dục được đoạn diệt chỉ nhờ hạnh lõa thể của người lõa thể... chỉ nhờ hạnh thoa bụi và đất của người sống theo hạnh thoa bụi và đất... chỉ nhờ hạnh lễ nghi tắm rửa của người sống theo hạnh lễ nghi tắm rửa... chỉ nhờ hạnh sống dưới gốc cây của người sống dưới gốc cây... chỉ nhờ hạnh sống ngoài trời của người sống ngoài trời... chỉ nhờ hạnh sống đứng thẳng của người sống đứng thẳng... chỉ nhờ hạnh ăn uống có định kỳ của người sống ăn uống có định kỳ... chỉ nhờ hạnh sống theo chú thuật của người sống theo chú thuật...

Này các Tỳ-kheo, nếu lòng tham dục của người có tâm tham dục đoạn diệt chỉ nhờ hạnh bện tóc của người sống theo hạnh bện tóc; nếu lòng sân hận của người có tâm sân hận... (như trên)..., nếu tà kiến của người có tà kiến được đoạn diệt (chỉ nhờ hạnh của người sống theo hạnh bện tóc), thì những thân hữu quyến thuộc, bà con cùng một huyết thống có thể khiến người đó bện tóc; ngay khi người đó mới sinh, và khuyên người đó bện tóc như sau: “Này hiền nhi, hãy bện tóc; nếu bện tóc thì lòng tham dục của người có tâm tham dục sẽ được đoạn diệt, lòng sân hận của người có tâm sân hận... tà kiến của người có tà kiến sẽ được đoạn diệt, chỉ nhớ sống theo hạnh bện tóc”.

Này các Tỳ-kheo, bởi vì Ta thấy có người theo hạnh bện tóc nhưng vẫn có tâm tham dục, có tâm sân hận, có tâm phẫn nộ, có tâm giả dối, có tâm não hại, có tâm tật đố, có tâm xan lẩn, có tâm man trá, có tâm xảo trá, có tâm ái dục, có tà kiến, nên Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của người theo hạnh bện tóc chỉ tùy thuộc vào hạnh bện tóc của vị ấy.

Này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn? Này các Tỳ-kheo, đối với Tỳ-kheo có tâm tham dục và lòng tham dục được đoạn diệt, có tâm sân hận và lòng sân hận được đoạn diệt, có tâm phẫn nộ và lòng phẫn nộ được đoạn diệt, có tâm hiềm hận và lòng hiềm hận được đoạn diệt, có tâm giả dối và lòng giả dối được đoạn diệt, có tâm não hại và lòng não hại được đoạn diệt, có tâm tật đố và lòng tật đố được đoạn diệt, có tâm xan lẩn và lòng xan lẩn được đoạn diệt, có tâm man trá và lòng man trá được đoạn diệt, có tâm xảo trá và lòng xảo trá được đoạn diệt, có tâm ái dục và lòng ái dục được đoạn diệt, có tà kiến và tà kiến được đoạn diệt... Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, nếu vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, thì có thể đoạn diệt được những cấu uế cho Sa-môn, những tỳ vết cho Sa-môn, những lỗi lầm cho Sa-môn, đọa sanh vào đọa xứ, sự thọ lãnh các ác thú.

Vị ấy thấy tự ngã được gột sạch tất cả những ác, bất thiện pháp và vị ấy thấy tự ngã được giải thoát. Do thấy tự ngã được gột sạch tất cả những ác, bất thiện pháp ấy, do thấy tự ngã được giải thoát nên hân hoan sanh; do tâm hân hoan nên hỷ sanh; do hỷ nên thân được khinh an; do thân khinh an nên lạc thọ sanh; do lạc thọ nên tâm được định tĩnh.

Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy, phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận không sân.

Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi, cũng vậy, phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với bi, quảng đại vô biên, không hận không sân.

Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với hỷ, cũng vậy, phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với hỷ, quảng đại vô biên, không hận không sân.

Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Này các Tỳ-kheo, ví như một hồ sen có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước trong sáng, có bờ hồ khéo sắp đặt, đẹp đẽ. Nếu có người từ phương Ðông đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước. Người ấy đi đến hồ sen ấy, giải trừ khát nước và giải trừ nóng bức. Nếu có người từ phương Tây đi đến, nếu có người từ phương Bắc đi đến, nếu có người từ phương Nam đi đến, nếu có người từ bất cứ ở đâu đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước, người ấy đi đến hồ sen ấy, giải trừ khát nước, giải trừ nóng bức.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, nếu có người từ gia đình Sát đế lị xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy đi đến Pháp và Luật do Như lai thuyết dạy, sau khi tu tập từ, bi, hỷ, xả, nội tâm được định tĩnh, Ta nói rằng chính nhờ nội tâm định tĩnh, vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn. Nếu vị ấy từ gia đình Bà-la-môn... từ gia đình Phệ xá (Vessa)... từ gia đình Thủ đà (Sudda) xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy đi đến Pháp và Luật do Như Lai thuyết dạy, sau khi tu tập từ, bi, hỷ, xả, nội tâm được định tĩnh, Ta nói rằng chính nhờ nội tâm định tĩnh, vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn.

Nếu từ gia đình Sát đế lị xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đi đến Pháp và Luật do Như Lai thuyết dạy, nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình chứng tri, chứng ngộ và thành đạt vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Vị ấy thành Sa-môn nhờ đoạn diệt các lậu hoặc. Nếu từ gia đình Bà-la-môn... từ gia đình Phệ xá... từ gia đình Thủ đà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đi đến Pháp và Luật do Như Lai thuyết dạy, nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình chứng tri, chứng ngộ và thành đạt vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, vị ấy thành Sa-môn nhờ đoạn diệt các lậu hoặc.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.”

(Trung Bộ kinh I – kinh Tiểu Kinh Xóm Ngựa)

II. Một bậc Sa-môn chân chánh

“Này các Tỳ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này, các Tỳ-kheo, các Ông phải tự tu tập như sau: “Những pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, chúng ta sẽ tu tập pháp môn ấy. Như vậy danh xưng này của chúng ta mới chân chính và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những thứ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích”.

Đầu tiên thì con sẽ trùng tiên lại bài kinh theo nghĩa tiếng Việt dễ hiểu cho quý thầy cô nghe. Tức là “mọi người kêu chúng ta là Sa-môn và chúng ta cũng tự nhận mình là Sa-môn. Các ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, các ông phải tu tập như sau…” Đó là cái danh thôi, danh từ, cái tên gọi, bây giờ các ông phải tu tập như thế nào cho nó vừa có danh, mà vừa có thật, xứng đáng với hai chữ Sa-môn. Chúng ta thấy mở đầu và kinh này hết sức là ý nghĩa, và hết sức là quan trọng. Đức Phật nói ý nghĩa của người tu, của Sa-môn. Ngài nói rất hay, các thầy cô được người ta gọi là Sa-môn và mình cũng thừa nhận mình là Sa-môn, vậy thì những pháp nào xứng đáng là một bậc Sa-môn thì các thầy, các cô phải tu học. Chúng ta thấy mở đầu bài kinh này là một đại tiền đề cho người xuất gia.

“Như vậy danh xưng này của chúng ta mới chân chính và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật.” Đây là đích thân Đức Phật nói à nha, kim khẩu Thánh ngữ à, chính Đức Phật giải thích cho mình danh nghĩa của Sa-môn. Bài kinh này có khi một người từ khi cạo đầu, cho đến chết cũng chưa được học bài kinh này, bài này rất là quan trọng. Cho nên chúng ta nghe một cách chậm rãi, thấm đẫm, thấm nhuần, thâm thúy, sâu sắc. Con sẽ trình bày cho các thầy các cô hết sức là chậm để cho nó ngấm, để cho nó thấm, để cho nó mãi mãi không bao giờ quên. “Và những thứ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta.”

Nếu mà chúng ta làm đúng với danh nghĩa Sa-môn, tu những pháp xứng đáng là một người tu, thì bốn sự cúng dường đó sẽ có được kết quả và lợi ích lớn. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích”. “Này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo không thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn? Này các Tỳ-kheo, đối với Tỳ-kheo có tâm tham dục và lòng tham dục không được đoạn diệt, có tâm sân hận và lòng sân hận không được đoạn diệt, có tâm phẫn nộ và lòng phẫn nộ không được đoạn diệt, có tâm thù hận và lòng thù hận không được đoạn diệt, có tâm giả dối và lòng giả dối không được đoạn diệt, có tâm não hại và lòng não hại không được đoạn diệt, có tâm tật đố và lòng tật đố không được đoạn diệt, có tâm xan lẩn và lòng xan lẩn không được đoạn diệt, có tâm man trá và lòng man trá không được đoạn diệt, có tâm xảo trá và lòng xảo trá không được đoạn diệt, có tâm ái dục và lòng ái dục không được đoạn diệt, có tà kiến và tà kiến không được đoạn diệt.

Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, nếu vị ấy không thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, thì không thể đoạn diệt được những cấu uế cho Sa-môn, những tỳ vết cho Sa-môn, những lỗi lầm cho Sa-môn, sự đọa sanh vào đọa xứ, sự thọ lãnh các ác thú.” Cái này chúng ta thấy dễ hay khó ạ? Chữ Tỳ-kheo của Đức Phật là một trong bốn Thánh quả. Là chữ Tỳ-kheo mà trọn nghĩa của Đức Phật nói là Thánh quả thứ tư. Cho nên nếu mà kể ra cái này thì mình chưa phải là Tỳ-kheo chân chánh, dù cho mình có thọ giới. Chúng ta thấy cái chuẩn của Đức Phật trong kinh Nikāya nó sâu sắc lắm. Chính vì Đức Phật đưa ra những điều kiện, tiêu chuẩn, chuẩn tắc như vậy của người tu. Cho nên người tu thời Đức Phật tại thế luôn luôn phấn đấu, luôn luôn nỗ lực, luôn luôn tinh cần, tinh tấn.

Rồi sao nữa: “Này các Tỳ-kheo, đối với Tỳ-kheo có tâm tham dục và lòng tham dục không được đoạn diệt, có tâm sân hận và lòng sân hận không được đoạn diệt, có tâm phẫn nộ và lòng phẫn nộ không được đoạn diệt…” Phẫn nộ ở đây là cái sân mà thô gọi phẫn nộ, nổi nóng ra mặt, ra miệng gọi là phẫn nộ. Người còn những pháp này không xứng đáng là một người tu. Chúng ta ghi vô nha, những cái này quan trọng lắm đó, những cái pháp này là kẻ thù của mình đó. Và những cái cấu nhiễm mà mình cần phải thanh tẩy, cần phải trừ diệt, cần phải nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch, diệt tận, làm cho nó không còn sanh khởi trong tương lai.

Sau khi mình biết nhận diện ngũ uẩn rồi, thì các pháp này sanh khởi trong thọ, tưởng, hành, thức của mình thì mình biết liền, mình điểm mặt, chỉ mặc, đánh đuổi nó ra liền. Mình diệt tận cho nó đến chỗ hoàn toàn không còn sanh khởi trong tương lai, thì đó là Sa-môn hạnh, đức hạnh của người xuất gia. “Có tâm giả dối và lòng giả dối không được đoạn diệt”, chúng ta nhớ hai cái câu này, nó quan trọng lắm, tức là mình không có tâm hướng đến sự đoạn diệt giả dối đó. Mình biết nó có, ví dụ như bây giờ tham, thì mình biết trong mình mình có tham không? Nhưng mà mình không có ý muốn nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, diệt tận, tẩy sạch cái tham đó, thì cái đó là cái quan trọng đó.

Nếu mình không có ý muốn đó, tức là không có tăng thượng giới đức, không có tăng thượng định tâm, không có tăng thượng trí tuệ. Đây được gọi là “ước muốn sắc bén” trong “Căn Bản Trí” chúng ta học đó. Nếu mà mình biết trong con người mình đang có tham muốn, mình học ngũ uẩn, nhận diện ngũ uẩn rồi mình biết không? Mà mình có muốn đánh đuổi, diệt tận nó không chỗ này là chỗ quan trọng, chứ không phải biết rồi là xong. Có một số người thì nhận biết rồi thì nghĩ tự động nó hết, cái đó không có. Ví dụ nằm ở trên giường mình ngủ, mình thấy có ăn trộm vô lụm đồ, mình nằm yên đó rồi tự nhiên ăn trộm nó đi ra à? Đúng rồi. Tự động nó ra à, nhưng mà rồi nó lấy hết đồ nó mới đi ra, nhất trí không?

III. Chân thật và giả dối

Biết không thì chưa có đủ, phải hành động. Chính vì vậy mà sao cái Chánh kiến đó là có Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh định, chứ không phải chỉ có biết, thành ra chỗ quan trọng. Đây là cái vế ở đằng sau “cái tâm giả dối không được đoạn diệt”. Thành ra ba cái chữ “tâm giả dối” này mình đọc mình đừng có xem thường, mình phải có cảm thọ được với ba chữ này. Mình có giả dối với mình nhiều không ạ? Có không? Sao im ru hết trơn rồi? “Con chân thật dữ lắm mà sao thầy nói vậy”. Cái này là Phật nói à, chứ không phải thầy nói, cũng không phải con nói, mà là Phật nói.

Cái tâm giả dối của mình, thí dụ bây giờ mình đang cười nói, giỡn hớt như vậy, mà mình thấy có người nhìn mình là mình đổi dáng, mình sửa tướng liền phải không? Mình không có chân thật, mình muốn thể hiện cho người ta biết là mình hay, mình giỏi. Rồi có người nhìn là mình khác, còn không có người là mình khác, đó là mình không có chân thật. Nếu mình chân thật là khi có người cũng vậy, mà lúc không có ai hết mình sống cũng vậy mới là chân thật. Thành ra mấy cái này nếu mình học nó nhiều pháp lắm, đây là chúng ta học tổng quát đại cương thôi, nếu mà đào sâu vô ba chữ “tâm giả dối” này mình phải học một học kỳ, chỉ ba chữ “tâm giả dối” đó thôi. Tại vì sao trực hạnh, Chân Chánh Hạnh, Ứng Pháp Hạnh, Diệu Hạnh là đệ tử của Thế Tôn? Đây là bốn đức hạnh của bậc Thánh đệ tử.

Trong đó là cái tâm chân thật, mà nếu không có cái tâm này thì mình không có tu thành công được. Không có không có thật tâm, không có bằng cả một tấm lòng chân thành để mà tu học, thì mình không có đạt được Chánh pháp. Cái tâm không có thật thì mình không thể nhập được Chánh pháp. Vì hai cái đó nó tương ưng với nhau thì nó mới thể nhập, còn hai cái đó không có tương ưng với nhau thì nó không đi vào nhau được. Cho nên mình tự kiểm tra lại cái tâm mình giả dối nhiều không? Nhiều khi cái miệng nói như vậy đó, nhưng mà cái tâm không phải vậy. Cái này phải nhận diện sâu sắc mới được, im ru hết trơn à? Ngồi yên lặng, đơ hết trơn à? Thậm chí là xá xá như vậy đó, mà trên hình thức thôi, làm cho có thôi chứ không phải bằng cả một tấm lòng thật sự là chân thành cung kính.

Khi chúng ta nhìn một người mà xá mình, thì mình có biết không ạ? Khi mình xá người khác thì mình có biết lúc đó là mình xá bằng cả trái tim, bằng tấm lòng, bằng sự cung kính, bằng sự biết ơn không? Hay là xá chỉ là xá cho nó có? Rồi khi mình lạy sám hối mỗi nửa tháng đó, mình có lạy bằng tất cả sự hối hận, sự ray rứt, sự gọi là mình nhìn lại mình thấy mình còn những cấu uế, tội lỗi, mình rất là đau xót, chua xót, cay đắng, ray rứt không? Để mỗi một cái lạy mình là một cái lạy xót xa, ăn năn, hối hận, để muốn làm mới lại mình, thì cái lạy đó mới gọi là cái tâm chân thật sám hối. Thành ra ba chữ “tâm chân thật” này là cả một công trình tu tập vĩ đại. Nếu mà đủ ba chữ này thì nhập lưu như trở bàn tay, nhập lưu vào Thánh quả.

Đa số mình không có thật, người bên ngoài không thật với mình là không nói rồi, mà bên trong mình cũng không thật với mình. Ai mới có một cái tâm thật sự là chân thật, chân thành, chân chánh? Từ bậc tu Đầu bàn trở lên, bậc đã thấy pháp, thấy được ngũ uẩn, thấy được lậu hoặc. Còn không là mình giả dối với mình, mình cũng không biết luôn đó. Nói “đâu có đâu, tôi sống thật lắm, tôi thiệt thà lắm”, nhưng không phải. Mà nếu mình không thấy được cái giả dối của mình, thì làm sao mình đưa đến sự chấm dứt tất cả các giả dối. Mình không có biết cái bệnh, mình không có đi xét nghiệm, mình không có đi khám sức khỏe định kỳ, mình không có theo dõi sức khỏe một cách sát sao, khít khao thì khi mà phát hiện ra là ung thư giai đoạn cuối rồi, mấy tháng nữa là kết thúc thôi. Thì mình phải có khít khao, sát sao theo dõi, xét nghiệm hết thì mình mới biết có bệnh gì, thì mình mới trị bằng thuốc gì, mà gặp bác sĩ giỏi nữa thì trị mới hết.

IV. Khuyến tấn tu tập

Mình phải nhiệt tình ở trong sự điều trị đó, thì cũng vậy như “cái này là tham nè, là tham dục, sân hận nè, là phẫn nộ nè, thù hận nè, chưa được đoạn diệt nè”. Nó đang có mặt và nó chưa có được đoạn diệt. Bởi vì sao? Bởi vì nó chưa có một cái tâm sát quyết là sẽ diệt tận các thứ đó. Thành ra các tâm mà nó sanh khởi lên để mà được “nhất định tôi phải diệt hết những cái thứ này”, thì cái tâm đó là cái tâm của những bậc hướng dự lưu, được tham dự vô bốn đôi tám chúng hiền Thánh. Cái tâm mà hướng đến sự làm sạch cấu uế, cấu nhiễm, tham, sân, si. Cái tâm đó nó mạnh mẽ, nó mãnh liệt thì người này là dự vô tầng Thánh thấp nhất ở trong tám bậc hiền Thánh là hướng dự lưu. Cái này chúng ta có nghe rồi chưa sao mà ngồi ngẩn ngơ vậy? Sao sầu vậy? Chúng ta có nghe “bốn đôi tám chúng” chưa? Hay là giờ nhìn cái mặt nó buồn ngủ.

Thứ nhất là gì? Sơ hoả Tu-đà-hoàn là Thánh quả thứ nhất, nhị quả Tư-đà-hàm, tam quả A-na-hàm, thánh quả thứ tư đó là tới nơi rồi, tứ quả A-la-hán. Còn đạo này tới cái chỗ còn gọi là hướng dự lưu, hay là hướng Tư-đà-hàm, hướng A-la-hàm, hướng A-la-hán. Mà chữ “hướng” này quan trọng nè, tức là hướng tới sự đoạn diệt. Đoạn diệt cái gì thì như nãy giờ chúng ta học đó, tham, sân, si, bản ngã, vô minh. Tức là cái sự hướng này nó quyết liệt, nó không còn mất nữa, thì như vậy chúng ta gọi là bước vào hướng dự lưu, tức là cái quả dị hiền thứ nhất trong tám quả dị Thánh hiền. Mình có được cái quyết tâm này chưa? Có sự hướng tới quyết liệt này chưa? Nếu chưa có là mình còn nằm trong phạm trù nguy hiểm, tai họa, tam ác đạo, cái này quan trọng nè.

Cho nên bước đầu tiên để thành tựu được cái này, quan trọng nhất mình có một sự quyết tâm, quyết liệt, mình có một sự hướng tới. Nghĩa là dù chết cũng không lùi, là diệt tận những tên tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục, ái này. Thành tựu được cái tâm đó gọi là hướng dự lưu, là quả dị thấp nhất trong tất cả các quả dị của hiền Thánh. Mà tại sao có cái hướng tâm đó? Là mình thấy được năm uẩn, thấy được lậu hoặc, thì mình có cái hướng tâm đó. Chính vì vậy mà chúng ta làm bài tập, cho trình pháp là chúng ta kêu nhận diện ngũ uẩn liên tục. Bởi vì cái người không nhận diện ngũ uẩn, không thấy lậu hoặc, không thấy cấu nhiễm thì lấy gì mà đoạn, lấy gì mà tận, lấy gì mà rửa.

Người không thấy ngũ uẩn, thì không thể nào đi vào bốn đạo, bốn quả hết, không thể có, cho nên thấy ngũ uẩn rất là chánh kiến. Trong Trường Bộ kinh, Đức Phật nói: “Này Subhadda, trong pháp luật nào không có “Bát Thánh đạo”, thời ở đây không có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng không có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không có đệ tứ Sa-môn”. Trong pháp luật nào không có “Bát Thánh đạo” thì trong pháp luật đó không có bốn Thánh quả. Trong bài tiểu kinh “Sư Tử Hóng”: “Này Subhadda, chính trong pháp luật này có BÁT THÁNH ĐẠO, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn”.

Chỉ có pháp luật này tức là sự nhìn thấy được năm uẩn, nhìn thấy được cấu uế, lậu hoặc ở trong năm uẩn, thì lúc đó mới bắt đầu có một sự hướng tâm quyết liệt, mạnh mẽ tiến tới, không lùi, chết cũng không bỏ. Để mà vệ sinh, tẩy sạch, diệt tận tất cả các cấu nhiễm, ác và bất thiện pháp, dọn dẹp những rác bẩn của nội tâm đó. Đó là lý do tại sao phải thấy năm uẩn, thì mới có thể đi vào các Thánh quả. Chúng ta học ngày hôm nay, chúng ta không có được hướng dẫn cách nhận dạng ngũ uẩn, thì chúng ta sẽ không thấy rõ được thân tâm của mình một cách đầy đủ, mọi phương diện, mọi góc độ, mọi khía cạnh của thân tâm, chỗ này là chỗ hết sức quan trọng. 

“Có tâm não hại và lòng não hại không được đoạn diệt, có tâm tật đố và lòng tật đố không được đoạn diệt, có tâm xan lẩn và lòng xan lẩn không được đoạn diệt, có tâm man trá và lòng man trá không được đoạn diệt, có tâm xảo trá và lòng xảo trá không được đoạn diệt, có tâm ái dục và lòng ái dục không được đoạn diệt, có tà kiến và tà kiến không được đoạn diệt. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, nếu vị ấy không thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, thì không thể đoạn diệt được những cấu uế cho Sa-môn, những tỳ vết cho Sa-môn, những lỗi lầm cho Sa-môn, sự đọa sanh vào đọa xứ, sự thọ lãnh các ác thú.

Này các Tỳ-kheo, ví như một loại võ khí nguy hiểm tên mataja có hai lưỡi rất sắc bén, có thể được bao lại và bỏ vào trong một cái bao. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói sự xuất gia của Tỳ-kheo ấy là như vậy.” Một con dao bén để trong cái bao, mà nó sắc bén ở cả hai cái lưỡi, chứ không phải chỉ một bên. Nếu một người xuất gia mà không thực hành, đoạn diệt các pháp mà nãy giờ nói, thì Đức Thế Tôn nói vị ấy không có thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, thì vị ấy không thể đoạn diệt các cấu uế, không thể đoạn diệt các tỳ vết, không thể đoạn diệt các lỗi lầm và sẽ rơi vào ba ác đạo, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.

Nếu xuất gia mà không đoạn diệt cái pháp nãy giờ nói, thì cái tâm mang trá, xảo trá, ái dục, tật đố, não hại người khác, cái tâm phẫn nộ, tà kiến không có đi đến đoạn diệt. Thì người đó Ngài ví dụ giống như là một cái bao chứa ở bên trong là một thanh gươm, một cái đao hai lưỡi được mài sắt bén. Và ở những bản kinh khác như “Thánh Điển Phật Giáo” của Nhật Bản người ta ví dụ là “cây dao bén bao bọc trong lớp áo cà sa”, Minh Thành có dịch bảng đó song ngữ tiếng Hoa và tiếng Anh. Người ta ví dụ là một con dao sắc bén được bọc trong lớp áo cà sa. Nếu một người tu mà không có chơn chánh để đoạn tận các tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái, cái tâm xảo trá, mang trá, dối trá thì người đó được ví dụ như một con dao bén được gói lại trong tấm áo cà sa. 

Chúng ta phải cảm thọ hình ảnh này cho nó sâu sắc, không bao giờ quên suốt cuộc đời này. Con dao đó nó đâm mình trước, nó cắt mình trước, nó làm tổn thương chính mình trước. Đức Phật nói là gì? Rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Đọa sanh vào đoạ xứ, thọ lãnh các ác thú. “Này các Tỳ-kheo, ví như một loại võ khí nguy hiểm tên mataja có hai lưỡi rất sắc bén, có thể được bao lại và bỏ vào trong một cái bao. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói sự xuất gia của Tỳ-kheo ấy là như vậy.” Đọc cái này nhói tim, lên tim và đau tim. Chúng ta có nghe tim mình nhói lên chút nào không? Có thấy thấm chút nào không? Có cảm thọ không? 

Những hình ảnh này là Đức Phật, bậc đại giác Thế Tôn của chúng ta tuyên thuyết, bậc đại từ bi tâm hướng dẫn cho hàng đệ tử khi Ngài còn tại thế. Mà bây giờ mấy khi ở chùa chúng ta được nghe những lời kinh như vậy, cho nên bài kinh này là món quà tặng đầu xuân của con cho các thầy cô đấy, còn 2 cuốn sách nữa một chút tặng. Phải khắc ghi những lời này vào tim, vào tủy, vào não, vào máu thịt không bao giờ quên. Quên mấy lời này là tai họa, quên những lời này là hiểm nguy, quên những lời này là thoái đọa, là đọa lạc, là sầu, bi, khổ, ưu não. Cho nên những bài kinh này phải thiền quán 1000 lần thôi, mỗi ngày đem về tụng. Lấy bài kinh này tụng mỗi ngày, tụng hết 3 tháng, từ đây cho đến an cư. Rồi an cư tụng tiếp ba tháng nữa, tụng tới khi nào thể nhập cái trí tuệ này. 

“Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị mang đại y (Sanghati) chỉ tùy thuộc vào mang đại y”. Đây chính là câu mà người ta này nói diễn ra: “Không phải chiếc áo làm nên một người tu”, là từ câu này, tất cả những câu nói đó đều từ trong kinh tạng Nikāya hết. Một chút xíu Đức Phật ví dụ chúng ta thấy nó nhứt nhói, nó thấm thía lắm. Đức Phật ví dụ làm sao? Nói cho chúng ta thấy, ví như là một đứa trẻ thơ, một đứa con nít, em bé, nó khoát lên người một tấm đại y, thì nó đâu có trở thành bậc Sa-môn đâu. Đâu phải khoát cái áo đó lên là trở thành một người tu đâu. Chúng ta nhớ câu chuyện mà người thợ săn khoát cái y lên không ạ? Hồi xưa mình học câu chuyện “Sư tử lông bàn” đó.

Cái áo không có làm nên đức hạnh của một người tu, cho nên không phải chúng ta thọ giới đắp cái y lên là xong. Câu này đúng ra chúng ta phải tụng một vạn lần, 10.000 lần thôi. Mấy ngày Tết có nhớ mấy cái này không? Có khi cái màu đỏ đó làm mình quên cái màu vàng, con nói như vậy quý thầy, quý cô có hiểu ý con không? Màu đỏ là màu gì ạ? Màu vàng là màu gì? Sâu không? Màu đỏ là ví dụ cho tiền bạc, màu vàng là ví dụ cho lý tưởng giải thoát của một người xuất gia. Đừng có để cho cái màu đỏ nó lấn hết cái màu vàng. Và đừng có để cái màu vàng chỉ là một cái vỏ mỏng, mà nó phải còn có một cái lỏi bên trong, chúng ta đang học cái lỏi bên trong chiếc áo vàng đó. Chừng nữa chúng ta học bài kinh “Lỏi Cây”.

Con thật ra bây giờ chia sẻ với các thầy, các cô là một nhân duyên hết sức là đặc biệt.  Con không biết còn được bao nhiêu ngày nữa, mà con cứ cố gắng hết mức cho đến lúc nào mà con từ giả các thầy, các cô thì thôi. Còn gặp ngày nào thì con nói bằng cả tấm trái tim, cả tấm lòng của con. Con mong rằng các thầy, các cô thương và hiểu cho con. Con không thể gặp mà con nói con chừa lại một chút, con chịu không có nổi, phải nói cho hết tấm lòng. Để khi mình sống mình sống hết lòng với nhau, đến khi mình tắt hơi hay mình ra đi, mình không có hối hận “tại sao lúc đó mình không nói hết đi?”

Chúng ta có nhìn thấy không? Động đất bây giờ là trên 28.000 người chết, hơn hai mươi mấy triệu người bị ảnh hưởng, và tầm bán kính là trên 500 cây số. Bây giờ chết 1,2 người là chuyện bình thường, chết là chế chùm, chết làng, chết thành phố, thậm chí là sau này chết cả một quốc gia. Cho nên sống với nhau hết tấm lòng, bằng cả trái tim của một người học đạo, để sau này mình không có hối hận, hối tiếc. Đức Thế Tôn nói rằng: “Ta không nói rằng đức hạnh của một người tu, chỉ tùy thuộc vào chiếc áo, cái lớp y”.

Cho nên bài kinh này trong mùa dịch con có chia sẻ bên trường trung cấp một lần rồi, nhưng mà bài kinh này ít nhất cũng phải chia sẻ 100 lần, phải giảng đi giảng lại 100 lần. Tại vì có người xuất gia cho đến chết ở trong chùa, cũng chưa được nghe một lần về bài kinh này nữa, chúng ta may mắn lắm mới được nghe bài kinh này. Mình phải biết rằng cái bổn phận, trách nhiệm, những điều cần làm của một người tu là cái gì, mình phải nắm thật vững cái này. Không phải những bằng cấp, không phải giữ học vị, không phải những quyền thế, danh vọng, chùa chiền. Mà phải làm sạch được những cấu uế bên trong tự thân của chính mình, cái đó là đức hạnh của bậc hiền Thánh.

Mình có hướng tới sự tẩy sạch tất cả các cấu nhiễm, rác bẩn trong nội tâm không? Chỗ đó là quyết định mình là Thánh hiền hay là phàm phu, là vô minh hay trí tuệ là quyết định ở chữ “hướng” đó đó. Trong giai đoạn này của chúng ta có hướng tới đó không? Cũng như mình từ chùa đi ra, mình phải hướng tới chùa Hòa Khánh chứ, chứ mình hướng qua chợ Bà Chiểu, hướng ra Chợ lớn, Đầm Sen hay Suối Tiên là nó khác rồi. Chữ “hướng” đó nó thành tựu đức hạnh của một người tu, và sự hướng này nó phải mãnh liệt, quyết liệt, sát quyết, không có lay chuyển nữa là bậc hướng dự lưu. Chết là chết, chứ không có bỏ cái ý nguyện đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đoạn tận dục, ái, vô minh, bản ngã.

Chết thì chết không có bỏ cái trí nguyện, lý tưởng đó, thì người đó bước vào Bốn đôi tám chúng hiền Thánh, thấp nhất cũng là hướng dự lưu. Và khi quyết định 100% rồi, không có lay động, không có lung lay, không có xao xuyến, có nghĩa là không lay chuyển gì nữa hết, bất thoái chuyển, thì đó là nhập lưu. “Nhập” là vào, “lưu” là dòng chảy trí tuệ của bậc Chánh đẳng Chánh giác. Được vào dòng chảy Thánh trí của bậc Đại giác, không bao giờ lui sụt, chỉ có đi tới thôi, chứ không còn đi lùi nữa. Đó là bậc chư thiên và loài người tôn kính, ruộng phước vô thường ở trên đời. 

Cho nên Đức Thế Tôn nói rằng: Này các Tỳ-kheo, nếu lòng tham dục của người có tâm tham dục được đoạn diệt chỉ nhờ hạnh lõa thể của người lõa thể... chỉ nhờ hạnh thoa bụi và đất của người sống theo hạnh thoa bụi và đất... chỉ nhờ hạnh lễ nghi tắm rửa của người sống theo hạnh lễ nghi tắm rửa... chỉ nhờ hạnh sống dưới gốc cây của người sống dưới gốc cây... chỉ nhờ hạnh sống ngoài trời của người sống ngoài trời... chỉ nhờ hạnh sống đứng thẳng của người sống đứng thẳng... chỉ nhờ hạnh ăn uống có định kỳ của người sống ăn uống có định kỳ... chỉ nhờ hạnh sống theo chú thuật của người sống theo chú thuật...

Ngày xưa gọi là lõa thể, thoa bụi đất vào trong mình, sống khổ hạnh đó hay là sống theo lễ nghi tắm rửa, đi xuống sông Hằng tắm đó. Hay là sống ở dưới gốc cây, hay là ở ngoài trời, đứng thẳng, cứ đứng hoài vậy đó, có khi đứng một chân nhìn lên mặt trời, có nhiều cái khổ hạnh hồi xưa “ta không nói rằng đức hạnh của một người tu chỉ tùy thuộc vào vị đó ăn uống có định kỳ, ăn ít”, có khi là 3 ngày, 7 ngày, nửa tháng mới ăn một lần. Chúng ta đọc trong kinh, chúng ta có thấy khổ hạnh của Đức Phật là đệ nhất. Chúng ta thấy có ai qua nổi đức hạnh của Ngài? Cái độc cư của Ngài là đệ nhất, không có ai qua nổi cái độc cư của Ngài hết. Đọc trong kinh rồi mới biết, mới hiểu về Đức Phật nhiều hơn.

“Ta không có nói rằng đức hạnh của một người tu là theo chú thuật hay là tùy thuộc vào hạnh sống theo chú thuật”. Chú thuật là Đức Phật tuyệt đối không sử dụng. Sau này người ta sử dụng rất là nhiều, hồi xưa thời Đức Phật là cấm không có xài chú. “Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của vị bện tóc chỉ tùy thuộc vào hạnh bện tóc. Này các Tỳ-kheo, nếu lòng tham dục của người có tâm tham dục được đoạn diệt chỉ nhờ vào hạnh mang đại y của người mang đại y, nếu lòng sân của người có tâm sân được đoạn diệt, nếu lòng phẫn nộ của người có tâm phẫn nộ được đoạn diệt, nếu lòng hiềm hận của người có tâm hiềm hận được đoạn diệt, nếu lòng giả dối của người có tâm giả dối được đoạn diệt, nếu lòng não hại của người có tâm não hại được đoạn diệt, nếu lòng tật đố của người có tâm tật đố được đoạn diệt, nếu lòng xan lẩn của người có tâm xan lẩn được đoạn diệt, nếu lòng man trá của người có tâm man trá được đoạn diệt, nếu lòng xảo trá của người có tâm xảo trá được đoạn diệt, nếu lòng ái dục của người có tâm ái dục được đoạn diệt, nếu tà kiến của người có tà kiến được đoạn diệt, (chỉ nhờ hạnh mang đại y của người mang đại y)”

Đức Phật nói cái tâm tham, sân, si, bản ngã, tật đố, hận thù, xảo trá, dối trá, mang trá, tà kiến như vậy nếu mình chỉ nhờ khoác cái y lên mình thì nó được trong sạch, thì Đức Phật nói rằng: “Thì những thân hữu quyến thuộc, bà con cùng một huyết thống có thể khiến người đó mang đại y ngay khi người đó mới sanh, và khuyên người đó mặc đại y như sau: “Này hiền nhi, hãy mang đại y, nếu mang đại y thì lòng tham dục của người có tâm tham dục sẽ được đoạn diệt, lòng sân của người có tâm sân sẽ được đoạn diệt, lòng giả dối của người có tâm giả dối sẽ được đoạn diệt, lòng não hại của người có tâm não hại sẽ được đoạn diệt, lòng tật đố của người có tâm tật đố sẽ được đoạn diệt, lòng xan lẩn của người có tâm xan lẩn sẽ được đoạn diệt, lòng man trá của người có tâm man trá sẽ được đoạn diệt, lòng xảo trá của người có tâm xảo trá sẽ được đoạn diệt, lòng ái dục của người có tâm ái dục sẽ được đoạn diệt, tà kiến của người có tà kiến sẽ được đoạn diệt chỉ nhờ mang đại y.”

“Này các Tỳ-kheo, bởi vì Ta thấy có người mang đại y nhưng vẫn có tâm tham dục, có tâm sân hận, có tâm phẫn nộ, có tâm giả dối, có tâm não hại, có tâm tật đố, có tâm xan lẩn, có tâm man trá, có tâm xảo trá, có tâm ái dục, có tâm tà kiến, nên Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của người có tham dục chỉ tùy thuộc vào hạnh mang đại y của vị ấy.” Nó sâu lắm, mấy câu kinh này không thể đọc phớt qua được, mà mình đọc mình phải ngưng lại, ngẫm lại mình cho kỹ, xong rồi ngẫm người cho càng, rồi ngẫm tới, ngẫm lui, suy qua, xét lại. Rồi ngồi đó tần ngần, trầm tư, mặc tưởng. Mấy câu kinh này phải đọc đọc bằng cách thiền quán để nó thấm thía vô. Trái tim nó đang bị lói, rồi nó đau, nó nhức, nó thấm, nó xót xa, nó nhức nhói.

V. Đoạn diệt những cấu uế

“Này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn? Này các Tỳ-kheo, đối với Tỳ-kheo có tâm tham dục và lòng tham dục được đoạn diệt, có tâm sân hận và lòng sân hận được đoạn diệt, có tâm phẫn nộ và lòng phẫn nộ được đoạn diệt, có tâm hiềm hận và lòng hiềm hận được đoạn diệt, có tâm giả dối và lòng giả dối được đoạn diệt, có tâm não hại và lòng não hại được đoạn diệt, có tâm tật đố và lòng tật đố được đoạn diệt, có tâm xan lẩn và lòng xan lẩn được đoạn diệt, có tâm man trá và lòng man trá được đoạn diệt, có tâm xảo trá và lòng xảo trá được đoạn diệt, có tâm ái dục và lòng ái dục được đoạn diệt, có tà kiến và tà kiến được đoạn diệt... Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, nếu vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn”

Có một cái tâm xan lẫn, bỏn xẻn, rít rắm, không có biết bố thí, không biết chia sẻ, không biết cúng dường, không biết giúp người, nhưng mà những tâm đó bị đoạn diệt, được tu tập, được đoạn tận. Có tâm dối trá, mang trá, xảo trá, có tâm dục ái, lòng dục ái, có tâm tà kiến, mà tà kiến được đoạn diệt. “Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, nếu vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, thì có thể đoạn diệt được những cấu uế cho Sa-môn, những tỳ vết cho Sa-môn, những lỗi lầm cho Sa-môn, đọa sanh vào đọa xứ, sự thọ lãnh các ác thú.”

“Vị ấy thấy tự ngã được gột sạch tất cả những ác, bất thiện pháp và vị ấy thấy tự ngã được giải thoát. Do thấy tự ngã được gột sạch tất cả những ác, bất thiện pháp ấy, do thấy tự ngã được giải thoát nên hân hoan sanh; do tâm hân hoan nên hỷ sanh; do hỷ nên thân được khinh an; do thân khinh an nên lạc thọ sanh; do lạc thọ nên tâm được định tĩnh.”

“Vị ấy xứng đáng là một bậc tu hành, vị ấy có thể đoạn diệt các cấu uế trong tâm, vị ấy có thể xóa sạch tì vết ở bên trong và chấm dứt tất cả mọi lỗi lầm, đoạn tận ba đường ác, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Vị ấy thấy chính mình được gột sạch, được tẩy sạch, được tắm sạch, được rửa sạch tất cả những ác và bất thiện pháp. Vị ấy thấy mình được thoát ra, thoát ra tất cả những cái đó, tự biết tự thấy chính mình thoát ra, giải thoát, thoát ly, xuất ly. Do thấy chính mình gột sạch được những ác bất thiện pháp, được cho thấy chính mình, được giải thoát. Cho nên vị ấy hân hoan sinh, sanh khởi một sự hân hoan. Do tâm vị ấy hân hoan, cho nên hỷ sanh. Cái tâm hân hoan, phấn khởi cho nên vui mừng. Do vui mừng cho nên nhẹ nhàng. Nhẹ nhàng cho nên an lạc, lạc thọ sanh khởi. Do vị ấy an lạc, lạc thọ, cho nên tâm định tĩnh đi vào trong định.”

Chỗ này là tuyến trình tâm của các bậc Thánh, tiến trình tâm của các tập tu đúng Chánh pháp, tu đúng Thánh đạo, để đi đến Thánh quả. Chỗ này ai mà muốn tu thành Chánh quả là phải học thật kỹ, ghi chép thật kỹ, thuộc lòng những từ này, đoạn này, còn không muốn tu Chánh quả thì thôi. Đầu tiên là vị này thấy tự mình gột sạch những ác và bất thiện pháp. Tại vì không còn những cái hồi nãy nữa, tham dục, sân hận, hơn thua, xảo trá, dối trá và chuyện này kia, tất cả các phẩn nộ đó sạch hết trơn, thì vị này thấy chính mình được gột sạch những ác và bất thiện pháp. Rồi sau đó vị ấy thấy chính mình thoát ra khỏi nó.

Khi vị ấy thấy mình thoát ra khỏi nó thì hân hoan, khi hân hoan sanh thì hỉ sanh, vui. Sau đó khinh an sanh, nó nhẹ nhàng. Sau đó lạc thọ, vui nhè nhẹ trong cảm thọ, trong tâm. Còn hồi nãy hỷ là còn ở trên thân, nó có cái thô, bây giờ lạc thì nó tế thôi, vui nó nhẹ nhẹ ở trong tâm. Rồi khi lạc thọ, rồi thì vị này đi vào trong định, tâm được định tĩnh. Cái này chúng ta học chúng ta thấy hay lắm, tại sao mà cái tâm chúng ta không định nè? Một là mình còn muốn cái gì đó nó chưa được, mình bị cái đối tượng mình muốn đó nó ám ảnh.

Ví dụ bây giờ mình thích chiếc xe, mà lâu lâu hình bóng chiếc xe đó nó ám ảnh không? Có không? Cái suy nghĩ về chiếc xe đó có không? Nó ám ảnh. Bây giờ mình yêu thích một con người, hình bóng về con người đó có ám ảnh không? Hình bóng đó nó có ám ảnh không? Rồi những cái cảm thọ đó nó có sanh khởi không? Thì hễ mình còn dục, còn ái, còn tham thì tâm mình còn động. Mình giận ai đó cái tâm mình có yên, có định tĩnh, có vui được không? Cho nên còn sân là tâm còn động, còn tham, còn si mê, vô minh, còn phẫn nộ, còn dối trá, còn lừa gạt người ta là tâm còn động. Ta ăn cắp món đồ nào đó, thì ngồi thiền tâm có yên không? “Chết mồ, không biết người ta có biết mình không?” Phải không? Thấy chưa?

VI. Tâm từ

Cho nên từ giới mà nó sanh ra định là như vậy đó, giới nói đưa đến định. Tâm mình không còn lỗi lầm nữa, không còn uế nhiễm nữa. Cho nên ở trong này nó hân hoan, nó vui vẻ, nó khinh an, nó nhẹ nhàng, rồi tâm nó định tĩnh. Đó là trạng thái của định, đây gọi là Thánh chánh định. Chứ không phải cái định mà mình ngồi, mình kêu im mà nó lặng, mình mong, mình thích cho nó định tĩnh, dù cho được cũng là phàm phu định thôi. Thánh chánh định, Chánh định của bậc Thánh. Chúng ta không biết thời giờ có đủ để mình học hết bài kinh không? Chánh định của bậc Thánh là cái định đó tẩy sạch tâm cấu nhiễm, tất cả ác và bất thiện pháp được tẩy sạch, đó là định của bậc Thánh.

“Khi mà tâm định tĩnh như vậy, vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm hòa chung với tình thương lòng từ.”

“Đây là phương trước mặt,

Rộng lớn và bao la,

Hòa lẫn khắp phương này,

Là tình thương của ta,

Tình thương này rộng lớn,

Vô lượng và vô biên”

Đó là mình trải một phương, mà mình trải tới 10 phương. Trong lớp mình có được trải tâm từ lần nào chưa ạ? Rồi đến phương bên phải, phương bên trái, phía sau, phía trên, phía dưới, bề rộng, bề ngang, rồi tỏa rộng cùng khắp thế giới này, tình thương này tỏa rộng khắp trời đất bao la. Vị này tâm định tĩnh rồi tu từ vô lượng tâm. Khi vị này tu từ vô lượng tâm, thì tâm biến mãn cùng khắp hư không giới như vậy đó, qoà quyện chúng với tình thương quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Không có giận bất cứ một ai, không khó chịu bất cứ một ai. Cái cảm thọ đó ngọt ngào, sâu lắng, rộng lớn, vô lượng, vô biên, vô cùng, vô tận.

Thì vị này sống trong bốn tâm vô lượng: Từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm và xả vô lượng tâm. Thì chút xíu nữa chúng ta được tặng một quyển là “Hỷ Vô Lượng Tâm”, quyển này là một bản nhỏ thôi, mai mốt sẽ ra một quyển đầy đủ hơn, đây là bản gọn của mùa Xuân thôi. Trong đây chỉ mình cách trải tâm hỷ, mình trú cái tâm hỷ này là mình vui hoài cả ngày, mình vui cả tuần luôn. Nếu mình tu quen thuộc, thì mình muốn ở trong cái tâm nào là mình ở trong cái tâm đó. Giống như hôm nay mình muốn mặc áo màu lam, là mình mặc áo màu lam. Chiều về mình thay áo màu vàng, là thay màu vàng. Mà ngày mai mình muốn thay áo màu nâu, thì mình mặc áo màu nâu, mình sẽ trú được trong các loại tâm.

Lúc trước chúng ta học từ bi hỷ xả, chúng ta nói phớt phớt ngoài không à, chúng ta nói trên miệng thôi. Mà khi mình đi vào Nikāya là chúng ta sẽ chạm tới cái tâm đó, khi chúng ta trải tâm từ đúng mức thì nước mắt mình sẽ đầy mặt, mình xót thương cho chính mình và chúng sanh. Khi chúng ta trú trong cái tâm hỷ, thì chúng ta vui cả ngày cả tuần luôn. Còn cái tâm bi là tâm xót thương cho mình và cho chúng sanh, vì tất cả chúng ta là nạn nhân của tham, sân, si. Khi chúng ta trú vô cái tâm xả, thì nhẹ tênh như bông gòn, như đám mây vậy đó. Mình đi mà như mình bước lên trên trời vậy đó, mình lên tới cổng trời, sắp sửa lên trời luôn rồi. Biết cổng trời không?

Tức là trú cái tâm xả rồi thì cái tâm mình nhẹ tênh luôn, tất cả mọi thứ mình buông xả, không chấp chứa bất cứ một vật gì ở trên đời. Từ sắc, thọ, tưởng, hành, thức, sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ, mình buông một cái rụp. Trú trong cái tâm xả rộng lớn, vô lượng, vô biên cùng khắp. Thích không? Muốn không? Phải tu như vậy đó. Tu như vậy mới nếm được cái hương vị của pháp. Chứ không phải tu phớt đọc ngoài miệng, tu phải thấm vô làn da, thớ thịt, xương, tủy, não, cảm thọ của mình. Như vậy Đức Phật nói ở đây: “Vị ấy trú trong 4 tâm vô lượng, từ, bi, hỷ, xả cùng khắp mười phương.”

“Này các Tỳ-kheo, ví như một hồ sen có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước trong sáng, có bờ hồ khéo sắp đặt, đẹp đẽ. Nếu có người từ phương Ðông đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước. Người ấy đi đến hồ sen ấy, giải trừ khát nước và giải trừ nóng bức. Nếu có người từ phương Tây đi đến, nếu có người từ phương Bắc đi đến, nếu có người từ phương Nam đi đến, nếu có người từ bất cứ ở đâu đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước, người ấy đi đến hồ sen ấy, giải trừ khát nước, giải trừ nóng bức.”

Người ấy đi đến đó thì cúi đầu xuống, bụm cái tay lại, hất nước lên mặt: “Mát quá”. Rửa mặt xong rồi rửa tay, xong rồi rửa mình, xong rồi nhảy xuống dưới tắm, bơi từng vòng, nó mát, nó trong, nó xanh, nó sạch, nó đẹp, rồi lội tung tăng trong cái hồ như vậy, giải nhiệt, giải khát, nó mát dịu, nó thanh lương, nó an lạc, giải trừ nóng bức, giải trừ nhiệt não. Đó là người trú trong bốn tâm vô lượng, cảm giác nó như vậy đó. Sung sướng, hạnh phúc, tuyệt diệu, vi diệu, thần diệu, thánh diệu như vậy, tối thượng như vậy. Siêu thế lạc là niềm vui siêu thế đối với một người tu tập bốn tâm vô lượng, thì người đó tuy là thân bước dưới đất, nhưng tâm ở trong cảnh giới của chư thiên, cái tâm đó là tương ứng với chư thiên. 

“Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, nếu có người từ gia đình Sát đế lị xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy đi đến Pháp và Luật do Như lai thuyết dạy, sau khi tu tập từ, bi, hỷ, xả, nội tâm được định tĩnh, Ta nói rằng chính nhờ nội tâm định tĩnh, vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn. Nếu vị ấy từ gia đình Bà-la-môn... từ gia đình Phệ xá (Vessa)... từ gia đình Thủ đà (Sudda) xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy đi đến Pháp và Luật do Như Lai thuyết dạy, sau khi tu tập từ, bi, hỷ, xả, nội tâm được định tĩnh, Ta nói rằng chính nhờ nội tâm định tĩnh, vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn.”

Sau đó Đức Phật nêu ra nhiều giai cấp khác trong xã hội, tất cả những người đi tới nghe pháp của Đức Phật xong, sau đó tu tập bốn tâm vô lượng. Và tâm của người này được định tĩnh, thì người ấy mới thực hành các pháp xứng đáng bậc Sa-môn. Không có thiền định không thể tu tập được những pháp cao thượng, mà muốn có thiền định thì phải có giới đức - đức hạnh của một người tu. Phải có giữ giới, tức là tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, rồi mới tăng thượng tuệ học được. Muốn có giới thì phải thu thúc lục căn, phải hộ trì, phải gìn giữ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình chăm chăm từng giây, từng phút, từng thời, từng khắc.

Bây giờ chúng ta tu từ cái đầu chúng ta đã không có rồi, cho nên cái sau chúng ta không thể có được. Cái hộ trì căn là chúng ta không có, cho nên những cái sau làm sao thành tựu được? Cái bước bắt đầu nhất của mẫu giáo là ráp vần ABCD là không có, thì làm sao sau này mình đọc chữ, mình viết câu, mình làm văn mình, trở thành tác giả viết những cuốn sách được. Cái hộ trì căn ban đầu không có, tiết độ trong ăn uống không có, chú tâm cảnh giác không có. Từ những cái mà chúng ta đã học những bài kinh rồi, cho nên mình không thành tựu được Thánh đạo, Thánh quả. Cho nên mình muốn là mình phải làm lại từ đầu.

“Vị ấy thành Sa-môn nhờ đoạn diệt các lậu hoặc” hai cái câu quan trọng ở trong đây, mình tô đỏ nó. “Nếu mà người bất kỳ trong giai cấp nào trong xã hội từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đi đến Pháp và Luật do Như Lai thuyết dạy, nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình chứng tri, chứng ngộ và thành đạt vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Vị ấy thành Sa-môn nhờ đoạn diệt các lậu hoặc. Nếu từ gia đình Bà-la-môn... từ gia đình Phệ xá... từ gia đình Thủ đà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đi đến Pháp và Luật do Như Lai thuyết dạy, nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình chứng tri, chứng ngộ và thành đạt vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, vị ấy thành Sa-môn nhờ đoạn diệt các lậu hoặc.”

Thứ nhất, cái bước đầu tiên ở trên là đoạn tận các tâm cấu nhiễm, ác và bất thiện pháp, tức là giới đó. Cái thứ hai là tâm định tĩnh, tu bốn tâm vô lượng, thành tựu thiền. Cái thứ ba là từ tâm định tĩnh đó mới quán chiếu, triển khai thiền quán, thực hành thiền tuệ. Rồi mới bắt đầu chiếu phá, diệt tận và bứng gốc rễ của tất cả các lậu hoặc vi tế ở trong tâm. “Vị ấy thành tựu Sa-môn là nhờ đoạn diệt các lậu hoặc”, chúng ta thấy cái trình tự rất là rõ, cái đạo lộ nó nhất quán, minh minh, bạch bạch, tỏ tỏ, tường tường, trong trong, sáng sáng, không có mơ hồ gì hết. Đức Phật dạy cái đạo lộ rất là rõ trong kinh tạng Nikāya, đạo lộ đưa đến bậc Thánh, đưa đến sự thành tựu đức hạnh của bậc Sa-môn, của một người tu nó rõ ràng.

Đầu tiên là phải diệt tận các tâm cấu nhiễm, ác và bất thiện pháp. Cái đó là thành tựu thiền định, rồi sau cùng là đoạn diệt các lậu hoặc, đó là Giới, Định, Tuệ đó. Nhưng mà cái Giới Định tuệ ở đây rất là thâm sâu, chứ không phải là nói thông thường giống như mình học đâu. “Thế Tôn thuyết giảng như vậy, các vị Tỳ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn giảng”.

Ở đây chúng ta để ý hai cái chữ là nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, vị ấy ngay hiện tại chứng chi chính ngộ và thành đạt vô lộ tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Tâm giải thoát là sao? Là hết khát ái, còn tuệ giải thoát là sao? Là dứt vô minh. Cái tâm của mình sở dĩ nó không được thảnh thơi, tự do, tự tại, là vì nó còn yêu cái gì đó, còn thích cái gì đó, còn muốn cái gì đó, còn thèm khát một cái gì đó, còn khao khát một cái gì đó. Cho nên cái tâm nó không có tự do, là cái tâm còn tham ái, còn khát ái, còn dục, ái, còn luyến ái, là cái tâm đó không tự do. Cho nên khi một bậc A-la-hán diệt khát ái, dứt vô minh là được tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Bây giờ nói ví dụ chúng ta thấy rõ hiểu liền. Bây giờ mình thích cái món đồ đó, cái ngôi nhà nào đó, hay một con người nào đó, cái tâm mình có thoải mái không? Cái tâm mình không có giải thoát khỏi món đồ đó, cái tâm mình không đi ra khỏi căn nhà đó, mà cái tâm mình nó không thể rời một bóng hình, hình bóng của một con người đó, đó là tâm không giải thoát. Ba cái lĩnh vực để chúng ta thấy là đồ vật, cảnh vật và con người. Chúng ta dễ hiểu thôi, chứ mà nói sâu về căn, trần, thức thì chúng ta khó. Chúng ta nói đơn giản thôi, một món đồ, cảnh vật hay một con người nào đó mình bị tham, bị ái, bị thích, bị khoái, bị dính mắc ở trong đó, là tâm mình không có đi ra khỏi một cái đó, cái đó gọi là tâm không giải thoát.

Tới khi mình không còn thích người đó nữa, mình mới giải thoát khỏi cái người đó. Cũng vậy, khi mình không còn thích ngũ uẩn nữa, thì mình giải thoát khỏi ngũ uẩn. Bởi vì mình còn thích ngũ uẩn, mình bây giờ mình ngắm gương, mình có thích cái mặt mình không? Thích cái mặt của mình, thì mình thích cái mặt của người ta. Cho nên còn khát ái, là tâm chưa giải thoát, còn vô minh thì tuệ chưa giải thoát. Tại vì vô minh là không thấy, không biết ngũ uẩn, không thấy sắc, thọ, tưởng, hình, thức. Không thấy cái bản chất của nó là vô thường, khổ đau, bất toại nguyện trống rỗng. Không biết cho nên mình mới thích, mình mới muốn, mình mới khoái.

Nếu mình biết mình nói: “Trời ơi cái bộ xương, trời đất ơi giòi không, trời đất nơ ơi phèo, phổi, ruột non, ruột già, một đống bầy nhầy, thúi quắc, cứt với nước tiểu, nước đái không à, ghê quá trời quá đất mà thích cái gì. Trời ơi nghe ớn quá à, nghe nói cái cầu tiêu di động, cái thùng phân”. Khi mình quán, mình chứng nhập được bất tịnh quán rồi mình thành tựu được Thánh trí huệ rồi, tự nhiên cái tâm mình nó nhả ra, mình không còn ham, thích, muốn nữa, tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Còn bây giờ chưa, kêu quán là quán như vậy, chứ trở ra là quán gà không à. Cho nên nó chưa giải thoát, cho nên Đức Phật dạy mình quán tứ đại, quán 32 thể trượt, quán 9 giai đoạn của tự thi, quán bộ xương, quán hủ cốt, quán nấm tro tàn như vậy để mình nhả ra sự khát ái đối với thân này.

Đức Phật nói: “Thân này là nô lệ cho tham ái, là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái”. Đó là cái tâm của chúng sanh, lúc nào nó cũng thiếu hết trơn, lúc nào nó cũng thèm, cũng khát, cũng muốn hết, lúc nào nó cũng là nô lệ cho tham ái hết. Chính vì cái tâm đó, và cái tâm không giải thoát, nó bị cột trói bởi những cái đối tượng mà nó tham ái. Mà thân này cũng là đối tượng à. chứ không phải nói đối tượng là thích cái thân người kia đâu, mà cái thân này nó cũng thích dữ hơn à. “Nếu cái kia đụng vô cái này một cái là rồi xong à, tới đâu cũng tới hết”, đưa ra tòa luôn, vô tù cũng vô luôn, chết cũng chết luôn, chúng ta thấy chưa? Chưa kể thọ, tưởng, hành, thức bên trong nó vi tế hơn nữa.

Cho nên mình học cái này nó thâm sâu, nó tối thượng là như vậy đó. Rồi cái tuệ giải thoát của mình, là phải phá được cái vô minh đối với năm uẩn: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi mà đạt được tâm giải thoát để giải thoát rồi thì làm sao? Vị ấy trở thành một bậc Sa-môn chính hiệu, là bậc tối tôn tối thượng giữa chư thiên và loài người, là vô thượng phước điền, là bậc ứng cúng cho nhân thiên. Một người đạt được tâm giải thoát, tuệ giải thoát là như vậy. Mình tu, người xuất gia của mình là hướng tới chỗ đó. Nghe nhấn mạnh cái chữ không? Chúng ta hướng tới đó. Phải quyết tới đó, phải thành tựu cho được mục đích của Sa-môn hạnh.

Không biết là ngày mai còn sống hay không, cho nên bữa nay cứ trao trọn tấm lòng đối với các thầy các cô, ai nhận được bao nhiêu thì nhận. Mong rằng những lời nói này, không phải là những âm thanh gió thoảng mây bay, mà còn đọng lại trong tim của những bậc chân tu, thật học, những bậc thật sự là hiền trí. Để mà hướng đến mục đích cao thượng của người xuất gia. Đây là món quà đầu năm con gửi đến cho các bậc tôn đức Tăng Ni, hiền trí trong lớp này.