Tinh Hoa Nikaya Giảng Giải 7 - Những Lợi Ích - Thù Thắng - Khi Tu Học Pháp Phật Nguyên Chất 1
Tinh Hoa Nikāya Giảng Giải 7
Những Lợi Ích – Thù Thắng
Khi Tu Học Pháp Phật Nguyên Chất 1
Thích Minh Thành
Ngày 28 tháng 03 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Giáo Pháp thuần chất PAGEREF _Toc137398206 \h 1
II. Chánh Tri Kiến PAGEREF _Toc137398207 \h 3
III. Cố hòa thượng Thích Minh Châu PAGEREF _Toc137398208 \h 8
IV. Đôi nét về 5 bộ kinh Nikāya PAGEREF _Toc137398209 \h 10
V. Linh Quy Pháp Ấn PAGEREF _Toc137398210 \h 15
I. Giáo Pháp thuần chất
Thầy mặc áo màu lam có muốn phát biểu gì không? Có ai xung phong nhận diện thân tâm mình trong 2, 3 tuần mà chúng ta không gặp mặt không? Chúng ta cứ nghiền ngẫm, quán sát, có gì nửa buổi hoặc tiết sau mình trình pháp. Hôm nay chúng ta bước qua phần tổng quan kinh Nikāya trang 31. Những phần tiếp theo như tâm nguyện của tác giả, lời xin lỗi, lòng tri ân, những phần đó chúng ta tự đọc. “Mở đầu sau gần 15 năm tiếp xúc, làm việc, học hỏi và tu tập theo sự hướng dẫn của Đức Phật trong 5 bộ kinh Nikāya ( Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ và Tiểu Bộ Kinh). Chúng tôi nhận thấy rằng những bộ kinh này là những trí tuệ vi diệu, thâm sâu, thực tế, gần gũi và rất sống động trong cuộc sống.
Nếu không được đem phổ biến rộng rãi ở trong cộng đồng Phật giáo trong nước và ngoài nước, thì thật là 1 đáng tiếc vô cùng. Thế nên tập sách tinh hoa Nikāya này, là nhằm giới thiệu bộ kinh Nikāya đến với cộng đồng Phật giáo người Việt ở khắp nơi trên thế giới. Nhằm đưa những người con Phật, đến gần với những lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Chúng tôi xin được mạn phép trình bày những tinh hoa, cốt tủy trong kinh Nikāya, pháp hành truyền thống. Tầm quan trọng và lời ích trong việc nghiên cứu, học hỏi bộ kinh này và 1 số vấn đề khác. Những phần được chia sẻ trong tập sách này, sẽ giúp ích rất nhiều cho những đạo hữu đang muốn tìm hiểu pháp học và pháp hành ở trong Nikāya. Đang muốn dấn thân sâu vào dòng pháp này, và đang muốn thể nhập vào giáo pháp này.
Tập sách này là sự đúc kết của gần 15 năm, chúng tôi dấn thân trong việc nghiên cứu, học hỏi, thẩm xát, thực tập và làm công trình phân loại kinh Nikāya. Với tấm lòng chân thành, tha thiết hướng về những người con chân chánh của Đức Phật, đang khao khát, tìm kiếm 1 đạo lộ tu tập chân chánh mà Đức Thế Tôn đã truyền trao lại trên 2.500 năm qua. Chúng tôi đã tâm huyết hoàn thành tập sách này, mong rằng tập sách này sẽ giúp quý anh giả đến gần với 1 Đạo Phật đã trải qua quá nhiều những thăng trầm của thời gian, không gian, sự thêm bớt của vô thường.” Qua lời mở đầu về tổng quan kinh Nikāya, thì chúng ta thấy rằng 3 quyển sách này là được nghiên cứu, biên tập, hành trì, đúc kết, trải qua 15 năm.
Mà 15 năm này không phải như chúng ta hiểu là lâu nghiên cứu 1 chút, mà 15 năm này là 15 năm nhất hướng, tinh chuyên, ròng rặt, tinh cần ở trong sự nghiên cứu và hành trì. Thành ra chúng ta cần trên tay là 15 năm mới có ra được 3 quyển này, và vấn đề quan trọng ở đây là gì? Ở đây chúng ta dùng cái từ là những lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Con bây giờ không có dùng từ Nam tông, Bắc tông, nguyên thủy, phát triển nữa, mà con hay dùng từ là “Phật pháp nguyên chất”. Nói vậy cho khỏi tranh luận gì hết, tại vì tạng kinh Nikāya là cả Phật giáo thế giới công nhận. Có lịch sử, có sự thật và được tôn thờ ở các nước Phật giáo nguyên thủy. Trong những cổ tháp ngàn năm khắc bằng bia đá, cả thế giới đều công nhận hết.
Đây là những lời dạy gốc, nguyên chất, một hồi chúng ta qua phần kinh Nikāya nghĩa là gì? “Nghĩa là sự thâu thập, gom lại, thâu góp lại, tập hợp lại, sưu tập lại, đúc kết lại. Nói đầy đủ là những lời dạy chánh thống, nguyên chất, Thánh điển, Thánh giáo từ kim khẩu của Đức Thế Tôn do các bậc Thánh Tăng kết tập”. Có lịch sử, có sự thật và được Phật giáo thế giới công nhận, tôn thờ. Chúng qua Sri Lanka, qua bên Myanma chúng ta sẽ thấy những cái tháp, hàng ngàn ngôi tháp thờ Thánh điển Nikāya được khắc trong những bia đá. Ở đây có nhiều vị đi qua đó, chúng ta thấy chỗ viên đá thờ sợi tóc của Đức Phật, chúng ta có lên chỗ đó không? Ở đây có vị nào đi chưa? Rất là nhiều Thánh tích rất đặc biệt.
Cho nên tạng kinh này, là tạng kinh quyền quy của Phật giáo thế giới. Những nhà nghiên cứu lớn ở trên thế giới, là thường căn cứ vô tạng kinh này rất là nhiều. Thì như vậy cho nên vấn đề ở đây là gì? Hồi hôm nay mới họp ở trên ban Phật pháp trung ương, cũng như hôm trước ra Bắc ở ban hoằng pháp trung ương ở tại Huế, thì ở đây có quý thầy đi dự đó. Thì từ chư tôn đức lãnh đạo, cho đến các vị lãnh đạo các cấp chánh quyền như ông thứ trưởng của bộ nội vụ, cũng đều phát biểu là mong muốn, tha thiết, mà Tăng Ni chúng ta, nhất là những người đi ra hoằng pháp với vai trò của 1 giảng sư. Là phải ngoài kiến thức, sự giảng thuyết, phải có sự hành trì, người ta gọi là tổng pháp hành.
Sắp tới đây là những lớp giảng sư thì những giảng sinh của chúng ta, sẽ được nhập hạ ở Quốc Ân Khải Tường, ở nơi đó là đã cúng dường cho hòa thượng chủ tịch rồi. Thì các Ngài trong trưởng ban hoằng pháp trung ương, các bậc tôn đức, phó chủ tịch, các Ngài rất mong muốn làm cho nó cân bằng giữa pháp học và pháp hành. Ngày nay là Tăng Ni trẻ của chúng ta có thể có nhiều vị có pháp học, kiến thức Phật học (chúng ta nhớ rõ chữ kiến thức Phật học và pháp học) rất nhiều. Biết nhiều, đọc nhiều, nghe nhiều, hiểu nhiều, nhưng mà sự hành trì thì cái này nơi ít. Thành ra bây giờ các Ngài lãnh đạo từ trong đạo, cho đến ngoài đời đều mong muốn. Mà con nhắc lại là nhất là chúng ta làm công tác truyền pháp, giáo dục, tuyên truyền, truyền bá.
II. Chánh Tri Kiến
Mà nếu như chúng ta không có thấm được pháp hành, thì lời nói của mình nó chẳng khác gì nhà nghiên cứu, những nhà thầy cô giáo đứng trên bục vậy thôi. Chứ không có sức, đạo lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, pháp lực, không có những sức mạnh đó. Thế nào là đạo lực? Chữ “đạo lực” là chữ Hán, tiếng Việt gọi là gì? Chữ “lực” đó là sức mạnh, chữ “đạo” là sự hành trì, đạp hạnh của mình. Còn pháp lực là sức mạnh mà mình thực hành chánh pháp. Tuệ lực là sức mạnh về thấy biết của mình về Chánh pháp. Tri kiến lực tức là sự mạnh thấy đúng của mình, cái thấy đúng của bậc Thánh. Khi mình huân tập nhiều thì nó trở thành 1 sức mạnh, sức mạnh đó là bất cộng với phàm phu.
Ở trong kinh Nikāya dùng là bất cộng pháp, tức là những pháp này chỉ có Thánh đệ tử mới có thôi, vô văn phàm phu không có. Thành ra đạo lực, tuệ lực, pháp lực, định lực, niệm lực, rất là nhiều. Sẵn những cái từ ở đây thì chúng ta học luôn. Cái tri kiến lực, niệm lực, đạo lực, pháp lực, định lực, trí lực, tuệ lực…nhiều cái sức mạnh lắm. Mà mình phải tu mình mới có được cái này, mình không tu là không có được. Mà cái đầu tiên ở đây là tri kiến lực, mà mình nói cách khác là chánh kiến đó. Ở trong Nikāya bài kinh đầu tiên chúng ta đã học rồi, bài “Tất Cả Lậu Hoặc”, Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, ta nói cho người thấy, ta nói cho người biết để đoạn tận các lậu hoặc. Chứ ta không có nói cho người không thấy, cho người không biết”.
Thành ra cái chữ thấy, biết tức là tri kiến, ở trong Nikāya là rất quan trọng. Ta còn gọi là tri kiến của bậc Thánh, tức là Thánh tri kiến. Ta tu để ta thể nhập cái thấy biết của bậc Thánh, mà đầu tiên muốn thể nhập cái thấy biết đó thì mình phải biết cái thấy biết của bậc Thánh là gì chứ. Mình không biết là cái gì thì làm sao mà thể nhập, cho nên bước đầu tiên của chúng ta là văn, phải nghe thật là nhiều về kinh tạng Nikāya. Thí dụ trong Nikāya định nghĩa thế nào là chánh kiến? Tức là vị đa văn Thánh đệ tử thấy rõ sắc, thấy rõ thọ, thấy rõ tưởng, thấy rõ hành, thấy rõ thức, như vậy là chánh kiến. Thấy rõ sắc tập khởi, thấy rõ sắc đoạn diệt, thấy rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt, mình học 7 trí đó, ai mà quên rồi về phải học lại à.
Ai mà không thấy mấy cái này tức là mình tà kiến, tức là cái thấy biết của mình là phàm phu tri kiến, không phải thấy biết của bậc Thánh. Bây giờ mình nói tiếng Việt luôn cho dễ hiểu, chứ nói chữ Hán là ngồi đó ngẩn tò te à, ngồi đó đơ đơ không biết cái gì. Thấy rõ thọ, tức là thấy rõ cảm giác trong con người của mình, biết cái cảm giác đó từ đâu nó sanh khởi. Khi nó sanh khởi thì có cái gì bên trong cảm giác đó, thiện pháp hay và bất thiện pháp. Và làm thế nào để cho cảm giác này nó lắng dịu xuống, nó chấm dứt, diệt tận, như vậy gọi là chánh kiến, là thấy đúng. Thấy rõ những hình bóng trong tâm, biết được tại sao có những hình bóng này sanh khởi ra, từ đâu có những hình bóng này. Đâu sư cô nói xem là từ đâu?
Sư cô: Do sự tiếp xúc.
Đúng rồi, cho 1 tràng pháo tay lớn đi. Do xúc tập khởi, “vỗ tay lớn nữa đi, vỗ gì có chút xíu ạ”. Ở trong bài quán về xả vô lượng tâm có câu: “Ta hăng say việc ác, ta hà tiện việc lành”. Cái tâm của chúng sanh đó, việc ác, việc xấu thì nó bén nhạy lắm, khỏi cần dạy. Nhưng mà cái việc thiện, cái việc gọi là trí tuệ là nó dễ quên lắm. “Sao sư cô cười dữ vậy, có trúng không là sư cô cười dữ vậy?” Nó dễ quên rồi nó dễ bỏ qua, thậm chí là nó hà tiện việc lành. Nó cho lúc đầu tính cho 5 đồng, suy nghĩ lại thôi cho 3 đồng, ngắt lại bớt. Đối với việc lành mình hà tiện lắm, còn đối với việc bất thiện thì mình hăng say, chính vì vậy mà con mời quý thầy cô vỗ tay tiếp tục là vậy đó, đừng có hà tiện cái vỗ tay.
Đọc kinh thì đọc trong họng không à nghe không được, mà nói chuyện là từ nhà bếp vang tới cửa. Đó tức là thiện lành mình không có cố gắng, nhưng mà những cái như vậy mình rất là hăng say, nhiệt tình, nhiệt huyết, nhiệt tâm, nóng bỏng, hot cái gì đó không biết. Bây giờ mình trở lại vấn đề là cái đầu tiên của chúng ta đó, thành ra chúng ta nắm thật vững lời dạy nguyên chất của Đức Phật, khi Ngài còn tại thế. Được truyền thừa, được kết tập, xâu kết, tập hợp, gom góp, đúc kết lại thành ra 5 bộ Thánh điển, đó là ý nghĩa của chữ Nikāya đó, để gười ta hỏi mình Nikāya nghĩa là gì mình biết. Thành ra bây giờ trước khi đi vào, ở đây chúng ta giải thích 1 chút cái đã.
Cho nên chúng ta tại sao phải nghe kinh, học kinh, kinh Nikāya là phải thuộc lòng, chứ không phải hiểu ý giống như bây giờ mình học đâu. Kinh Nikāya là không có chuyện học hiểu ý được, hiểu ý 1 hồi thành ra cái ý phàm của mình rồi. Không tin bây giờ mình thí nghiệm liền, mình đọc đi rồi kêu đứng lên nói là mình nói lại chính xác được bao nhiêu phần trăm? Thí dụ mình đọc trong đó là 10 mà mình đứng lên mình nói được bao nhiêu? (Có thầy nói có 2 à, nâng giá lên thêm 1 chút đi) Mình không thể nào nói chính xác được hết, được chừng 3, 4, 5, thậm chí là xuyên tạc lời Đức Phật. Ở trong Nikāya nói cái từ đó, tức là mình sẽ nói lệch cái ý đó. Tài vì sao? Tại vì Thánh trí, cái tri kiến của bậc Thánh mình không có quen, mà mình quen với những cái phàm tình.
Phàm tình là mình quen nhiều hơn đúng không? Cái tình phàm. Mình rất là điêu luyện, nhuần nhuyễn, quen thuộc nhưng mà tới cái Thánh trí, trí Thánh là mình lạ. Cho nên nói ra 1 hồi là quên liền, ví dụ như nhận diện ngũ uẩn, mình nhận diện 2, 3 năm rồi đó, mà kêu đứng lên là nhận diện lộn, quên: “Tưởng cái hành gì gì đó không nhớ nữa.” Cho nên đầu tiên phần quan trọng của đa văn Thánh đệ tử là nghe nhiều về Nikāya. Thành ra 1 tuần hoặc 2 tuần chúng ta mới học 1 lần thì thôi rồi xong, trừ người mà mỗi ngày mỗi nghe, mỗi ngày mỗi quán, chứ còn không là quên hết trơn. Đạo tràng Nikāya chúng con là xin thưa các thầy, các cô chư tôn đức, mỗi buổi sáng từ 6h – 8h là có trực tiếp mỗi ngày, ngày nào cũng vậy. Mấy năm rồi đều như vậy, con thưa bữa nay mới biết phải không?
Thành ra cái vấn đề nghe là quan trọng, nghe là nghe cái gì? Nghe sự thấy biết của bậc Thánh. Nghe rồi mình đưa nó vào từ từ, thì cái Thánh này vô thì nó đánh cái phàm. Cái tri kiến bậc Thánh nó vô, thì nó mới đánh phá cái phàm tình. Cái tâm mê, tham ái, vô minh, chấp thủ nó bị cái thấy biết của bậc Thánh chiếu phá, đánh phá ở bên trong đó. Thí dụ hồi trước mình chưa học ngũ uẩn, mình thấy là mình, đi đâu cũng: “Là tôi, của tôi, tự ngã của tôi” không à. Chẳng hạng như hôm bữa trình pháp, ông huynh hay ông đệ, chúng trị sự hay trụ trì nói 1 câu gì đó thì mình cũng thấy trong mình cũng dâng dâng lên rồi, bực rồi. Thì mình nói: “Cái này thọ à nha, cái này cảm thọ à. Mày nói lầm bầm cái gì vậy hành? Mày đừng có hành tao nữa nha hành”, phải không?
Rồi cái tưởng nó lùng bùng mình nói: “Thôi, im lặng đi tưởng, tan biến đi tưởng, đừng có quậy nữa tưởng. Những cái thọ, tưởng, hành này cứ quậy hoài, thôi tu đi, ngoan hiền tu tâm hiền, tu tâm từ, tu tâm xả, buông xả đi, cái đó có gì đâu mà chấp vô làm chi.” Thì như vậy là mình có học, có hiểu, có thực tập như vậy thì cái đó là Thánh trí nó đánh phàm tình ngay lúc đó. Nay chúng ta có cụm từ mới là “Thánh trí đánh phàm tình”, cái đó là “chuyển mê khai ngộ đó”. Dùng cái giác ngộ để thay đổi cái mê lầm trong tâm, tâm mình có cái mê lầm, cái tôi “đụng tôi hả, khinh thường tôi hả, coi tôi không ra gì hết trơn phải không, ỷ làm lớn rồi ăn hiếp tôi hả làm sao?”
Thí dụ như vậy đó là cái phàm tình, thường tình, mê tình, chấp ngã. Còn bây giờ mình: “Sắc, thọ, tưởng, hành, thức có ai với ai đâu mà hơn thua, sân si, nhân ngã với nhau.” Thì lúc đó là cái Thánh trí đánh phàm tình, cái giác ngộ chuyển đổi tâm mê lầm, chúng ta thấy được điều đó. Mà muốn thấy được như vậy là từ đâu? Là từ chỗ thấy biết, những cái mình đã nghe, đã học, mình vận dụng nó, mình có một sức mạnh trong cái thấy biết này. Thì khi đó mình không có quên sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Chứ lúc đó mà mình không có tri kiến lực, mình không có sức mạnh của cái thấy biết, của cái nhớ, niệm lực thì lúc đó là mất tiêu hết trơn rồi. Nhưng mà mình có nghe, có hiểu, có thấy biết thân tâm của mình, nhận diện thân tâm của mình thì lúc đó mình nhớ, niệm lực.
Mình nhớ đây là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, đây là đất, nước, gió, lửa, đây tứ đại, nùi giẻ rách, thùng rác, hầm phân, cầu tiêu di động không hơn không kém, nhất trí không? Thì mình có sự quán chiếu, tác ý như vậy thì cái này là niệm lực, đạo lực, pháp lực luôn. Chính vì như vậy cho nên mình nhớ pháp, mình thực hành pháp, ngay lúc đó mình thể hiện cái pháp bằng cách mình khởi lên sự tác ý. Như lý tác ý mình đã học rồi, tác động tâm ý bằng những Thánh trí, mình đánh vô cái mê mình, phàm tình, si tình. Thì như vậy cái mê tình này bị phá hủy, bị giảm xuống. Cái tham ái, chấp thủ, cái tôi ta, cái tao mi, hơn thua, bỉ thử này kia nọ bị cái sức mạnh này, Thánh trí huệ này đánh phá.
Thì như vậy cái tâm mình có một sự an định, an trú. Mà an trú là nhờ đâu? Nhờ cái trí và tuệ, thấy và biết sự thật của tứ đại, ngũ uẩn. Chúng ta thấy đây là sự vận hành của pháp, đó là tu đó. Cho nên tín, tấn, niệm, định, tuệ, ngũ căn biến thành ngũ lực. Lòng tin của mình ở trong pháp, mình mới có sự nổ lực, từ sự cố gắng, nổ lực đó mình mới nghĩ nhớ. Từ sự nghĩ nhớ đó, tâm mình mới có sự tập trung là định. Từ cái tâm tập trung và định mình thấy rõ ràng, là tuệ lực. Thì năm cái nền tảng biến thành năm sức mạnh, là từ ngũ căn biến thành ngũ lực. Mình không có 5 cái nền tảng đó, thì mình không thể nào tu hành tiến bộ được. Thí dụ bây giờ mình nói: “Ngũ uẩn bây giờ có phải không? Ngoài ngũ uẩn ra nó còn có cái gì nữa không?” Thì lúc đó là mình phân vân, lưỡng lự rồi.
Bây giờ chúng ta nhận diện ngũ uẩn chúng ta thấy không? Ngoài cái sắc, thọ, tưởng, hành, thức ra thì còn gì nữa không? Bao tùm hết nhân sinh, vũ trụ, thế giới, hành tinh, thái dương hệ. Thì như vậy chúng ta có 1 lòng tin vững chắc, đó là tín căn. Sau khi tin rồi chúng ta thường thường nhớ nghĩ về cái pháp đó, nhìn nhận lại cái ngũ uẩn đó, cố gắng, thì như vậy gọi là tấn. Nổ lực, cố gắng để mà ghi nhớ, thực hành là niệm. Ghi nhớ, thực hành thì tâm mình có tâm trung là định. Mà khi tâm mình có tập trung mình nhìn trong ngũ uẩn, thì trí tuệ về ngũ uẩn của mình nó sẽ thành tựu. Đó là tuệ căn: Tín, tấn, niệm, định, tuệ, năm cái nền tảng tu học này khi mình có thực hành mình mới thấy nó vận hành trong tâm mình rất là rõ, mình quán pháp trong pháp.
Khi mình tu cái này 1 thời gian quen rồi thì 5 cái nền tảng này biến thành 5 sức mạnh, ngũ căn nó biến thành ngũ lực, 5 căn thành 5 lực. Lúc đầu nó là cái rễ thôi, những mà sau này nó trở thành sức mạnh. Khi mình có sức mạnh rồi, thì lúc đó mình có 1 năng lực đặc biệt. Những cái năng lực đó chính là niệm lực, đạo lực, pháp lực, định lực, trí lực, tuệ lực, diệu lực, thần lực, vô vi lực, vô tác lực…thì nó có nhiều cái sức mạnh. Có thể mình không cần làm gì hết, mình ngồi yên như vậy đó, những mà tất cả pháp có thành tựu. Tại vì mình ngồi quán tất cả pháp trống rỗng hết, cho nên Bồ Tát khi ngồi thì rắn tới, bao nhiêu những con ác thú, mãnh thú, bao nhiêu yêu ma đi tới mà Ngài bất động. Định lực cộng với trí huệ lực của Ngài, Ngài chỉ ngồi, nhưng cuối cùng tất cả thua hết trơn, Ngài không có chiến nhưng mà Ngài thắng.
III. Cố hòa thượng Thích Minh Châu
Ngài chỉ quay vào trong nhiếp phục bên trong thôi, nhiếp phục trong tâm, trong thọ của mình thôi. Còn mình bây giờ gặp chuyện gì thì sao? Quýnh quán, động loạn hết. Là tại vì mình không có niệm lực, không có định lực, không có đạo lực, không có trí lực, không có tuệ lực để mình nhìn cái sự việc. Do đó chúng ta điểm qua 1 chút, để mình nhắc nhở cái phần tu học ở trong pháp hành. Bây giờ nói về nguồn gốc bộ Nikāya được đề cập ở đây, trích dẫn ở trong tập sách này là Nikāya ở trong đại tạng kinh Việt Nam, do hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ nguyên bản Bali tạng xuất bản năm 1992, nhà xuất bản Tôn Giáo. Chúng ta phải nói là cố trưởng lão Thượng Minh Hạ Châu chúng ta là 1 nhà phiên dịch vĩ đại của Phật giáo Việt Nam, còn hơn cả Ngài Huyền Trang nữa.
Tại chúng ta chưa có biết giá trị của tạng Nikāya, Ngài Huyền Trang đa phần là sách phát triển sau này, là những sách của đại thừa, hậu kỳ của Phật giáo phát triển, Ngài về Ngài phát huy nhiều về mảng duy thức học. Còn cố hòa thượng Thượng Minh Hạ Châu của chúng ta là mười mấy năm trời ở Ấn Độ, mà trở về đây cho tới ngày viên mãn cuộc đời Ngài dịch hết cả đại tạng kinh nguyên chất, thâm sâu, thần diệu, tối thượng của Phật giáo thế giới. Cho nên Ngài Huyền Trang, cũng không thể so sách với cố hòa thượng Minh Châu của chúng ta. Cái này phải người nào học và thực hành Nikāya, có sự thành tựu tương đối ở trong đó rồi chúng ta mới thấy được cái công đức vĩ đại của cố trưởng lão hòa thượng Thích Minh Châu.
Là một bậc tối thượng trong tất cả các đại dịch giả của Phật giáo Việt Nam, ngay cả Phật giáo Nhật Bản. Mà quý vị thấy Nhật Bản phát triển cỡ nào không? Cũng chưa có 1 bộ Nikāya dịch đầy đủ như Việt Nam mình. Mà trên thế giới chỉ 1 vài nước thôi, không có nhiều nước được bộ dịch hết toàn bộ đại tạng kinh Nikāya của Bali. Mà may mắn là nước Việt Nam chúng ta có 1 bậc đại long tượng, hy sinh cả cuộc đời để dịch bộ Thánh điển tối thượng Nikāya này. Tại vì Trung Quốc làm phim hay lắm phải không? Viết sử rất là nhiều, ăn mày cũng có lịch sử, kỹ nữ cũng có lịch sử nữa. Chứ đúng ra sau này mình cũng có bộ phim về hòa thượng Thượng Minh Hạ Châu đó, cuộc đời và đạo nghiệp của Ngài chúng ta nên về coi. Tất cả những Tăng Ni sinh ở trong trường đào tạo giảng sư phải coi về cuộc đời của Ngài, coi nhiều lần.
Chúng ta rất là vinh hạnh, vinh dự, hãnh diện với Phật giáo thế giới. Vì Phật giáo Việt Nam chúng ta có 1 bậc dịch giả vĩ đại, tầm cỡ, siêu đẳng thế giới, chứ không phải nói tầm cỡ quốc tế đâu. Thành ra chúng ta suốt cuộc đời tu mà từ đây cho tới nhắm mắt, mà mình không đọc hết tạng Nikāya thì uổng cuộc đời tu lắm. Phải cố gắng độc ít nhất, tối thiểu phải 1 lần đọc hết đại tạng Nikāya. Con bây giờ tới ngày giỗ của hòa thượng là con cúng ở trên núi, không có rình rang, không có băng rôn, không có gửi thư mời gì hết. Mấy thầy trò thắp nhang tưởng niệm, nhắc lại công đức, mà tràn ngập cả 1 trái tim, 1 tấm lòng biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn đối với bậc dịch giả vĩ đại của Phật giáo Việt Nam.
Có những buổi đó các thầy các cô về coi ở trên Linh Quy, những buổi tưởng niệm hòa thượng, rất đơn sơ nhưng mà tràn đầy nước mắt. Chỉ có người thực hành pháp Nikāya mới cảm nhận được giá trị, lợi ích, có được sự thành tựu tương đối hoặc là tuyệt đối trong đó mới biết hết ân đức của những bậc trưởng lão, thượng thủ, đã để lại công đức siêu việt cho Phật giáo Việt Nam ta. Tất cả Tăng Ni sinh chúng ta và tất cả các Phật tử trong nước, ngoài nước, nếu có dịp nên về đảnh lễ tháp của hòa thượng ở tại thiền viện Vạn Hạnh. Ngài là bậc đáng kính, mình chỉ nói cái công đức dịch cái bộ này ra thôi thì đã xứng đáng cho nhân thiên cúng dường, ruộng phước vô thượng ở đời.
Hãy nên có cái tâm cung kính rất mực đối với bậc đáng kính, phải có cái tâm biết ơn đối với những bậc có ơn, đại ân nhân của mình. Không có hòa thượng thì chúng ta không có 1 bộ Nikāya, mà không có bộ Nikāya thì giờ này chúng ta không có bộ Tinh Hoa Nikāya này, cũng không có những người tu thành tựu trong cái pháp này. Nếu không có tạng kinh này lấy gì mà đọc, không đọc lấy gì hiểu, không hiểu lấy gì hành, không hành lấy gì mà có kết quả. Chúng ta nhìn thấy không? Ân đức rất là lớn. Cho nên chiều nay chúng ta về chùa, mở lại bài cuộc đời và đạo nghiệp của cố hòa thượng trưởng lão Thượng Minh Hạ Châu, nghe xúc động lắm. Ở học viện Phật giáo họ có làm phim, hình như là 2 tập.
IV. Đôi nét về 5 bộ kinh Nikāya
Về nghe thật là kỹ, xem lại và có dịp di qua lễ tháp của hòa thượng. Có dịp làm tổ tức được thì chúng ta tổ chức đi về lễ tháp, và tụng các bài Nikāya ở bên tháp của hòa thượng. Hoặc mình ngồi thiền quán ở đó vào buổi sáng mình đi, thí dụ như vậy. Đúng ra là ngày giỗ của hòa thượng là nên làm cái đó, rất hay. Đó là con gợi ý để chúng ta thấy ai tự tâm, tự túc hoặc những vị có cái tâm, có trách nhiệm mình nên làm những điều này rất là tốt. “Đôi nét về 5 bộ kinh Nikāya: Trường Bộ kinh gồm có 2 tập, 34 bài kinh; Trung Bộ kinh gồm 3 tập, 152 bài kinh; Tương Ưng Bộ gồm 5 tập với khoản gần 1.800 bài kinh ngắn; Tăng Chi Bộ kinh gồm 4 tập, được sắp xếp từ từ Tăng Chi 1 pháp cho đến Tăng Chi 11 pháp, với khoảng gần 1.200 bài kinh ngắn.
Tiểu Bộ kinh thì gồm 10 quyển, bộ kinh này gồm những bài kinh lẻ và 1 số câu chuyện về tiền thân của Đức Phật, tiền thân Chư Tăng được từ từ đưa vào sau này ở trong tạng kinh. Từ lần kết tập kinh điển lần thứ 2 cho đến lần kết tập kinh điển lần thứ 3. Trong phần này, chúng tôi xin được phép không đề cập đến bộ kinh này”. Như vậy là trong quyển này dẫn chứng chủ lực là 4 bộ Trường, Trung, Tương Ưng và Tăng Chi, chứ không có đề cập Tiểu Bộ. Bởi vì Tiểu Bộ là sau này, tức là từ lần kết tập kinh điển thứ 1 thì sau này có bổ xung thêm rất là nhiều những tư tưởng, câu chuyện. Cho nên tác giả ở đây là chú trọng 4 bộ trước để bảo đảm cái tính nguyên thủy, nguyên chất trọn vẹn.
“Đôi nét về A-hàm và Nikāya” thì cái này chúng ta về đọc đi, những cái anfo mà về phần nghiên cứu chúng ta cứ tự đọc thôi. Chúng ta khai triển chủ yếu về cái pháp hành thôi, rồi phần nghiên cứu thì rất nhiều bản nghiên cứu để chúng ta đọc. Cố hòa thượng Thượng Minh Hạ Châu chúng ta có những quyển so sánh A-hàm với Nikāya, mà cái đó dường như cũng là luận án của hòa thượng, có thời gian thì chúng ta đọc. “Bộ Nikāya này được các vị Thánh Tăng thời Đức Phật sắp xếp như thế nào, những bài kinh khá dài được sắp xếp chung với nhau gọi là Trường Bộ”. Đây là sắp xếp theo mặt hình thức của bài kinh, thí dụ những bài dài thì là gộp chung với nhau lại thành Trường Bộ. Chữ “trường” là gì? Đó là những bài kinh dài chúng ta thấy đó.
Rồi bây giờ: “Những bài kinh vừa phải, dài vừa vừa thì xếp chung với nhau gọi là Trung Bộ, tức là không có quá dài cũng không quá ngắn gọi là Trung Bộ”. Chúng ta phải hiểu, chứ không thôi hỏi Trường Bộ ý nghĩa sao mình không hiểu nữa. Trường Bộ là những bài kinh thuộc loại dài, Trung Bộ là những bài kinh dài vừa thôi. “Còn những bài kinh ngắn, cùng 1 vấn đề, những bài kinh này xếp chung với nhau gọi là Tương Ưng Bộ”. “Tương Ưng” là gì? Là giống nhau, cùng 1 vấn đề. Thí dụ như Tương Ưng Sáu Xứ, rất nhiều bài kinh nói về Sáu Xứ. Mà “Sáu Xứ” là gì? Sáu nội xứ, sáu ngoại xứ, sáu xúc xứ. Mắt, tay, mũi, lưỡi, thân, ý; sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp…Đó là những bài kinh Đức Phật nói về 6 xúc xứ, 6 căn, 6 trần, 6 thức, 6 xúc, 6 thọ, 6 ái, 6 tưởng, 6 tư…
Nhưng mà căn bản là 6 căn, 6 trần, 6 thức, 18 giới. Thì xếp chung với nhau về các vị Tỳ-kheo, về các vị Tỳ-kheo Ni, tương ưng rừng, tương ưng thọ, chia những bài kinh nói về cảm thọ…rất nhiều bài kinh. “Những bài kinh ngắn xếp theo số lượng vấn đề được đề cập đến từ ít cho tới nhiều, những bài kinh này được xếp chung với nhau gọi là Tăng Chi Bộ”. “Tăng Chi” là gì? Là thêm lên những chi phần, cho nên từ cái 1 pháp, 2 pháp, 3 pháp, cứ lên lần lần 5 pháp cho đến 11 pháp, đó gọi là Tăng chi. Chúng ta thấy dễ hiểu không? Trường là những bài kinh dài, trung là những bài kinh vừa, tương ưng là những bài kinh giống nhau, cùng 1 vấn đề, rồi tăng chi là tăng lên dần dần những chi phần của các pháp.
Đó là Hán Việt chúng ta phải hiểu, chứ khi nói chúng ta không biết cái gì, hay người ta hỏi: “Sao kêu bằng Tăng Chi?” Trả lời: “Thì Tăng Chi thì kêu là Tăng Chi” vậy đó. “Ngoài ra các bài kinh được kết tập thêm trong lần kết tập kinh điển lần 2, 3 thì được gọi là kinh Tiểu Bộ kinh”. Như vậy Tiểu Bộ kinh là bộ sau nhất, lần kết tập thứ 2, 3 mới được có thêm vô. Cho nên khi mà chia sẻ con cũng ít đề cập Tiểu Bộ kinh, tại vì nếu mình chưa thành tựu Chánh tri kiến là mình đọc không biết cái nào là của Đức Phật, cái nào là ở ngoài Đức Phật. Còn nếu mà mình Chánh tri kiến rồi thì cái nào khác ý của Phật, khác pháp là mình biết hết trơn à.
Cho nên mình học kinh mình học rất là kỹ, học lời nguyên chất của Đức Phật, thì mới có khả năng đi đúng con đường của Đức Phật gọi là Thánh đạo. Thì mình mới có được Thánh trí, Thánh quả từ Thánh pháp, chúng ra có nói rồi. Nếu mà chúng ta học ngoài lời của Đức Phật thì chúng ra có thành công đi nữa, thì đó là thành công ở ngoài lời nói của Đức Phật. Chứ không phải thành công những cái pháp, mà Đức Phật và các Thánh đã thành công. Chính vì vậy mà mình tu tại sao không có Thánh Tăng, không có Thánh quả, là tại vì mình tu đâu có đúng Thánh pháp. Đâu có đi trên đạo lộ của bậc Thánh, Thánh đạo đó đâu. Đâu có thành tựu Thánh trí đâu thì làm sao có Thánh quả, chỗ này là chỗ hết sức quan trọng.
Cho nên 4 bộ đầu: Trường, Trung, Tương Ưng và Tăng Chi là tuyệt đối quan trọng. Tất cả những lời nói trong đó, phải đem hết trái tim, tấm lòng và cả cuộc đời của mình nghiên cứu ở trong đó, đừng có bỏ sót 1 chữ nào hết. Còn tất cả những cái sách khác để qua 1 bên, nghiên cứu chơi thì nghiên cứu, có thời gian dư thì học hiểu thêm thôi, chứ mấy cái khác không có quan trọng, bốn bộ đó là Thánh trí huệ của Đức Phật. Con thưa các thầy các cô, ngày xưa là con nghe chỗ nào có tu là đi đến cầu pháp, thậm chí là nhất bộ nhất bái. Trong nước, ngoài nước, Sri Lanka, Thái Lan, Campuchia, Nhật Bản rồi Ấn Độ, Nepal, Úc châu, Đài Loan, Trung Quốc…Tất cả những nơi, chỗ nào trong nước ngoài nước là đi đến tìm hết, sách của con bây giờ không biết cái nhà này có chất hết không nữa.
Mà tới bây giờ khi con đã vào dòng pháp này rồi thì nó khỏe re, rồi xong 4 bộ, không còn tìm 1 lời nói nào ở ngoài lời nói của Đức Như Lai. Đây là trong Nikāya nói: “Một người mà tìm lời dạy ở ngoài lời nói của Đức Như Lai, người đó chưa có thành tựu Chánh tri kiến.” Tại vì mình nghĩ xem, có 1 cái lời vượt ngoài lời nói của bậc đại đạo sư không? Đức Thế Tôn ở trong kinh mình gọi là bậc đạo sư. Mà mình tìm lời nói của người không phải là bậc Chánh đẳng, Chánh giác, mà mình học cái lời đó thì mình có giác chứng ngộ không? Chỗ này rất quan trọng. Cho nên khi mà con phát hiện cái này rồi là con chấn động hết, thay đổi toàn diện về pháp học, pháp hành và sự chia sẻ cho Tăng Ni.
Con thưa các thầy các cô, sách của con thì nguyên 1 cái nhà này chất không hết đâu, mười mấy cái tạng kinh, thiền tạng, Bát Nhã tạng, Hoa Nghiêm tạng, Pháp Hoa tạng, Nam kỳ, Bắc Kỳ, Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, Càng Long tạng rồi bao nhiêu tục tạng…Chẳng những sách mà đĩa tất cả kinh là đi Đài Loan thỉnh 128 thùng, từ bên Đài Loan gửi về. Mà con đọc thưa các thầy các cô, các tiểu sử của các vị cao Tăng, Thánh Tăng là sìn hết. Bởi con trốn ở trong phòng đọc hết tất cả các vị cao Tăng, Thánh Tăng để biết tại sao các Ngài thành cao Tăng. Sao mình tu cũng nhốc hết mà không thấy cao Tăng, tại sao mấy ông già này thành cao Tăng? Phải coi xem tại sao.
Mà con thưa các thầy các cô, con dịch là trên 300 tác phẩm, chữ Hán mà con đọc như chữ Việt thôi. Dịch rất là nhiều mà chưa có in ra, mà chắc cũng không có in, tại vì mấy cái đó đâu có đúng đâu mà in. Mà bộ gọi là pháp ấn, bảo tạng, 1 quyển 1000 trang, mà 30 quyển nghiên cứu, dịch thuật và thuyết giảng bây giờ là để cái bảng khảo thôi, nhưng mà có thể là bỏ thôi chứ không có xài. Tại trước khi đi vào Nikāya nói sai, không có trúng. Khi mình chưa có đi vào trong tạng Nikāya, mà mình học theo chuẩn đúng này rồi là mình nói trong miên man, vô minh, trong tư kiến cá nhân hoặc là nói dựa theo 1 người nào đó, mà người đó không phải bậc A-la-hán chánh đẳng giác.
Cho nên 1 người thành tựu chánh kiến, mà đi tìm cầu lời dạy ngoài lời dạy của Đức Như Lai, sự kiện đó không có thể xảy ra. Bởi mình đọc trong đây mình sẽ thấy, đọc phía sau cuốn sách này mình sẽ thấy. Cho nên bây giờ con đi đâu khỏe re, hồi đó con đi nhập thất là con chở mấy chục thùng á, đem hết đại chánh tạng đi theo, đi lên núi dùng. Bây giờ khỏe re, cầm cái Ipad là xong, nhưng mà cái vấn đề ở đây không phải là cái Ipad, mà vấn đề ở đây là chỉ có 4 bộ Nikāya thôi, ngoài ra không có học mấy vị khác. Chỉ có cái gì cần thiết, công việc thôi chứ học là chỉ có học 4 bộ kia thôi. Bây giờ nếu ai nói cái gì đúng sai là biết hết trơn, bất cứ là ai, chức vụ lớn nhỏ.
Nếu mình giảng pháp mà sai là biết liền, tại vì có pháp ấn trong tay mà. Biết Linh Quy Pháp Ấn không? Trước khi vô Nikāya là con đã tâm đắc với tam pháp ấn rồi. Khi vào Nikāya nữa thì có ngọc tỷ trong tay, ấn xuống là không xê dịch. Bây giờ con hỏi các thầy các cô, ngoài ngũ uẩn ra trên thế giới này có cái gì khác không? Đó là trí vũ trụ, mà nắm được cái trí đó tức là nắm toàn thể vũ trụ. Muôn loại chúng sanh nằm trong đó hết, cho nên con mới nói là không biết còn chia sẻ với các thầy các cô được bao lâu nữa. Đời bây giờ nó rất là vô thường, có khi con cũng đi hoằng pháp ở nước ngoài, có khi tịnh tu, hoặc có khi vô thường bất thình lình nó đến sao.
Cho nên con mới nói hết tất cả tấm lòng cho các thầy các cô, người nài tinh ý, để tâm, nhiệt thành, nhiệt huyết thì sẽ thấy được đạo lộ của Đức Phật. Đây là đánh đổi và xương máu, nước mắt và sanh mạng. Con mời sư cô có ý kiến.
V. Linh Quy Pháp Ấn
Sư cô:
“Con kính gửi máy bạch trên thượng tọa giáo thọ sư, con xin 1 ít thời gian của thượng tọa và đại chúng con có 1 câu hỏi. Là thầy có thể hoan hỉ cho con biết được ý nghĩa của bốn chữ “Linh Quy Pháp Ấn”, tên chùa đó được không ạ? Tại vì con nghĩ nếu như con hiểu thì chỉ là theo suy nghĩ của con, còn người đặt tên thì có ý nghĩa, suy nghĩ gì đó. Mong thầy từ bi hoan hỉ chỉ dạy ạ.”
Chữ “Quy” là gì? Cái núi đó hình con rùa, nhưng mà ngọn núi đó rất là linh thiên. Khi mà con về đó là trùng trùng, liên tục những điềm lành xuất hiện. Xuất hiện cho mình thấy bằng mắt thường luôn, mà trong giấc chiêm bao và liên tục rất nhiều người thấy chứ không phải 1 người. Thậm chí là hòa thượng Luật Sư cũng lên trên đó đảnh lễ, cầu nguyện trên đó. Cho nên đặt là Linh Quy, núi hình dáng con rùa và rất linh thiên. Còn “Pháp Ấn” là 3 pháp ấn, “Chư hành vô thường”, “Chư pháp vô ngã”, tất cả là khổ. Hoặc mình nói theo Phật giáo phát triển là Niết-bàn tịch tịnh, đó là pháp ấn. “Pháp Ấn” là con dấu ấn của Chánh pháp, con dấu để ấn định đâu là Chánh pháp, đâu không phải Chánh pháp.
Mình muốn biết nơi nào có Chánh pháp hay không có Chánh pháp, mình chỉ cần lấy 3 con dấu: Tất cả hành là vô thường, tất cả pháp là khổ, tất cả pháp là vô ngã. Ba cái đó là ấn định tất cả pháp, không có sai. Cho nên là mình học cái này rất là hay, khi mình đi trở về lời dạy gốc của Đức Phật rồi thì mình không đi tìm mông lung, không còn đi tìm cái ở ngoài lời dạy của Đức Như Lai. Còn bằng không là mình đi tìm tới chết luôn, mình cũng không biết được thật sự là cái gốc nằm ở đâu phải không? Đi tìm hoài. Hay có những đi tu tới già, giờ lên hòa thượng rồi vẫn đi tìm cái pháp hành: “Bây giờ không biết pháp hành làm sao nữa, bây giờ phải tu cái nào cho đúng?” Chúng ta có thấy cái này nhiều không?
Hoặc là thấy ai làm gì cái làm theo, thấy người ta làm sao mình làm vậy, chỗ này là chỗ quan trọng. Cho nên cái pháp hành là bây giờ chúng ta cầm quyển “Pháp hành Nikāya” đó, về có đọc không con xin thưa các bậc hiền đức? Có hay không ngồi im re hết trơn rồi? Nhớ đọc kỹ trong đó, mục đích của đạo Phật không có nhiều, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si. Đó là mục đích của đạo Phật, cứu cánh phạm hạnh. Không thấy tham, sân, si làm sao đoạn tận, không biết cảm thọ làm sao biết hang ổ của tham, sân, si, không biết ngũ uẩn làm sao nhìn ra được cảm thọ. Cứ nói: “Tôi giận” không à là rồi xong. Mà “tôi giận” thì tới bao giờ mới hết giận? Thậm chí có những người lên giảng nói rằng tham, sân, si là không bao giờ hết, không bao giờ diệt nó được, thì ui cha cái này hết sức nguy hiểm, cái này là nói ngược lại với Thánh giáo của Đức Phật.
Nếu mà mình nói tham, sân, si không bao giờ chấm dứt, không bao giờ chấm hết, không bao giờ diệt tận là mình đang đi ngược Thánh giáo Đức Phật. Tại vì Thánh giáo của Đức Phật là Đức Phật chỉ con đường đoạn tận tham, sân, si. Mà mình nói tham, sân, si không bao giờ đoạn tận được hết thì hết sức nguy hiểm. Thành ra chỉ có thành tựu Chánh kiến, thấy đúng ở trong pháp thì mình mới nói đúng, còn nếu không là nguy hiểm lắm. Biết nhân quả là sợ lắm, nó nhanh lắm. Mình không có thành tựu Chánh kiến, thấy đúng về ngũ uẩn, không thấy rõ thân tâm, không nhận diện được, không biết được nguồn gốc tham, sân, si, vô minh, khát ái, chấp thủ. Là mình tu ở trong bóng đêm, ở trong mù lòa, ở trong sự quờ quạng.
Mình có thấy mình đâu mà mình tu, cái tâm mình là cái gì mình không biết làm sao mình tu. Mà khi mình biết được, mình sẽ rất là khiêm hạ, rất là cúi đầu, tại vì mình thấy nhục, khi mình biết rồi mình nhục lắm. Tại vì thân tâm mình là 1 cầu tiêu di động, 1 thùng rác bốc mùi kinh hãi từ vô lượng, vô biên, vô số kiếp sanh tử vừa qua khủng khiếp. Cho nên người thấy pháp rồi là người hết sức khiêm cung, khiêm hạ, mới là 1 người thấy pháp. Bây giờ chúng ta qua lợi ích trong việc nghiên cứu và học hỏi kinh Nikāya, kinh Tăng Chi Bộ tập 2, kinh “Nghe Với Tai”, những bài này con có giảng rồi. Lợi ích nghe pháp trong chủ đề “Lợi ích nghe pháp”, quý vị nào muốn nghe thì về nghe lại chủ đề đó, 4 hay 5 bài.
“1. Này các Tỳ-kheo, các pháp do được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập, có bốn lợi ích được chờ đợi. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp hay Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập. Vị ấy khi mạng chung bị thất niệm, được sanh cộng trú với một loại Thiên nhân. Tại đấy, các vị sống an lạc đọc các pháp cú cho vị ấy. Này các Tỳ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng. Này các Tỳ-kheo, do được nghe các pháp bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; đây là lợi ích thứ nhất được chờ đợi.
2. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập. Vị ấy khi mạng chung bị thất niệm, được sanh cộng trú với một loại Thiên nhân. Tại đấy, các vị sống an lạc không đọc các pháp cú cho vị ấy. Nhưng có Tỳ-kheo có thần thông, đã đạt được tâm tự tại, thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Đây chính là Pháp và Luật mà trước đây ta đã sống Phạm hạnh”. Này các Tỳ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một người thiện xảo về tiếng trống. Người ấy trong khi đi giữa đường có thể nghe được tiếng trống. Người ấy không có nghi ngờ, không có do dự, đó là tiếng trống hay không phải là tiếng trống. Người ấy đi đến kết luận: “Đây là tiếng trống”. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai … chúng sanh ấy đi đến thù thắng. Này các Tỳ-kheo, do được nghe các pháp bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập, đây là lợi ích thứ hai được chờ đợi.
3. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỳ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và một Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Đây chính là Pháp và Luật mà trước đây ta đã sống Phạm hạnh”. Chậm chạp, này các Tỳ-kheo niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng. Ví như, này các Tỳ-kheo, một người thiện xảo về tiếng tù và. Người ấy, trong khi đi giữa đường có thể nghe được tiếng tù và. Người ấy không có nghi ngờ, không có do dự, đó là tiếng tù và hay không phải là tiếng tù và. Người ấy đi đến kết luận: “Đây là tiếng tù và”.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỳ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên. Và một Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Đây chính là Pháp và Luật mà trước đây ta đã sống Phạm hạnh”. Này các Tỳ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng. Này các Tỳ-kheo, do được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; đây là lợi ích thứ ba được chờ đợi.
4. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỳ-kheo có thầnthông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và không có Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên. Nhưng có thể có người được hóa sanh: “Này bạn, bạn có nhớ không? Này bạn, bạn có nhớ không, tại chỗ ấy chúng ta đã sống Phạm hạnh?” Vị ấy trả lời: “Này bạn, tôi nhớ! Này bạn, tôi nhớ”. Chậm chạp, này các Tỳ-kheo, niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.
Ví như, này các Tỳ-kheo, hai người bạn cùng chơi trò chơi đất bùn, hai người vào một thời nào, một chỗ nào được gặp nhau. Người bạn này có thể nói với người bạn kia: “Này bạn, bạn có nhớ cái này không? Này bạn, bạn có nhớ cái này không?” Người ấy có thể trả lời: “Này bạn, tôi có nhớ! Này bạn, tôi có nhớ!” Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỳ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và không có Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên.
Nhưng có thể có người được hóa sanh: “Này bạn, bạn có nhớ không? Này bạn, bạn có nhớ không, tại chỗ ấy chúng ta đã sống Phạm hạnh?” Vị ấy trả lời: “Này bạn, tôi nhớ! Này bạn, tôi nhớ”. Chậm chạp, này các Tỳ-kheo, niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng. Này các Tỳ-kheo, do được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; đây là lợi ích thứ tư được chờ đợi. Này các Tỳ-kheo, do được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; có bốn lợi ích này được chờ đợi.”
(Tăng Chi Bộ kinh II – kinh Nghe Với Tai)
Chúng ta nói về lợi ích thứ nhất đi, ở đây có những từ mà con may mắn đã học hán tạng rồi, nên có khả năng dịch thuật từ chữ Hán ra tiếng Việt. Cho nên cho đọc kinh Nikāya là con hiểu được cái Hán ngữ, Hán Việt ở trong này, đây là một điểm hỗ trợ rất là lớn. Nếu chúng ta không có học Hán Việt, học chữ Hán thì chúng ta đọc Nikāya rất là khó hiểu. Thí dụ như bây giờ nói rằng là: “Kiến của vị ấy, do kiến khéo thể nhập”, thì mình hiểu gì không? Nếu mà chúng ta không có học Hán Việt, thì chúng ta đọc chúng ta sẽ không biết. Cho nên mình biết chữ Hán, mình đọc Nikāya rất là tốt, rất là đỡ cho mình, mình hiểu được những từ Hán.
Bây giờ mình nói lợi ích thứ nhất: “Các pháp do được nghe bằng tai”. Mình hiện tại có được cái này không? Nghe bằng tai. Mà nhớ ở đây nói là Nikāya thôi chứ không có gì khác hết nha, nhớ kỹ à. Chứ không phải mình nghe tùm lum tá la hết, mà mình nói mình nghe pháp là không phải à. Bốn bộ Nikāya đó mới là nghe pháp, ngoài cái đó ra là không tính, nhớ kỹ. Trong kinh này là Đức Phật nói như vậy đó, tức là chỉ nghe lời của bậc Chánh đẳng chánh giác thôi. Bây giờ nghe bằng tai, kế đó là tụng đọc bằng lời. Chữ “tụng” ở đây là học thuộc lòng rồi mình đọc lại, ở trên Linh Quy là buổi sáng nào cũng tụng hết, không phải mở cuốn sách ra đọc, tụng là thuộc lòng rồi đọc lại. Cho nên mở cuốn kinh ra đọc thì là đọc kinh, mình không mở kinh ra mà đọc thuộc lòng như vậy mới gọi là tụng kinh.
Đây là hòa thượng Giảng Đức, cố hòa thượng Trí Tịnh có giải thích cho chúng ta đó. Đọc là khác, tụng là khác, tụng là phải học thuộc lòng. Cho nên lợi ích thứ nhất là đọc, thứ 2 là mình tụng. Thì dụ như mình đọc trong kinh Pháp cú câu: “Dầu tại bãi chiến trường, thắng hàng ngàn quân địch”, thì cái đó gọi là gì? Là tụng đó, còn mình mở sách ra như nãy giờ gọi là đọc, nhớ nha. “Các pháp do được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát”, chỗ này bắt đầu khó rồi đó. Đa số mình có khi mình chỉ có đọc thôi chứ mình không có tụng, phải không? Rồi khi mình chỉ có nghe mà mình chưa có dùng cái ý của mình để quán sát cái lời kinh, nghĩa kinh, lý kinh đó.
Thí dụ như con nói quý thầy, quý cô làm bài tập nhận diện ngũ uẩn, thì cái đó là gì? Đó là ý quan sát. Nhận diện ngũ uẩn chính là quan sát đó, chữ “quan” là mình nhìn vào bên trong, chữ “sát” là mình nhìn vào soi xét ở bên trong con người của mình. Còn nếu như mình nhìn bên ngoài, soi xét cái bên ngoài, cái đó gọi là hướng ngoại, nhớ cho kỹ chỗ này à nha. Bây giờ mình hướng nội hay hướng ngoại? Hướng ngoại rất nhiều. Cho nên khi có chuyện gì xảy ra, là mình cứ nói người ta không à, chứ mình không có thấy được cái tâm sân, si của mình. “Cái người kia, cái cô kia, cái cậu kia, thầy kia, chị kia, bà kia…” Chứ mình không có nói: “Ờ sân nè, cách nói hiện tại của mình bây giờ mình không có an tịnh, lắng dịu nè.
Mình không có nhiếp phục cảm thọ, mình đang sân nè”. Ngay lúc đó là mình sai rồi, không cần nói ai hết trơn. Thành ra tu Nikāya nó sâu sắc như vậy đó, dùng cái ý quan sát, nhìn vào, soi xét thọ, tưởng, hành của mình, cho nên những cái này nó sâu sắc. Bởi vậy chúng ta thấy đọc Nikāya không phải đơn giảng đâu, đọc kinh đâu phải đơn giản như đọc báo đâu. Rồi “do kiến khéo thể nhập”, là sau khi mình dùng ý mình quan sát, mình nhận diện ngũ uẩn rồi thì mình sẽ thấy ngũ uẩn không? Thấy tham, sân, si không? Thấy bản ngã sanh khởi không? Nói lớn lên coi, thấy hay là không? Mình thấy mà mình khéo thể nhập cái thấy đó.
Thí dụ mình nhận diện ngũ uẩn, mình thấy trong mình đang có cái cảm thọ dục thúc dục, muốn cái gì đó, ham, thích cái gì đó, thì mình nói: “Ờ cái dục này không có được à nha, mình là người tu à, mình không có tham muốn giống như người đời được nha.” Mình nhiếp phục, chế ngự cái đó, thì cái đó là mình đang khéo thể nhập pháp ly tham, nhiếp phục dục tham đó thấy chưa. Còn lúc trước mình không có thấy, mình không có quán sát, cho nên nó có tham mình đâu có biết. Mình đang có tham, đang có sân, thậm chí mình đang có si luôn, mà người ta lại người ta nói: “Cô tham, sân, si dữ vậy”, là trả lời: “Tôi có tham, sân, si đâu. Ngày nào tôi cũng như vậy, đều đều hết. Tới giờ học đi học, tới giờ ăn tôi ăn, tới giờ ngủ tôi ngủ, tôi có tham, sân, si đâu mà nói tôi tham, sân, si.”
Đó là vô văn phàm phu, không có thấy biết được, không có dùng ý quán sát, không có cái thấy biết, không có thể nhập pháp ly tham, không nhiếp phục được dục tham, không chế ngự được bản ngã. Chỉ có nghe, tụng, đọc, dùng tâm ý quán sát, rồi mình thấy được rõ ràng như vậy, nhiếp phục, chế ngự nó. Những người được như vậy thì 4 lợi ích chờ đợi. “Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp hay Phương quảng.” Ở đây nói 8 thể loại thuyết pháp của Đức Phật, sau này người ta hay dùng gọi là 9 phần giáo hay là thập nhị phần giáo, tùy chỗ chứ không phải chỗ nào Đức Phật cũng nói y như vậy.
“Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập. Vị ấy khi mạng chung bị thất niệm”. Tuy rằng người này cũng nghe pháp Nikāya, cũng đọc, cũng tụng, cũng có sự quán sát trong tâm của mình, có 1 sự khéo léo để mà thể nhập cái pháp như vậy. Mà người này khi mà cận tử nghiệp, khi người này chết, thì người này lại mất Chánh niệm. Thí dụ như ta nhớ có ông Mahanam ổng tới hỏi Đức Phật: “Bây giờ con tu như vậy đó, bất thình lình con bị con vật nó húc chết, hay con bị xe đụng này nọ kia thì lúc đó con đi về đâu?” Đức Thế Tôn nói: “Cái cây nó nghiêng qua hướng nào, thì nó sẽ ngã qua hướng đó. Nếu bình thường mình tu tập cái tâm thiện, thì khi mình chết sẽ đi theo chiều thiện. Bình thường cái tâm mình ác thì nó sẽ ngã theo chiều ác”.
Thì ở đây cũng vậy, người này đã có được 4 sự tu học: Nghe, tụng đọc, dùng tâm ý quán sát nhận diện ngũ uẩn và có sự khéo léo để thê nhập vào trong cái pháp. Người này khi nhắm mắt ra đi, thân hoại mạng chung, khi chết thì người này mất Chánh niệm. “Thất” là mất, “niệm” là Chánh niệm, “thất niệm” là mất Chánh niệm”. Mà mất Chánh niệm nghĩa là lúc đó mình không có nhớ pháp, thí dụ như bệnh nặng quá, đau nhức, mình thấy đau đớn thôi chứ không thấy pháp, thì lúc đó là mất Chánh niệm. Không có thấy pháp vô thường, không thấy thân tứ đại, khổ. Chỉ thấy đau quá xá đau, lâu lâu mình có không? “Dạ có”. Rồi bây giờ mình thấy vui quá thì còn nhớ không? Thấy chỗ đông vui, ăn buffet gì đó quá trời vui, mấy chục món, vô gắp, múc phải không?
Thì vô đó mình còn Chánh niệm không? Thất niệm. Mà ngay lúc đó ăn vô trúng thực rồi chết, ngã ra. Tiếp theo thì vị này “được sanh cộng trú với một loại Thiên nhân”. Ở đây không có mất thiện pháp, người này sanh lên chư Thiên. Với nghiệp lành tu tập Chánh pháp sanh lên trên trời. “Tại đấy, các vị sống an lạc đọc các pháp cú cho vị ấy”. Lên chư Thiên đó, người này sống vui vẻ, an lạc, nghe các vị chư Thiên đọc pháp cú, đọc những câu Thánh pháp Nikāya. Thì “chậm chạp niệm được khởi lên”, chữ “niệm ở đây là nhớ lại. Bắt đầu người này từ từ: “Ồ nhớ rồi, nhớ lại rồi”, giống như bị mất cái gì, ví dụ lâu lâu bỏ quên chìa khóa xe ở đâu đi kiếm hoài, bỏ quên ở đâu không nhớ, 94 tuổi rồi kiếm hoài không biết ở đâu.
Chực 1 cái nhớ ra rồi, để trong kệ sách, thì cái đó gọi là niệm, mà quên gọi là thất niệm, có không? Quên thường không? Quên hoài, cái đó là thất niệm đó, nhớ là Chánh niệm. Thí dụ nghĩ: “Cái thân này là bệnh tật, bất tịnh”, thì cái đó là nhớ, là Chánh niệm đó. Còn mà: “Ôi cái thân mình, hổm rày mình cũng kiêng ăn cho cái dáng nó gọn gàng lại. Chụp tấm hình lên thấy cũng được chứ bộ.” Cái đó là thất niệm, vô minh, thân kiến. Còn mình nhớ: “Thân này bất tịnh, vô thường, khổ” thì cái đó là Chánh niệm. Như vậy mình niệm hay là thất niệm nhiều? Cái nào nhiều con thưa các thầy, các cô? Thất niệm nhiều.
Người này chậm chạp niệm được khởi lên, người này sanh trên chư Thiên, nghe các vị chư Thiên đọc các câu pháp cú, đọc các lời trong Nikāya. Chữ pháp cú ở đây không phải chỉ là kinh pháp cú không đâu nha, 4 bộ Nikāya cũng gọi là pháp cú, bất cứ câu nào trong đó cũng là pháp cú. Chứ không phải mình thấy chữ pháp cú, là mình nghĩ cái này là kinh “Pháp Cú” thì không phải. Pháp cú là những câu pháp của Đức Phật. Thì những vị này đọc lên như vậy, rồi người này bắt đầu nhớ lại, chậm chạp niệm được khởi lên, người nhớ nhớ lại: “Cái này có học có tu rồi nè”. “Rồi mau chóng chúng sanh ấy đi đến thù thắng”, tức là người này trở về, khôi phục lại 800 năm công lực, tức là bao nhiêu đời tu nhớ lại. Thì ở đây ví dụ như người giỏi tiếng trống, người này chơi trống, người này đi ngoài đường nghe tiếng là biết tiếng trống liền. Thì cũng vậy, đó là lợi ích thứ nhất.
Những Lợi Ích – Thù Thắng
Khi Tu Học Pháp Phật Nguyên Chất 1
Thích Minh Thành
Ngày 28 tháng 03 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Giáo Pháp thuần chất PAGEREF _Toc137398206 \h 1
II. Chánh Tri Kiến PAGEREF _Toc137398207 \h 3
III. Cố hòa thượng Thích Minh Châu PAGEREF _Toc137398208 \h 8
IV. Đôi nét về 5 bộ kinh Nikāya PAGEREF _Toc137398209 \h 10
V. Linh Quy Pháp Ấn PAGEREF _Toc137398210 \h 15
I. Giáo Pháp thuần chất
Thầy mặc áo màu lam có muốn phát biểu gì không? Có ai xung phong nhận diện thân tâm mình trong 2, 3 tuần mà chúng ta không gặp mặt không? Chúng ta cứ nghiền ngẫm, quán sát, có gì nửa buổi hoặc tiết sau mình trình pháp. Hôm nay chúng ta bước qua phần tổng quan kinh Nikāya trang 31. Những phần tiếp theo như tâm nguyện của tác giả, lời xin lỗi, lòng tri ân, những phần đó chúng ta tự đọc. “Mở đầu sau gần 15 năm tiếp xúc, làm việc, học hỏi và tu tập theo sự hướng dẫn của Đức Phật trong 5 bộ kinh Nikāya ( Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ và Tiểu Bộ Kinh). Chúng tôi nhận thấy rằng những bộ kinh này là những trí tuệ vi diệu, thâm sâu, thực tế, gần gũi và rất sống động trong cuộc sống.
Nếu không được đem phổ biến rộng rãi ở trong cộng đồng Phật giáo trong nước và ngoài nước, thì thật là 1 đáng tiếc vô cùng. Thế nên tập sách tinh hoa Nikāya này, là nhằm giới thiệu bộ kinh Nikāya đến với cộng đồng Phật giáo người Việt ở khắp nơi trên thế giới. Nhằm đưa những người con Phật, đến gần với những lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Chúng tôi xin được mạn phép trình bày những tinh hoa, cốt tủy trong kinh Nikāya, pháp hành truyền thống. Tầm quan trọng và lời ích trong việc nghiên cứu, học hỏi bộ kinh này và 1 số vấn đề khác. Những phần được chia sẻ trong tập sách này, sẽ giúp ích rất nhiều cho những đạo hữu đang muốn tìm hiểu pháp học và pháp hành ở trong Nikāya. Đang muốn dấn thân sâu vào dòng pháp này, và đang muốn thể nhập vào giáo pháp này.
Tập sách này là sự đúc kết của gần 15 năm, chúng tôi dấn thân trong việc nghiên cứu, học hỏi, thẩm xát, thực tập và làm công trình phân loại kinh Nikāya. Với tấm lòng chân thành, tha thiết hướng về những người con chân chánh của Đức Phật, đang khao khát, tìm kiếm 1 đạo lộ tu tập chân chánh mà Đức Thế Tôn đã truyền trao lại trên 2.500 năm qua. Chúng tôi đã tâm huyết hoàn thành tập sách này, mong rằng tập sách này sẽ giúp quý anh giả đến gần với 1 Đạo Phật đã trải qua quá nhiều những thăng trầm của thời gian, không gian, sự thêm bớt của vô thường.” Qua lời mở đầu về tổng quan kinh Nikāya, thì chúng ta thấy rằng 3 quyển sách này là được nghiên cứu, biên tập, hành trì, đúc kết, trải qua 15 năm.
Mà 15 năm này không phải như chúng ta hiểu là lâu nghiên cứu 1 chút, mà 15 năm này là 15 năm nhất hướng, tinh chuyên, ròng rặt, tinh cần ở trong sự nghiên cứu và hành trì. Thành ra chúng ta cần trên tay là 15 năm mới có ra được 3 quyển này, và vấn đề quan trọng ở đây là gì? Ở đây chúng ta dùng cái từ là những lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Con bây giờ không có dùng từ Nam tông, Bắc tông, nguyên thủy, phát triển nữa, mà con hay dùng từ là “Phật pháp nguyên chất”. Nói vậy cho khỏi tranh luận gì hết, tại vì tạng kinh Nikāya là cả Phật giáo thế giới công nhận. Có lịch sử, có sự thật và được tôn thờ ở các nước Phật giáo nguyên thủy. Trong những cổ tháp ngàn năm khắc bằng bia đá, cả thế giới đều công nhận hết.
Đây là những lời dạy gốc, nguyên chất, một hồi chúng ta qua phần kinh Nikāya nghĩa là gì? “Nghĩa là sự thâu thập, gom lại, thâu góp lại, tập hợp lại, sưu tập lại, đúc kết lại. Nói đầy đủ là những lời dạy chánh thống, nguyên chất, Thánh điển, Thánh giáo từ kim khẩu của Đức Thế Tôn do các bậc Thánh Tăng kết tập”. Có lịch sử, có sự thật và được Phật giáo thế giới công nhận, tôn thờ. Chúng qua Sri Lanka, qua bên Myanma chúng ta sẽ thấy những cái tháp, hàng ngàn ngôi tháp thờ Thánh điển Nikāya được khắc trong những bia đá. Ở đây có nhiều vị đi qua đó, chúng ta thấy chỗ viên đá thờ sợi tóc của Đức Phật, chúng ta có lên chỗ đó không? Ở đây có vị nào đi chưa? Rất là nhiều Thánh tích rất đặc biệt.
Cho nên tạng kinh này, là tạng kinh quyền quy của Phật giáo thế giới. Những nhà nghiên cứu lớn ở trên thế giới, là thường căn cứ vô tạng kinh này rất là nhiều. Thì như vậy cho nên vấn đề ở đây là gì? Hồi hôm nay mới họp ở trên ban Phật pháp trung ương, cũng như hôm trước ra Bắc ở ban hoằng pháp trung ương ở tại Huế, thì ở đây có quý thầy đi dự đó. Thì từ chư tôn đức lãnh đạo, cho đến các vị lãnh đạo các cấp chánh quyền như ông thứ trưởng của bộ nội vụ, cũng đều phát biểu là mong muốn, tha thiết, mà Tăng Ni chúng ta, nhất là những người đi ra hoằng pháp với vai trò của 1 giảng sư. Là phải ngoài kiến thức, sự giảng thuyết, phải có sự hành trì, người ta gọi là tổng pháp hành.
Sắp tới đây là những lớp giảng sư thì những giảng sinh của chúng ta, sẽ được nhập hạ ở Quốc Ân Khải Tường, ở nơi đó là đã cúng dường cho hòa thượng chủ tịch rồi. Thì các Ngài trong trưởng ban hoằng pháp trung ương, các bậc tôn đức, phó chủ tịch, các Ngài rất mong muốn làm cho nó cân bằng giữa pháp học và pháp hành. Ngày nay là Tăng Ni trẻ của chúng ta có thể có nhiều vị có pháp học, kiến thức Phật học (chúng ta nhớ rõ chữ kiến thức Phật học và pháp học) rất nhiều. Biết nhiều, đọc nhiều, nghe nhiều, hiểu nhiều, nhưng mà sự hành trì thì cái này nơi ít. Thành ra bây giờ các Ngài lãnh đạo từ trong đạo, cho đến ngoài đời đều mong muốn. Mà con nhắc lại là nhất là chúng ta làm công tác truyền pháp, giáo dục, tuyên truyền, truyền bá.
II. Chánh Tri Kiến
Mà nếu như chúng ta không có thấm được pháp hành, thì lời nói của mình nó chẳng khác gì nhà nghiên cứu, những nhà thầy cô giáo đứng trên bục vậy thôi. Chứ không có sức, đạo lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, pháp lực, không có những sức mạnh đó. Thế nào là đạo lực? Chữ “đạo lực” là chữ Hán, tiếng Việt gọi là gì? Chữ “lực” đó là sức mạnh, chữ “đạo” là sự hành trì, đạp hạnh của mình. Còn pháp lực là sức mạnh mà mình thực hành chánh pháp. Tuệ lực là sức mạnh về thấy biết của mình về Chánh pháp. Tri kiến lực tức là sự mạnh thấy đúng của mình, cái thấy đúng của bậc Thánh. Khi mình huân tập nhiều thì nó trở thành 1 sức mạnh, sức mạnh đó là bất cộng với phàm phu.
Ở trong kinh Nikāya dùng là bất cộng pháp, tức là những pháp này chỉ có Thánh đệ tử mới có thôi, vô văn phàm phu không có. Thành ra đạo lực, tuệ lực, pháp lực, định lực, niệm lực, rất là nhiều. Sẵn những cái từ ở đây thì chúng ta học luôn. Cái tri kiến lực, niệm lực, đạo lực, pháp lực, định lực, trí lực, tuệ lực…nhiều cái sức mạnh lắm. Mà mình phải tu mình mới có được cái này, mình không tu là không có được. Mà cái đầu tiên ở đây là tri kiến lực, mà mình nói cách khác là chánh kiến đó. Ở trong Nikāya bài kinh đầu tiên chúng ta đã học rồi, bài “Tất Cả Lậu Hoặc”, Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, ta nói cho người thấy, ta nói cho người biết để đoạn tận các lậu hoặc. Chứ ta không có nói cho người không thấy, cho người không biết”.
Thành ra cái chữ thấy, biết tức là tri kiến, ở trong Nikāya là rất quan trọng. Ta còn gọi là tri kiến của bậc Thánh, tức là Thánh tri kiến. Ta tu để ta thể nhập cái thấy biết của bậc Thánh, mà đầu tiên muốn thể nhập cái thấy biết đó thì mình phải biết cái thấy biết của bậc Thánh là gì chứ. Mình không biết là cái gì thì làm sao mà thể nhập, cho nên bước đầu tiên của chúng ta là văn, phải nghe thật là nhiều về kinh tạng Nikāya. Thí dụ trong Nikāya định nghĩa thế nào là chánh kiến? Tức là vị đa văn Thánh đệ tử thấy rõ sắc, thấy rõ thọ, thấy rõ tưởng, thấy rõ hành, thấy rõ thức, như vậy là chánh kiến. Thấy rõ sắc tập khởi, thấy rõ sắc đoạn diệt, thấy rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt, mình học 7 trí đó, ai mà quên rồi về phải học lại à.
Ai mà không thấy mấy cái này tức là mình tà kiến, tức là cái thấy biết của mình là phàm phu tri kiến, không phải thấy biết của bậc Thánh. Bây giờ mình nói tiếng Việt luôn cho dễ hiểu, chứ nói chữ Hán là ngồi đó ngẩn tò te à, ngồi đó đơ đơ không biết cái gì. Thấy rõ thọ, tức là thấy rõ cảm giác trong con người của mình, biết cái cảm giác đó từ đâu nó sanh khởi. Khi nó sanh khởi thì có cái gì bên trong cảm giác đó, thiện pháp hay và bất thiện pháp. Và làm thế nào để cho cảm giác này nó lắng dịu xuống, nó chấm dứt, diệt tận, như vậy gọi là chánh kiến, là thấy đúng. Thấy rõ những hình bóng trong tâm, biết được tại sao có những hình bóng này sanh khởi ra, từ đâu có những hình bóng này. Đâu sư cô nói xem là từ đâu?
Sư cô: Do sự tiếp xúc.
Đúng rồi, cho 1 tràng pháo tay lớn đi. Do xúc tập khởi, “vỗ tay lớn nữa đi, vỗ gì có chút xíu ạ”. Ở trong bài quán về xả vô lượng tâm có câu: “Ta hăng say việc ác, ta hà tiện việc lành”. Cái tâm của chúng sanh đó, việc ác, việc xấu thì nó bén nhạy lắm, khỏi cần dạy. Nhưng mà cái việc thiện, cái việc gọi là trí tuệ là nó dễ quên lắm. “Sao sư cô cười dữ vậy, có trúng không là sư cô cười dữ vậy?” Nó dễ quên rồi nó dễ bỏ qua, thậm chí là nó hà tiện việc lành. Nó cho lúc đầu tính cho 5 đồng, suy nghĩ lại thôi cho 3 đồng, ngắt lại bớt. Đối với việc lành mình hà tiện lắm, còn đối với việc bất thiện thì mình hăng say, chính vì vậy mà con mời quý thầy cô vỗ tay tiếp tục là vậy đó, đừng có hà tiện cái vỗ tay.
Đọc kinh thì đọc trong họng không à nghe không được, mà nói chuyện là từ nhà bếp vang tới cửa. Đó tức là thiện lành mình không có cố gắng, nhưng mà những cái như vậy mình rất là hăng say, nhiệt tình, nhiệt huyết, nhiệt tâm, nóng bỏng, hot cái gì đó không biết. Bây giờ mình trở lại vấn đề là cái đầu tiên của chúng ta đó, thành ra chúng ta nắm thật vững lời dạy nguyên chất của Đức Phật, khi Ngài còn tại thế. Được truyền thừa, được kết tập, xâu kết, tập hợp, gom góp, đúc kết lại thành ra 5 bộ Thánh điển, đó là ý nghĩa của chữ Nikāya đó, để gười ta hỏi mình Nikāya nghĩa là gì mình biết. Thành ra bây giờ trước khi đi vào, ở đây chúng ta giải thích 1 chút cái đã.
Cho nên chúng ta tại sao phải nghe kinh, học kinh, kinh Nikāya là phải thuộc lòng, chứ không phải hiểu ý giống như bây giờ mình học đâu. Kinh Nikāya là không có chuyện học hiểu ý được, hiểu ý 1 hồi thành ra cái ý phàm của mình rồi. Không tin bây giờ mình thí nghiệm liền, mình đọc đi rồi kêu đứng lên nói là mình nói lại chính xác được bao nhiêu phần trăm? Thí dụ mình đọc trong đó là 10 mà mình đứng lên mình nói được bao nhiêu? (Có thầy nói có 2 à, nâng giá lên thêm 1 chút đi) Mình không thể nào nói chính xác được hết, được chừng 3, 4, 5, thậm chí là xuyên tạc lời Đức Phật. Ở trong Nikāya nói cái từ đó, tức là mình sẽ nói lệch cái ý đó. Tài vì sao? Tại vì Thánh trí, cái tri kiến của bậc Thánh mình không có quen, mà mình quen với những cái phàm tình.
Phàm tình là mình quen nhiều hơn đúng không? Cái tình phàm. Mình rất là điêu luyện, nhuần nhuyễn, quen thuộc nhưng mà tới cái Thánh trí, trí Thánh là mình lạ. Cho nên nói ra 1 hồi là quên liền, ví dụ như nhận diện ngũ uẩn, mình nhận diện 2, 3 năm rồi đó, mà kêu đứng lên là nhận diện lộn, quên: “Tưởng cái hành gì gì đó không nhớ nữa.” Cho nên đầu tiên phần quan trọng của đa văn Thánh đệ tử là nghe nhiều về Nikāya. Thành ra 1 tuần hoặc 2 tuần chúng ta mới học 1 lần thì thôi rồi xong, trừ người mà mỗi ngày mỗi nghe, mỗi ngày mỗi quán, chứ còn không là quên hết trơn. Đạo tràng Nikāya chúng con là xin thưa các thầy, các cô chư tôn đức, mỗi buổi sáng từ 6h – 8h là có trực tiếp mỗi ngày, ngày nào cũng vậy. Mấy năm rồi đều như vậy, con thưa bữa nay mới biết phải không?
Thành ra cái vấn đề nghe là quan trọng, nghe là nghe cái gì? Nghe sự thấy biết của bậc Thánh. Nghe rồi mình đưa nó vào từ từ, thì cái Thánh này vô thì nó đánh cái phàm. Cái tri kiến bậc Thánh nó vô, thì nó mới đánh phá cái phàm tình. Cái tâm mê, tham ái, vô minh, chấp thủ nó bị cái thấy biết của bậc Thánh chiếu phá, đánh phá ở bên trong đó. Thí dụ hồi trước mình chưa học ngũ uẩn, mình thấy là mình, đi đâu cũng: “Là tôi, của tôi, tự ngã của tôi” không à. Chẳng hạng như hôm bữa trình pháp, ông huynh hay ông đệ, chúng trị sự hay trụ trì nói 1 câu gì đó thì mình cũng thấy trong mình cũng dâng dâng lên rồi, bực rồi. Thì mình nói: “Cái này thọ à nha, cái này cảm thọ à. Mày nói lầm bầm cái gì vậy hành? Mày đừng có hành tao nữa nha hành”, phải không?
Rồi cái tưởng nó lùng bùng mình nói: “Thôi, im lặng đi tưởng, tan biến đi tưởng, đừng có quậy nữa tưởng. Những cái thọ, tưởng, hành này cứ quậy hoài, thôi tu đi, ngoan hiền tu tâm hiền, tu tâm từ, tu tâm xả, buông xả đi, cái đó có gì đâu mà chấp vô làm chi.” Thì như vậy là mình có học, có hiểu, có thực tập như vậy thì cái đó là Thánh trí nó đánh phàm tình ngay lúc đó. Nay chúng ta có cụm từ mới là “Thánh trí đánh phàm tình”, cái đó là “chuyển mê khai ngộ đó”. Dùng cái giác ngộ để thay đổi cái mê lầm trong tâm, tâm mình có cái mê lầm, cái tôi “đụng tôi hả, khinh thường tôi hả, coi tôi không ra gì hết trơn phải không, ỷ làm lớn rồi ăn hiếp tôi hả làm sao?”
Thí dụ như vậy đó là cái phàm tình, thường tình, mê tình, chấp ngã. Còn bây giờ mình: “Sắc, thọ, tưởng, hành, thức có ai với ai đâu mà hơn thua, sân si, nhân ngã với nhau.” Thì lúc đó là cái Thánh trí đánh phàm tình, cái giác ngộ chuyển đổi tâm mê lầm, chúng ta thấy được điều đó. Mà muốn thấy được như vậy là từ đâu? Là từ chỗ thấy biết, những cái mình đã nghe, đã học, mình vận dụng nó, mình có một sức mạnh trong cái thấy biết này. Thì khi đó mình không có quên sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Chứ lúc đó mà mình không có tri kiến lực, mình không có sức mạnh của cái thấy biết, của cái nhớ, niệm lực thì lúc đó là mất tiêu hết trơn rồi. Nhưng mà mình có nghe, có hiểu, có thấy biết thân tâm của mình, nhận diện thân tâm của mình thì lúc đó mình nhớ, niệm lực.
Mình nhớ đây là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, đây là đất, nước, gió, lửa, đây tứ đại, nùi giẻ rách, thùng rác, hầm phân, cầu tiêu di động không hơn không kém, nhất trí không? Thì mình có sự quán chiếu, tác ý như vậy thì cái này là niệm lực, đạo lực, pháp lực luôn. Chính vì như vậy cho nên mình nhớ pháp, mình thực hành pháp, ngay lúc đó mình thể hiện cái pháp bằng cách mình khởi lên sự tác ý. Như lý tác ý mình đã học rồi, tác động tâm ý bằng những Thánh trí, mình đánh vô cái mê mình, phàm tình, si tình. Thì như vậy cái mê tình này bị phá hủy, bị giảm xuống. Cái tham ái, chấp thủ, cái tôi ta, cái tao mi, hơn thua, bỉ thử này kia nọ bị cái sức mạnh này, Thánh trí huệ này đánh phá.
Thì như vậy cái tâm mình có một sự an định, an trú. Mà an trú là nhờ đâu? Nhờ cái trí và tuệ, thấy và biết sự thật của tứ đại, ngũ uẩn. Chúng ta thấy đây là sự vận hành của pháp, đó là tu đó. Cho nên tín, tấn, niệm, định, tuệ, ngũ căn biến thành ngũ lực. Lòng tin của mình ở trong pháp, mình mới có sự nổ lực, từ sự cố gắng, nổ lực đó mình mới nghĩ nhớ. Từ sự nghĩ nhớ đó, tâm mình mới có sự tập trung là định. Từ cái tâm tập trung và định mình thấy rõ ràng, là tuệ lực. Thì năm cái nền tảng biến thành năm sức mạnh, là từ ngũ căn biến thành ngũ lực. Mình không có 5 cái nền tảng đó, thì mình không thể nào tu hành tiến bộ được. Thí dụ bây giờ mình nói: “Ngũ uẩn bây giờ có phải không? Ngoài ngũ uẩn ra nó còn có cái gì nữa không?” Thì lúc đó là mình phân vân, lưỡng lự rồi.
Bây giờ chúng ta nhận diện ngũ uẩn chúng ta thấy không? Ngoài cái sắc, thọ, tưởng, hành, thức ra thì còn gì nữa không? Bao tùm hết nhân sinh, vũ trụ, thế giới, hành tinh, thái dương hệ. Thì như vậy chúng ta có 1 lòng tin vững chắc, đó là tín căn. Sau khi tin rồi chúng ta thường thường nhớ nghĩ về cái pháp đó, nhìn nhận lại cái ngũ uẩn đó, cố gắng, thì như vậy gọi là tấn. Nổ lực, cố gắng để mà ghi nhớ, thực hành là niệm. Ghi nhớ, thực hành thì tâm mình có tâm trung là định. Mà khi tâm mình có tập trung mình nhìn trong ngũ uẩn, thì trí tuệ về ngũ uẩn của mình nó sẽ thành tựu. Đó là tuệ căn: Tín, tấn, niệm, định, tuệ, năm cái nền tảng tu học này khi mình có thực hành mình mới thấy nó vận hành trong tâm mình rất là rõ, mình quán pháp trong pháp.
Khi mình tu cái này 1 thời gian quen rồi thì 5 cái nền tảng này biến thành 5 sức mạnh, ngũ căn nó biến thành ngũ lực, 5 căn thành 5 lực. Lúc đầu nó là cái rễ thôi, những mà sau này nó trở thành sức mạnh. Khi mình có sức mạnh rồi, thì lúc đó mình có 1 năng lực đặc biệt. Những cái năng lực đó chính là niệm lực, đạo lực, pháp lực, định lực, trí lực, tuệ lực, diệu lực, thần lực, vô vi lực, vô tác lực…thì nó có nhiều cái sức mạnh. Có thể mình không cần làm gì hết, mình ngồi yên như vậy đó, những mà tất cả pháp có thành tựu. Tại vì mình ngồi quán tất cả pháp trống rỗng hết, cho nên Bồ Tát khi ngồi thì rắn tới, bao nhiêu những con ác thú, mãnh thú, bao nhiêu yêu ma đi tới mà Ngài bất động. Định lực cộng với trí huệ lực của Ngài, Ngài chỉ ngồi, nhưng cuối cùng tất cả thua hết trơn, Ngài không có chiến nhưng mà Ngài thắng.
III. Cố hòa thượng Thích Minh Châu
Ngài chỉ quay vào trong nhiếp phục bên trong thôi, nhiếp phục trong tâm, trong thọ của mình thôi. Còn mình bây giờ gặp chuyện gì thì sao? Quýnh quán, động loạn hết. Là tại vì mình không có niệm lực, không có định lực, không có đạo lực, không có trí lực, không có tuệ lực để mình nhìn cái sự việc. Do đó chúng ta điểm qua 1 chút, để mình nhắc nhở cái phần tu học ở trong pháp hành. Bây giờ nói về nguồn gốc bộ Nikāya được đề cập ở đây, trích dẫn ở trong tập sách này là Nikāya ở trong đại tạng kinh Việt Nam, do hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ nguyên bản Bali tạng xuất bản năm 1992, nhà xuất bản Tôn Giáo. Chúng ta phải nói là cố trưởng lão Thượng Minh Hạ Châu chúng ta là 1 nhà phiên dịch vĩ đại của Phật giáo Việt Nam, còn hơn cả Ngài Huyền Trang nữa.
Tại chúng ta chưa có biết giá trị của tạng Nikāya, Ngài Huyền Trang đa phần là sách phát triển sau này, là những sách của đại thừa, hậu kỳ của Phật giáo phát triển, Ngài về Ngài phát huy nhiều về mảng duy thức học. Còn cố hòa thượng Thượng Minh Hạ Châu của chúng ta là mười mấy năm trời ở Ấn Độ, mà trở về đây cho tới ngày viên mãn cuộc đời Ngài dịch hết cả đại tạng kinh nguyên chất, thâm sâu, thần diệu, tối thượng của Phật giáo thế giới. Cho nên Ngài Huyền Trang, cũng không thể so sách với cố hòa thượng Minh Châu của chúng ta. Cái này phải người nào học và thực hành Nikāya, có sự thành tựu tương đối ở trong đó rồi chúng ta mới thấy được cái công đức vĩ đại của cố trưởng lão hòa thượng Thích Minh Châu.
Là một bậc tối thượng trong tất cả các đại dịch giả của Phật giáo Việt Nam, ngay cả Phật giáo Nhật Bản. Mà quý vị thấy Nhật Bản phát triển cỡ nào không? Cũng chưa có 1 bộ Nikāya dịch đầy đủ như Việt Nam mình. Mà trên thế giới chỉ 1 vài nước thôi, không có nhiều nước được bộ dịch hết toàn bộ đại tạng kinh Nikāya của Bali. Mà may mắn là nước Việt Nam chúng ta có 1 bậc đại long tượng, hy sinh cả cuộc đời để dịch bộ Thánh điển tối thượng Nikāya này. Tại vì Trung Quốc làm phim hay lắm phải không? Viết sử rất là nhiều, ăn mày cũng có lịch sử, kỹ nữ cũng có lịch sử nữa. Chứ đúng ra sau này mình cũng có bộ phim về hòa thượng Thượng Minh Hạ Châu đó, cuộc đời và đạo nghiệp của Ngài chúng ta nên về coi. Tất cả những Tăng Ni sinh ở trong trường đào tạo giảng sư phải coi về cuộc đời của Ngài, coi nhiều lần.
Chúng ta rất là vinh hạnh, vinh dự, hãnh diện với Phật giáo thế giới. Vì Phật giáo Việt Nam chúng ta có 1 bậc dịch giả vĩ đại, tầm cỡ, siêu đẳng thế giới, chứ không phải nói tầm cỡ quốc tế đâu. Thành ra chúng ta suốt cuộc đời tu mà từ đây cho tới nhắm mắt, mà mình không đọc hết tạng Nikāya thì uổng cuộc đời tu lắm. Phải cố gắng độc ít nhất, tối thiểu phải 1 lần đọc hết đại tạng Nikāya. Con bây giờ tới ngày giỗ của hòa thượng là con cúng ở trên núi, không có rình rang, không có băng rôn, không có gửi thư mời gì hết. Mấy thầy trò thắp nhang tưởng niệm, nhắc lại công đức, mà tràn ngập cả 1 trái tim, 1 tấm lòng biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn đối với bậc dịch giả vĩ đại của Phật giáo Việt Nam.
Có những buổi đó các thầy các cô về coi ở trên Linh Quy, những buổi tưởng niệm hòa thượng, rất đơn sơ nhưng mà tràn đầy nước mắt. Chỉ có người thực hành pháp Nikāya mới cảm nhận được giá trị, lợi ích, có được sự thành tựu tương đối hoặc là tuyệt đối trong đó mới biết hết ân đức của những bậc trưởng lão, thượng thủ, đã để lại công đức siêu việt cho Phật giáo Việt Nam ta. Tất cả Tăng Ni sinh chúng ta và tất cả các Phật tử trong nước, ngoài nước, nếu có dịp nên về đảnh lễ tháp của hòa thượng ở tại thiền viện Vạn Hạnh. Ngài là bậc đáng kính, mình chỉ nói cái công đức dịch cái bộ này ra thôi thì đã xứng đáng cho nhân thiên cúng dường, ruộng phước vô thượng ở đời.
Hãy nên có cái tâm cung kính rất mực đối với bậc đáng kính, phải có cái tâm biết ơn đối với những bậc có ơn, đại ân nhân của mình. Không có hòa thượng thì chúng ta không có 1 bộ Nikāya, mà không có bộ Nikāya thì giờ này chúng ta không có bộ Tinh Hoa Nikāya này, cũng không có những người tu thành tựu trong cái pháp này. Nếu không có tạng kinh này lấy gì mà đọc, không đọc lấy gì hiểu, không hiểu lấy gì hành, không hành lấy gì mà có kết quả. Chúng ta nhìn thấy không? Ân đức rất là lớn. Cho nên chiều nay chúng ta về chùa, mở lại bài cuộc đời và đạo nghiệp của cố hòa thượng trưởng lão Thượng Minh Hạ Châu, nghe xúc động lắm. Ở học viện Phật giáo họ có làm phim, hình như là 2 tập.
IV. Đôi nét về 5 bộ kinh Nikāya
Về nghe thật là kỹ, xem lại và có dịp di qua lễ tháp của hòa thượng. Có dịp làm tổ tức được thì chúng ta tổ chức đi về lễ tháp, và tụng các bài Nikāya ở bên tháp của hòa thượng. Hoặc mình ngồi thiền quán ở đó vào buổi sáng mình đi, thí dụ như vậy. Đúng ra là ngày giỗ của hòa thượng là nên làm cái đó, rất hay. Đó là con gợi ý để chúng ta thấy ai tự tâm, tự túc hoặc những vị có cái tâm, có trách nhiệm mình nên làm những điều này rất là tốt. “Đôi nét về 5 bộ kinh Nikāya: Trường Bộ kinh gồm có 2 tập, 34 bài kinh; Trung Bộ kinh gồm 3 tập, 152 bài kinh; Tương Ưng Bộ gồm 5 tập với khoản gần 1.800 bài kinh ngắn; Tăng Chi Bộ kinh gồm 4 tập, được sắp xếp từ từ Tăng Chi 1 pháp cho đến Tăng Chi 11 pháp, với khoảng gần 1.200 bài kinh ngắn.
Tiểu Bộ kinh thì gồm 10 quyển, bộ kinh này gồm những bài kinh lẻ và 1 số câu chuyện về tiền thân của Đức Phật, tiền thân Chư Tăng được từ từ đưa vào sau này ở trong tạng kinh. Từ lần kết tập kinh điển lần thứ 2 cho đến lần kết tập kinh điển lần thứ 3. Trong phần này, chúng tôi xin được phép không đề cập đến bộ kinh này”. Như vậy là trong quyển này dẫn chứng chủ lực là 4 bộ Trường, Trung, Tương Ưng và Tăng Chi, chứ không có đề cập Tiểu Bộ. Bởi vì Tiểu Bộ là sau này, tức là từ lần kết tập kinh điển thứ 1 thì sau này có bổ xung thêm rất là nhiều những tư tưởng, câu chuyện. Cho nên tác giả ở đây là chú trọng 4 bộ trước để bảo đảm cái tính nguyên thủy, nguyên chất trọn vẹn.
“Đôi nét về A-hàm và Nikāya” thì cái này chúng ta về đọc đi, những cái anfo mà về phần nghiên cứu chúng ta cứ tự đọc thôi. Chúng ta khai triển chủ yếu về cái pháp hành thôi, rồi phần nghiên cứu thì rất nhiều bản nghiên cứu để chúng ta đọc. Cố hòa thượng Thượng Minh Hạ Châu chúng ta có những quyển so sánh A-hàm với Nikāya, mà cái đó dường như cũng là luận án của hòa thượng, có thời gian thì chúng ta đọc. “Bộ Nikāya này được các vị Thánh Tăng thời Đức Phật sắp xếp như thế nào, những bài kinh khá dài được sắp xếp chung với nhau gọi là Trường Bộ”. Đây là sắp xếp theo mặt hình thức của bài kinh, thí dụ những bài dài thì là gộp chung với nhau lại thành Trường Bộ. Chữ “trường” là gì? Đó là những bài kinh dài chúng ta thấy đó.
Rồi bây giờ: “Những bài kinh vừa phải, dài vừa vừa thì xếp chung với nhau gọi là Trung Bộ, tức là không có quá dài cũng không quá ngắn gọi là Trung Bộ”. Chúng ta phải hiểu, chứ không thôi hỏi Trường Bộ ý nghĩa sao mình không hiểu nữa. Trường Bộ là những bài kinh thuộc loại dài, Trung Bộ là những bài kinh dài vừa thôi. “Còn những bài kinh ngắn, cùng 1 vấn đề, những bài kinh này xếp chung với nhau gọi là Tương Ưng Bộ”. “Tương Ưng” là gì? Là giống nhau, cùng 1 vấn đề. Thí dụ như Tương Ưng Sáu Xứ, rất nhiều bài kinh nói về Sáu Xứ. Mà “Sáu Xứ” là gì? Sáu nội xứ, sáu ngoại xứ, sáu xúc xứ. Mắt, tay, mũi, lưỡi, thân, ý; sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp…Đó là những bài kinh Đức Phật nói về 6 xúc xứ, 6 căn, 6 trần, 6 thức, 6 xúc, 6 thọ, 6 ái, 6 tưởng, 6 tư…
Nhưng mà căn bản là 6 căn, 6 trần, 6 thức, 18 giới. Thì xếp chung với nhau về các vị Tỳ-kheo, về các vị Tỳ-kheo Ni, tương ưng rừng, tương ưng thọ, chia những bài kinh nói về cảm thọ…rất nhiều bài kinh. “Những bài kinh ngắn xếp theo số lượng vấn đề được đề cập đến từ ít cho tới nhiều, những bài kinh này được xếp chung với nhau gọi là Tăng Chi Bộ”. “Tăng Chi” là gì? Là thêm lên những chi phần, cho nên từ cái 1 pháp, 2 pháp, 3 pháp, cứ lên lần lần 5 pháp cho đến 11 pháp, đó gọi là Tăng chi. Chúng ta thấy dễ hiểu không? Trường là những bài kinh dài, trung là những bài kinh vừa, tương ưng là những bài kinh giống nhau, cùng 1 vấn đề, rồi tăng chi là tăng lên dần dần những chi phần của các pháp.
Đó là Hán Việt chúng ta phải hiểu, chứ khi nói chúng ta không biết cái gì, hay người ta hỏi: “Sao kêu bằng Tăng Chi?” Trả lời: “Thì Tăng Chi thì kêu là Tăng Chi” vậy đó. “Ngoài ra các bài kinh được kết tập thêm trong lần kết tập kinh điển lần 2, 3 thì được gọi là kinh Tiểu Bộ kinh”. Như vậy Tiểu Bộ kinh là bộ sau nhất, lần kết tập thứ 2, 3 mới được có thêm vô. Cho nên khi mà chia sẻ con cũng ít đề cập Tiểu Bộ kinh, tại vì nếu mình chưa thành tựu Chánh tri kiến là mình đọc không biết cái nào là của Đức Phật, cái nào là ở ngoài Đức Phật. Còn nếu mà mình Chánh tri kiến rồi thì cái nào khác ý của Phật, khác pháp là mình biết hết trơn à.
Cho nên mình học kinh mình học rất là kỹ, học lời nguyên chất của Đức Phật, thì mới có khả năng đi đúng con đường của Đức Phật gọi là Thánh đạo. Thì mình mới có được Thánh trí, Thánh quả từ Thánh pháp, chúng ra có nói rồi. Nếu mà chúng ta học ngoài lời của Đức Phật thì chúng ra có thành công đi nữa, thì đó là thành công ở ngoài lời nói của Đức Phật. Chứ không phải thành công những cái pháp, mà Đức Phật và các Thánh đã thành công. Chính vì vậy mà mình tu tại sao không có Thánh Tăng, không có Thánh quả, là tại vì mình tu đâu có đúng Thánh pháp. Đâu có đi trên đạo lộ của bậc Thánh, Thánh đạo đó đâu. Đâu có thành tựu Thánh trí đâu thì làm sao có Thánh quả, chỗ này là chỗ hết sức quan trọng.
Cho nên 4 bộ đầu: Trường, Trung, Tương Ưng và Tăng Chi là tuyệt đối quan trọng. Tất cả những lời nói trong đó, phải đem hết trái tim, tấm lòng và cả cuộc đời của mình nghiên cứu ở trong đó, đừng có bỏ sót 1 chữ nào hết. Còn tất cả những cái sách khác để qua 1 bên, nghiên cứu chơi thì nghiên cứu, có thời gian dư thì học hiểu thêm thôi, chứ mấy cái khác không có quan trọng, bốn bộ đó là Thánh trí huệ của Đức Phật. Con thưa các thầy các cô, ngày xưa là con nghe chỗ nào có tu là đi đến cầu pháp, thậm chí là nhất bộ nhất bái. Trong nước, ngoài nước, Sri Lanka, Thái Lan, Campuchia, Nhật Bản rồi Ấn Độ, Nepal, Úc châu, Đài Loan, Trung Quốc…Tất cả những nơi, chỗ nào trong nước ngoài nước là đi đến tìm hết, sách của con bây giờ không biết cái nhà này có chất hết không nữa.
Mà tới bây giờ khi con đã vào dòng pháp này rồi thì nó khỏe re, rồi xong 4 bộ, không còn tìm 1 lời nói nào ở ngoài lời nói của Đức Như Lai. Đây là trong Nikāya nói: “Một người mà tìm lời dạy ở ngoài lời nói của Đức Như Lai, người đó chưa có thành tựu Chánh tri kiến.” Tại vì mình nghĩ xem, có 1 cái lời vượt ngoài lời nói của bậc đại đạo sư không? Đức Thế Tôn ở trong kinh mình gọi là bậc đạo sư. Mà mình tìm lời nói của người không phải là bậc Chánh đẳng, Chánh giác, mà mình học cái lời đó thì mình có giác chứng ngộ không? Chỗ này rất quan trọng. Cho nên khi mà con phát hiện cái này rồi là con chấn động hết, thay đổi toàn diện về pháp học, pháp hành và sự chia sẻ cho Tăng Ni.
Con thưa các thầy các cô, sách của con thì nguyên 1 cái nhà này chất không hết đâu, mười mấy cái tạng kinh, thiền tạng, Bát Nhã tạng, Hoa Nghiêm tạng, Pháp Hoa tạng, Nam kỳ, Bắc Kỳ, Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, Càng Long tạng rồi bao nhiêu tục tạng…Chẳng những sách mà đĩa tất cả kinh là đi Đài Loan thỉnh 128 thùng, từ bên Đài Loan gửi về. Mà con đọc thưa các thầy các cô, các tiểu sử của các vị cao Tăng, Thánh Tăng là sìn hết. Bởi con trốn ở trong phòng đọc hết tất cả các vị cao Tăng, Thánh Tăng để biết tại sao các Ngài thành cao Tăng. Sao mình tu cũng nhốc hết mà không thấy cao Tăng, tại sao mấy ông già này thành cao Tăng? Phải coi xem tại sao.
Mà con thưa các thầy các cô, con dịch là trên 300 tác phẩm, chữ Hán mà con đọc như chữ Việt thôi. Dịch rất là nhiều mà chưa có in ra, mà chắc cũng không có in, tại vì mấy cái đó đâu có đúng đâu mà in. Mà bộ gọi là pháp ấn, bảo tạng, 1 quyển 1000 trang, mà 30 quyển nghiên cứu, dịch thuật và thuyết giảng bây giờ là để cái bảng khảo thôi, nhưng mà có thể là bỏ thôi chứ không có xài. Tại trước khi đi vào Nikāya nói sai, không có trúng. Khi mình chưa có đi vào trong tạng Nikāya, mà mình học theo chuẩn đúng này rồi là mình nói trong miên man, vô minh, trong tư kiến cá nhân hoặc là nói dựa theo 1 người nào đó, mà người đó không phải bậc A-la-hán chánh đẳng giác.
Cho nên 1 người thành tựu chánh kiến, mà đi tìm cầu lời dạy ngoài lời dạy của Đức Như Lai, sự kiện đó không có thể xảy ra. Bởi mình đọc trong đây mình sẽ thấy, đọc phía sau cuốn sách này mình sẽ thấy. Cho nên bây giờ con đi đâu khỏe re, hồi đó con đi nhập thất là con chở mấy chục thùng á, đem hết đại chánh tạng đi theo, đi lên núi dùng. Bây giờ khỏe re, cầm cái Ipad là xong, nhưng mà cái vấn đề ở đây không phải là cái Ipad, mà vấn đề ở đây là chỉ có 4 bộ Nikāya thôi, ngoài ra không có học mấy vị khác. Chỉ có cái gì cần thiết, công việc thôi chứ học là chỉ có học 4 bộ kia thôi. Bây giờ nếu ai nói cái gì đúng sai là biết hết trơn, bất cứ là ai, chức vụ lớn nhỏ.
Nếu mình giảng pháp mà sai là biết liền, tại vì có pháp ấn trong tay mà. Biết Linh Quy Pháp Ấn không? Trước khi vô Nikāya là con đã tâm đắc với tam pháp ấn rồi. Khi vào Nikāya nữa thì có ngọc tỷ trong tay, ấn xuống là không xê dịch. Bây giờ con hỏi các thầy các cô, ngoài ngũ uẩn ra trên thế giới này có cái gì khác không? Đó là trí vũ trụ, mà nắm được cái trí đó tức là nắm toàn thể vũ trụ. Muôn loại chúng sanh nằm trong đó hết, cho nên con mới nói là không biết còn chia sẻ với các thầy các cô được bao lâu nữa. Đời bây giờ nó rất là vô thường, có khi con cũng đi hoằng pháp ở nước ngoài, có khi tịnh tu, hoặc có khi vô thường bất thình lình nó đến sao.
Cho nên con mới nói hết tất cả tấm lòng cho các thầy các cô, người nài tinh ý, để tâm, nhiệt thành, nhiệt huyết thì sẽ thấy được đạo lộ của Đức Phật. Đây là đánh đổi và xương máu, nước mắt và sanh mạng. Con mời sư cô có ý kiến.
V. Linh Quy Pháp Ấn
Sư cô:
“Con kính gửi máy bạch trên thượng tọa giáo thọ sư, con xin 1 ít thời gian của thượng tọa và đại chúng con có 1 câu hỏi. Là thầy có thể hoan hỉ cho con biết được ý nghĩa của bốn chữ “Linh Quy Pháp Ấn”, tên chùa đó được không ạ? Tại vì con nghĩ nếu như con hiểu thì chỉ là theo suy nghĩ của con, còn người đặt tên thì có ý nghĩa, suy nghĩ gì đó. Mong thầy từ bi hoan hỉ chỉ dạy ạ.”
Chữ “Quy” là gì? Cái núi đó hình con rùa, nhưng mà ngọn núi đó rất là linh thiên. Khi mà con về đó là trùng trùng, liên tục những điềm lành xuất hiện. Xuất hiện cho mình thấy bằng mắt thường luôn, mà trong giấc chiêm bao và liên tục rất nhiều người thấy chứ không phải 1 người. Thậm chí là hòa thượng Luật Sư cũng lên trên đó đảnh lễ, cầu nguyện trên đó. Cho nên đặt là Linh Quy, núi hình dáng con rùa và rất linh thiên. Còn “Pháp Ấn” là 3 pháp ấn, “Chư hành vô thường”, “Chư pháp vô ngã”, tất cả là khổ. Hoặc mình nói theo Phật giáo phát triển là Niết-bàn tịch tịnh, đó là pháp ấn. “Pháp Ấn” là con dấu ấn của Chánh pháp, con dấu để ấn định đâu là Chánh pháp, đâu không phải Chánh pháp.
Mình muốn biết nơi nào có Chánh pháp hay không có Chánh pháp, mình chỉ cần lấy 3 con dấu: Tất cả hành là vô thường, tất cả pháp là khổ, tất cả pháp là vô ngã. Ba cái đó là ấn định tất cả pháp, không có sai. Cho nên là mình học cái này rất là hay, khi mình đi trở về lời dạy gốc của Đức Phật rồi thì mình không đi tìm mông lung, không còn đi tìm cái ở ngoài lời dạy của Đức Như Lai. Còn bằng không là mình đi tìm tới chết luôn, mình cũng không biết được thật sự là cái gốc nằm ở đâu phải không? Đi tìm hoài. Hay có những đi tu tới già, giờ lên hòa thượng rồi vẫn đi tìm cái pháp hành: “Bây giờ không biết pháp hành làm sao nữa, bây giờ phải tu cái nào cho đúng?” Chúng ta có thấy cái này nhiều không?
Hoặc là thấy ai làm gì cái làm theo, thấy người ta làm sao mình làm vậy, chỗ này là chỗ quan trọng. Cho nên cái pháp hành là bây giờ chúng ta cầm quyển “Pháp hành Nikāya” đó, về có đọc không con xin thưa các bậc hiền đức? Có hay không ngồi im re hết trơn rồi? Nhớ đọc kỹ trong đó, mục đích của đạo Phật không có nhiều, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si. Đó là mục đích của đạo Phật, cứu cánh phạm hạnh. Không thấy tham, sân, si làm sao đoạn tận, không biết cảm thọ làm sao biết hang ổ của tham, sân, si, không biết ngũ uẩn làm sao nhìn ra được cảm thọ. Cứ nói: “Tôi giận” không à là rồi xong. Mà “tôi giận” thì tới bao giờ mới hết giận? Thậm chí có những người lên giảng nói rằng tham, sân, si là không bao giờ hết, không bao giờ diệt nó được, thì ui cha cái này hết sức nguy hiểm, cái này là nói ngược lại với Thánh giáo của Đức Phật.
Nếu mà mình nói tham, sân, si không bao giờ chấm dứt, không bao giờ chấm hết, không bao giờ diệt tận là mình đang đi ngược Thánh giáo Đức Phật. Tại vì Thánh giáo của Đức Phật là Đức Phật chỉ con đường đoạn tận tham, sân, si. Mà mình nói tham, sân, si không bao giờ đoạn tận được hết thì hết sức nguy hiểm. Thành ra chỉ có thành tựu Chánh kiến, thấy đúng ở trong pháp thì mình mới nói đúng, còn nếu không là nguy hiểm lắm. Biết nhân quả là sợ lắm, nó nhanh lắm. Mình không có thành tựu Chánh kiến, thấy đúng về ngũ uẩn, không thấy rõ thân tâm, không nhận diện được, không biết được nguồn gốc tham, sân, si, vô minh, khát ái, chấp thủ. Là mình tu ở trong bóng đêm, ở trong mù lòa, ở trong sự quờ quạng.
Mình có thấy mình đâu mà mình tu, cái tâm mình là cái gì mình không biết làm sao mình tu. Mà khi mình biết được, mình sẽ rất là khiêm hạ, rất là cúi đầu, tại vì mình thấy nhục, khi mình biết rồi mình nhục lắm. Tại vì thân tâm mình là 1 cầu tiêu di động, 1 thùng rác bốc mùi kinh hãi từ vô lượng, vô biên, vô số kiếp sanh tử vừa qua khủng khiếp. Cho nên người thấy pháp rồi là người hết sức khiêm cung, khiêm hạ, mới là 1 người thấy pháp. Bây giờ chúng ta qua lợi ích trong việc nghiên cứu và học hỏi kinh Nikāya, kinh Tăng Chi Bộ tập 2, kinh “Nghe Với Tai”, những bài này con có giảng rồi. Lợi ích nghe pháp trong chủ đề “Lợi ích nghe pháp”, quý vị nào muốn nghe thì về nghe lại chủ đề đó, 4 hay 5 bài.
“1. Này các Tỳ-kheo, các pháp do được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập, có bốn lợi ích được chờ đợi. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp hay Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập. Vị ấy khi mạng chung bị thất niệm, được sanh cộng trú với một loại Thiên nhân. Tại đấy, các vị sống an lạc đọc các pháp cú cho vị ấy. Này các Tỳ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng. Này các Tỳ-kheo, do được nghe các pháp bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; đây là lợi ích thứ nhất được chờ đợi.
2. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập. Vị ấy khi mạng chung bị thất niệm, được sanh cộng trú với một loại Thiên nhân. Tại đấy, các vị sống an lạc không đọc các pháp cú cho vị ấy. Nhưng có Tỳ-kheo có thần thông, đã đạt được tâm tự tại, thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Đây chính là Pháp và Luật mà trước đây ta đã sống Phạm hạnh”. Này các Tỳ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một người thiện xảo về tiếng trống. Người ấy trong khi đi giữa đường có thể nghe được tiếng trống. Người ấy không có nghi ngờ, không có do dự, đó là tiếng trống hay không phải là tiếng trống. Người ấy đi đến kết luận: “Đây là tiếng trống”. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai … chúng sanh ấy đi đến thù thắng. Này các Tỳ-kheo, do được nghe các pháp bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập, đây là lợi ích thứ hai được chờ đợi.
3. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỳ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và một Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Đây chính là Pháp và Luật mà trước đây ta đã sống Phạm hạnh”. Chậm chạp, này các Tỳ-kheo niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng. Ví như, này các Tỳ-kheo, một người thiện xảo về tiếng tù và. Người ấy, trong khi đi giữa đường có thể nghe được tiếng tù và. Người ấy không có nghi ngờ, không có do dự, đó là tiếng tù và hay không phải là tiếng tù và. Người ấy đi đến kết luận: “Đây là tiếng tù và”.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỳ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên. Và một Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Đây chính là Pháp và Luật mà trước đây ta đã sống Phạm hạnh”. Này các Tỳ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng. Này các Tỳ-kheo, do được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; đây là lợi ích thứ ba được chờ đợi.
4. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỳ-kheo có thầnthông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và không có Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên. Nhưng có thể có người được hóa sanh: “Này bạn, bạn có nhớ không? Này bạn, bạn có nhớ không, tại chỗ ấy chúng ta đã sống Phạm hạnh?” Vị ấy trả lời: “Này bạn, tôi nhớ! Này bạn, tôi nhớ”. Chậm chạp, này các Tỳ-kheo, niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.
Ví như, này các Tỳ-kheo, hai người bạn cùng chơi trò chơi đất bùn, hai người vào một thời nào, một chỗ nào được gặp nhau. Người bạn này có thể nói với người bạn kia: “Này bạn, bạn có nhớ cái này không? Này bạn, bạn có nhớ cái này không?” Người ấy có thể trả lời: “Này bạn, tôi có nhớ! Này bạn, tôi có nhớ!” Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỳ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và không có Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên.
Nhưng có thể có người được hóa sanh: “Này bạn, bạn có nhớ không? Này bạn, bạn có nhớ không, tại chỗ ấy chúng ta đã sống Phạm hạnh?” Vị ấy trả lời: “Này bạn, tôi nhớ! Này bạn, tôi nhớ”. Chậm chạp, này các Tỳ-kheo, niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng. Này các Tỳ-kheo, do được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; đây là lợi ích thứ tư được chờ đợi. Này các Tỳ-kheo, do được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; có bốn lợi ích này được chờ đợi.”
(Tăng Chi Bộ kinh II – kinh Nghe Với Tai)
Chúng ta nói về lợi ích thứ nhất đi, ở đây có những từ mà con may mắn đã học hán tạng rồi, nên có khả năng dịch thuật từ chữ Hán ra tiếng Việt. Cho nên cho đọc kinh Nikāya là con hiểu được cái Hán ngữ, Hán Việt ở trong này, đây là một điểm hỗ trợ rất là lớn. Nếu chúng ta không có học Hán Việt, học chữ Hán thì chúng ta đọc Nikāya rất là khó hiểu. Thí dụ như bây giờ nói rằng là: “Kiến của vị ấy, do kiến khéo thể nhập”, thì mình hiểu gì không? Nếu mà chúng ta không có học Hán Việt, thì chúng ta đọc chúng ta sẽ không biết. Cho nên mình biết chữ Hán, mình đọc Nikāya rất là tốt, rất là đỡ cho mình, mình hiểu được những từ Hán.
Bây giờ mình nói lợi ích thứ nhất: “Các pháp do được nghe bằng tai”. Mình hiện tại có được cái này không? Nghe bằng tai. Mà nhớ ở đây nói là Nikāya thôi chứ không có gì khác hết nha, nhớ kỹ à. Chứ không phải mình nghe tùm lum tá la hết, mà mình nói mình nghe pháp là không phải à. Bốn bộ Nikāya đó mới là nghe pháp, ngoài cái đó ra là không tính, nhớ kỹ. Trong kinh này là Đức Phật nói như vậy đó, tức là chỉ nghe lời của bậc Chánh đẳng chánh giác thôi. Bây giờ nghe bằng tai, kế đó là tụng đọc bằng lời. Chữ “tụng” ở đây là học thuộc lòng rồi mình đọc lại, ở trên Linh Quy là buổi sáng nào cũng tụng hết, không phải mở cuốn sách ra đọc, tụng là thuộc lòng rồi đọc lại. Cho nên mở cuốn kinh ra đọc thì là đọc kinh, mình không mở kinh ra mà đọc thuộc lòng như vậy mới gọi là tụng kinh.
Đây là hòa thượng Giảng Đức, cố hòa thượng Trí Tịnh có giải thích cho chúng ta đó. Đọc là khác, tụng là khác, tụng là phải học thuộc lòng. Cho nên lợi ích thứ nhất là đọc, thứ 2 là mình tụng. Thì dụ như mình đọc trong kinh Pháp cú câu: “Dầu tại bãi chiến trường, thắng hàng ngàn quân địch”, thì cái đó gọi là gì? Là tụng đó, còn mình mở sách ra như nãy giờ gọi là đọc, nhớ nha. “Các pháp do được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát”, chỗ này bắt đầu khó rồi đó. Đa số mình có khi mình chỉ có đọc thôi chứ mình không có tụng, phải không? Rồi khi mình chỉ có nghe mà mình chưa có dùng cái ý của mình để quán sát cái lời kinh, nghĩa kinh, lý kinh đó.
Thí dụ như con nói quý thầy, quý cô làm bài tập nhận diện ngũ uẩn, thì cái đó là gì? Đó là ý quan sát. Nhận diện ngũ uẩn chính là quan sát đó, chữ “quan” là mình nhìn vào bên trong, chữ “sát” là mình nhìn vào soi xét ở bên trong con người của mình. Còn nếu như mình nhìn bên ngoài, soi xét cái bên ngoài, cái đó gọi là hướng ngoại, nhớ cho kỹ chỗ này à nha. Bây giờ mình hướng nội hay hướng ngoại? Hướng ngoại rất nhiều. Cho nên khi có chuyện gì xảy ra, là mình cứ nói người ta không à, chứ mình không có thấy được cái tâm sân, si của mình. “Cái người kia, cái cô kia, cái cậu kia, thầy kia, chị kia, bà kia…” Chứ mình không có nói: “Ờ sân nè, cách nói hiện tại của mình bây giờ mình không có an tịnh, lắng dịu nè.
Mình không có nhiếp phục cảm thọ, mình đang sân nè”. Ngay lúc đó là mình sai rồi, không cần nói ai hết trơn. Thành ra tu Nikāya nó sâu sắc như vậy đó, dùng cái ý quan sát, nhìn vào, soi xét thọ, tưởng, hành của mình, cho nên những cái này nó sâu sắc. Bởi vậy chúng ta thấy đọc Nikāya không phải đơn giảng đâu, đọc kinh đâu phải đơn giản như đọc báo đâu. Rồi “do kiến khéo thể nhập”, là sau khi mình dùng ý mình quan sát, mình nhận diện ngũ uẩn rồi thì mình sẽ thấy ngũ uẩn không? Thấy tham, sân, si không? Thấy bản ngã sanh khởi không? Nói lớn lên coi, thấy hay là không? Mình thấy mà mình khéo thể nhập cái thấy đó.
Thí dụ mình nhận diện ngũ uẩn, mình thấy trong mình đang có cái cảm thọ dục thúc dục, muốn cái gì đó, ham, thích cái gì đó, thì mình nói: “Ờ cái dục này không có được à nha, mình là người tu à, mình không có tham muốn giống như người đời được nha.” Mình nhiếp phục, chế ngự cái đó, thì cái đó là mình đang khéo thể nhập pháp ly tham, nhiếp phục dục tham đó thấy chưa. Còn lúc trước mình không có thấy, mình không có quán sát, cho nên nó có tham mình đâu có biết. Mình đang có tham, đang có sân, thậm chí mình đang có si luôn, mà người ta lại người ta nói: “Cô tham, sân, si dữ vậy”, là trả lời: “Tôi có tham, sân, si đâu. Ngày nào tôi cũng như vậy, đều đều hết. Tới giờ học đi học, tới giờ ăn tôi ăn, tới giờ ngủ tôi ngủ, tôi có tham, sân, si đâu mà nói tôi tham, sân, si.”
Đó là vô văn phàm phu, không có thấy biết được, không có dùng ý quán sát, không có cái thấy biết, không có thể nhập pháp ly tham, không nhiếp phục được dục tham, không chế ngự được bản ngã. Chỉ có nghe, tụng, đọc, dùng tâm ý quán sát, rồi mình thấy được rõ ràng như vậy, nhiếp phục, chế ngự nó. Những người được như vậy thì 4 lợi ích chờ đợi. “Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp hay Phương quảng.” Ở đây nói 8 thể loại thuyết pháp của Đức Phật, sau này người ta hay dùng gọi là 9 phần giáo hay là thập nhị phần giáo, tùy chỗ chứ không phải chỗ nào Đức Phật cũng nói y như vậy.
“Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập. Vị ấy khi mạng chung bị thất niệm”. Tuy rằng người này cũng nghe pháp Nikāya, cũng đọc, cũng tụng, cũng có sự quán sát trong tâm của mình, có 1 sự khéo léo để mà thể nhập cái pháp như vậy. Mà người này khi mà cận tử nghiệp, khi người này chết, thì người này lại mất Chánh niệm. Thí dụ như ta nhớ có ông Mahanam ổng tới hỏi Đức Phật: “Bây giờ con tu như vậy đó, bất thình lình con bị con vật nó húc chết, hay con bị xe đụng này nọ kia thì lúc đó con đi về đâu?” Đức Thế Tôn nói: “Cái cây nó nghiêng qua hướng nào, thì nó sẽ ngã qua hướng đó. Nếu bình thường mình tu tập cái tâm thiện, thì khi mình chết sẽ đi theo chiều thiện. Bình thường cái tâm mình ác thì nó sẽ ngã theo chiều ác”.
Thì ở đây cũng vậy, người này đã có được 4 sự tu học: Nghe, tụng đọc, dùng tâm ý quán sát nhận diện ngũ uẩn và có sự khéo léo để thê nhập vào trong cái pháp. Người này khi nhắm mắt ra đi, thân hoại mạng chung, khi chết thì người này mất Chánh niệm. “Thất” là mất, “niệm” là Chánh niệm, “thất niệm” là mất Chánh niệm”. Mà mất Chánh niệm nghĩa là lúc đó mình không có nhớ pháp, thí dụ như bệnh nặng quá, đau nhức, mình thấy đau đớn thôi chứ không thấy pháp, thì lúc đó là mất Chánh niệm. Không có thấy pháp vô thường, không thấy thân tứ đại, khổ. Chỉ thấy đau quá xá đau, lâu lâu mình có không? “Dạ có”. Rồi bây giờ mình thấy vui quá thì còn nhớ không? Thấy chỗ đông vui, ăn buffet gì đó quá trời vui, mấy chục món, vô gắp, múc phải không?
Thì vô đó mình còn Chánh niệm không? Thất niệm. Mà ngay lúc đó ăn vô trúng thực rồi chết, ngã ra. Tiếp theo thì vị này “được sanh cộng trú với một loại Thiên nhân”. Ở đây không có mất thiện pháp, người này sanh lên chư Thiên. Với nghiệp lành tu tập Chánh pháp sanh lên trên trời. “Tại đấy, các vị sống an lạc đọc các pháp cú cho vị ấy”. Lên chư Thiên đó, người này sống vui vẻ, an lạc, nghe các vị chư Thiên đọc pháp cú, đọc những câu Thánh pháp Nikāya. Thì “chậm chạp niệm được khởi lên”, chữ “niệm ở đây là nhớ lại. Bắt đầu người này từ từ: “Ồ nhớ rồi, nhớ lại rồi”, giống như bị mất cái gì, ví dụ lâu lâu bỏ quên chìa khóa xe ở đâu đi kiếm hoài, bỏ quên ở đâu không nhớ, 94 tuổi rồi kiếm hoài không biết ở đâu.
Chực 1 cái nhớ ra rồi, để trong kệ sách, thì cái đó gọi là niệm, mà quên gọi là thất niệm, có không? Quên thường không? Quên hoài, cái đó là thất niệm đó, nhớ là Chánh niệm. Thí dụ nghĩ: “Cái thân này là bệnh tật, bất tịnh”, thì cái đó là nhớ, là Chánh niệm đó. Còn mà: “Ôi cái thân mình, hổm rày mình cũng kiêng ăn cho cái dáng nó gọn gàng lại. Chụp tấm hình lên thấy cũng được chứ bộ.” Cái đó là thất niệm, vô minh, thân kiến. Còn mình nhớ: “Thân này bất tịnh, vô thường, khổ” thì cái đó là Chánh niệm. Như vậy mình niệm hay là thất niệm nhiều? Cái nào nhiều con thưa các thầy, các cô? Thất niệm nhiều.
Người này chậm chạp niệm được khởi lên, người này sanh trên chư Thiên, nghe các vị chư Thiên đọc các câu pháp cú, đọc các lời trong Nikāya. Chữ pháp cú ở đây không phải chỉ là kinh pháp cú không đâu nha, 4 bộ Nikāya cũng gọi là pháp cú, bất cứ câu nào trong đó cũng là pháp cú. Chứ không phải mình thấy chữ pháp cú, là mình nghĩ cái này là kinh “Pháp Cú” thì không phải. Pháp cú là những câu pháp của Đức Phật. Thì những vị này đọc lên như vậy, rồi người này bắt đầu nhớ lại, chậm chạp niệm được khởi lên, người nhớ nhớ lại: “Cái này có học có tu rồi nè”. “Rồi mau chóng chúng sanh ấy đi đến thù thắng”, tức là người này trở về, khôi phục lại 800 năm công lực, tức là bao nhiêu đời tu nhớ lại. Thì ở đây ví dụ như người giỏi tiếng trống, người này chơi trống, người này đi ngoài đường nghe tiếng là biết tiếng trống liền. Thì cũng vậy, đó là lợi ích thứ nhất.