Sám Hối Diệt Ngã 5 - Nhìn Lại - Nghe Lỗi - Thấy Lỗi - Nhận Lỗi - Sửa Lỗi
Tinh Hoa Nikāya
Giảng Giải Bài Sám Hối Diệt Ngã 5
Nhìn Lại - Nghe Lỗi
Thấy Lỗi - Nhận Lỗi - Sửa Lỗi
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tu cùng đại chúng PAGEREF _Toc174202598 \h 1
II. Không nhận lỗi – ba loại tâm PAGEREF _Toc174202599 \h 3
III. Hướng tâm về Thánh Pháp PAGEREF _Toc174202600 \h 8
IV. Thực hành sám hối diệt ngã PAGEREF _Toc174202601 \h 15
I. Tu cùng đại chúng
Xin mời đại chúng nhìn vào những bếp lửa hồng đang sưởi ấm chúng ta trong giá lạnh. Chúng ta ở ngoài đời có cha mẹ, có anh chị em, có thân bằng quyến thuộc làm cho chúng ta ấm áp, khi vào chùa thì có thầy, có huynh đệ, có thiện bạn hữu, có bạn lành, có thiện tri thức, có Tăng đoàn, Tăng thân sưởi ấm cho chúng ta, có chánh pháp sưởi ấm cho chúng ta, có Đức Thế Tôn, có Thánh giới, có bậc đạo sư sưởi ấm cho chúng ta bằng một sự ấm áp tối thượng của tuệ giác, của từ bi. Sự ấm áp này vượt hơn cả sự ấm áp thường tình của thế gian trong sự ràng buộc, hệ lụy, ái luyến.
Nếu chúng ta vào chùa mà chưa thành tựu chánh kiến lại sống riêng lẻ, biệt lập, cá biệt, không muốn gặp ai, không muốn giao tiếp với ai, không muốn đi vào khuôn khổ, khuôn phép thì đó là sự thiếu sót, có khi là sự hiểu lệch. Cổ đức trong nhà Phật đã có một câu nói mà trong giới xuất gia ai cũng biết đó là "hổ ly sơn hổ bại, Tăng ly chúng Tăng tàn", có khi mình nghĩ rằng đi vào núi rừng, vào cốc một mình sẽ tu cao lắm thì đó chỉ là sự ảo tưởng, một khi chưa thành tựu chánh kiến mà sống một mình sẽ có nguy cơ đi theo tham ái trong vô minh, trong bản ngã mà mình không hay biết.
Trong thời Đức Thế Tôn, các vị Tỳ-kheo đến xin Đức Phật dạy một bài pháp vắn tắt để ở một mình thì đó thường là những vị đã có sự thấy biết chân chánh sâu sắc về pháp. Sau khi Đức Phật dạy cho bài pháp tóm tắt thì ngài thường hỏi lại vị đó hiểu bài pháp tóm tắt đó như thế nào để ngài nghe vị Tỳ-kheo đó trình bày kiến địa, tri kiến, sau đó ngài công nhận, chứng nhận, ấn chứng cái thấy biết đó đúng thì ngài mới cho phép vị thầy đó độc cư sống một mình.
Cho nên chúng ta phải cẩn thận vì mình dễ bị tâm lừa gạt, thích ở một mình để làm theo sở thích của mình, theo thói quen, tập khí, ưa thích của mình mà không thấy biết chính xác về pháp thì có khi điều này sẽ ngăn bước tiến, làm cho mình hành trì, tu tập lệch lạch không đúng Thánh đạo. Ngày xưa các vị cao Tăng phải đi cầu đạo, cầu pháp, khi đạt được pháp rồi thì các vị mới ở yên để tu, ngoài ra có một số vị tuy rằng ở trong chúng nhưng tâm lại tách rời, không hòa nhập với chúng, đây cũng là một bản ngã trá hình, thân thì ở trong chúng nhưng tâm lại không hòa hợp, càng ngày càng cô độc, cô đơn, lạnh lẽo, càng ngày càng nhạt nhẽo, một thời gian sau thì vị này tự động rời chúng. Vì sao người này không hòa nhập được với đại chúng? Vì bản ngã, cái ta, cái tôi làm chướng ngại, cho nên nhân dịp có ngọn lửa này để chúng ta thấy được lục hòa kính để sưởi ấm Tăng đoàn.
Mỗi ngày chúng ta ngồi thiền với nhau, nghe pháp với nhau, pháp đàm với nhau, ăn cơm trong chánh niệm với nhau, trình pháp cùng nhau, quét dọn cùng nhau thì đó là sưởi ấm trong trí tuệ, sưởi ấm trong tình thương, sưởi ấm trong sự thấu hiểu cảm thông để tha thứ cho nhau, thương kính nhau hơn, giúp đỡ nhau nhiều hơn. Chúng ta phải hiểu được điều này, Thế Tôn rất khen ngợi sự tụ hội trong Thánh im lặng tức là thiền định và sự nhóm họp trong việc trùng tiên, thảo luận về pháp vì ít nhất thời điểm đó tâm chúng ta trú trong pháp, trong trí tuệ. Mỗi lần chúng ta ngồi lại với nhau là mỗi lần chúng ta sưởi ấm tâm hồn bằng ngọn lửa hồng của tuệ giác.
Cái tu của mình là một cái tu vô cùng thiện xảo khéo léo, nhiều khi người ta muốn mở lòng thì mình lại đóng kín cửa nhưng vì vô minh nên mình không biết, mình cứ tưởng vậy là hay, đến lúc người ta đóng thì mình đến mở rồi người ta không mở thì mình phiền não, tất cả là do không thấy không biết, tức là cái thấy biết đó là thấy biết hiện pháp, nghĩa là ngay trong hiện tại có pháp gì đang diễn ra.
Ví dụ sư muội lại hỏi sư tỉ "chị thấy trong tuần lễ này em tu được không? Em có nói hay làm gì cho chị buồn không?", trả lời là không có nhưng vài ngày sau hoặc tuần sau đi nói với người khác "người này làm tôi như vậy đó mà còn theo hỏi tôi nữa", đó là sự thất bại, là sự dại khờ, dại dột, vô minh. Chỗ người ta mở cửa thì mình đi đóng lại, đến chỗ khác mình nói ra những khuyết điểm, người ta nghe được thì xảy ra phiền não, bất hòa, bất an. Sau đó gặp nhau bằng ánh nhìn, cảm thọ, suy nghĩ gì sau việc đó?
Đó là một sự vô minh mà mình không biết cho nên mình rất đáng thương, mình tu chánh niệm và tỉnh giác để mình biết ngay trong thời điểm đó nên nói cái gì, nên làm cái gì. Lúc đó mình cứ mở lòng ra "Tỉ thấy muội trong tuần này có khởi bản ngã đó nha, không hoan hỉ trong khi làm việc", "Đúng là lúc đó em có khởi bản ngã, em xin sám hối". Mọi người ở ngoài có những lời rất hoan hỉ trong buổi sám hối diệt ngã của chúng ta trong đạo tràng Nikāya vì người ta thấy hình ảnh mọi người lạy với nhau để xin lỗi rất đẹp.
Đó là sưởi ấm cho nhau, là chăm sóc cho nhau, là tưới tẩm cho nhau những hạt giống khiêm hạ, nhìn lại mình để nhận lỗi, xin lỗi, sửa lỗi để đi đến chỗ giảm lỗi, hết lỗi. Nếu không nhìn lại bản thân là không nhận diện ngũ uẩn, không thấy lỗi, không nhận lỗi, khi người ta góp ý mình không nghe mà còn sân si lên, thậm chí là thầy hoặc sư huynh, sư tỉ nói là vì tâm từ, vì tình thương nhắc nhở nên góp ý trực tiếp hoặc gián tiếp làm những điều để bảo hộ, giúp cho mình nhưng vì bản ngã nên nghe là sừng sộ lên, có thái độ lạnh nhạt với thầy. Có khi họ biết bản ngã của mình lớn nên người ta không nói trực tiếp mà nói gián tiếp để giúp cho mình vậy mà vừa nghe xong là thấy chạm vào bản ngã, chạm vào tự ái là lạnh nhạt, đổi thái độ.
II. Không nhận lỗi – ba loại tâm
Việc không nhận lỗi này có rất nhiều cấp độ. Mới vừa nói ra là phủ nhận không có ngay, chỉ mới vừa mở miệng ra chưa nói hết là đã "đâu có đâu thầy", vậy thì làm sao tu? Cho nên Tứ Niệm Xứ là quay lại nhìn chính mình ở bốn khía cạnh: Thân thể, cảm giác, nội tâm và những cái vận hành bên trong. Khi không nhìn ra bản thân mình nhưng có người chỉ ra cho mình thì mình lại ngụy biện lý do, tại cái này tại cái kia, tại người này, tại người kia. Điều này để chỉ cho bản ngã, tham ái của mình rất điêu luyện, sắc bén và vô cùng nhạy cho nên mình nhìn không ra, vừa chạm vào thôi là sừng sộ lên liền.
Đức Phật nói chúng sanh có ba loại tâm, tâm giống như vết thương chạm vào là la lên, nhảy lên, thứ hai là tâm giống như chớp sáng đó là tâm của các bậc Dự Lưu, tâm thứ ba là tâm kim cương của các bậc A-la-hán.
"Có ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người với tâm ví dụ như vết thương, với tâm ví dụ như chớp sáng, với tâm ví dụ như kim cang.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người với tâm ví dụ như vết thương? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người phẫn nộ, nhiều hiềm hận, dầu có bị nói chút ít, cũng tức tối phẫn nộ, sân hận, sừng sộ, biểu lộ sự phẫn nộ, sân hận và bực tức. Ví như một vết thương đang làm mủ, nếu bị cây gậy hay một miếng sành đánh phải, liền chảy mủ nhiều hơn. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có người phẫn nộ và bực tức. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người được ví dụ với vết thương đang làm mủ.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người với tâm được ví dụ như chớp sáng? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người như thật rõ biết: Ðây là khổ,.. như thật rõ biết Ðây là con đường đưa đến khổ diệt. Ví như một người có mắt, thấy các sắc trong đêm tối mù mịt, khi có chớp sáng. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có người như thật rõ biết: Ðây là khổ, ... như thật rõ biết: 'Ðây là con đường đưa đến khổ diệt'. Này các Tỳ-kheo, đây được gọi là hạng người với tâm được ví như chớp sáng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người với tâm được ví dụ như kim cang? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người, nhờ đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người, với tâm được ví dụ như kim cang". (Tăng Chi Bộ, chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, Vết Thương Làm Mủ)
Mình thuộc loại tâm nào? Tâm như chớp sáng hay tâm như vết thương? Nếu là tâm như vết thương thì chỉ cần chạm nhẹ vào thôi là giãy giụa kêu la lồng lộn, sừng sộ, đó là tâm của phàm phu. Nếu mang tâm như vậy mà không lo chữa trị, trị liệu thì làm sao trở thành một người mạnh khỏe trong pháp? Trong bài kinh giáo giới Phú-lâu-na thì Đức Phật hỏi nếu người ta chửi thì ông làm sao, Phú-lâu-na trả lời người ta chửi là vẫn còn hiền thiện vì họ chưa dùng tay đánh ông, nếu người ta đánh thì người ta còn hiền vì chưa lấy gậy đánh, nếu người ta lấy gậy đánh thì họ còn hiền thiện vì chưa đâm, nếu người ta đâm thì người ta vẫn hiền vì người ta chưa giết, còn nếu người ta giết thì cảm ơn vì được giải thoát khỏi tấm thân này.
"Này Punna, Ông sẽ sống ở quốc độ nào, nay Ông đã được Ta giáo giới với lời giáo giới vắn tắt?
-- Bạch Thế Tôn, nay con đã được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt, có một quốc độ tên là Sunaparanta (Tây Phương Du-na Quốc), con sẽ sống tại đấy.
-- Này Punna, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Punna, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén đoạt hại mạng ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.
-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời". (Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)
Đó chính là sự tác ý của Thánh nhân, đó là bí quyết thành Thánh đạo A-la-hán quả của ngài Phú-lâu-na. Cho nên nếu như người ta góp ý nhẹ thì có gì để sừng sộ, để đổi thái độ, xa lánh, né tránh, nhiều khi thấy như vậy con rất đau lòng, xót xa nhưng con không nói. Vậy là huynh đệ, tỉ muội xa lánh nhau trong khi người ta sưởi ấm cho mình, người ta tác thành cho mình, người ta giúp thêm cho mình. Nếu có người nói cho mình biết trên mặt mình dính lọ nồi thì mình cảm ơn hay cự lại?
Tất nhiên là cảm ơn nhưng tại sao người ta chỉ lỗi cho mình thì mình lại cự? Là do mình có bản ngã, sân si, vô minh, ngu muội, dại khờ không thấy pháp, nhất là bản ngã, tâm hung dữ sẽ phá đổ hết tất cả thiện pháp. Trong gia đình cũng vậy, vợ chồng mới góp ý thôi đã cự cãi, cha con, mẹ con, anh em cũng vậy, chỉ dạy, góp ý bằng tình thương nhưng lại sừng sộ lên. Người nào đi tu mà được thầy chỉ lỗi liên tục là thầy rất thương mình vì thầy thấy mình có khả năng, có tuệ căn, có tâm cầu pháp, có ý chí tiến thủ nên thầy giúp cho mình, tác thành cho mình, đưa mình vào lò lửa nung luyện để trở thành vàng ròng, nhưng nếu chạm vào mà mình cự lại chừng ba lần thì chấm hết, cứ sống ẩn dương nương Phật cho qua ngày đoạn tháng thôi.
Trong sách Nho ngày xưa có câu "linh đơn cửu chuyển điểm sắt thành kim, chí lý nhất ngôn chuyển phàm thành Thánh" nghĩa là linh đơn được luyện chín lần thì có thể chuyển sắt thành vàng, chí lý một lời chuyển phàm thành Thánh. Luyện linh đơn vô cùng gian khổ, phải trả qua công đoạn luyện chín lần, người nào uống vào sẽ thành tiên, đã thành tiên thì chỉ vào cục sắt sẽ hóa thành cục vàng, một lời nói của bậc đạo sư, bậc thầy, của bậc Thánh sư mà nếu mình chịu cúi đầu, chịu chấp nhận học pháp, chịu hạ bản ngã trước mặt thầy thì mình có thể từ phàm bước lên Thánh. Nhưng cái này vô cùng khó khăn, thậm chí biết thầy mình là bậc Thánh nhân mà mình vẫn khởi bản ngã, học vừa vừa thì được nhưng đi vào những bài học sâu xa thì mình khởi bản ngã, nếu nhìn ra được cái này thì đỡ còn không nhìn ra là tai họa.
III. Hướng tâm về Thánh Pháp
Bản ngã là đại chướng ngại, là kẻ thù lớn nhất của người cầu đạo. Nếu bản ngã quá lớn là không học được gì cả, bản ngã vừa vừa thì học được chút ít, bản ngã nhỏ thì học được nhiều, hết bản ngã thì người này đắc pháp, chứng pháp, thành pháp. Khi học sẽ có nhiều chuyện rất nhỏ nhiệm, gọi trình pháp thì không trình, thầy hỏi thì không nhìn thầy, đó là không có tâm cung kính, tức là không kính Tăng, không kính pháp, thậm chí mình còn không biết là mình không cung kính nữa, cứ nghĩ là đang thực hành ba pháp là giỏi, là hay nhưng là đang vô minh. Những khi thực hành ba pháp là khác, còn ở đây là giữa thầy trò, huynh đệ thậm chí là Phật tử hỏi thì mình phải mở mắt trả lời.
Không thể giải thích hết được nghĩa của chữ "chánh niệm tỉnh giác", nó là pháp sống cho nên tùy thời điểm, tùy hoàn cảnh, tùy người mà vận dụng chánh niệm tỉnh giác cho nên không thể định nghĩa được đầy đủ, chỉ có thể nói lên bản chất, tính chất của nó thôi. Ví dụ người xuất gia khi ăn là phải ngồi chỉnh tề vậy mà giờ ngồi chồm hổm rồi có sư huynh, sư tỉ nhắc nhở ngồi trang nghiêm ăn thì trong tâm cảm ơn sư huynh, sư tỉ vì mình có sự buông lung phóng dật hay là trong tâm suy nghĩ "khó khăn quá, bị nhắc nhở hoài"? Đó là phi như lý tác ý, nó giết mình chết nhưng lại xảy ra thường xuyên.
Minh Thành đã nhắc nhở đem cơm lên mà không có đũa, không có muỗng vậy mà hôm sau đem trái dừa lên không có ống hút, con chỉ dạy nếu không có ống hút thì đổ nước dừa ra ly rồi đem lên, đằng này vừa không có ống hút vừa không chặt dừa ra thì làm sao uống. Ở đây không phải thầy khó mà thầy chỉ dạy cho mình để sau này còn những trường hợp như vậy. Sau này hòa thượng hoặc sư bà lên không lẽ đem nguyên trái dừa ra để y nguyên như vậy thì làm sao uống?
Nếu biết như lý tác ý, tâm biết học pháp, cầu pháp, biết nghĩa, biết kính, biết ơn, hiểu được tình thương của thầy thì mình thấy quý trọng, cảm ơn thầy, còn phi như lý tác ý là "mai này khỏi đem đồ lên nữa, tìm người khác bưng cho thầy đi". Bản thân con, đệ tử Minh Thành nhìn thấy rất nhiều người học đạo rớt hết, cứ nghĩ là thầy khó nhưng rõ ràng mình nói bằng tâm thương, tâm từ, muốn giúp đỡ, chỉ dẫn cho học rồi cuối cùng thấy mình đến là tránh né, vậy là không muốn học. Ở đây chỉ mới nói chữ "nhìn lại" để thấy lỗi lầm, ngoài ra còn nhận lỗi, sửa lỗi sau đó là giảm lỗi, hết lỗi.
Để có sự can đảm nhận lỗi là cả một vấn đề, dù biết rằng mình có lỗi nhưng vẫn phải nói một vài câu chống chế trước đã, thọ; tưởng; hành hoạt động quá nhanh nên phản bác, phản biện ngay mà người này không nhận ra. Khi thầy chỉ lỗi thì mình hay nói "con tưởng…", mình tu ngũ uẩn mà cứ tưởng, phải dùng tuệ để nhìn ra. Khi mình nghe bất cứ một ai góp ý, chia sẻ, xây dựng bất cứ cái gì thì hãy bình tĩnh nhìn lại, kiểm tra, soi xét chứ đừng vội trả lời ngay, nhất là khi người ta góp ý cho mình, đó là lúc mình kiểm tra, rà soát lại sắc; thọ; tưởng; hành; thức ngay hiện tại và cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức trong quá khứ.
Cho nên Thế Tôn mới dạy ngài La-hầu-la trước khi nghĩ, trong khi nghĩ và sau khi nghĩ phải xét nét thật kĩ, trước khi nói, trong khi nói và sau khi nói phải dò xét, trước khi làm, trong khi làm và sau khi làm cũng phải xét kĩ. Tâm người tu phải nhỏ nhiệm, vi tế đến như vậy thì mới đi đến chỗ thấy lỗi, nhận lỗi, sửa lỗi và hết lỗi là bậc A-la-hán, hết lỗi là cứu cánh phạm hạnh, là đại thành công, đại thành tựu.
Có những vị từ cư sĩ cho đến xuất gia có khi ở núi mấy năm nhưng vẫn chưa chắc tập được, hễ nói ra là mình phản ứng ngay, phản ứng rất vội, không phải là chuyện góp ý mà chuyện bình thường cũng vậy, người ta nói ra là mình trả lời ngay "biết rồi", đến khi làm thì sai hết, đó là do chưa thành tựu sự an tịnh và lắng dịu. Bây giờ trong mỗi buổi tu xong chúng ta phải lạy bảy Đức Phật, đó là những bậc an tịnh trầm lặng. Sự an tịnh lắng dịu của mình chưa đủ, những lúc cần an tịnh thì mình lại không an tịnh, còn những khi người ta hỏi chuyện thì mình nhìn xuống không nói chuyện, gọi trình pháp thì im lặng.
Chúng ta phải mổ xẻ từng chuyện rất nhỏ thì mình mới thấy được các pháp vận hành trong đó, đó là Thánh trí, Thánh pháp, Thánh Bồ-đề quyến thuộc nhưng mình lại không thích cái này mà chỉ thích những gì của thế gian, huynh đệ, tỉ muội, chị em gặp nhau nói chuyện, tổ chức nấu ăn, uống trà. Như vậy rất uổng cuộc đời tu, mỗi lần gặp nhau là phải trình pháp, thầy trò gặp nhau đừng chỉ uống trà, ngắm cảnh mà phải hỏi pháp, hỏi cách tu tập cho tiến bộ, đó mới là tâm của người cầu pháp học đạo, còn nếu không có tâm cầu pháp, không có tầm và tứ về pháp, tức là không suy tầm, hướng tâm, an trú vào pháp thì nói đến pháp là lái qua chuyện khác. Cho nên người cầu pháp lên đây chỉ nói về pháp, còn người thị phi chỉ nói chuyện thị phi, người buông lung phóng dật chỉ nói chuyện hướng ngoại, tất cả đều được nhìn ra, vì thế lò lửa hồng này là chánh pháp sưởi ấm cho ta, tình đạo nằm trong đó, từ tâm nằm trong đó, tình thương nằm trong đó.
Chúng ta đi tu rồi thương cái gì? Thương là cho ăn ngon, cái này cũng có nhưng đó là chuyện bình thường, còn cái sâu sắc hơn mà thế gian không có là sự quan tâm, sự chăm sóc và pháp thân huệ mạng của người đó giúp cho họ tăng thượng đức hạnh trong sự tu hành, giúp cho họ sự tập trung vào pháp, giúp cho họ tăng thượng sự thấy biết về ngũ uẩn này một cách chính xác, thấu đáo trong trí tuệ, cái đó là hòa kính tối thượng, là ngọn lửa sưởi ấm đệ nhất trên cuộc đời này, là sự ấm áp màu nhiệm, hiếm có, hy hữu thù thắng, còn sự ấm áp của thế gian chỉ đưa đến đau khổ, hệ lụy, ràng buộc mà thôi.
Hằng ngày mọi người được gặp nhau trong thiền định, trong trình pháp, trong sự chia sẻ pháp, sám hối diệt ngã, gặp nhau trong sự thực tập tâm hiền, trong những dòng nước mắt, những cảm thọ dâng lên, những lời xin lỗi sám hối, hình ảnh đó thật đẹp, là danh họa tuyệt tác, là tác phẩm mỹ thuật vi diệu của người tu, chính là nằm ở những cử chỉ, hành vi, lời nói đó.
Phải giữ được ngọn lửa ấm áp này trong lòng, làm cho ngọn lửa nhiệt tình, nhiệt tâm luôn bùng cháy trong pháp học, pháp hành, trong sự nhìn nhận dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Lúc nào cũng sẵn sàng, lúc nào cũng đón nhận, tiếp thu sự quay lại nhìn vào nội tâm, lúc nào cũng mong cầu được chỉ lỗi để thấy được lỗi lầm, đó là đại sám hối, là nhiếp phục bản ngã, là tâm hiền thiện tuyệt vời, là bậc trí tuệ.
Cho nên nhìn lại tức là nhận diện ngũ uẩn, nghe lỗi là chấp nhận nghe người ta nói lỗi lầm của mình, thấy lỗi, nhận lỗi, tất cả những cái này đều phải có sự thực tập lâu dài, có nhiều vị lên đây học pháp những ngày đầu nói rằng "thầy viết trong quyển Nghi thức tu học như vầy là sai rồi", nghe vậy thì Minh Thành cũng "Dạ" rồi nói rằng quý vị từ từ nhận diện, đừng vội kết luận. Sau đó những vị đó tu học một thời gian thì nước mắt tuôn trào sám hối cho nên phải tập chánh niệm, bình tĩnh đón nhận những gì người ta nói, dù mình có hay không thì đó là cả một công phu tu tập. Một người cu sĩ đứng lên chia sẻ một bài kệ thì Minh Thành hỏi cảm nhận thế nào thì nói rằng "con sửa lại bài kệ", lúc đó Minh Thành nói không nên làm vậy, phải tìm hiểu ý nghĩa trong đó.
Thà rằng chẳng biết cho xong,
Biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu
Cổ nhân có câu "bất thị khổ tâm nhân bất tri", nghĩa là không phải là người khổ tâm thì không biết được nỗi lòng. Khi người thân thương của mình sắp ra đi thì mình dặn dò đừng khóc lóc để người sắp ra đi giữ được chánh niệm, có những vị không biết nên về òa khóc nức nở, thấy vậy con chỉ nói nhẹ nhàng "thôi được rồi" để mình vào hộ niệm. Có vậy thôi mà giận thầy, làm sao họ hiểu được cái tâm của người thầy, nếu mình hạ bản ngã thì ngay đó mình vừa học được cho tự thân là nhiếp phục cảm thọ, vừa học được cách hộ niệm để sau này giúp cho những người khác. Đằng này mình không thấy không biết, quay ngược lại trách móc, giận hờn thầy, nhiều khi thấy rất xót xa, mình mới hiểu được đôi chút Thánh pháp mà còn thấy xót xa như vậy, các bậc Thánh khi nhập Niết-bàn đi còn nhanh hơn, khi các ngài chứng Niết-bàn là nhập luôn Niết-bàn.
Tâm lậu hoặc, tâm vô minh, tâm bản ngã rất khủng khiếp, nó không chừa một ai hết, nhìn kĩ cuộc đời này đều vận hành trong sự khổ đau, từ việc mang một thân xác mấy chục kí lô biết bao bệnh hoạn, nóng chút cũng không chịu được, lạnh chút cũng không chịu nổi, nhức răng, đau đầu đều làm mình mệt mỏi, ngoài ra biết bao cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức đều vận hành trong khổ. Chỉ có người nào thật sự muốn thấy khổ để thoát khổ thì mình mới có thể chia sẻ cho họ, còn người nào có tâm bản ngã thì mình xá và lui, tuy rằng họ đến để học nhưng mình không dám chia sẻ pháp. Trên cuộc đời này không có gì là chắc chắn, đừng thấy người ta lạy lục gọi cô, thầy, sư phụ là mình thích thú, vài bữa là đổi tâm ngay, khi thấy ngũ uẩn của mình thì ngũ uẩn người khác cũng giống y vậy, nó liên tục thay đổi, liên tục sanh diệt thì làm gì có gì chắc chắn, vững trú, thường trú.
Muốn diệt tận bản ngã để giải thoát là cả một ý chí, một cái tâm khắc khoải, ưu tư trong từng giây từng phút, từng thời từng khắc. Người chân tu thật học, thiết tha, chân thành phải có một sự để tâm, hết lòng vào pháp, để nuôi dưỡng được tâm ham tu thích học trong tất cả mọi hoàn cảnh cũng đã là khó khăn, duy trì được tâm thích thú khi được ngồi thiền, được nghe pháp cũng là một sự khó khăn. Có người hỏi ngài Xá-lợi-phất trong giáo pháp này cái gì là khó thì ngài trả lời "xuất gia là khó", kế đó giữ được sự hoan hỉ trong đời sống tu hành là khó, hoan hỉ trong pháp là khó.
"-- Này Hiền giả Sàriputta, trong Pháp luật này, cái gì là khó làm?
-- Xuất gia, này Hiền giả, là điều khó làm trong Pháp luật này.
-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, cái gì là khó làm?
-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, hoan hỉ (abhirati) là điều khó làm.
-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỉ, cái gì là khó làm?
-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỉ, điều khó làm là sự thực hành đúng pháp và tùy pháp.
-- Có lâu không, này Hiền giả, một người đã thực hành đúng pháp và tùy pháp có thể thành vị A-la-hán?
-- Không lâu, này Hiền giả". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương IV. Tương Ưng Jambukhàdaka, XVI. Khó Làm)
Phải làm sao bất cứ lúc nào được học pháp là cảm thấy vui thích, muốn có được niềm vui đó là cả một sự tác ý. Gần đây Minh Thành thấy mừng vì thầy Pháp An không bỏ thời pháp nào cả, đây vừa là niềm an ủi vừa là niềm vui, cuối đời của thầy cũng có được chút vốn liếng, hành trang, tư lương vì bây giờ mọi người ở dưới quê đều rơi rớt. Cô Hai vừa qua đời, cả nhà dượng Tư đều nhiễm bệnh, con mắt thầy Pháp An không thấy gì nữa, cô Sáu thì nguy kịch như đèn treo trước gió, cả nhà chú Bảy đều là F0 và thím Bảy vừa chết cách đây không lâu.
Chúng ta ngồi đây thấy an ổn nhưng xung quanh đầy rẫy những hiểm họa, tai ương, hôm qua có trên mười sáu ngàn ca nhiễm trong một ngày, nước ta "được" vào top những nước chết nhiều nhất trên thế giới, mỗi ngày chết trên hai trăm người, vậy mà các lậu hoặc trong người còn đầy rẫy nhưng mình vẫn vui vẻ, cười nói thoải mái, không thấy lo lắng, sợ hãi nhiều. Mỗi lúc được gặp mọi người thì Minh Thành chỉ còn dám tính bằng ngày thôi, lên gặp chia sẻ pháp rồi không biết ngày mai còn được gặp nhau nữa không, vài bữa xuống núi rồi không biết có về núi được nữa không cho nên Minh Thành chỉ tính hôm nay là ngày cuối, nghĩ rằng buổi học hôm nay là buổi cuối cùng. Thầy Pháp An cũng phải tính như vậy, hôm nay là ngày cuối cùng nên phải cố gắng học pháp, nếu thầy trút hơi thở cuối cùng ngay thiền đường này thì đó là sự tuyệt diệu, tối thượng.
Quay lại bài học, chúng ta phải nhìn lại, nghe lỗi, nhận lỗi, thấy lỗi. Khi nghe lỗi phải cố gắng nghe bằng tâm an tịnh, lắng dịu vì khi nghe bằng tâm an tịnh, lắng dịu, không phán xét thì chúng ta sẽ nhìn thấy lỗi và nhận lỗi. Khi đã nhận lỗi thì mới bắt đầu sửa lỗi, khi cố gắng sửa lỗi thì cái lỗi được giảm bớt, từ từ mới đi đến hết lỗi, tức là đoạn tận các lậu hoặc, cấu nhiễm của tâm. Lỗi chính là dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, nếu đi theo đúng trình tự này sẽ có kết quả, không chỗ nào sai được cho nên sự can đảm, anh hùng, mạnh mẽ nhất là chịu nghe lỗi, thấy lỗi và nhận lỗi. Ba cái này là cả một sức mạnh vì bình thường nghe lỗi là phản kháng, phản ứng, phản bác, phản biện thậm chí là phản bội chứ không hề phản tỉnh.
Khi con học đạo được chỉ bản ngã, lúc đó con đang nhập thất, con ngồi ở pháp tòa trong thất chuyên chú vào pháp, thực tập an trú ba pháp nên không dám nhìn ai nhiều, có một vị Phật tử quen chào thì con cũng cúi xuống nhưng sau đó nghe nói người ta nhận định con khinh thường người ta vì không cười, không nhìn người ta nên có bản ngã. Có những trường hợp có duyên nên người ta đưa mình đi thăm nhà họ một chút, mình vào ngồi thì mọi người cười nói nhưng do lạ nên con không dám nói nhiều mà chỉ ngồi nghe rồi dạ, đến khi về thì nghe tin là con bản ngã nên khinh thường người ta không nói chuyện.
Khi được góp ý như vậy thì con xem lại bản thân lúc đó mình ra sao, đương nhiên khi nghe sẽ thấy khó chịu, thọ; tưởng; hành sanh khởi ra nhưng không vội phản ứng mà xem lại bản thân đến bảy ngày sau thì mới thấy họ nói cũng đúng, họ từ xa xôi quý kính về đây thăm mình mà mình cứ lo thực hành ba pháp không cười nói gì với họ cả, mình không có tâm rộng mở ngay lúc hiện pháp đó, người ta cười với mình thì mình cũng phải nở nụ cười đáp lại mới đúng nên người ta bắt lỗi mình bản ngã là đúng.
Người ta vui vẻ mà mình không đáp lại gì cả, cứ dạ không thì bị người ta bắt lỗi có bản ngã nhưng lúc đó mình không thấy được điều này, mình không đủ trí tuệ để đáp lại tấm lòng quý kính, quý mến làm họ thất vọng, đó là mình không có chánh niệm tỉnh giác, mình có lỗi. Thứ nhất là không cười lại, thứ hai là không đáp lại sự quý kính của người ta, mình lạnh nhạt nên mình nhận lỗi. Sau này mới biết đó là vừa là sự thật vừa là bài tập, cho nên khi con hỏi mà mọi người nhìn xuống không trả lời là bị trừ điểm hết nhưng con không nói, đó là bài tập để kiểm tra bản ngã khi mình nghe thì nó có khởi lên không. Mình là một ông thầy, một vị giảng sư, trụ trì, thượng tọa mà một Phật tử nói như vậy thì phải kiểm tra xem mình có khởi bản ngã không, đó là bài tập kiểm tra có khởi bản ngã của một ông thầy. Khi đi sâu vào pháp phải dò xét từng cái nhỏ nhiệm như vậy thì mới mổ xẻ ra nhìn thấy các lậu hoặc, tâm mình khởi cái gì, thọ; tưởng; hành khi đó ra sao. Xin thưa là khi nghe như vậy thì thọ; tưởng; hành của con vận hành nên phải tác ý suốt một ngày trong thất thì mới có ra những bài tác ý mãnh liệt để la mắng bản ngã.
Chúng ta đào sâu vào những cái này để thấy rằng nó không hề đơn giản tí nào, huống hồ gì xem thường, khinh thường như mình. Chính vì không nhìn sâu, không nhìn kĩ, không nhìn đầy đủ, cặn kẽ, cẩn thận nên lậu hoặc qua mặt mình mà mình không hay biết, những cái thô mình còn không thấy được thì làm sao thấy được những cái tế, những cái thọ; tưởng; hành vận hành về bản ngã mình không thể thấy được, vì thế sau khi chia sẻ pháp xong là phải quỳ lạy sám hối diệt ngã, chúng ta phải giữ được truyền thống, nề nếp đó. Bản thân Minh Thành muốn quỳ lạy đại chúng mỗi ngày nhưng đại chúng lại sợ, chúng ta phải tập lạy để xả bỏ bản ngã hư danh, hư ảo.
IV. Thực hành sám hối diệt ngã
"Cách diệt ngã trong bài này là hành giả tập cho tâm mình luôn cúi đầu sát đất dưới chân của tất cả mọi người, dù là người bần tiện hay người cao sang, người lớn tuổi hay người nhỏ tuổi, người tu hay người không tu". (Nghi thức tu học Nikāya)
Sau khi chia sẻ pháp hoặc chia nhóm ra học, pháp đàm thì quỳ lạy vì "chắc chắn trong sự chia sẻ này con còn có bản ngã, con đang ở trong vị trí hữu học hoặc có những cái con chưa sâu sắc trong pháp nên con xin quỳ lạy sám hối để xả bỏ bản ngã", sau đó quỳ lạy những người mình mới chia sẻ pháp, đương nhiên người ta sẽ quỳ lạy lại, đó là hình ảnh đẹp, cùng nhau đánh gục cái ta, đó là vừa có pháp học vừa có pháp hành ngay tại đó. Cái lạy xuống như vậy tương ứng với Thánh pháp vô ngã, đó là sự thể hiện sống động của pháp, mình đã nói lý thuyết, còn giờ là thể hiện pháp bằng hành động. Chúng ta không chỉ kính trọng người lớn tuổi giống như thượng đội hạ đạp mà còn phải kính trọng tất cả mọi người, dù đó là ai.
"Hành giả giữ trong tâm mình hình ảnh thân tướng tứ đại vô thường này quỳ gối với đầu cúi sát xuống đất dưới chân của người. Trong khi thực hành như vậy, hành giả tác ý an trú trong cảm giác ngọt ngào, ngoan hiền, dễ thương, tâm nhẹ nhàng, khả ái và hoan hỉ với cảm thọ khiêm cung, hoan hỉ với hạnh khiêm cung, hạnh quỳ lạy đầu cúi sát đất". (Nghi thức tu học Nikāya)
Không phải là "hình ảnh tôi quỳ gối…" mà là "hình ảnh thân tướng tứ đại vô thường", đây là một sự nhắc nhở tác ý, thân tứ đại ngũ uẩn này quỳ lạy chứ không có cái tôi trong đó, nếu mình còn thấy "tôi quỳ" rồi mình lạy xuống thì không khéo bản ngã lại tăng trưởng. Đây là chỗ sâu sắc, trong khi đang lạy thì thể hiện mình là người biết cách diệt ngã, còn người kia không biết cách diệt ngã. Trong cái lạy đó thể hiện tôi biết diệt ngã, tôi đẹp, tôi hay, như vậy là phản tác dụng, diệt ngã để tăng bản ngã, ngoài đời gọi là khiêm tốn giả tạo, làm dáng khiêm cung để người ta tôn mình lên thêm, cái đó là phản tác dụng. Trong lúc lạy diệt ngã phải quay vào xem trong tâm có đang tự đắc, tự hào, nếu có thì phải diệt từ bên trong, cũng vì lý do đó mà khi lạy phải nói:
Nguyện cho con xả bỏ hư danh này.
Nguyện cho con xả bỏ bản ngã hư ảo này.
Nguyện cho con xả bỏ bản ngã ác độc này.
Nguyện cho con xả bỏ bản ngã ngu si, mê muội này.
Nguyện cho con xả bỏ bản ngã ác độc này.
Nguyện cho con xả bỏ bản ngã nhục nhã này.
Nguyện cho con xả bỏ bản ngã hôi tanh này.
Trong mỗi một cái lạy xuống phải tác ý như vậy để mình trú luôn trong đó chứ không phải lạy không, vì lạy không là bên trong nội tâm vận hành cái gì mình không biết do vô minh. Tuy rằng hình thức bên ngoài đang lạy nhưng bên trong bản ngã hoạt động ngấm ngầm, đang lạy diệt ngã nhưng bên trong lại đang nuôi ngã cho nên mới có câu "Bên ngoài thơn thớt nói cười. Bên trong nham hiểm giết người không dao", nghĩa là nhìn bên ngoài như vậy nhưng chưa chắc bên trong như vậy. Bây giờ mình phải làm cho trong ngoài hợp nhất, thân tâm nhất hướng, cùng trú vào trong sự hạ gục bản ngã, cho nên phải vừa lạy vừa niệm:
Nguyện cho con xả bỏ hình tướng tứ đại vô thường, hư ảo này.
Nguyện cho con xả bỏ bản ngã bẩn thỉu, nhục nhã này.
Nguyện cho con xả bỏ bản ngã khờ dại này.
Vừa lạy vừa đọc lên để thân tâm nhất hướng cùng trú vào pháp diệt ngã, lúc đó tâm thật ngoan hiền vì nó nghe lời mình, nếu không tu dòng pháp này thì dễ gì mình lạy ai, chỉ lạy khi cha mẹ, thầy tổ chết rồi mới khóc lóc lạy lục. Có lạy thì cũng lạy như cái máy, như khúc cây, lạy như vậy không có tâm chân thành, tha thiết, cung kính trong sự mong muốn bản ngã hạ xuống, nằm xuống, mình phải tác ý nghiền nát bản ngã ra thì sau này mới không bị nó quật ngã, còn yếu thì đừng mơ mộng thoát khỏi nó, nhiều khi không nói ra ý hành mà chỉ ngấm ngầm trong cảm thọ. Đây là trí tuệ của bậc Thánh mà không một phàm phu nào có thể thấy nổi.
Có những vị trình pháp nói rằng muốn lạy sám hối nhưng bản ngã bên trong lại thấy ngượng nên lạy Phật thôi, pháp đàm xong muốn quỳ lạy nhưng bản ngã không cho, nó nói rằng "thôi, được rồi. Mình như vậy cũng được rồi, lạy chi nữa". Nó nói sao là mình nghe vậy nên mình là đệ tử bản ngã, đệ tử của dục, tham, ái, đệ tử của vô minh, đệ tử của hơn thua chứ không phải là đệ tử của Thánh trí. Bây giờ mình phải thật sự làm người con chân chánh của Đức Phật, thật sự là đệ tử của bậc Thánh, nghĩa là mình không nghe lời nó nữa, "mày không muốn lạy thì tao bắt mày lạy", "mày không muốn xin lỗi thì tao bắt mày phải xin lỗi", cho nên khi học đạo bên trong Minh Thành đấu tranh như đang đánh quyền anh, mình rất dễ cho qua nhưng đó là đồng nghĩa lậu hoặc qua mặt mình. Khi lạy phải an trú vào cảm giác ngọt ngào, ngoan hiền, dễ thương, tâm khả ái, đáng yêu, mình hoan hỉ với cảm thọ khiêm cung, hoan hỉ với cái hạnh cung kính, hạnh quỳ lạy đầu cúi sát đất vì mình chiến thắng được nó, mình đã bắt nó quỳ lạy được rồi. Ngày xưa nó vênh váo, hống hách, còn giờ mình bắt nó cúi xuống được thì mình hạnh phúc, vui mừng, hân hoan.
Nếu không học Thánh pháp này, không thực tập Thánh pháp này, không lạy sám hối diệt ngã hằng ngày thì hai người đang buồn phiền làm sao quỳ lạy trước mặt nhau, nhất là những người đàn ông thực sự rất khó để lạy sám hối. Những vị hộ pháp của núi này thân cũng to mà tâm cũng rất lớn, thực tập hạnh quỳ lạy diệt ngã với nhau mà toàn thân run rẩy, sau đó trình pháp nói rằng chưa bao giờ họ có cảm thọ như vậy, không ngờ họ có thể làm được như vậy, khi lạy xong là nhẹ nhàng, buông ra bắt tay nhau chứ còn trước đó không muốn nói chuyện với nhau, những cảm thọ hơn thua, sân hận bị bốc hơi sau cái lạy đó, tan biến làm cho thân tâm hài hòa, nhẹ nhàng. Trong đại chúng mà các vị quỳ lạy thật sự chân thành như mình tác ý nãy giờ thì những cảm thọ xấu ác đều bốc hơi, không còn chất chứa trong tâm nữa, đó là sự sưởi ấm của Thánh trí, Thánh pháp, Thánh đạo, đó là những phương pháp làm cho hòa kính, tương kính, tác thành, hỗ trợ, xây dựng, quý trọng lẫn nhau.
Hôm nay chúng ta sưởi ấm bằng Thánh pháp chứ không còn sưởi ấm bằng lo than lửa bình thường nữa.
./.
Giảng Giải Bài Sám Hối Diệt Ngã 5
Nhìn Lại - Nghe Lỗi
Thấy Lỗi - Nhận Lỗi - Sửa Lỗi
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tu cùng đại chúng PAGEREF _Toc174202598 \h 1
II. Không nhận lỗi – ba loại tâm PAGEREF _Toc174202599 \h 3
III. Hướng tâm về Thánh Pháp PAGEREF _Toc174202600 \h 8
IV. Thực hành sám hối diệt ngã PAGEREF _Toc174202601 \h 15
I. Tu cùng đại chúng
Xin mời đại chúng nhìn vào những bếp lửa hồng đang sưởi ấm chúng ta trong giá lạnh. Chúng ta ở ngoài đời có cha mẹ, có anh chị em, có thân bằng quyến thuộc làm cho chúng ta ấm áp, khi vào chùa thì có thầy, có huynh đệ, có thiện bạn hữu, có bạn lành, có thiện tri thức, có Tăng đoàn, Tăng thân sưởi ấm cho chúng ta, có chánh pháp sưởi ấm cho chúng ta, có Đức Thế Tôn, có Thánh giới, có bậc đạo sư sưởi ấm cho chúng ta bằng một sự ấm áp tối thượng của tuệ giác, của từ bi. Sự ấm áp này vượt hơn cả sự ấm áp thường tình của thế gian trong sự ràng buộc, hệ lụy, ái luyến.
Nếu chúng ta vào chùa mà chưa thành tựu chánh kiến lại sống riêng lẻ, biệt lập, cá biệt, không muốn gặp ai, không muốn giao tiếp với ai, không muốn đi vào khuôn khổ, khuôn phép thì đó là sự thiếu sót, có khi là sự hiểu lệch. Cổ đức trong nhà Phật đã có một câu nói mà trong giới xuất gia ai cũng biết đó là "hổ ly sơn hổ bại, Tăng ly chúng Tăng tàn", có khi mình nghĩ rằng đi vào núi rừng, vào cốc một mình sẽ tu cao lắm thì đó chỉ là sự ảo tưởng, một khi chưa thành tựu chánh kiến mà sống một mình sẽ có nguy cơ đi theo tham ái trong vô minh, trong bản ngã mà mình không hay biết.
Trong thời Đức Thế Tôn, các vị Tỳ-kheo đến xin Đức Phật dạy một bài pháp vắn tắt để ở một mình thì đó thường là những vị đã có sự thấy biết chân chánh sâu sắc về pháp. Sau khi Đức Phật dạy cho bài pháp tóm tắt thì ngài thường hỏi lại vị đó hiểu bài pháp tóm tắt đó như thế nào để ngài nghe vị Tỳ-kheo đó trình bày kiến địa, tri kiến, sau đó ngài công nhận, chứng nhận, ấn chứng cái thấy biết đó đúng thì ngài mới cho phép vị thầy đó độc cư sống một mình.
Cho nên chúng ta phải cẩn thận vì mình dễ bị tâm lừa gạt, thích ở một mình để làm theo sở thích của mình, theo thói quen, tập khí, ưa thích của mình mà không thấy biết chính xác về pháp thì có khi điều này sẽ ngăn bước tiến, làm cho mình hành trì, tu tập lệch lạch không đúng Thánh đạo. Ngày xưa các vị cao Tăng phải đi cầu đạo, cầu pháp, khi đạt được pháp rồi thì các vị mới ở yên để tu, ngoài ra có một số vị tuy rằng ở trong chúng nhưng tâm lại tách rời, không hòa nhập với chúng, đây cũng là một bản ngã trá hình, thân thì ở trong chúng nhưng tâm lại không hòa hợp, càng ngày càng cô độc, cô đơn, lạnh lẽo, càng ngày càng nhạt nhẽo, một thời gian sau thì vị này tự động rời chúng. Vì sao người này không hòa nhập được với đại chúng? Vì bản ngã, cái ta, cái tôi làm chướng ngại, cho nên nhân dịp có ngọn lửa này để chúng ta thấy được lục hòa kính để sưởi ấm Tăng đoàn.
Mỗi ngày chúng ta ngồi thiền với nhau, nghe pháp với nhau, pháp đàm với nhau, ăn cơm trong chánh niệm với nhau, trình pháp cùng nhau, quét dọn cùng nhau thì đó là sưởi ấm trong trí tuệ, sưởi ấm trong tình thương, sưởi ấm trong sự thấu hiểu cảm thông để tha thứ cho nhau, thương kính nhau hơn, giúp đỡ nhau nhiều hơn. Chúng ta phải hiểu được điều này, Thế Tôn rất khen ngợi sự tụ hội trong Thánh im lặng tức là thiền định và sự nhóm họp trong việc trùng tiên, thảo luận về pháp vì ít nhất thời điểm đó tâm chúng ta trú trong pháp, trong trí tuệ. Mỗi lần chúng ta ngồi lại với nhau là mỗi lần chúng ta sưởi ấm tâm hồn bằng ngọn lửa hồng của tuệ giác.
Cái tu của mình là một cái tu vô cùng thiện xảo khéo léo, nhiều khi người ta muốn mở lòng thì mình lại đóng kín cửa nhưng vì vô minh nên mình không biết, mình cứ tưởng vậy là hay, đến lúc người ta đóng thì mình đến mở rồi người ta không mở thì mình phiền não, tất cả là do không thấy không biết, tức là cái thấy biết đó là thấy biết hiện pháp, nghĩa là ngay trong hiện tại có pháp gì đang diễn ra.
Ví dụ sư muội lại hỏi sư tỉ "chị thấy trong tuần lễ này em tu được không? Em có nói hay làm gì cho chị buồn không?", trả lời là không có nhưng vài ngày sau hoặc tuần sau đi nói với người khác "người này làm tôi như vậy đó mà còn theo hỏi tôi nữa", đó là sự thất bại, là sự dại khờ, dại dột, vô minh. Chỗ người ta mở cửa thì mình đi đóng lại, đến chỗ khác mình nói ra những khuyết điểm, người ta nghe được thì xảy ra phiền não, bất hòa, bất an. Sau đó gặp nhau bằng ánh nhìn, cảm thọ, suy nghĩ gì sau việc đó?
Đó là một sự vô minh mà mình không biết cho nên mình rất đáng thương, mình tu chánh niệm và tỉnh giác để mình biết ngay trong thời điểm đó nên nói cái gì, nên làm cái gì. Lúc đó mình cứ mở lòng ra "Tỉ thấy muội trong tuần này có khởi bản ngã đó nha, không hoan hỉ trong khi làm việc", "Đúng là lúc đó em có khởi bản ngã, em xin sám hối". Mọi người ở ngoài có những lời rất hoan hỉ trong buổi sám hối diệt ngã của chúng ta trong đạo tràng Nikāya vì người ta thấy hình ảnh mọi người lạy với nhau để xin lỗi rất đẹp.
Đó là sưởi ấm cho nhau, là chăm sóc cho nhau, là tưới tẩm cho nhau những hạt giống khiêm hạ, nhìn lại mình để nhận lỗi, xin lỗi, sửa lỗi để đi đến chỗ giảm lỗi, hết lỗi. Nếu không nhìn lại bản thân là không nhận diện ngũ uẩn, không thấy lỗi, không nhận lỗi, khi người ta góp ý mình không nghe mà còn sân si lên, thậm chí là thầy hoặc sư huynh, sư tỉ nói là vì tâm từ, vì tình thương nhắc nhở nên góp ý trực tiếp hoặc gián tiếp làm những điều để bảo hộ, giúp cho mình nhưng vì bản ngã nên nghe là sừng sộ lên, có thái độ lạnh nhạt với thầy. Có khi họ biết bản ngã của mình lớn nên người ta không nói trực tiếp mà nói gián tiếp để giúp cho mình vậy mà vừa nghe xong là thấy chạm vào bản ngã, chạm vào tự ái là lạnh nhạt, đổi thái độ.
II. Không nhận lỗi – ba loại tâm
Việc không nhận lỗi này có rất nhiều cấp độ. Mới vừa nói ra là phủ nhận không có ngay, chỉ mới vừa mở miệng ra chưa nói hết là đã "đâu có đâu thầy", vậy thì làm sao tu? Cho nên Tứ Niệm Xứ là quay lại nhìn chính mình ở bốn khía cạnh: Thân thể, cảm giác, nội tâm và những cái vận hành bên trong. Khi không nhìn ra bản thân mình nhưng có người chỉ ra cho mình thì mình lại ngụy biện lý do, tại cái này tại cái kia, tại người này, tại người kia. Điều này để chỉ cho bản ngã, tham ái của mình rất điêu luyện, sắc bén và vô cùng nhạy cho nên mình nhìn không ra, vừa chạm vào thôi là sừng sộ lên liền.
Đức Phật nói chúng sanh có ba loại tâm, tâm giống như vết thương chạm vào là la lên, nhảy lên, thứ hai là tâm giống như chớp sáng đó là tâm của các bậc Dự Lưu, tâm thứ ba là tâm kim cương của các bậc A-la-hán.
"Có ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người với tâm ví dụ như vết thương, với tâm ví dụ như chớp sáng, với tâm ví dụ như kim cang.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người với tâm ví dụ như vết thương? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người phẫn nộ, nhiều hiềm hận, dầu có bị nói chút ít, cũng tức tối phẫn nộ, sân hận, sừng sộ, biểu lộ sự phẫn nộ, sân hận và bực tức. Ví như một vết thương đang làm mủ, nếu bị cây gậy hay một miếng sành đánh phải, liền chảy mủ nhiều hơn. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có người phẫn nộ và bực tức. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người được ví dụ với vết thương đang làm mủ.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người với tâm được ví dụ như chớp sáng? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người như thật rõ biết: Ðây là khổ,.. như thật rõ biết Ðây là con đường đưa đến khổ diệt. Ví như một người có mắt, thấy các sắc trong đêm tối mù mịt, khi có chớp sáng. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có người như thật rõ biết: Ðây là khổ, ... như thật rõ biết: 'Ðây là con đường đưa đến khổ diệt'. Này các Tỳ-kheo, đây được gọi là hạng người với tâm được ví như chớp sáng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người với tâm được ví dụ như kim cang? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người, nhờ đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người, với tâm được ví dụ như kim cang". (Tăng Chi Bộ, chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, Vết Thương Làm Mủ)
Mình thuộc loại tâm nào? Tâm như chớp sáng hay tâm như vết thương? Nếu là tâm như vết thương thì chỉ cần chạm nhẹ vào thôi là giãy giụa kêu la lồng lộn, sừng sộ, đó là tâm của phàm phu. Nếu mang tâm như vậy mà không lo chữa trị, trị liệu thì làm sao trở thành một người mạnh khỏe trong pháp? Trong bài kinh giáo giới Phú-lâu-na thì Đức Phật hỏi nếu người ta chửi thì ông làm sao, Phú-lâu-na trả lời người ta chửi là vẫn còn hiền thiện vì họ chưa dùng tay đánh ông, nếu người ta đánh thì người ta còn hiền vì chưa lấy gậy đánh, nếu người ta lấy gậy đánh thì họ còn hiền thiện vì chưa đâm, nếu người ta đâm thì người ta vẫn hiền vì người ta chưa giết, còn nếu người ta giết thì cảm ơn vì được giải thoát khỏi tấm thân này.
"Này Punna, Ông sẽ sống ở quốc độ nào, nay Ông đã được Ta giáo giới với lời giáo giới vắn tắt?
-- Bạch Thế Tôn, nay con đã được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt, có một quốc độ tên là Sunaparanta (Tây Phương Du-na Quốc), con sẽ sống tại đấy.
-- Này Punna, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Punna, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén đoạt hại mạng ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.
-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời". (Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)
Đó chính là sự tác ý của Thánh nhân, đó là bí quyết thành Thánh đạo A-la-hán quả của ngài Phú-lâu-na. Cho nên nếu như người ta góp ý nhẹ thì có gì để sừng sộ, để đổi thái độ, xa lánh, né tránh, nhiều khi thấy như vậy con rất đau lòng, xót xa nhưng con không nói. Vậy là huynh đệ, tỉ muội xa lánh nhau trong khi người ta sưởi ấm cho mình, người ta tác thành cho mình, người ta giúp thêm cho mình. Nếu có người nói cho mình biết trên mặt mình dính lọ nồi thì mình cảm ơn hay cự lại?
Tất nhiên là cảm ơn nhưng tại sao người ta chỉ lỗi cho mình thì mình lại cự? Là do mình có bản ngã, sân si, vô minh, ngu muội, dại khờ không thấy pháp, nhất là bản ngã, tâm hung dữ sẽ phá đổ hết tất cả thiện pháp. Trong gia đình cũng vậy, vợ chồng mới góp ý thôi đã cự cãi, cha con, mẹ con, anh em cũng vậy, chỉ dạy, góp ý bằng tình thương nhưng lại sừng sộ lên. Người nào đi tu mà được thầy chỉ lỗi liên tục là thầy rất thương mình vì thầy thấy mình có khả năng, có tuệ căn, có tâm cầu pháp, có ý chí tiến thủ nên thầy giúp cho mình, tác thành cho mình, đưa mình vào lò lửa nung luyện để trở thành vàng ròng, nhưng nếu chạm vào mà mình cự lại chừng ba lần thì chấm hết, cứ sống ẩn dương nương Phật cho qua ngày đoạn tháng thôi.
Trong sách Nho ngày xưa có câu "linh đơn cửu chuyển điểm sắt thành kim, chí lý nhất ngôn chuyển phàm thành Thánh" nghĩa là linh đơn được luyện chín lần thì có thể chuyển sắt thành vàng, chí lý một lời chuyển phàm thành Thánh. Luyện linh đơn vô cùng gian khổ, phải trả qua công đoạn luyện chín lần, người nào uống vào sẽ thành tiên, đã thành tiên thì chỉ vào cục sắt sẽ hóa thành cục vàng, một lời nói của bậc đạo sư, bậc thầy, của bậc Thánh sư mà nếu mình chịu cúi đầu, chịu chấp nhận học pháp, chịu hạ bản ngã trước mặt thầy thì mình có thể từ phàm bước lên Thánh. Nhưng cái này vô cùng khó khăn, thậm chí biết thầy mình là bậc Thánh nhân mà mình vẫn khởi bản ngã, học vừa vừa thì được nhưng đi vào những bài học sâu xa thì mình khởi bản ngã, nếu nhìn ra được cái này thì đỡ còn không nhìn ra là tai họa.
III. Hướng tâm về Thánh Pháp
Bản ngã là đại chướng ngại, là kẻ thù lớn nhất của người cầu đạo. Nếu bản ngã quá lớn là không học được gì cả, bản ngã vừa vừa thì học được chút ít, bản ngã nhỏ thì học được nhiều, hết bản ngã thì người này đắc pháp, chứng pháp, thành pháp. Khi học sẽ có nhiều chuyện rất nhỏ nhiệm, gọi trình pháp thì không trình, thầy hỏi thì không nhìn thầy, đó là không có tâm cung kính, tức là không kính Tăng, không kính pháp, thậm chí mình còn không biết là mình không cung kính nữa, cứ nghĩ là đang thực hành ba pháp là giỏi, là hay nhưng là đang vô minh. Những khi thực hành ba pháp là khác, còn ở đây là giữa thầy trò, huynh đệ thậm chí là Phật tử hỏi thì mình phải mở mắt trả lời.
Không thể giải thích hết được nghĩa của chữ "chánh niệm tỉnh giác", nó là pháp sống cho nên tùy thời điểm, tùy hoàn cảnh, tùy người mà vận dụng chánh niệm tỉnh giác cho nên không thể định nghĩa được đầy đủ, chỉ có thể nói lên bản chất, tính chất của nó thôi. Ví dụ người xuất gia khi ăn là phải ngồi chỉnh tề vậy mà giờ ngồi chồm hổm rồi có sư huynh, sư tỉ nhắc nhở ngồi trang nghiêm ăn thì trong tâm cảm ơn sư huynh, sư tỉ vì mình có sự buông lung phóng dật hay là trong tâm suy nghĩ "khó khăn quá, bị nhắc nhở hoài"? Đó là phi như lý tác ý, nó giết mình chết nhưng lại xảy ra thường xuyên.
Minh Thành đã nhắc nhở đem cơm lên mà không có đũa, không có muỗng vậy mà hôm sau đem trái dừa lên không có ống hút, con chỉ dạy nếu không có ống hút thì đổ nước dừa ra ly rồi đem lên, đằng này vừa không có ống hút vừa không chặt dừa ra thì làm sao uống. Ở đây không phải thầy khó mà thầy chỉ dạy cho mình để sau này còn những trường hợp như vậy. Sau này hòa thượng hoặc sư bà lên không lẽ đem nguyên trái dừa ra để y nguyên như vậy thì làm sao uống?
Nếu biết như lý tác ý, tâm biết học pháp, cầu pháp, biết nghĩa, biết kính, biết ơn, hiểu được tình thương của thầy thì mình thấy quý trọng, cảm ơn thầy, còn phi như lý tác ý là "mai này khỏi đem đồ lên nữa, tìm người khác bưng cho thầy đi". Bản thân con, đệ tử Minh Thành nhìn thấy rất nhiều người học đạo rớt hết, cứ nghĩ là thầy khó nhưng rõ ràng mình nói bằng tâm thương, tâm từ, muốn giúp đỡ, chỉ dẫn cho học rồi cuối cùng thấy mình đến là tránh né, vậy là không muốn học. Ở đây chỉ mới nói chữ "nhìn lại" để thấy lỗi lầm, ngoài ra còn nhận lỗi, sửa lỗi sau đó là giảm lỗi, hết lỗi.
Để có sự can đảm nhận lỗi là cả một vấn đề, dù biết rằng mình có lỗi nhưng vẫn phải nói một vài câu chống chế trước đã, thọ; tưởng; hành hoạt động quá nhanh nên phản bác, phản biện ngay mà người này không nhận ra. Khi thầy chỉ lỗi thì mình hay nói "con tưởng…", mình tu ngũ uẩn mà cứ tưởng, phải dùng tuệ để nhìn ra. Khi mình nghe bất cứ một ai góp ý, chia sẻ, xây dựng bất cứ cái gì thì hãy bình tĩnh nhìn lại, kiểm tra, soi xét chứ đừng vội trả lời ngay, nhất là khi người ta góp ý cho mình, đó là lúc mình kiểm tra, rà soát lại sắc; thọ; tưởng; hành; thức ngay hiện tại và cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức trong quá khứ.
Cho nên Thế Tôn mới dạy ngài La-hầu-la trước khi nghĩ, trong khi nghĩ và sau khi nghĩ phải xét nét thật kĩ, trước khi nói, trong khi nói và sau khi nói phải dò xét, trước khi làm, trong khi làm và sau khi làm cũng phải xét kĩ. Tâm người tu phải nhỏ nhiệm, vi tế đến như vậy thì mới đi đến chỗ thấy lỗi, nhận lỗi, sửa lỗi và hết lỗi là bậc A-la-hán, hết lỗi là cứu cánh phạm hạnh, là đại thành công, đại thành tựu.
Có những vị từ cư sĩ cho đến xuất gia có khi ở núi mấy năm nhưng vẫn chưa chắc tập được, hễ nói ra là mình phản ứng ngay, phản ứng rất vội, không phải là chuyện góp ý mà chuyện bình thường cũng vậy, người ta nói ra là mình trả lời ngay "biết rồi", đến khi làm thì sai hết, đó là do chưa thành tựu sự an tịnh và lắng dịu. Bây giờ trong mỗi buổi tu xong chúng ta phải lạy bảy Đức Phật, đó là những bậc an tịnh trầm lặng. Sự an tịnh lắng dịu của mình chưa đủ, những lúc cần an tịnh thì mình lại không an tịnh, còn những khi người ta hỏi chuyện thì mình nhìn xuống không nói chuyện, gọi trình pháp thì im lặng.
Chúng ta phải mổ xẻ từng chuyện rất nhỏ thì mình mới thấy được các pháp vận hành trong đó, đó là Thánh trí, Thánh pháp, Thánh Bồ-đề quyến thuộc nhưng mình lại không thích cái này mà chỉ thích những gì của thế gian, huynh đệ, tỉ muội, chị em gặp nhau nói chuyện, tổ chức nấu ăn, uống trà. Như vậy rất uổng cuộc đời tu, mỗi lần gặp nhau là phải trình pháp, thầy trò gặp nhau đừng chỉ uống trà, ngắm cảnh mà phải hỏi pháp, hỏi cách tu tập cho tiến bộ, đó mới là tâm của người cầu pháp học đạo, còn nếu không có tâm cầu pháp, không có tầm và tứ về pháp, tức là không suy tầm, hướng tâm, an trú vào pháp thì nói đến pháp là lái qua chuyện khác. Cho nên người cầu pháp lên đây chỉ nói về pháp, còn người thị phi chỉ nói chuyện thị phi, người buông lung phóng dật chỉ nói chuyện hướng ngoại, tất cả đều được nhìn ra, vì thế lò lửa hồng này là chánh pháp sưởi ấm cho ta, tình đạo nằm trong đó, từ tâm nằm trong đó, tình thương nằm trong đó.
Chúng ta đi tu rồi thương cái gì? Thương là cho ăn ngon, cái này cũng có nhưng đó là chuyện bình thường, còn cái sâu sắc hơn mà thế gian không có là sự quan tâm, sự chăm sóc và pháp thân huệ mạng của người đó giúp cho họ tăng thượng đức hạnh trong sự tu hành, giúp cho họ sự tập trung vào pháp, giúp cho họ tăng thượng sự thấy biết về ngũ uẩn này một cách chính xác, thấu đáo trong trí tuệ, cái đó là hòa kính tối thượng, là ngọn lửa sưởi ấm đệ nhất trên cuộc đời này, là sự ấm áp màu nhiệm, hiếm có, hy hữu thù thắng, còn sự ấm áp của thế gian chỉ đưa đến đau khổ, hệ lụy, ràng buộc mà thôi.
Hằng ngày mọi người được gặp nhau trong thiền định, trong trình pháp, trong sự chia sẻ pháp, sám hối diệt ngã, gặp nhau trong sự thực tập tâm hiền, trong những dòng nước mắt, những cảm thọ dâng lên, những lời xin lỗi sám hối, hình ảnh đó thật đẹp, là danh họa tuyệt tác, là tác phẩm mỹ thuật vi diệu của người tu, chính là nằm ở những cử chỉ, hành vi, lời nói đó.
Phải giữ được ngọn lửa ấm áp này trong lòng, làm cho ngọn lửa nhiệt tình, nhiệt tâm luôn bùng cháy trong pháp học, pháp hành, trong sự nhìn nhận dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Lúc nào cũng sẵn sàng, lúc nào cũng đón nhận, tiếp thu sự quay lại nhìn vào nội tâm, lúc nào cũng mong cầu được chỉ lỗi để thấy được lỗi lầm, đó là đại sám hối, là nhiếp phục bản ngã, là tâm hiền thiện tuyệt vời, là bậc trí tuệ.
Cho nên nhìn lại tức là nhận diện ngũ uẩn, nghe lỗi là chấp nhận nghe người ta nói lỗi lầm của mình, thấy lỗi, nhận lỗi, tất cả những cái này đều phải có sự thực tập lâu dài, có nhiều vị lên đây học pháp những ngày đầu nói rằng "thầy viết trong quyển Nghi thức tu học như vầy là sai rồi", nghe vậy thì Minh Thành cũng "Dạ" rồi nói rằng quý vị từ từ nhận diện, đừng vội kết luận. Sau đó những vị đó tu học một thời gian thì nước mắt tuôn trào sám hối cho nên phải tập chánh niệm, bình tĩnh đón nhận những gì người ta nói, dù mình có hay không thì đó là cả một công phu tu tập. Một người cu sĩ đứng lên chia sẻ một bài kệ thì Minh Thành hỏi cảm nhận thế nào thì nói rằng "con sửa lại bài kệ", lúc đó Minh Thành nói không nên làm vậy, phải tìm hiểu ý nghĩa trong đó.
Thà rằng chẳng biết cho xong,
Biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu
Cổ nhân có câu "bất thị khổ tâm nhân bất tri", nghĩa là không phải là người khổ tâm thì không biết được nỗi lòng. Khi người thân thương của mình sắp ra đi thì mình dặn dò đừng khóc lóc để người sắp ra đi giữ được chánh niệm, có những vị không biết nên về òa khóc nức nở, thấy vậy con chỉ nói nhẹ nhàng "thôi được rồi" để mình vào hộ niệm. Có vậy thôi mà giận thầy, làm sao họ hiểu được cái tâm của người thầy, nếu mình hạ bản ngã thì ngay đó mình vừa học được cho tự thân là nhiếp phục cảm thọ, vừa học được cách hộ niệm để sau này giúp cho những người khác. Đằng này mình không thấy không biết, quay ngược lại trách móc, giận hờn thầy, nhiều khi thấy rất xót xa, mình mới hiểu được đôi chút Thánh pháp mà còn thấy xót xa như vậy, các bậc Thánh khi nhập Niết-bàn đi còn nhanh hơn, khi các ngài chứng Niết-bàn là nhập luôn Niết-bàn.
Tâm lậu hoặc, tâm vô minh, tâm bản ngã rất khủng khiếp, nó không chừa một ai hết, nhìn kĩ cuộc đời này đều vận hành trong sự khổ đau, từ việc mang một thân xác mấy chục kí lô biết bao bệnh hoạn, nóng chút cũng không chịu được, lạnh chút cũng không chịu nổi, nhức răng, đau đầu đều làm mình mệt mỏi, ngoài ra biết bao cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức đều vận hành trong khổ. Chỉ có người nào thật sự muốn thấy khổ để thoát khổ thì mình mới có thể chia sẻ cho họ, còn người nào có tâm bản ngã thì mình xá và lui, tuy rằng họ đến để học nhưng mình không dám chia sẻ pháp. Trên cuộc đời này không có gì là chắc chắn, đừng thấy người ta lạy lục gọi cô, thầy, sư phụ là mình thích thú, vài bữa là đổi tâm ngay, khi thấy ngũ uẩn của mình thì ngũ uẩn người khác cũng giống y vậy, nó liên tục thay đổi, liên tục sanh diệt thì làm gì có gì chắc chắn, vững trú, thường trú.
Muốn diệt tận bản ngã để giải thoát là cả một ý chí, một cái tâm khắc khoải, ưu tư trong từng giây từng phút, từng thời từng khắc. Người chân tu thật học, thiết tha, chân thành phải có một sự để tâm, hết lòng vào pháp, để nuôi dưỡng được tâm ham tu thích học trong tất cả mọi hoàn cảnh cũng đã là khó khăn, duy trì được tâm thích thú khi được ngồi thiền, được nghe pháp cũng là một sự khó khăn. Có người hỏi ngài Xá-lợi-phất trong giáo pháp này cái gì là khó thì ngài trả lời "xuất gia là khó", kế đó giữ được sự hoan hỉ trong đời sống tu hành là khó, hoan hỉ trong pháp là khó.
"-- Này Hiền giả Sàriputta, trong Pháp luật này, cái gì là khó làm?
-- Xuất gia, này Hiền giả, là điều khó làm trong Pháp luật này.
-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, cái gì là khó làm?
-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, hoan hỉ (abhirati) là điều khó làm.
-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỉ, cái gì là khó làm?
-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỉ, điều khó làm là sự thực hành đúng pháp và tùy pháp.
-- Có lâu không, này Hiền giả, một người đã thực hành đúng pháp và tùy pháp có thể thành vị A-la-hán?
-- Không lâu, này Hiền giả". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương IV. Tương Ưng Jambukhàdaka, XVI. Khó Làm)
Phải làm sao bất cứ lúc nào được học pháp là cảm thấy vui thích, muốn có được niềm vui đó là cả một sự tác ý. Gần đây Minh Thành thấy mừng vì thầy Pháp An không bỏ thời pháp nào cả, đây vừa là niềm an ủi vừa là niềm vui, cuối đời của thầy cũng có được chút vốn liếng, hành trang, tư lương vì bây giờ mọi người ở dưới quê đều rơi rớt. Cô Hai vừa qua đời, cả nhà dượng Tư đều nhiễm bệnh, con mắt thầy Pháp An không thấy gì nữa, cô Sáu thì nguy kịch như đèn treo trước gió, cả nhà chú Bảy đều là F0 và thím Bảy vừa chết cách đây không lâu.
Chúng ta ngồi đây thấy an ổn nhưng xung quanh đầy rẫy những hiểm họa, tai ương, hôm qua có trên mười sáu ngàn ca nhiễm trong một ngày, nước ta "được" vào top những nước chết nhiều nhất trên thế giới, mỗi ngày chết trên hai trăm người, vậy mà các lậu hoặc trong người còn đầy rẫy nhưng mình vẫn vui vẻ, cười nói thoải mái, không thấy lo lắng, sợ hãi nhiều. Mỗi lúc được gặp mọi người thì Minh Thành chỉ còn dám tính bằng ngày thôi, lên gặp chia sẻ pháp rồi không biết ngày mai còn được gặp nhau nữa không, vài bữa xuống núi rồi không biết có về núi được nữa không cho nên Minh Thành chỉ tính hôm nay là ngày cuối, nghĩ rằng buổi học hôm nay là buổi cuối cùng. Thầy Pháp An cũng phải tính như vậy, hôm nay là ngày cuối cùng nên phải cố gắng học pháp, nếu thầy trút hơi thở cuối cùng ngay thiền đường này thì đó là sự tuyệt diệu, tối thượng.
Quay lại bài học, chúng ta phải nhìn lại, nghe lỗi, nhận lỗi, thấy lỗi. Khi nghe lỗi phải cố gắng nghe bằng tâm an tịnh, lắng dịu vì khi nghe bằng tâm an tịnh, lắng dịu, không phán xét thì chúng ta sẽ nhìn thấy lỗi và nhận lỗi. Khi đã nhận lỗi thì mới bắt đầu sửa lỗi, khi cố gắng sửa lỗi thì cái lỗi được giảm bớt, từ từ mới đi đến hết lỗi, tức là đoạn tận các lậu hoặc, cấu nhiễm của tâm. Lỗi chính là dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, nếu đi theo đúng trình tự này sẽ có kết quả, không chỗ nào sai được cho nên sự can đảm, anh hùng, mạnh mẽ nhất là chịu nghe lỗi, thấy lỗi và nhận lỗi. Ba cái này là cả một sức mạnh vì bình thường nghe lỗi là phản kháng, phản ứng, phản bác, phản biện thậm chí là phản bội chứ không hề phản tỉnh.
Khi con học đạo được chỉ bản ngã, lúc đó con đang nhập thất, con ngồi ở pháp tòa trong thất chuyên chú vào pháp, thực tập an trú ba pháp nên không dám nhìn ai nhiều, có một vị Phật tử quen chào thì con cũng cúi xuống nhưng sau đó nghe nói người ta nhận định con khinh thường người ta vì không cười, không nhìn người ta nên có bản ngã. Có những trường hợp có duyên nên người ta đưa mình đi thăm nhà họ một chút, mình vào ngồi thì mọi người cười nói nhưng do lạ nên con không dám nói nhiều mà chỉ ngồi nghe rồi dạ, đến khi về thì nghe tin là con bản ngã nên khinh thường người ta không nói chuyện.
Khi được góp ý như vậy thì con xem lại bản thân lúc đó mình ra sao, đương nhiên khi nghe sẽ thấy khó chịu, thọ; tưởng; hành sanh khởi ra nhưng không vội phản ứng mà xem lại bản thân đến bảy ngày sau thì mới thấy họ nói cũng đúng, họ từ xa xôi quý kính về đây thăm mình mà mình cứ lo thực hành ba pháp không cười nói gì với họ cả, mình không có tâm rộng mở ngay lúc hiện pháp đó, người ta cười với mình thì mình cũng phải nở nụ cười đáp lại mới đúng nên người ta bắt lỗi mình bản ngã là đúng.
Người ta vui vẻ mà mình không đáp lại gì cả, cứ dạ không thì bị người ta bắt lỗi có bản ngã nhưng lúc đó mình không thấy được điều này, mình không đủ trí tuệ để đáp lại tấm lòng quý kính, quý mến làm họ thất vọng, đó là mình không có chánh niệm tỉnh giác, mình có lỗi. Thứ nhất là không cười lại, thứ hai là không đáp lại sự quý kính của người ta, mình lạnh nhạt nên mình nhận lỗi. Sau này mới biết đó là vừa là sự thật vừa là bài tập, cho nên khi con hỏi mà mọi người nhìn xuống không trả lời là bị trừ điểm hết nhưng con không nói, đó là bài tập để kiểm tra bản ngã khi mình nghe thì nó có khởi lên không. Mình là một ông thầy, một vị giảng sư, trụ trì, thượng tọa mà một Phật tử nói như vậy thì phải kiểm tra xem mình có khởi bản ngã không, đó là bài tập kiểm tra có khởi bản ngã của một ông thầy. Khi đi sâu vào pháp phải dò xét từng cái nhỏ nhiệm như vậy thì mới mổ xẻ ra nhìn thấy các lậu hoặc, tâm mình khởi cái gì, thọ; tưởng; hành khi đó ra sao. Xin thưa là khi nghe như vậy thì thọ; tưởng; hành của con vận hành nên phải tác ý suốt một ngày trong thất thì mới có ra những bài tác ý mãnh liệt để la mắng bản ngã.
Chúng ta đào sâu vào những cái này để thấy rằng nó không hề đơn giản tí nào, huống hồ gì xem thường, khinh thường như mình. Chính vì không nhìn sâu, không nhìn kĩ, không nhìn đầy đủ, cặn kẽ, cẩn thận nên lậu hoặc qua mặt mình mà mình không hay biết, những cái thô mình còn không thấy được thì làm sao thấy được những cái tế, những cái thọ; tưởng; hành vận hành về bản ngã mình không thể thấy được, vì thế sau khi chia sẻ pháp xong là phải quỳ lạy sám hối diệt ngã, chúng ta phải giữ được truyền thống, nề nếp đó. Bản thân Minh Thành muốn quỳ lạy đại chúng mỗi ngày nhưng đại chúng lại sợ, chúng ta phải tập lạy để xả bỏ bản ngã hư danh, hư ảo.
IV. Thực hành sám hối diệt ngã
"Cách diệt ngã trong bài này là hành giả tập cho tâm mình luôn cúi đầu sát đất dưới chân của tất cả mọi người, dù là người bần tiện hay người cao sang, người lớn tuổi hay người nhỏ tuổi, người tu hay người không tu". (Nghi thức tu học Nikāya)
Sau khi chia sẻ pháp hoặc chia nhóm ra học, pháp đàm thì quỳ lạy vì "chắc chắn trong sự chia sẻ này con còn có bản ngã, con đang ở trong vị trí hữu học hoặc có những cái con chưa sâu sắc trong pháp nên con xin quỳ lạy sám hối để xả bỏ bản ngã", sau đó quỳ lạy những người mình mới chia sẻ pháp, đương nhiên người ta sẽ quỳ lạy lại, đó là hình ảnh đẹp, cùng nhau đánh gục cái ta, đó là vừa có pháp học vừa có pháp hành ngay tại đó. Cái lạy xuống như vậy tương ứng với Thánh pháp vô ngã, đó là sự thể hiện sống động của pháp, mình đã nói lý thuyết, còn giờ là thể hiện pháp bằng hành động. Chúng ta không chỉ kính trọng người lớn tuổi giống như thượng đội hạ đạp mà còn phải kính trọng tất cả mọi người, dù đó là ai.
"Hành giả giữ trong tâm mình hình ảnh thân tướng tứ đại vô thường này quỳ gối với đầu cúi sát xuống đất dưới chân của người. Trong khi thực hành như vậy, hành giả tác ý an trú trong cảm giác ngọt ngào, ngoan hiền, dễ thương, tâm nhẹ nhàng, khả ái và hoan hỉ với cảm thọ khiêm cung, hoan hỉ với hạnh khiêm cung, hạnh quỳ lạy đầu cúi sát đất". (Nghi thức tu học Nikāya)
Không phải là "hình ảnh tôi quỳ gối…" mà là "hình ảnh thân tướng tứ đại vô thường", đây là một sự nhắc nhở tác ý, thân tứ đại ngũ uẩn này quỳ lạy chứ không có cái tôi trong đó, nếu mình còn thấy "tôi quỳ" rồi mình lạy xuống thì không khéo bản ngã lại tăng trưởng. Đây là chỗ sâu sắc, trong khi đang lạy thì thể hiện mình là người biết cách diệt ngã, còn người kia không biết cách diệt ngã. Trong cái lạy đó thể hiện tôi biết diệt ngã, tôi đẹp, tôi hay, như vậy là phản tác dụng, diệt ngã để tăng bản ngã, ngoài đời gọi là khiêm tốn giả tạo, làm dáng khiêm cung để người ta tôn mình lên thêm, cái đó là phản tác dụng. Trong lúc lạy diệt ngã phải quay vào xem trong tâm có đang tự đắc, tự hào, nếu có thì phải diệt từ bên trong, cũng vì lý do đó mà khi lạy phải nói:
Nguyện cho con xả bỏ hư danh này.
Nguyện cho con xả bỏ bản ngã hư ảo này.
Nguyện cho con xả bỏ bản ngã ác độc này.
Nguyện cho con xả bỏ bản ngã ngu si, mê muội này.
Nguyện cho con xả bỏ bản ngã ác độc này.
Nguyện cho con xả bỏ bản ngã nhục nhã này.
Nguyện cho con xả bỏ bản ngã hôi tanh này.
Trong mỗi một cái lạy xuống phải tác ý như vậy để mình trú luôn trong đó chứ không phải lạy không, vì lạy không là bên trong nội tâm vận hành cái gì mình không biết do vô minh. Tuy rằng hình thức bên ngoài đang lạy nhưng bên trong bản ngã hoạt động ngấm ngầm, đang lạy diệt ngã nhưng bên trong lại đang nuôi ngã cho nên mới có câu "Bên ngoài thơn thớt nói cười. Bên trong nham hiểm giết người không dao", nghĩa là nhìn bên ngoài như vậy nhưng chưa chắc bên trong như vậy. Bây giờ mình phải làm cho trong ngoài hợp nhất, thân tâm nhất hướng, cùng trú vào trong sự hạ gục bản ngã, cho nên phải vừa lạy vừa niệm:
Nguyện cho con xả bỏ hình tướng tứ đại vô thường, hư ảo này.
Nguyện cho con xả bỏ bản ngã bẩn thỉu, nhục nhã này.
Nguyện cho con xả bỏ bản ngã khờ dại này.
Vừa lạy vừa đọc lên để thân tâm nhất hướng cùng trú vào pháp diệt ngã, lúc đó tâm thật ngoan hiền vì nó nghe lời mình, nếu không tu dòng pháp này thì dễ gì mình lạy ai, chỉ lạy khi cha mẹ, thầy tổ chết rồi mới khóc lóc lạy lục. Có lạy thì cũng lạy như cái máy, như khúc cây, lạy như vậy không có tâm chân thành, tha thiết, cung kính trong sự mong muốn bản ngã hạ xuống, nằm xuống, mình phải tác ý nghiền nát bản ngã ra thì sau này mới không bị nó quật ngã, còn yếu thì đừng mơ mộng thoát khỏi nó, nhiều khi không nói ra ý hành mà chỉ ngấm ngầm trong cảm thọ. Đây là trí tuệ của bậc Thánh mà không một phàm phu nào có thể thấy nổi.
Có những vị trình pháp nói rằng muốn lạy sám hối nhưng bản ngã bên trong lại thấy ngượng nên lạy Phật thôi, pháp đàm xong muốn quỳ lạy nhưng bản ngã không cho, nó nói rằng "thôi, được rồi. Mình như vậy cũng được rồi, lạy chi nữa". Nó nói sao là mình nghe vậy nên mình là đệ tử bản ngã, đệ tử của dục, tham, ái, đệ tử của vô minh, đệ tử của hơn thua chứ không phải là đệ tử của Thánh trí. Bây giờ mình phải thật sự làm người con chân chánh của Đức Phật, thật sự là đệ tử của bậc Thánh, nghĩa là mình không nghe lời nó nữa, "mày không muốn lạy thì tao bắt mày lạy", "mày không muốn xin lỗi thì tao bắt mày phải xin lỗi", cho nên khi học đạo bên trong Minh Thành đấu tranh như đang đánh quyền anh, mình rất dễ cho qua nhưng đó là đồng nghĩa lậu hoặc qua mặt mình. Khi lạy phải an trú vào cảm giác ngọt ngào, ngoan hiền, dễ thương, tâm khả ái, đáng yêu, mình hoan hỉ với cảm thọ khiêm cung, hoan hỉ với cái hạnh cung kính, hạnh quỳ lạy đầu cúi sát đất vì mình chiến thắng được nó, mình đã bắt nó quỳ lạy được rồi. Ngày xưa nó vênh váo, hống hách, còn giờ mình bắt nó cúi xuống được thì mình hạnh phúc, vui mừng, hân hoan.
Nếu không học Thánh pháp này, không thực tập Thánh pháp này, không lạy sám hối diệt ngã hằng ngày thì hai người đang buồn phiền làm sao quỳ lạy trước mặt nhau, nhất là những người đàn ông thực sự rất khó để lạy sám hối. Những vị hộ pháp của núi này thân cũng to mà tâm cũng rất lớn, thực tập hạnh quỳ lạy diệt ngã với nhau mà toàn thân run rẩy, sau đó trình pháp nói rằng chưa bao giờ họ có cảm thọ như vậy, không ngờ họ có thể làm được như vậy, khi lạy xong là nhẹ nhàng, buông ra bắt tay nhau chứ còn trước đó không muốn nói chuyện với nhau, những cảm thọ hơn thua, sân hận bị bốc hơi sau cái lạy đó, tan biến làm cho thân tâm hài hòa, nhẹ nhàng. Trong đại chúng mà các vị quỳ lạy thật sự chân thành như mình tác ý nãy giờ thì những cảm thọ xấu ác đều bốc hơi, không còn chất chứa trong tâm nữa, đó là sự sưởi ấm của Thánh trí, Thánh pháp, Thánh đạo, đó là những phương pháp làm cho hòa kính, tương kính, tác thành, hỗ trợ, xây dựng, quý trọng lẫn nhau.
Hôm nay chúng ta sưởi ấm bằng Thánh pháp chứ không còn sưởi ấm bằng lo than lửa bình thường nữa.
./.