Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Di Giáo Giảng Giải 18 - Lời Khích Lệ Sau Cùng 1

2026-03-03 00:55:21
Kinh Di Giáo Giảng Giải 18 - Lời Khích Lệ Sau Cùng 1

(Văn bản. Diệu Quang)

“Này các đệ tử hãy thường xuyên nhớ tới tới các công đức để từ bỏ tất cả mọi sự buông lung như tránh xa bọn giặc cướp tài sản thánh thể hiện lòng đại bi, Như lai đã tuyên chánh pháp lợi ích rốt ráo, về phần mình các vị hãy nỗ lực tinh tấn thường xuyên, đừng để cuộc đời trôi qua vô ích mà sau này phải ăn năn hối hận muộn màng, Như Lai như vị lương y rõ biết bệnh lý cho toa thuốc hợp bệnh trạng từng người, uống hay không uống không phải lỗi của thầy thuốc, Như Lai lại cũng là người chỉ đường, chỉ rõ đâu là con đường nên đi và hướng đến giải thoát, biết rõ đường lành mà không chịu cất bước điều đó không phải lỗi của vị đạo sư”.

Hãy thường xuyên nhớ tới các công đức để từ bỏ tất cả sự buông lung giống như bọn tránh xa cướp tài sản thánh, ăn trộm, ăn cướp mà vào nhà mình hay chùa mình, thấy nó đang làm cần câu câu thùng phước sương lúc đó để kệ hay vào chùa dẫn chiếc xe của huynh đệ mình cũng mặc kệ nên mình xem sự buông lung đó cho nên mình phải xem sự buông lung đó giống như giặc cướp, sự buông lung của thân của miệng của ý xem cái đó là giặc cướp, cướp tài sản thánh, đức Thế Tôn nhắn nhủ mình phải luôn luôn nhớ tới công đức vì một số người tu hiểu lệch lạc, hiểu phiến diện vấn đề, cứ nghĩ tu không còn gì, tu là buông bỏ xả tu là bỏ chỗ này là sai lầm, không bỏ hết được mình vẫn ăn cơm vẫn ngủ mình vẫn thở, bỏ là chỉ bỏ những tài sản vật chất danh lợi ở thế gian nhưng lấy thiện pháp, lấy công đức, lấy trí huệ, lấy thiền định, lấy chánh niệm chứ không phải bỏ hết, cũng như mình đi làm cỏ cỏ mình làm còn hoa để lại hoặc làm cỏ xong mình trồng hoa chỗ này phải để ý. Muốn cho từ bỏ sự buông lung phải nhớ đến công đức nếu mình không nhớ công đức từ bỏ buông lung rất khó, phải cái này thế cái kia giống như trồng cỏ nhật hay trồng hoa mười giờ hay dây leo để đừng cho mọc cỏ hoang, tâm mình cũng giống như vậy phải thay thế, muốn cho đừng buông lung phải thường niệm công đức, thường niệm công đức là phải thực tập tưới tẩm chăm sóc cho nó, mỗi ngày mình phải phát khởi thêm lòng tín tâm đối với Tam bảo, đối với sự tỉnh thức, đối với sự tín tâm, đối với giới pháp, đối với sự hổ thẹn, đối với sự nghe nhiều và phát triển tuệ giác của mình, đối với sự bố thí chứ không phải mình xuất gia rồi không còn bố thí không phải đó là cách hiểu sai, chuyện bố thí là của cư sĩ không phải của người tu, coi niềm tin của mình bậc Thế Tôn chánh đẳng giác, coi niềm tin của mình đối với giáo pháp, coi niềm tin của mình với hiền thánh tăng có lớn hơn không, coi giới của mình giữ được bao nhiêu có niệm tụng giới hay không, mình có chim nghiệm học về giới pháp hay không, cái đó là tài sản của mình, coi sự hổ thẹn của mình có nhìn lại mình để hổ thẹn hay không, hổ thẹn đó là tài sản của mình cái này thế gian khó có, nghe nhiều là tài sản của mình, không có ngày nào mình không nghe pháp dù cho nghỉ tết dù cho nghỉ hè, đừng nói chi mình tới lớp càng phải nghe, ‘bác văn quảng kiến’ nghe nhiều nhìn rộng

“Ngu si sanh tử

Bồ-tát thường niệm

Quảng niệm đa văn

Tăng trưởng tuệ giác”

Tăng trưởng trí huệ. Tại sao có dòng đau khổ triền miên quay cuồng là tại vì ngu si mê lầm nên ngu si sanh tử, Bồ-tát thường niệm, ngu si đưa đến sanh tử, mê lầm đưa đến đau khổ nên luôn luôn nhớ tới điều đó để cho mình đừng có chấp nhận với cái nhỏ hẹp của mình, nên quảng học đa văn tinh thần Bồ-tát, Bồ-tát Tất-đạt-đa ở trong bao nhiêu a tăng kỳ để tu hoc, đa văn nó vô cùng vô cực chứ không nghĩ mình học tới tiến sĩ Phật học là xong, Minh thành cũng đang học mỗi khi chia sẻ với huynh đệ cũng đang học chứ không giảng nói được chút là thầy thiên hạ không phải. Trong Linh Quy Pháp Ngữ có câu ‘mãi mãi là người học trò sẽ thông suốt hết mọi điều mọi lẽ ở trên đời’ cho nên Minh Thành rất là cung kính Hòa thượng Thượng Giác Hạ Toàn của chúng ta, chúng ta học với Hòa thượng nhiều năm Hòa thượng tới bây giờ là một vị lãnh đạo lớn của giáo hội, Hòa thượng dạy mình mà xưng là trò như vậy mình càng cung kính hơn, thậm chí Hòa thượng xưng con trò, sự khác biệt giữa Cao tăng với Thấp tăng là chỗ này, càng đa văn càng trí huệ càng khiêm hạ càng thấy hổ thẹn, tàm quý là tài sản của người tu, mới học có chút mà thấy mình tới trên trời đó thất bại lớn, càng học nhiều từng nào càng cung kính nhiều từng đó, tâm chúng sanh phàm phu thường là thích đơn giản cái dễ không có muốn cái phức tạp không có muốn cực khổ, mình muốn tu cái gì dễ mà được cao đó là tâm tham để tu, pháp không phải vậy trên đời này không có cái gì dễ nếu xét kỹ, ví dụ cái chuông nhỏ như vậy mà nghe cái tiếng vậy vì nó đã trãi qua rất nhiều sự nung luyện, sử dụng chất gì làm thành nó là pháp khí bậc nhất ở Nepan, hoa nằm trên bàn như vậy đâu phải dễ biết bao nhiêu thứ không có cái gì dễ, mình muốn cái dễ để thành đạo là vô hữu xứ không bao giờ có nên mình thường nhớ công đức nhớ tới tài sản của người xuất gia, cũng như người ngoài đời mỗi tuần mỗi tháng họ đếm tiền hay họ xem vào tài khoản được bao nhiêu, người xuất gia mình mỗi tuần mỗi tháng cũng phải thấy được tài sản này tăng trưởng cái đó mới là người tu có tâm, một năm, hai ba năm qua cũng vậy không thấy gì như vậy mình đâu có nhớ tới công đức cho nên công đức này quan trọng phải tích tập công đức giáo lý của tạng truyền rất quan trọng, khi Minh Thành sang Nepan là một vị người Pháp mời Minh Thành đi sang khoảng năm ngày mình thấy người ta bên đó vận dụng Thập hạnh Hiền rất là nhiều rất thực tế trong đời sống, các Thầy các Sư bên đó người ta làm ra những cái mạng đà la tên chuyên môn để cúng dường cho Phật, họ lạy Phật nằm ập xuống đó là nhất lễ kính Chư Phật, Nhị giả xưng tán Như lai mới sáng ra đường năm giờ sáng ngồi vỗ tay khen Phật, họ đưa giáo pháp mình tụng họ nói ra thành hiện thực cho nên mình thấy những điều đó rất hay, ví dụ như ngoài đường bui bậm dơ cũ xấu nhưng trong chùa làm như hoàng cung những cái đẹp nhất họ đem lên cúng Phật, tượng toàn bộ bằng đồng dát vàng, cúng Phật chum đồng giống như hoàng thất sử dụng, họ đem cái tốt nhất đẹp nhất giá trị nhất để cúng Phật quảng tu cúng dường, sám hối nghiệp chướng họ lạy nằm dài, luôn luôn hồi hướng vận dụng để tu, cái pháp cúng dường tích lũy công đức như buổi sáng năm giờ mình đi bộ ra tháp thấy bà già để ba bốn chục cái đèn bơ bà tụng kinh rồi bà đốt đèn tụng kinh trì trú, nhìn thấy cái tu người ta hay ra đường cầm kinh luân cầm chuỗi vừa đi vừa tụng trú niệm kinh nên, vấn đề là mình đi để học hỏi để thấy, bây giờ mình phải trú trọng vô tích tập công đức chứ không thể nghèo cùng không phước huệ, phước huệ công đức, mình tu để sập tiệm tu để thiếu nợ tu làm gì thà không tu còn hơn, mình phải dung bồi phước đức trí huệ công đức, công đức đó đầu tiên quan trọng nhất là kho tàng công đức đó là Tam bảo nên bên đó người ta tôn kính Phật Pháp Tăng, thật ra tiêu chí Minh Thành trên Pháp Ấn Minh Thành hay để bảng trang nghiêm, cung kính, tôn trọng, biết ơn đó là tiêu chí khoan cả nói gì cao siêu, đi tới nơi Tam bảo mình phải trang nghiêm trước ăn mặc chỉnh tề nói chuyện đàng hoàng không la lớn chửi thề đây là mình nói cho người cư sĩ, phải biết tôn trọng người khác, tôn trọng môi trường sinh thái, mình phải biết cung kính Tam bảo, phải biết ơn những gì nó đang hiện có ngay giây phút hiện tại, mình đang cảm nhận, mình đang thọ hưởng những cái này là cái căn bản nhất, những cái này là sinh ra công đức, một ngày mình nghĩ tới những người đàn na tín thí lo cho mình gần nhất là những người nấu bếp cho mình ăn, mình có nhớ không hay nghĩ rằng tôi tu phải nấu cho tôi ăn chỗ này là những chỗ rất quan trọng chỗ nhỏ nhiệm tích lũy công đức. Phải nuôi dưỡng lớn tới công biết ơn cảm ơn nhớ ơn đền ơn đối với bậc Bổn sư giáo thọ sư, A xà lê... mà tâm cung kính của mình được bao nhiêu, Đối với những bậc đại ân đức với mình mình không xem ra gì ‘sanh ngã phụ mẫu ngã giả sư trưởng’ mình có được tấm thân hình hài này là từ cha mẹ còn mình có được trí huệ có được tướng giải thoát là từ thầy tổ mình không xem thầy ra gì sao mình thành nên tại sao quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng ngày nào mình lên chánh điện cũng tụng vậy mà xuống không quy y, nương tựa đem hết cả sinh mạng trở về nương tựa với đức Phật với giáo pháp với Tăng. Ở Tây tạng có một vị tổ sư đi bất cứ chỗ nào Ngài cũng giảng ba pháp quy y, người ta cũng gọi là hành giả quy y, học giả quy y, tới chừng vào học bật ngửa pháp quy y rất sâu tới chừng thành Phật mới viên mãn ba pháp quy y tới đó cũng không có bỏ, quy y không phải ghi danh Tam bảo, Tam quy ngũ giới không phải đó mới hình thức tiểu học, quy y Tam bảo rất sâu, mỗi cử chỉ hành động ngôn ngữ lời nói của mình đối với Tam bảo mình có sự cung kính tôn trọng biết ơn hay không đó là sanh ra công đức nên Tam bảo là công đức tạng là kho tàng của công đức, từ đâu mình có ra được Phật giáo từ đâu mình có ra chùa, thiền viện, tịnh viện, tu viện, học viện từ đâu mình có ra được các Tổ sư, ở đâu mình có ra hình tướng xuất gia của mình chiếc y của mình tất cả đều từ Tam bảo nên công đức tạng kho tàng công đức là từ nơi Tam bảo, chỗ quy kính Tam bảo là quyết định cho người xuất gia và người cư sĩ, không có cái tâm này đừng nằm chim bao mà được đắc đạo đắc pháp đây là nền móng, bên HongKong muốn xây cái nhà cao lên trăm thước hay tám chục thước móng ở dưới phải cả trăm thước nên móng là tôn trọng biết ơn cung kính Tam bảo, bản thể của người xuất gia hay cư sĩ công đức tạng kho tàng của công đức nên mình phải luôn luôn nhớ tới công đức để từ bỏ buông lung, cái buông lung của mình rất dễ mình không nhớ công đức là buông lung, Minh Thành không nói đâu xa chuông vừa reo ra về là mình buông lung, tại sáu căn ba nghiệp của mình tập khí dãy đầy, một tiếng chuông nói hết tất cả sự buông lung nếu người thật tu chuông thì chuông không quan tâm vẫn bình thản vẫn nhiếp niệm theo hơi thở, mình nghe tiếng đó động ba nghiệp sáu căn nên buông lung trực chiến hai mươi bốn trên hai mươi bốn, trừ khi lúc nào nó bị bắt vô thời khóa ngồi thiền hay thời khóa ngồi học hay tụng kinh ráng kiềm buông ra là phùng mang trợn mắt nhe nanh đó là con quỷ buông lung, con ma bên trong. Bên Mỹ Minh Thành hướng dẫn mấy khóa tu bên đó người ta không cho giờ hở nếu hở là đạo tràng ồn ào nên thời khóa tu bên đó liền lạc xuyên suốt xong là về mới yên lặng được đạo tràng, hình ảnh Minh Thành ấn tượng suốt đời không quên là ông A-xà-thế tới thăm đức Phật một ngàn hai trăm vị Thánh tăng mà im thinh thích, ông sợ, phải vượt qua sự buông lung đó mới thành tựu được. Niệm-định mình muốn thực tập cái này đòi hỏi mình rất vi tế, Ngài Ca-diếp trong Chánh tạng Bali nói ta giờ giống con trâu không có sừng không húc được ai nữa, phải giống được vậy, con trâu không gặp được sừng không làm ăn được nữa người tu tâm thuần cũng giống như vậy, muốn cho nó thuần tới đó thì rất cay đắng, mình cho nó thuần tới đó phải thường nhớ nghĩ, tích tập, tích lũy luôn luôn tích lũy bảy cái tài săn.

“Thể hiện lòng đại bi Như Lai đã tuyên bố chánh pháp lợi ích rốt ráo, về phần các ông hãy nỗ lực tinh tấn thường xuyên đừng để cuộc đời trôi qua vô ích mà sau này phải ăn năn hối hận thì đã muộn màng”

Không cần học thuộc trú đại bi trú vãng sanh mà học thuộc cái này, cái này gấp một triệu lần đại bi vãng sanh, thể hiện lòng đại bi, tình thương bao la của ta, ta đã tuyên nói chánh pháp, lợi ích rốt ráo cho các ông về phần các thầy phải nỗ lực tinh tấn thường xuyên không có phút giây nào không tinh tấn, đừng để cho cuộc đời trôi qua một cách vô ích.

Vừa rồi trên núi Minh Thành có tâm sự bốn mươi bốn năm một giấc chim bao thời gian trôi rất mau mới nhớ ngày nào mình bảy tuổi đi chùa, mười tuổi ăn chay trường, mười bảy tuổi cạo tóc, mười chín tuổi vào trường Phật học mới chớp mắt cái đã bốn mươi bốn năm, mình đừng nghĩ thời gian nó lâu, tới chừng tuổi già

Như cò gia bên ao ủ rũ không tôm cá, như cây cung bị gãy thở than tháng ngày qua

Lúc già không có phước báu không có công đức trí huệ mình nằm đó mình rên rỉ thậm chí mình nhìn những nghiệp tội mình làm, những ác pháp mình đã gây ra phá trai phạm giới những cái buông lung tạo nghiệp phỉ báng Pháp Tăng lúc đó hiện ra phải đi ra ba đường ác nên lúc này là lúc mình tinh tấn nỗ lực, phải mình thường xuyên liên tục, mình nhìn lại giới pháp của mình thấy rất hổ thẹn sao tròn hết, tròn hết là giới ba la mật, bao nhiêu bổn phận người xuất gia mình làm được bao nhiêu nếu bình thường nhìn lại mình raqats hổ thẹn, chữ tàm quý này rất quan trọng, người luôn luôn nhìn lại là lúc nào cũng thấy hổ thẹn, mình thấy trôi qua một cuộc đời vô ích ăn năn hối hận muộn màng nên bữa Minh Thành ra Viên Không đón Ngài Tam tạng Pháp sư bên Miến Điện thứ mười một Ngài học thuộn ba mươi mấy ngàn trang A4. Vương vương tự đắc, bản ngã cái tôi không chịu khuất phục, khai thác hai pháp tàm quý nên làm sao mình tiến bộ, hai ngàn năm đào tạo ra được mười bốn vị Tam tạng Pháp sư duy nhất một mình Miến Điện mới có trên thế giới không có, tâm nguyện Minh Thành sau này rước huynh đệ lê núi tụng Tương ưng bộ kinh, đủ duyên tụng đủ bộ Nykaya tựng Tam tạng kinh điển bằng Tiếng việt, những cái đó là để mình tích tập công đức khi già mình nằm trên giường cười tại vì mình đã cố gắng hết những cái có thể làm được, cười vì đó là thiện pháp. Có những huynh đệ già bệnh rồi sợ hãi hoãn loạn, có những vị mê man có những vị buồn bã có những vị mỉm cười ra đi không phải tu sĩ mà là cư sĩ, ví dụ như cô Phật tử Minh Thành biết con cô làm phước cũng nhiều, cô không biết tu nhiều nhưng sống hiền lành tốt tính ít nói, tới chừng bà gần ra đi, bà kêu con cháu lại hết bà nhắn nhủ xong rồi bà đứng lên bắt tay từng người đi xuống nằm lăn trở ôm gối rồi đi, bây giờ mình không thấy nhưng tới lúc viên mãn kiếp người mình mới thấy công đức giá trị như thế nào nếu mình có tu tập có thường quán xét thân tâm công đức biểu hiện trong mỗi phút mỗi giây, mình có công đức thường sống an tịnh sống thảnh thơi tâm rất bình an, mình không có công đức luôn luôn lúc nào mình cũng lo lắng sợ hãi buồn phiền hận bực đủ thứ, người có công đức nhìn tư gương mặt từ dáng vẻ phong thái bình an thảnh thơi tịnh lạc đó là biểu hiện của công đức, người tâm tham cứ để ý hoài sao bình an, cứ lo nhìn cái này cái kia lo kiếm, còn người sân nhìn mặt thảm, còn người si lúc nào cũng lờ đờ sáng nhìn như sì ke ma túy, biểu hiện tướng của công đức ví dụ trong chùa mình nếu thấy vũng nước tự mình lau không cần kêu ai nếu mình kêu người khác làm nó khác, mình lại làm tự mìnhlàm đó là công đức, làm xong không kể không khoe không nhắc không cự, vào tolet cũng vậy nếu mình nhìn dơ không sạch mình dọn dẹp đó là công đức rất hay, tất cả những chuyện nhỏ đó đều là công đức hay, ví dụ mình thấy huynh đệ ở gần phòng hay ở chúng thấy ông giới bị ốm, giới ôm là đêm khuya cứ bấm điện thoại mình cười kinh không đọc pháp không nghe mặt mày xanh xao ốm yếu, mình thấy ông này cũng có duyên mà ông cũng có tâm tu nên nói tối nay mình rủ ông uống trà rồi khơi chuyện có gì mình góp ý nhắc nhỏ để ông quay lại đường tu, cái quan trọng trong Phật giáo mình là tránh duyên nếu tuổi trẻ mình cái đó nặng nhất, tránh duyên giúp cho mình rất tốt, tiếp duyên nhiều rất nguy hiểm nên đức Phật sắp nhập Niết bàn Ngài A-nan hỏi đức Phật sau này chúng con phải đối với Tỳ-kheo Ni như thế nào? đức Phật trả lời đừng có tiếp xúc, Ngài A-nan bạch Thế Tôn nói rủi như có chuyện phải tiếp xúc, đức Phật nói đừng có nhìn thẳng đừng nói chuyện nhiều, Ngài A-nan hỏi nữa đức Phật nói chánh niệm tỉnh giác cho nên tiếp xúc rất dễ những đối tượng mà mình có tâm tham ái là mình có sự thực tập phải kỹ nên nỗ lực tinh tấn thường xuyên là viên mãn kiếp người mình thấy là cái gì mình bỏ công ra nó không uổng phí, lúc đó mình mới thấy giá trị trọn vẹn của nó trong bình thường mình cũng thấy mà thấy không rõ lắm không có mất.

Đức Phật cũng giống như vị thầy thuốc biết rõ bệnh ý rồi cho toa hợp với bệnh trạng từng người còn uống hay không uống cái đó là phần của mình chứ không phải phần của lương y, đức Phật ra toa rất nhiều toa, sân uống thuốc nhẫn uống thuốc từ tâm, tham thì uống thuốc vô thường, si thì uống thuốc quán nhân duyên, có đủ thuốc hợp với bệnh trạng từng người. Trong Thanh tịnh đạo luận về chúng ta đọc quyển đó là tập đại hành pháp hành của Phật giáo ta mấy ngàn năm nay, Thanh tịnh đạo luận Ni sư Trí Hải dịch, tất cả pháp hành của Phật giáo đều nằm trong đó, mình đọc trong đó xme mình thuộc bệnh gì chữa thuốc gì đều có trong đó nên tụng kinh niệm Phật trì trú là tốt nhưng dừng lại là chưa được, chưa có đủ, phải phát hiện ra mình đang bệnh tìm thầy thuốc có thuốc uống đúng thuốc đúng bệnh mình mới uống uống, đúng liều lượng điều độ uống dài lâu bệnh đó mới hết, còn mình có thuốc sẵn không chịu uống sao hết bệnh. Tại sao người ta đọc kinh Kim Cang có một đoạn người ta vận dụng chút xíu trở thành tỉ phú viết ra cuốn kim cương năng đoạn phổ biến khắp thế giới ông lấy có chút trong kinh Kim cang mà thành tỉ phú, mình ngày nào cũng tụng kinh Kim cang mà không thấy gì trắng tay, mình không biết vận dụng được công đức trí huệ trong đó quan trọng lấy ra để xài, làm sao lấy ra để xài thực dụng giống như là uống thuốc trị bệnh.

Ví dụ thứ hai đức Phật giống như người chỉ đường chỉ rõ đâu là con đường nên đi để hướng tới giải thoát biết rõ đường lành không chịu cất bước thì đâu phải lỗi của thầy, “đường này là đường sanh tử đường kia là đường Niết bàn Tỳ-kheo phải ý thức rõ ràng” kinh Pháp cú

“Hoặc cạnh núi rừng hay cạnh đồng vắng hoặc dưới đại thọ các Ngài hãy ở một cách thư thái trong tịnh thất nhỏ, nhớ và chim nghiệm chánh pháp đã tiếp nhận đừng có để cho quên mấ, lựa một chỗ thanh vắng tịnh mịch như núi rừng, gốc cây khe suối, hang đá, bãi tha ma ngoài trời hay đống rơm, các vị ngồi kiếp già lưng thẳng an trú niệm trước mặt”

Ở trên Linh Quy mấy khóa tu Minh Thành cho các huynh đệ mệnh người nào muốn tìm gốc cây nào tìm không nhất thiết ngồi chung nhìn hay ngủ gục, ông nào muốn ngồi đâu ngồi đó là trung thành với đức Phật giúp mình, hình thức mới ban đầu giúp mình vào đạo nhưng sâu vào là tiến tới nội hàm hình thức đó chỉ là nhỏ, ngồi đắp y mặc áo hậu đẹp thẳng hàng mà trong tâm không có viễn ly, không nhàm chán không xuất ly cũng đâu có bằng mình ngồi bên gốc cây hay đi tản bộ ven rừng.

“Đi bộ giữa gió rừng

Như được quạt êm mát,

Thong dong trên phiến đá

Như sân thượng cung vua,

Bao giờ tôi thảnh thơi

Đến ở nơi hoang vắng

Với tàn cây hang động

Không lưu luyến trần gian” (Tịch Thiên Bồ-tát nhập Bồ-tát hạnh).

Bao giờ tôi mới được đến bãi tha ma đầy xác để quán chiếu thân này giống như đóng xương kia cuối cùng phải hoại diệt, mai kia tôi chết đi không bà con không thân quyến một mình ở trong hang động không dính dáng với tục lụy của cuộc đời những ý nghĩ của Bồ-tát Tịch Thiên truyền tải trong nhập Bồ-tát hạnh rất quan trọng. Ở bên Tây tạng, Ấn độ, Nepan Phật giáo ai vô cũng phải học quyển Nhập Bồ-tát hạnh, quyển này là tóm thâu Tam tạng thánh giáo, Minh Thành qua đó được gặp các viện trưởng học viện quốc tế, gặp các vị Cao tăng ngày nào lại cũng nhắc Nhập bồ tát hạnh nên huynh đệ phải tìm học cuốn đó, có nhiều bản dịch của Ni sư Trí Hải là văn vần, của Nguyên Hiển là thơ, thầy Nhật Từ có cộng tác dịch trong đó rất hay cho nên sự thanh thoát của người xuất gia rất an lạc, mình hãy tập đời sống viễn ly đời sống xa lìa, đừng có huệ lụy vào trong vật chất tài sản hay chùa chiền bổn đạo, tuy mình sống trong đó nhưng tâm mình viễn ly nó an lạc, mình thực tập chỉ có mình nếm mình mới thấy nó kỳ diệu đặc biệt, muốn đi sách nãy đi không lưu luyến cũng không có đồ không có người nào không có sợi dây nào cho nên Minh Thành nhớ Hòa thượng Tinh vân có nói chữ ‘Vân thủy tam thiên’, mây nước ba ngàn, tam thiên đại thiên thế giới, cả đại thiên hệ người xuất gia mình giống như mây như nước đi qua quá sướng nhưng lại muốn sướng như mây trôi nước chảy không có gì lưu luyến nhiều, cứ quán chiếu Vô thường Khổ Không Vô ngã, không đặt cái gì quan trọng trong lòng nên câu thấm thía vô cùng tức là trong thiền tạng trong Ngũ gia ngữ lục của Ngài Quy Ngưỡng và Ngài Ngưỡng Sơn lúc đó có vị Tăng hỏi Ngài, Ngài đáp câu ‘vô nhất pháp khả đương tình, dịch Tiếng Việt mình dễ hiểu là ‘không có cái gì đáng để trong lòng’, câu này là bí quyết của Thiền gia nếu nói danh từ chuyên môn của Phật giáo mình là ‘vô trước chánh đẳng giác’, tại sao Vô trước vì chánh đẳng giác, chánh đẳng giác là giác ngộ một cách chân chánh là thấu suốt bản chất của vạn vật là trống không là trống rỗng không có gì dính mắc, yếu chỉ trong bộ giáo pháp, thấy rõ bản chất của vạn vật là trống rỗng thì có gì mà đáng để trong lòng, có gì mà để vương vấn nên thảnh thơi, yếu chỉ tu hành của Linh Quy Pháp Ấn là thảnh thơi tự tại. Làm sao thấy được mọi pháp là trống rỗng cái đó thấy được đòi hỏi trí huệ thiền tuệ công phu quán chiếu của mình là Tứ Niệm xứ, quán xét thân tâm. Đức Thế Tôn chỉ mình con đường rồi mình không chịu thực tập thì mình ráng chịu, có thực tập mình mới nếm được hương vị nhiệm màu bất khả tư nghì có khi là vô sở trước chánh đẳng giác.