Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Ái Dục 7 - Tuỳ Duyên Hay Tuỳ Dục

2026-03-03 00:55:22
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

ÁI DỤC 7

TUỲ DUYÊN HAY TUỲ DỤC

–Thích Minh Thành–

Sáng nay có chú Phật tử làm công quả nói chuyện với Minh Thành, chú hỏi rằng "sao thầy cho đại chúng nghe pháp nhiều quá vậy?", đại chúng có nghĩ giống như vậy không? Có thấy là Minh Thành cho nghe pháp nhiều không? Bây giờ Minh Thành hỏi lại mỗi ngày mình ăn cơm có nhiều không? Ngày nào cũng ăn cơm vậy có nhiều không? Ngày nào cũng uống nước, vậy có nhiều không? Ngày nào mình cũng thở thì có nhiều không? Tại sao mình không hỏi tại sao ăn nhiều vậy, tại sao uống nhiều vậy, tại sao ngủ nhiều vậy, tối ngủ, trưa ngủ? Tại sao mình không than vãn những thứ đó? Nếu hôm đó nghỉ ăn, nghỉ ngủ, nghỉ thở thì hôm đó cũng được nghỉ nghe pháp.

Minh Thành chiêm nghiệm thấy lạ lắm, người ta vác máy ra cắt cỏ suốt ngày không thấy mệt, người ta làm thợ hồ, thợ mộc suốt ngày này tháng nọ không than, người ta xem bóng đá thâu đêm suốt sáng lại thấy thích thú, người ta đi du lịch cả tháng vẫn không thấy nhiều nhưng khi nghe pháp lại thấy nhiều, do đó tâm chúng sanh là một cái tâm thuận với dục lạc, không ưa thích sự thật chánh pháp. Người đời có những suy nghĩ này thì còn hiểu được nhưng đối với người xuất gia cũng có ý nghĩ nghe pháp như vậy là nhiều thì thật không chấp nhận được, ý nghĩ đó là ma, không phải tinh thần của người cầu đạo cho nên hôm nay có suy nghĩ muốn nghỉ nghe pháp một ngày thì hôm đó sẽ nghỉ ăn, nghỉ uống, không ngủ, không thở, vậy thì mới được nghỉ nghe pháp.

Mình phải xem pháp giống như miếng ăn, giống như hơi thở, giấc ngủ, nước uống, mình đi qua đi lại nhiều mà sao không thấy là đi nhiều, mình nói chuyện hoài mà không thấy là nói nhiều, mình phải lấy pháp là thời khóa, không nghe pháp buổi sáng thì cũng nghe buổi trưa, không nghe buổi trưa thì cũng phải nghe vào buổi tối, nghe pháp phải trở thành chất liệu không thể không có trong một ngày, nó là thức ăn của tinh thần. Mình phải tác ý, suy nghĩ, nhìn nhận như vậy thì mới hoan hỉ trong pháp, khi nào mình nghỉ ăn cơm, nghỉ uống nước, không thở, không ngủ thì hôm đó sẽ được nghỉ nghe pháp nhưng riêng với Minh Thành, nghỉ thở nhưng pháp vẫn phải luân chuyển, khi tấm thân này tan rã thì lúc đó pháp rực sáng nhất, đối với bản thân Minh Thành pháp là hơi thở, là sự sống, pháp không còn là một điều giống như đến giờ mới lên nghe, mở kinh ra đọc mà pháp phải như hơi thở. Trong từng cái nhìn, cái nghe, trong từng cái ngửi nếm, cảm xúc, trong sự thức tri, trong nhận thức rõ biết thì pháp phải hiện hữu, phải có mặt, pháp phải được vận hành, phải được vận chuyển, nhờ nghĩ như vậy nên mới có Minh Thành Nikāya ngồi trên núi rừng này, còn nếu không nghĩ như vậy sẽ không có Minh Thành Nikāya ngồi bên bụi trúc với mọi người.

Mình thấy lạ cho chúng sanh, lạ cho hữu tình vì họ thấy lạ với pháp, họ thấy xa cách với pháp, họ không muốn gần pháp, không muốn thân cận với pháp, họ không muốn kết bạn thiện hữu với pháp mà chỉ muốn kết bạn với sáu trần, với âm thanh, mùi vị, với những sự tiếp xúc, họ thích kết bạn với những cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm về những thú vui thường tình của thế gian, họ không muốn thân cận với sự thật, như vậy họ mãi mãi rời xa sự thật, sống trong sự giả dối, sống trong khổ đau. Mình có cảm nhận được sự hạnh phúc trong giây phút hiện tại này không? Nó thật sự rất nhiệm màu mà tại sao mình lại không cảm nhận? Mình đừng bỏ giây phút hiện tại để chạy theo những sự viễn vông. Trong giây phút hiện tại này đang có trúc vàng lá xanh, gió thổi đu đưa, tam bảo hiện tiền, có tình huynh đệ, tình pháp ngữ, có lục hòa kính, có sự mát mẻ đồng thời có sự ấm áp, có sự tinh vi, nhỏ nhiệm, sâu sắc đồng thời cũng có sự bao la, rộng lớn thênh thang. Mình bị sự thúc giục (dục), yêu thích (ái), ham muốn (tham) làm mình đánh mất hiện tại, ngày xưa học trong trường nghe nói đến ái dục thì mình chỉ nghĩ là chuyện nam nữ, đến khi đi vào trong Nikāya mới thấy ái dục nó rộng lớn hơn rất nhiều, vì ái dục nam nữ là cái nặng nhất, nổi bật nhất nên được nói đến nhiều nhất chứ thật ra ái dục còn bao trùm cả sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp.

Bình thường hay nghe nói đến tùy duyên, nghĩ là lúc đó xem mình muốn làm hay không, cái đó không phải tùy duyên mà là tùy dục, mình cần phân biệt vì đa số thường là hiểu lầm cái này, tùy duyên thuận pháp khác với tùy dục, tùy ái, tùy tham.

"Tâm khó thấy, tế nhị,

Theo các dục quay cuồng.

Người trí phòng hộ tâm,

Tâm hộ, an lạc đến".

(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 36)

Bài kệ trên chính là một sự tùy dục, chỉ có thành tựu trí nhận diện ngũ uẩn mới thấy cái nào là tùy dục, cái nào là tùy duyên. Nếu không thành tựu chánh kiến sẽ đi theo sự yêu thích, đi theo tham muốn, thúc giục mà mình không hề hay biết, mình nghĩ rằng đó là một sự tùy duyên nhưng thật ra lại là tùy dục. Mình đi theo cảm giác thúc giục, mình đi theo sự tham muốn trong tâm, chú Thiện Cần nói rằng trưa nay muốn đi ngủ nhưng sau khi nghe pháp lại muốn thức để đi trồng rau, lúc đó tâm mình đang thúc giục đi ngủ chứ mình không tùy thuận pháp vì pháp lúc đó đang diễn ra là một sự thiện pháp, có ích cho mình, tăng thượng giới định tuệ cho mình nhưng trong tâm lại đang có sự thúc giục, tầm cầu đi ngủ. Nếu ngồi nghe pháp mà tâm lại suy nghĩ muốn đi ngủ, nếu không ngủ thì mệt, có hình bóng mình nằm xuống gường êm ái, tuy là thân đang ngồi nhưng tâm lại hướng đến cái gường thì gọi là tầm. Chỉ có nhận diện ngũ uẩn mới thấy được hết những cái này, thấy rồi mới thấy sự tu này tuyệt diệu đến dường nào, nhìn ra được sự sanh khởi, an trú, vận hành, những chiều hướng, hoạt động của ba cái tham, dục, ái này.

Minh Thành cảm hứng ra dục là con heo vì cái dục này thích ăn, thích ngủ, thích chơi, thích buông lung phóng dật, bản ngã là con rắn độc vì nó rất thâm độc, tâm hướng ngoại là khỉ vượn, nếu ba cái tâm này mình không nhìn thấy, không nhiếp phục, không hạ gục được nó thì muôn đời vạn kiếp tu không tiến, không thể nào thể nhập được vào dòng Thánh trí tuệ. Khi nói tham, dục, ái rất trừ tượng, mông lung, mình không biết rõ được nhưng khi nói yêu thích, thúc giục, ham muốn mình sẽ hiểu được ngay. Ưa thích sắc, khi thấy cảnh đẹp là sanh khởi lên sự thúc giục, ham muốn, tâm rất khó thấy những điều này nếu không nhận diện được năm uẩn, nếu không được hướng dẫn nhận diện ngũ uẩn thì tu đến chết cũng không thấy được tâm, nếu được học mà bỏ qua một bên thì cũng giống như chưa được học, nếu học mà chỉ nhận diện sơ sài, qua loa, thô sơ thì cũng không thấy được tâm.

Như vậy khi có sự thúc giục về một sắc nào đó mình phải biết, khi có sự thúc giục chạy vào bếp để ăn thì mình phải thấy trong tâm đang có sự thúc giục, phải thấy sự thúc giục đó nên hay không nên, thiện hay bất thiện, giờ đó ăn rồi ngồi thiền được không, có học được nữa không, nếu là bất thiện thì nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận nó. Nhiếp phục sự ưa thích bất thiện, nhiếp phục sự thúc giục làm việc bất thiện, nhiếp phục ham muốn bất thiện pháp, sau đó là chế ngự, sự chế ngự này giống như đạp thắng, đạp phanh lại, cuối cùng là đi đến đoạn tận cho nên sự yêu thích, ham muốn và thúc giục này rất ghê gớm, nếu không nhận diện ngũ uẩn thường xuyên thì không thể biết được nó. Chỉ riêng việc nói chuyện thôi cũng phải xem có sự thúc giục muốn nói không, khi nói có sân si, có hơn thua, bản ngã không, nếu không nhận diện ngũ uẩn một cách sâu sắc, tâm không đủ yên định, trầm tĩnh thì cái nói đó là nói trong dục nên không thể kiểm soát được lời nói, nếu lúc đó khó chịu sẽ bung ra những lời nói sân hận, gay gắt, cộc cằn, cay đắng, những lời nói làm hại mình hại người, những lời nói làm chia lìa, rạn nứt, tan rã rồi đưa đến đau khổ cũng chỉ vì không nhận diện được sự thúc giục trong lời nói. Đối với việc ăn cũng vậy, phải biết món này ăn có ảnh hưởng sức khỏe không, ăn ở mức độ nào là vừa đủ, nếu không chỉ thấy thức ăn ngon là cứ ăn nhiều vào, tích tụ nhiều trong cơ thể thì cũng có ngày bị bệnh.

Như vậy phải thường xuyên để ý cảm giác yêu thích, thúc giục, ham muốn đối với mọi cảnh sắc, đồ vật, đối với mọi âm thanh, mùi vị, mọi sự tiếp xúc và đối với mọi hình bóng, nghĩ tưởng trong tâm. Trong hình bóng đó có những hình bóng thúc giục, có những hình bóng làm mình yêu thích rồi nó ẩn hiện, ám ảnh trong tâm, nếu không phát hiện ra đó chỉ là sắc ái, sắc tưởng thì mình chết chìm với nó. Sắc ái là sự ưa thích hình bóng bên ngoài, sau khi đi về thì hình bóng đó ẩn hiện trong tâm thì gọi là sắc tưởng, mình suy nghĩ về hình bóng đó thì gọi là sắc tư, tâm mình hướng về hình bóng đó là sắc tầm, mình bám chặt vào hình bóng đó là sắc tứ. Nếu không có sự nhận diện sâu sắc trong tâm yên định thì làm sao thấy nổi những pháp này đang vận hành? Đó chính là sự nhận diện ngũ uẩn, khi nó sanh khởi lên là mình nhập cuộc, hòa chung với nó thì làm sao mình thấy được các pháp? Đó là lý do phải học Tứ Niệm Xứ, nhưng hiện tại mình đang ngưng lại phần quán pháp trên các pháp vì cần phải có pháp học, pháp hành sâu sắc thì mới có thể quán pháp trên các pháp.

Khi thấy một hình sắc, cảnh vật, món đồ mà có sự thúc giục bên trong thì gọi là sắc dục, nếu mình ham muốn thì gọi là sắc tham, chỉ riêng một cái sắc này thôi đã giết chết chúng ta vô lượng kiếp rồi chứ đừng nói gì đến tiếng, âm thanh, mùi vị và những sự xúc chạm. Chỉ một sắc uẩn mà sanh ra sắc ái, sắc dục, sắc tham, sắc tầm, sắc tứ, sắc tưởng, sắc tư là do mình không thành tựu trí tuệ về sắc, không thấy biết những yếu tố cấu tạo nên sắc, không biết bản chất của nó, không biết tại sao nó sanh khởi, tại sao nó tan rã và con đường đưa đến sự chấm dứt của sắc. Chính vì vậy nên cần phải học bảy trí về sắc, vậy mà giờ nói rằng chỉ muốn học cái gì đơn giản thôi chứ khó quá không học được thì làm sao tu, làm sao phá nổi sắc, nếu không phá được sắc, không thấy sắc chỉ là đất, nước, gió, lửa, nó chỉ là thứ đồ gốm dễ tan rã, dễ bể nát, mình không thấy nó nhận chìm mình dưới vũng lầy, mình không thấy nó là thứ tai hại thì làm sao mình phá vỡ được một đống sắc, làm sao phá được sự ham muốn đối với sắc, làm sao phá nổi sự thúc giục trong tâm đối với hình bóng, món đồ, cảnh vật, làm sao phá nổi sự yêu thích đối với sắc tướng đó, mười năm không quên được đôi mắt của người xưa thì cái đó chính là sắc tưởng, nó ám ảnh trong tâm khủng khiếp như vậy cho nên Đức Thế Tôn nói phàm phu bị sắc; thọ; tưởng; hành; thức ám ảnh.

"Có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy bị ám ảnh: 'Sắc là ta, sắc là của ta'. Do bị ám ảnh: 'Sắc là ta, sắc là của ta' khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, I. Nakulapità)

Khi đã bị nó ám ảnh thì phải suy nghĩ về nó liên tục, hướng tâm về nó dù cho hình bóng đó đã mất rồi. Có một cô Phật tử có duy nhất một người con gái rất dễ thương, hiếu thảo, học giỏi đã chết, cô này ngày đêm khóc thương, nhớ nhung con, thậm chí muốn chết theo con. Cô sống trong sự đau khổ như vậy hơn sáu năm, cô bị sắc tưởng ám ảnh, bị những suy nghĩ, hình bóng của đứa con ám ảnh trong tâm, cô hướng tâm về con mình và cô bị mắc kẹt trong đó không thể thoát ra. Đến khi cô gặp Minh Thành thì Minh Thành mới chia sẻ những phương pháp thực hành để cuối cùng cô giải phá được hình bóng con gái cô ám ảnh trong tâm, bây giờ cô quý sự sống còn hơn lúc trước, không muốn hủy hoại sự sống của bản thân nữa, cô quý trọng sự sống từng ngày để cô tu tập. Vì vậy điều quan trọng vẫn là nhận diện ngũ uẩn để thấy được đống sắc uẩn đó, quay về nội tâm nhận diện ngũ uẩn, còn nếu hướng ngoại thì chỉ là tùy dục, tùy tham, tùy ái chứ không phải là tùy duyên thuận pháp.

Ví dụ mình rất thích món ăn nhưng khi chế biến xong, chuẩn bị ngồi ăn thì có người lại giành mất thì lúc đó mình ra sao? Cái tu của mình nằm ở ngay đây, chính là hương và vị mà mình không nhiếp phục nổi nó thì làm sao mình tu, mình phải xem đây là cơ hội để mình bố thí, cúng dường, đây là cơ hội để mình nhìn ra tâm tham dục, tham ái đối với hương vị, đối với cái lưỡi, đây là cơ hội để làm bài tập cho mình thăng tiến trong tu học, đây là cơ hội để mình nhiếp phục dục, tham, ái, những sự yêu thích trong món ăn, thúc giục trong món ăn, say sưa mùi này, suy nghĩ như vậy để thấy hoan hỉ cúng dường thì gọi là tùy duyên thuận pháp, còn nếu cứ ngồi tiếc món ăn đó, tiếc công sức bỏ ra nấu chưa kịp ăn đã bị giành mất rồi tức giận thì đó là tùy tham, tùy dục, tùy sân, tùy ái, tùy bản ngã chứ không phải tùy duyên thuận pháp. Khi gặp cảnh chướng tai gai mắt nhưng lại lấy cái đó làm sự tiến đạo, tác ý phù hợp với pháp, tương ưng với sự thật, thấy được tính chất vô thường, duyên sanh, tạm bợ, trống rỗng, an trú trong pháp chứ không chạy theo sự yêu thích, thúc giục, ham muốn, nóng giận, ta đây, trong hoàn cảnh đáng giận nhưng không giận, trong hoàn cảnh đáng sân nhưng không sân, đáng tham nhưng không tham, đáng dục nhưng không dục thì gọi là tùy duyên thuận pháp.

Trước nay mình hiểu sai chữ tùy duyên, giả sử mình nghĩ "ngày mai rảnh thì đi, không rảnh thì thôi" thì đó là tùy dục chứ không phải tùy duyên, thích thì đi, không thích thì thôi thì đó không phải là tùy duyên. Duyên là đang chuẩn bị ăn nhưng có người đến giành mất thì đó là duyên nhưng ngay đó tâm vẫn bình an, lắng dịu, vẫn nhiếp phục cảm thọ sân hận, bản ngã thì gọi là tùy duyên thuận pháp. Làm việc mệt nhọc suốt cả sáng, đến giờ đi ngủ thì sư phụ gọi ra nghe pháp thì phải thấy may mắn, được nghe thêm pháp thì cái đó là tùy duyên thuận pháp, còn khi học thì học như vậy, nghe thì như vậy nhưng khi trở ra lại đi theo tập khí, thói quen thường tình, nếu giờ này không nghe pháp mà ở dưới phòng thì làm sao mình có được thân hành an tịnh như bây giờ, những cảm giác, nghĩ tưởng làm sao tập trung được hết vào thiện pháp, thánh pháp như bây giờ. Nếu lên ngồi nghe pháp thì sẽ đem hết tâm để thọ nhận pháp, suy tư pháp, quán chiếu, tác ý vào pháp thì gọi là tùy duyên thuận pháp, còn ngồi nghe pháp nhưng trong đầu lại thấy mệt mỏi, chán nản thì đó là không khéo léo tùy duyên thuận pháp, không khéo léo tăng thượng, tăng trưởng trong giới định tuệ, tăng trưởng trong trí tuệ.

Khi qua Myanmar vào thăm chùa của các vị tam tạng pháp sư thì hình ảnh làm Minh Thành ấn tượng không thể quên là chỉ cần bước đến cổng chùa thôi đã nghe tiếng các vị thầy đến các chú tiểu học kinh tiếng Pali vang dội suốt cả ngày, khi mắt vừa thấy, tai nghe như vậy rồi có cảm thọ thì Minh Thành tưởng ra Linh Quy Pháp Ấn mai đây cũng sẽ được như vậy, khi vào là thấy ngồi thiền hoặc học pháp, chỉ có hai điều đó thôi, một là sự im lặng của bậc Thánh và hai là tuyên dương diệu pháp.

Nhiều lúc mình bị đặt tâm sai hướng, mình đến đây để học pháp, cầu pháp, thực hành pháp chứ không phải đến đây để làm cái này, làm cái nọ. Tuy rằng vẫn làm để công quả nhưng phải biết những thứ đó chỉ là thứ yếu chứ không phải chính yếu. Mình đặt tâm sai hướng là do mình tùy dục, tùy tham, tùy ái, mình bị sự ưa thích dẫn dắt làm mình lạc đường mà mình không hay biết, mình bị sự thúc giục dẫn dắt, mình bị sự ham muốn dẫn dắt, đó là tùy dục, tùy tham, tùy ái, tùy bản ngã chứ không có tùy pháp hành. Đây là chữ rất quan trọng trong kinh Nikāya, "tùy pháp hành", mình không tùy pháp mà lại đi theo tùy dục, tùy tham, tùy ái rồi mình lạc đường, vào tu một thời gian không khác gì công nhân hoặc trở thành người hướng dẫn viên du lịch hoặc giám đốc, tu riết rồi mở luôn công ty, đó là đặt tâm sai hướng, không nhận diện được thân tâm, đi lạc mà không hay biết.

Ở Trung Quốc có câu thành ngữ "kỳ lộ vong dương" (lầm đường lạc lối) bắt nguồn từ một câu chuyện cổ về việc tìm kiếm một con dê đi lạc. Khi đi tìm kiếm thì có rất nhiều con đường rẽ nhánh, với mỗi một con đường lại dẫn đến nhiều con đường rẽ nhánh nữa, không biết đi theo con đường nào nên lạc mất con dê. Khi có quá nhiều con đường nhỏ phân ra từ tuyến đường chính, mọi người không thể tìm thấy con dê bị mất và bản thân cũng có thể dễ dàng bị lạc trong những con đường nhỏ ấy. Tương tự như vậy, nếu không nhận diện ngũ uẩn một cách sâu sắc, không thấy được những cảm giác, nghĩ tưởng vận hành, không đưa nó vào trong chánh tư duy thì người đó có thể dễ dàng phung phí thời gian của mình, tu học không đi đến đâu, cũng như người đó cứ đi tìm mãi làm mất thời gian nhưng vẫn không tìm thấy dê.

Bây giờ có rất nhiều hình thái của sự tu, khi không thành tựu chánh kiến, không thấy đúng một người tu thật sự, không thấy đường lối hành trì thì mình không biết một người tu nên làm gì, không biết tu ra sao, sự thành tựu của người tu là như thế nào, mình cũng không biết mình đang ở đâu trên bước đường tu nên cuối cùng mình hướng ngoại, hết tìm cái này đến tìm cái kia giống như những con khỉ, vượn, quải đãi chạy hết đầu này đến đầu kia suốt cả đời mà không được gì cả vì không thấy pháp, không gặp được bậc chân nhân, không được bậc chánh kiến hướng dẫn cho thấy đúng, hướng dẫn việc đặt tâm đúng hướng, không được chỉ cho nhận diện ngũ uẩn, nhìn ra các cảm thọ dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã thì đời tu của mình sẽ đi về đâu, tốt lắm là làm được một chút việc thiện chứ không phải đi đến chỗ phá vỡ các lậu hoặc, đoạn tận tham, sân, si, trừ diệt kiết sử, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Vì thế việc quan trọng trong sự tu là phải nhận diện được ngũ uẩn để nhìn thấy cảm giác yêu thích, thúc giục và ham muốn đó, phải nhìn ra sự yêu thích trong việc sử dụng điện thoại, Ipad, máy tính, cứ cầm điện thoại lên bấm là mê rồi quên luôn giờ học, lúc đầu cầm điện thoại còn mở kinh ra đọc, đọc một lúc lại thấy chán thế là mở cái khác ra xem, mở cái nọ ra xem, vậy là trong lối tẻ lại có lối tẻ khác làm mất luôn giờ học. Cho nên cần quay lại nội tâm để kiểm tra sự yêu thích có sanh khởi không, có đang an trú, vận hành không, mình có nhiếp phục, đoạn tận không hay mình bị nó dẫn dắt, nếu mình tu được cái này thì tối thượng tuyệt diệu, không còn sự hướng ngoại nhiều nữa, mình không còn bị lệ thuộc cảnh vật bên ngoài nhiều nữa, chỉ phải lo đối đầu với thọ; tưởng; hành bên trong tâm mình thôi, chỉ bấy nhiêu đó thôi cũng đủ mệt mỏi chứ đừng nói gì đến những thứ bên ngoài, còn giờ cứ hướng ngoại làm hết việc này đến việc kia, đi hết chỗ này đến chỗ kia thì làm sao thấy được tâm mình như thế nào, trong khi kinh đã ghi "tâm khó thấy, tế nhị, theo các dục quay cuồng".

Người ta thường nói nắm người có có tóc chứ ai nắm kẻ trọc đầu nhưng đối với cái dục này thì dù có tóc hay không tóc cũng bị nó làm cho điên đảo, quay cuồng, những sự ràng buộc, hệ lụy, tham ái, yêu thích, thúc giục, ham muốn nằm trong thọ; tưởng; hành thì làm sao mình thấy được, không nhận diện ngũ uẩn thì không bao giờ thấy được, ngoài ra còn có sự tùy miên ngủ ngầm trong đó, những sự tham muốn, nóng giận, ta đây ngủ yên rồi đi theo mình miên man, đúng thời đúng lúc nó sẽ thức dậy, vậy mà mình cứ nói bây giờ tu rồi thấy an tịnh lắm, không còn tham, sân, si nhiều nữa nhưng có phải như vậy thật không? Chỉ khi nào đụng chuyện mới biết được thôi, chạm vào tự ái rồi biết, tự ngã trong tâm sẽ thức dậy và nổi loạn lên vì gốc tự ngã, gốc tham ái bên trong tâm vẫn chưa được xóa bỏ.

"Như cây bị chặt đốn,

Gốc chưa hại vẫn bền

Ái tùy miên chưa nhổ,

Khổ này vẫn sanh hoài".

(Kinh Pháp Cú 24 – Phẩm Tham Ái, kệ 338)

Dù có chặt thì chỉ là chặt cái thân, còn gốc rễ vẫn chưa nhổ được cho nên Đức Phật dạy trong sự tác ý phải mé cành, chặt cây, đào gốc, bứng rễ, băm ra từng miếng nhỏ, đốt thành tro bụi, đổ xuống sông hoặc xuống biển để gió mười phương tám hướng thổi bay vào hư không, lúc đó không còn cơ hội để sanh khởi trở lại thì mới gọi là đoạn tận các lậu hoặc.

Tùy miên là đi theo và ngủ ngầm, miên nghĩa là ngủ, tùy là đi theo miên man, nó đi theo mình trong một trạng thái ngủ ngầm. Hằng này nhìn ra cảnh vật là núi mây, chim chóc, trúc xanh, đồi chè bát ngát chẳng có gì cả nhưng bên trong tâm là tham, sân, si, dục ái vận hành, những cảm giác yêu thích, thúc giục, ham muốn vận hành cho nên mới muốn quải đãi xuống núi, vẫn còn sự trông chờ, ước ao ở tương lai, vẫn còn muốn một thứ gì đó, vẫn còn sự thèm khát, chờ mong, hi vọng thì đó là gốc rễ của tham ái, cho đến khi nào ngồi lại nhìn vào nội tâm mà tất cả sự ưa thích, thúc giục, ham muốn hoàn toàn lắng dịu, an tịnh, tất cả những hình bóng, nghĩ tưởng, cảm thọ hoàn toàn tịch tịnh, vắng lặng, những lời nói lầm thầm không còn nữa, mình không còn bị những sự thúc giục quậy phá, không còn bị những hình bóng ám ảnh trong tâm, không còn bị quậy phá bởi những lời nói thì thầm, thủ thỉ, tức là thọ; tưởng; hành đều an tịnh, lắng dịu, thức tinh minh, trong sáng, thân thể khinh an, nhẹ nhàng, có như vậy mới an ổn, cái trí của mình thấu suốt ngũ uẩn, thấy được sự vô thường, khổ, vô ngã, không còn ưa thích nữa, mình hướng đến sự nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, thoát ra khỏi ngũ uẩn, như vậy mới là sự thành tựu, mới là một vị Tỳ-kheo làm được rất nhiều.

Vấn đề trọng yếu hôm nay là phải nhận diện được những cảm giác ưa thích, yêu thích, ham muốn và thúc giục trong mọi lúc mọi nơi, nếu là thiện pháp thì phát huy hết mức có thể, nếu là bất thiện pháp, là ác pháp thì cần nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận, nếu không làm được vậy thì tu cứ tu nhưng bên trong chỉ toàn là sự ham muốn, thúc giục, muốn chùa to Phật lớn, muốn đi đến nơi có cảnh đẹp, làm riết rồi chùa giống như chỗ để mọi người đến du lịch, suốt ngày cứ trau chuốt, làm đẹp chứ không có thời gian ngồi thiền, không nghe pháp, không suy tư sự thật gì cả mà cứ hướng ngoại thì đời tu sẽ đi về đâu?

"Người sống đời phóng dật,

Ái tăng như giây leo.

Nhảy đời này đời khác,

Như vượn tham quả rừng"

(Kinh Pháp Cú 24 – Phẩm Tham Ái, kệ 334)

Người nào sống thả lỏng các căn, buông lung phóng dật thì sự yêu thích, ham muốn tăng thêm giống như dây leo bò dài ra, nhảy đời này đời khác như vượn tham quả rừng. Người không biết hộ trì, không biết phòng hộ, bảo vệ, chế ngự, nhiếp phục thân tâm, không biết quay lại nhận diện ngũ uẩn trong từng cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng, không biết tu tập, điều chỉnh mà cứ để mặc cho nói, cho làm, cho nghĩ thì sự yêu thích, ham ái, dục vọng, ưa thích sẽ tăng giống như dây leo bò trườn mọi nơi, hết đời này rồi đến đời sau cũng như vậy.

"Ai sống trong đời này,

Bị ái dục buộc ràng

Sầu khổ sẽ tăng trưởng,

Như cỏ Bi gặp mưa".

(Kinh Pháp Cú 24 – Phẩm Tham Ái, kệ 335)

Ai sống trong đời này mà sự yêu thích, ham muốn cứ trói cột trong cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm, ưa cái này, thích cái kia, muốn cái nọ, nhận diện sâu trong cảm giác không biết muốn cái gì nhưng cứ muốn, có một sự thúc giục, không chấp nhận hiện tại này, mình muốn mai đây mình sẽ như thế nào, đó là tưởng tương lai, tuổi trẻ thì sống nhiều với tưởng tương lai, còn tuổi già thì sống nhiều với tưởng quá khứ. Sự buồn khổ ngày càng được thêm lớn, chất chồng vì những sự suy tư và tham muốn cứ giày xéo, đòi hỏi, trong tâm lúc nào cũng có cảm giác thiếu thốn nhưng không biết thiếu thốn cái gì, đó chính là dục lậu, lúc nào cũng cảm thấy thiếu thốn, mong muốn một cái gì đó mà không biết thiếu cái gì, cảm giác không an tịnh lắng dịu được mà cứ đòi hỏi, trông mong, ước mơ, hi vọng, tưởng tượng, khát ái, với một nội tâm như vậy thì không thể nào yên tịnh cho nên "sầu khổ sẽ tăng trưởng, như cỏ Bi gặp mưa", mưa xuống là cỏ mọc nhiều thêm, cũng như mình cứ nuôi dưỡng những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng đó, không chịu nhiếp phục, chế ngự, không chịu xóa sạch, tẩy sạch thì người đó sẽ tăng trưởng sầu khổ, nội tâm bất an.

"-- Thưa Ðại vương, có bốn sự thuyết giáo Chánh pháp, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế nào là bốn?

•'Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ nhất, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

•'Thế giới là vô hộ, vô chủ', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ hai, do Thế Tôn, bậc Tri Giả. Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

•'Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả', thưa Ðại vương đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ ba, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

•'Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Thưa Ðại vương, đây là bốn sự thuyết giáo Chánh pháp, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình". (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)

Thế giới chính là thân này, nó là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái, chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới nói được những câu này, làm rung chuyển cả địa cầu. Những câu này phải gối đầu nằm, làm thành câu thần chú, làm thành cẩm nang trong đầu mình, phải thường xuyên niệm những câu này. "Mày thiếu thốn dữ lắm phải không? Mày thèm thuồng dữ lắm phải không? Mày khát khao, đòi hỏi dữ lắm phải không? Mày đi tìm bong bóng hả? Tìm bọt bèo hả? Tìm ảo tưởng, tìm tai nạn giao thông hay tìm nấm mồ? Mày đi tìm cái gì trong thế gian vô thường, ảo mộng này? Trong thế gian vô tình, vô nghĩa này thì mày đi tìm cái gì hỡi tâm u mê kia?", ngày nào cũng phải tác ý nhắc nhở, dạy dỗ tâm như vậy thường xuyên rồi mình sẽ thấy phép màu xuất hiện, đừng để tâm trơ ra mà phải huấn luyện, dẫn dắt tâm mình. Đưa Thánh trí huệ vào cái đầu vô minh bằng những câu tác ý nhắc nhở, bằng những câu pháp ngữ như vậy, khởi lên những câu kinh Pháp cú nhắc nhở tâm trong ý hành hoặc là đọc ra bằng miệng, khi nào không còn đi tìm dục, tham, ái nữa là lúc đó đi vào trong dòng Thánh trí huệ, lúc đó chậm nhất là bảy đời, nhanh nhất là trong một kiếp sẽ thành tựu, đem lại lợi lạc tối thượng cho cha mẹ, dòng tộc, khi đã Nhập Lưu thì còn hơn cả địa vị của vua trời phạm thiên, cho nên cần siêng năng tác ý, dẫn dắt, dạy dỗ tâm mình. Bản chất thân này là trống rỗng, là trống không, bản chất thân này là cảnh mộng, là hư không.

"Ai sống trong đời này

Ái dục được hàng phục

Sầu rơi khỏi người ấy

Như giọt nước lá sen".

(Kinh Pháp Cú 24 – Phẩm Tham Ái, kệ 336)

Hàng phục, chế ngự sự ham muốn, yêu thích đó, những thứ này được dừng lại, những sầu đau, buồn lo sẽ không bao giờ đọng lại trên thân tâm người đó giống như giọt nước rơi trên lá sen, không thấm ướt lá. Mọi sự yêu thích, ham muốn đã được lắng dịu, an tịnh, tịch tịnh, người này không còn thiếu thốn, không còn muốn đi tìm bất cứ một thứ gì trên đời này nữa, người này không đi tìm con mắt ở đời sau, không đi tìm lỗ tai ở đời sau, người này không tiếp tục đi tìm lỗ mũi trong tương lai, không muốn đi tìm gương mặt trong quá khứ, hiện tại và tương lai, người này không yêu thích đối với mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, không đi tìm những cảm giác, hình bóng trong tâm, không ưa thích những suy nghĩ sanh khởi lên, không cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình, người như vậy thì "sầu rơi khỏi người ấy, như giọt nước lá sen", tất cả sầu đau, buồn khổ sẽ rơi rụng giống như giọt nước trên lá sen. Thật là tuyệt vời! Mình sẽ là lá sen để cho những sự yêu thích, ham muốn, thúc giục rơi hoàn toàn khỏi thân tâm của mình cho nên điều quan trọng vẫn là nhận diện, phát giác, phát hiện, chế ngự, đoạn tận bằng sự để ý, quyết tâm, nỗ lực, suy tư làm mọi cách để ngăn chặn, phong tỏa, kiềm hãm và diệt tận nó.

"Ðây điều lành Ta dạy,

Các người tụ họp đây.

Hãy nhổ tận gốc ái

Như nhổ gốc cỏ Bi.

Chớ để ma phá hoại,

Như dòng nước cỏ lau"

(Kinh Pháp Cú 24 – Phẩm Tham Ái, kệ 337)

Nhổ tận gốc sự yêu thích hình hài này, diệt tận sự say đắm trong thân xác này, chế ngự sự tham muốn đối với hình tướng này, đối với đời sống này, đối với ngũ uẩn tứ đại này, đối với sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái này. Thế Tôn dạy ngăn chặn những điều này là ngài rất thương chúng ta vì nếu đi vào những cái này là khổ dài dài, ràng rụa nước mắt và máu nhưng cứ lao vào rồi khổ đau, bị trói buộc trong đó.

Bây giờ có nhiều sự lừa đảo trong điện thoại này, họ nhá máy rồi tắt, mình thấy số lạ gọi lại là mất tiền, tất cả những thủ đoạn lừa gạt này đều xuất phát từ sự tham muốn bất chánh, tất cả mọi sự đau khổ trên cuộc đời này đều do tham muốn. Khi đã nhìn thấy rồi thì hỡi ơi cho thế gian, cho thế giới này lắm, tổng đạo diễn của thế giới này chính là dục, chỉ có thánh trí ngũ uẩn mới nhìn ra được nó. Con người đau khổ, khóc than, biết bao sự giết hại, đâm chém, giật dọc, tạt A-xít nhau cũng chỉ vì dục, tham, ái, ngoài ba cái này ra không có gì khác nữa, nhổ cỏ phải nhổ tận gốc thì đối với ái cũng phải diệt tận gốc vì nó trá hình rất khủng khiếp. Có một vị tu đã rất lâu, vị ấy lên đây thăm Minh Thành rồi đi lòng vòng ngắm cảnh trời mây thì vị này cảm thán cảnh ở đây đẹp tuyệt vời, lúc đó Minh Thành nói một câu rất nhẹ "cảnh này là sắc vô thường". Vị này nói với Minh Thành rằng mình đã cực khổ bao nhiêu năm dựng lên ngôi chùa vậy mà giờ nhìn thấy ngọt ngào cũng không được thì còn gì nữa, qua câu chuyện này mình thấy cái ái rất sâu sắc, nếu không thành tựu chánh kiến và nhận diện ngũ uẩn một cách sâu sắc thì nó sẽ trá hình, mình không thấy nó được.

Minh Thành nghe kể lại có một thầy lớn tuổi, những ngày gần cuối đời ngài đi chầm chậm chạm vào từng cây cột của ngôi chùa, ngài rất thương ngôi chùa, đối với người ta là bình thường nhưng đối với Thánh trí tuệ thì đó là mầm móng để tái sanh, để trở lại, nếu như không nhìn thấy điều này, không nhiếp phục, không thoát ra khỏi thì không thể giải thoát được, ở đây chỉ mới nói đến cảnh giới của sắc chứ chưa nói đến cảnh giới của vô sắc. Vì thế phải có sự định hướng trong tu học, phải nhìn thấy từng chút một trong tâm, nhìn ra từng suy nghĩ xem có còn tham muốn, dính mắc, chấp thủ không, nếu có thì phải gỡ ra, tháo ra. Cỏ lau rất mềm yếu, dòng nước chảy sẽ làm cỏ nằm rạp xuống, ái dục cũng giống như dòng nước mạnh chảy xiết, mình nắm vào cỏ lau mềm yếu sẽ bị đứt và ái dục sẽ cuốn mình đi.

"Ba mươi sáu dòng Ái (1),

Trôi người đốn khả ái.

Các tư tưởng tham ái.

Cuốn trôi người tà kiến"

(Kinh Pháp Cú 24 – Phẩm Tham Ái, kệ 339)

Sắc ái là sự ua thích sắc đẹp, dù là cảnh sắc, đồ vật hay con người, ưa thích mùi, ưa thích vị, ưa thích âm thanh, ưa thích sự xúc chạm, ưa thích những cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm. Sáu ái này có quá khứ, hiện tại, vị lai, như vậy là ba mươi sáu ái, sự yêu thích sắc của mình trong thuở trước gọi là sắc ái của quá khứ hoặc là yêu thích hình bóng của người xưa thì gọi là sắc ái quá khứ, mình yêu thích tiếng nói của người nào đó nên giờ mình nhớ lại tiếng nói đó thì đó là thanh ái quá khứ. Đức Phật vạch trần hết tất cả ngõ ngách, góc cạnh, tất cả những yếu tố cấu thành của tâm, mặc dù tâm là vô hình nhưng ngài chứng ngộ, thấy tất cả sự vận hành từng chút một của nó, có như vậy mới gọi là bậc toàn giác. Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái trong hiện tại cũng giống vậy, trong tương lai thì có suy nghĩ sau này tôi sẽ làm cái đó, tôi sẽ như vậy, tôi trở thành người như thế, cứ vậy nhân lên thành ba mươi sáu dòng ái, nó sẽ cuốn trôi người tà kiến, tức là người không nhìn thấy bản chất vô thường, khổ, vô ngã của các pháp.

"Dòng ái dục chảy khắp,

Như giây leo mọc tràn,

Thấy dây leo vừa sanh,

Với tuệ, hãy đoạn gốc"

(Kinh Pháp Cú 24 – Phẩm Tham Ái, kệ 340)

Dòng thác lũ của sự yêu thích và tham muốn chảy khắp mọi nơi.

"Này các Tỳ-kheo, sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu? Ở đời, sắc gì thân ái, sắc gì khả ái? Ở đời con mắt là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Ở đời cái tai... ở đời mũi... ở đời lưỡi... ở đời thân... ở đời ý là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

Ở đời các sắc... ở đời các tiếng... ở đời các hương... ở đời các vị... ở đời các cảm xúc... ở đời các pháp là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

Ở đời nhãn thức... ở đời nhĩ thức... ở đời tỷ thức... ở đời thiệt thức... ở đời thân thức... ở đời ý thức là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

Ở đời nhãn xúc... ở đời nhĩ xúc... ở đời tỷ xúc... ở đời thiệt xúc... ở đời thân xúc... ở đời ý xúc là sắc thân ái, à sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

Ở đời nhãn xúc sở sanh thọ... ở đời nhĩ xúc sở sanh thọ... ở đời tỷ xúc sở sanh thọ... ở đời thiệt xúc sở thanh thọ... ở đời thân xúc sở sanh thọ... ở đời ý xúc sở sanh thọ là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

Ở đời sắc tưởng... ở đời thanh tưởng... ở đời hương tưởng... ở đời vị tưởng... ở đời xúc tưởng... ở đời pháp tưởng là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

Ở đời sắc tư... ở đời thanh tư... ở đời hương tư... ở đời vị tư... ở đời xúc tư... ở đời pháp tư là sắc thân ái, là sắc khả ai. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

Ở đời sắc ái... ở đời thanh ái... ở đời hương ái... ở đời vị ái... ở đời xúc ái... ở đời pháp ái là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đây.

Ở đời sắc tầm ... ở đời thanh tầm... ở đời hương tầm... ở đời vị tầm... ở đời xúc tầm... ở đời pháp tầm là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

Ở đời sắc tứ... ở đời thanh tứ... ở đời hương tứ... ở đời vị tứ... ở đời xúc tứ... ở đời pháp tứ là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy". (Trường Bộ Kinh, 22. Kinh Ðại Niệm xứ)

Dòng ái dục này chảy trong con mắt của mình, nhìn vào gương thấy mặt mình là mình thấy thích, xấu cũng thích. Minh Thành có xem một đoạn clip ngắn ghi lại hình ảnh một người chỉ cao hơn 50 cm đứng kế một người cao hơn 2m, có một cô mới ngoài 20 nhưng hình hài lại giống như ngoài 60, do nghiệp quả nên phải chịu những thân hình như vậy, có khi làm giòi nhưng vẫn nghĩ là đẹp, con giòi đực nhìn con giòi cái thấy đẹp, thấy món ăn nó đang ăn là ngon. Khi quán chiếu sẽ thấy ngao ngán, cứ yêu thích, say đắm trong lớp xương da, máu mủ này, phân vào nước tiểu này rồi đau khổ không biết bao nhiêu mà nói, cứ nắm giữ trong mỗi suy nghĩ rồi cho nó là tôi, là của tôi mà không chịu loại trừ, không chịu tác ý, chuyển đổi suy nghĩ thì làm sao mình thoát ra khỏi nó, làm sao đi ra khỏi những đời sống xương da, máu thịt, phân và nước tiểu này.

Đức Phật nói "thấy dây leo vừa sanh, với tuệ, hãy đoạn gốc", chỉ có tuệ mới nhìn thấy được những sợi dây leo đó thôi, không có tuệ là không thể thấy được, nếu có thấy thì chỉ thấy những cái thô của phàm phu thôi. Phải thấy được từng ý nghĩ, trong cảm thọ, hình bóng trong tâm, chúng ta khổ cũng chỉ vì ái, dục, tham, ba chữ đó là tổng đạo diễn của hành tinh này, chính là yêu thích, thúc giục và ham muốn, sau đó sẽ có nắm giữ, khi nắm giữ thì sự hiện hữu có mặt, thế là sầu, bi, khổ, ưu, não có mặt. Do có thân và cảnh vật bên ngoài sanh khởi ra sự rõ biết, sau đó tiếp xúc thì sanh khởi ra cảm thọ, có cảm thọ thì có ái, khi có yêu thích thì muốn nắm giữ, khi nắm giữ thì sự hiện hữu có mặt, khi hiện hữu có mặt là đồng nghĩa với khổ có mặt, lo lắng, bất an, sầu đau, như vậy là toàn bộ khổ uẩn này được tập khởi, sanh, già, bệnh, chết có mặt.

Mỗi ngày chúng ta nghe pháp là nghe lời nhắc nhở của Đức Phật, sau đó tác ý, tư duy, quán chiếu, thực hành như vậy liên tục thì càng ngày Thánh trí huệ trong tâm mình càng hiện ra rõ rệt, không quên được nó, đến một ngày nào đó mình sẽ qua được bờ bên kia, thể nhập được Thánh trí huệ.

./.