Liều Mạng Quyết Tu 2
Liều Mạng Quyết Tu
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Kệ ngôn PAGEREF _Toc181210898 \h 1
II. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc181210899 \h 7
III. Thế giới vô thường PAGEREF _Toc181210900 \h 10
IV. Gánh nặng PAGEREF _Toc181210901 \h 17
I. Kệ ngôn
Tao liều một mạng này với mày
Hỡi bọn gian tà lũ yêu ma
Ngày đêm dụ hoặc, rù quến phá
Xúi giục người ta theo ác tà.
Tao liều một mạng này với mày
Ruồng tận hang ổ dục, ái, si
Thiêu hủy bọn bây thành tro bụi
Tan tành mây khói không còn gì.
Tao liều một mạng này với mày
Ngọn lửa Thánh tuệ đốt si mê
Xóa màn hôn ám trong nhân thế
Chỉ ra đạo lộ hữu tình về.
Tao liều một mạng này với mày
Đừng hòng rò rỉ xúi giục đi
Chết một lần thôi rồi bất tử
Sống để mà chi vạn đời si.
Tao liều một mạng này với mày
Thà rằng có chết cũng chẳng lay
Ốm đau, bệnh tật không chướng ngại
Giữ lòng như núi chẳng đổi thay.
Tao liều một mạng này với mày
Chết đi sống lại biết bao lần
Nay vượt hồng trần thoát tử sanh
Một ngàn cái mạng tao cũng đổi
Huống vì vài năm có mấy hồi.
Tao liều một mạng này với mày
Dục, ái, tham danh đã bao đời
Khao khát, khát khao vô lượng kiếp
Hỡi quân khốn kiếp hãy biến ngay.
Tao liều một mạng này với mày
Giành lòng biên mẫn quyết không phai
Đánh một trận này cho đại bại
Thẳng tay sát hại lũ hại người.
Tao liều một mạng này với mày
Vô lượng kiếp mi đọa đày
Hành hạ đời ta vô số kể
Hôm nay hết thời tao giết bây.
Tao liều một mạng này với mày
Bao nhiêu dòng huyết lệ đã rơi
Nước mắt nhiều hơn nước bốn biển
Máu này tuôn chảy đầy bể khơi.
Tao liều một mạng này với mày
Đau khổ đến đây đã đủ rồi
Hoạn nạn giờ này cũng vừa thôi
Tai ương từ nay sẽ dừng lại
Luân hồi chấm dứt cảnh nổi trôi.
Tao liều một mạng này với mày
Khóc than, than khóc vạn muôn lần
Khổ đau, đau khổ vô tỉ năm
Tử sanh, sanh tử không tính nổi
Điên khùng, khùng điên biết bao đời
Dại khờ, khờ dại vô số kiếp
Dục tham, tham dục chẳng hề vơi
Khát ái, ái khát không ngơi nghỉ
Thèm muốn, muốn thèm cứ vậy hoài
Đốt thiêu, thiêu đốt không dập tắt
Hừng hực, rừng rực cháy ngàn đời
Đói thiếu, thiếu đói cứ tái diễn
Ăn nuốt, nuốt ăn vạn muôn nơi
Đấm đá, đá đấm đầy thế giới
Giựt giành, giành giựt biết bao đời
Lợi danh, danh lợi bao nhiêu kiếp
Tranh đua, đua tranh vạn muôn lần
Chém giết, giết chém vô số kể
Si mê, mê si đã mấy thời
Nhục hờn, hờn nhục không tính kể
Hận sầu, sầu hận vạn trùng khơi
Ích kỷ hại người không tính hết
Lợi dụng, mưu sĩ biết bao đời
Nạn tai, tai nạn khắp mọi nơi
Bệnh già, già bệnh toàn thế giới
Sống chết, chết sống không kể hết
Tham, sân, si, mạn biết bao đời.
Ôi quá chán chê, quá chán chê
Hãy mau cùng nhau thoát ra đi
Thoát ra biển dục đầy khổ hận
Thoát ra sông ái chết chìm mê
Thoát ra lửa tham ngu ám muội
Thoát ra bản ngã nhục nhã hèn
Thoát ra khổ vui toàn giả dối
Thoát ra tuồng diễn kiếp luân hồi
Thoát ra bi kịch đầy nước mắt
Thoát ra ác nghiệp bệnh bướu giòi
Thoát ra chém giết phân xác nhau
Thoát ra mẹ con chặt đầu đau
Thoát ra con rể đâm cha vợ
Thoát ra điên khùng mãi hận sầu
Thoát ra cùi hủi lê lếch đến
Thoát ra bệnh nặng chờ chết dần
Thoát ra xe cán văng gan ruột
Thoát ra người yêu đầu độc nhau
Thoát ra tha hương cầu thực khổ
Chết bờ chết bụi chẳng ai hay.
Thoát ra cảnh mẹ nhớ trông con
Lưu lạc cách xa mấy chục năm
Ngày đêm mong nhớ thầm rơi lệ
Mòn mỏi đợi chờ trong sầu bi.
Thoát ra cảnh vợ phải ngóng chồng
Xuất khẩu lao động đi không về
Chết nơi biên ải không thấy xác
Ruột gan tan nát đầy thê lương.
Thoát ra bao cảnh quá thảm thương
Cụ già chín mươi ở ven đường
Ăn xin, lượm bọc, bán vé số
Lại bị kẻ gian cướp hết luôn.
Thoát ra bao cảnh quá thảm thương
Kiếp người ngắn ngủi đầy tai ương
Bé vừa mới sinh bị vứt bỏ
Cha nằm bệnh viện con trốn đi.
Mẹ mù con chửi mắng, đánh la
Mọi người ai thấy cũng xót xa
Chung cuộc kiếp người ôi ghê sợ
Mục đích cuộc đời là gì ta.
Ta phải thoát ta, phải thoát ra
Thoát ra tất cả, thoát thật xa
Thoát khỏi vô minh và khát ái
Chẳng còn sinh tử chìm ái hà.
Phá tan, phá nát kẻ làm nhà
Phá sạch gian tà, bọn quỷ ma
Xây dựng căn nhà tham, dục, ái
Khiến ta khốn khổ tợ hằng sa.
Ta phải thoát ta, phải thoát ra
Thoát ra tất cả lậu hoặc này
Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu
Đạt thành lậu tận chiến thắng ca.
Thái bình thiên hạ khắp mọi nhà
Nêu cao tông chỉ Diệt Khổ Đạo
Xứng danh đáng mặt bậc xuất gia
Từ bi trí tuệ khắp tinh hà
Tuyên dương Thánh trí truyền chánh pháp
Lợi lạc hữu tình đến muôn đời.
II. Khuyến tấn tu tập
Kính thưa đại chúng, thời gian này của chúng ta là thời gian rất quý báu, đây là cơ hội hiếm có trong cuộc đời của con người, rất thuận duyên để chúng ta ở yên. Mọi người khuyến khích mình ở yên, mấy trăm năm mới xảy ra đại dịch một lần như vậy cũng có nghĩa rằng mấy trăm năm con người mới thuận lợi trong điều kiện ai ở đâu thì ở yên đó. Đây là thời gian vàng, thời gian quý báu, cơ hội hiếm có trong nhiều trăm năm để chúng ta tu tập ở trên núi độc cư, thiền định, hành trì, quán chiếu, soi rọi, nỗi lực tinh tấn, chuyên tâm. Hãy quý trọng thật là nhiều thời gian này, hãy sử dụng nó một cách trọn vẹn, xứng đáng, sử dụng thời gian này một cách triệt để, hữu ích để sau này mình không hối hận vì mình không sử dụng thời gian này cho thật tốt thì sau này mình sẽ hối hận.
Lúc bình thường thì nói bận rộn quá không có thời gian tu, bây giờ có thời gian thuận lợi, thuận tiện thích hợp lại không chịu tu, không chịu học, đó là sự hoạt động của hữu lậu cho nên trong thời gian ba tháng dịch vừa rồi, sắp tới có thể là ba tháng nữa thì chúng ta phải xem ba tháng này là khóa tu, mỗi ngày đều là khóa tu, sự nỗ lực, cố gắng của chúng ta trong giai đoạn này sẽ mang lại lợi ích, kết quả lớn. Tối hôm trước con có giấc chiêm bao, trong giấc chiêm bao đó có cảm xúc dào dạt về Bát Chánh Đạo, nước mắt trào dâng và mình muốn rống lên cho vang dội khắp trời đất này để những người tu hành thấy được giá trị vĩ đại của Thánh pháp này.
Khi thức dậy thì cảm thọ cũng chưa tan hết, cảm thọ hỷ lạc, hạnh phúc khi thấy được con đường Đức Phật đã dạy trào dâng sung mãn nên muốn hét lên vang dội trời đất để nói cho mọi người thấy con đường Thánh đạo là đây, sự tu tập chân chánh là đây, xuất ly đạo lộ là đây, đừng đi tìm ở đâu nữa. Một người tu chân chánh trong dòng pháp này là ngày đêm, giờ phút chỉ quay lại nội tâm để làm cho nó khô kiệt, làm cho nó cạn kiệt những dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã, chỉ có một việc là suốt ngày đêm cứ nhìn vào trong để đào thải, thanh lọc, tẩy sạch và trừ diệt. Đó là thái độ tu hành chân chánh, không có thời gian để phiếm luận hay để tâm vào những chuyện khác, với một người tu chân chánh mà pháp nhãn đã mở, minh nhãn sanh, trí sanh, quanh sanh, tuệ sanh thì phải như vậy, còn người hay để tâm chuyện của người khác để phiền não thì người đó vẫn còn mù, chột.
Con tâm đắc câu "sống như lửa cháy đầu, cầu chứng cảnh bất động", bài này phải đọc trong mỗi buổi tụng kinh, mình phải cảm nhận thật sự chứ không phải nói trên miệng. Lửa đang cháy trên tóc mình, đang cháy trên nón mình, cực chẳng đã là bổn phận, trách nhiệm phải làm thì mình làm, ngoài ra dồn hết tâm lực vào việc không còn gì ý nghĩa hơn, thiêng liêng hơn, cao quý hơn, trọng yếu hơn việc không có ai ở đây hết mà chỉ có một đống bản ngã, vô minh, khát ái, chấp thủ, đống này dần dần đi đến chỗ cạn kiệt thì người đó tu mới tiến.
Một người tu hành chân chánh nhìn thấy ngũ uẩn thì người này nhìn lại không thấy có cái tôi, không thấy có cái của tôi mà thấy một đống dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã, chấp thủ và đống này đang được hốt, đang được vứt bỏ, đốt cháy, đang được dọn dẹp và dần dần đi đến chỗ cạn kiệt, chấm dứt thì người đó tu mới tiến. Nếu cái tâm còn hơn thua, còn so sánh, còn quá bén nhạy với thế gian pháp thì khó lòng tiến sâu vào pháp, phải làm cho tâm mình giống như con bò bị cưa hai sừng, không phải không biết, nghe thấy biết hết nhưng không còn nhạy nữa, không còn bén nữa để có tham, sân, si.
Đối với một hành giả phải thấy đây là một đống dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, chấp thủ, một đống này đang đi đến chỗ đoạn giảm và đang dần dần làm cho nó suy kiệt, kiệt quệ. Đừng có quá bén nhạy với thế gian, thấy gì cũng nói, nghe gì cũng ý kiến, chạm vào là phản ứng lại ngay, tập an tịnh, trầm lắng, tập những cảm thọ lắng dịu, dễ chịu, bớt những cảm giác sôi nổi, hướng ngoại.
Mình chạy đuổi mấy chục năm rồi được cái gì? Mình hướng ngoại mấy chục năm, mình đầu tư, lao tâm khổ tứ, hơn thua, ganh tỵ, mưu mô, mưu sĩ, mưu tính, mánh khóe đủ đường rồi được cái gì? Được một đống tham, sân, si, bản ngã, được một đống sầu, bi, khổ, ưu, não. Ngay cả người xuất gia nói cho hơn người ta để được cái gì? Mình tập luôn hướng nội, nội quán, nội soi, nội chiếu, nội tỉnh nhất tâm rồi mình sẽ thấy bình an đầy ý nghĩa, giá trị và lợi ích giữa cuộc đời này. Đừng quan trọng cái gì khác ngoài pháp, hãy xem pháp còn hơn sinh mạng của mình, không có gì trên cuộc đời này có ý nghĩa, cái thân này còn vô chủ, cái xác này ngã xuống là giòi từ bên trong ăn ra, kên kên, diều hâu, chó rừng từ bên ngoài ăn vô, người thân quấn chiếu đi thiêu, đi chôn cho nhanh cho nên đây là cơ hội quý báu để quán chiếu, mình mượn đại dịch làm cơ hội để nhảy thẳng vào Thánh đạo bất thối chuyển.
Mấy chục năm qua cuối cùng ngồi đối diện với chính mình thì được cái gì? Được lòng dục, lòng tham, lòng khao khát ngày càng trào dâng, không bao giờ thỏa mãn và nó chết trong khao khát đó, nó chết trong cái đòi hỏi, tìm kiếm, nó chết trong cái chấp thủ, bản ngã, nó chết trong sân hận, hơn thua đó.
Hãy phá sập, phá tan hết tất cả những thứ bám víu trong cuộc đời này. Vào tu không đúng chánh pháp là đầy rẫy sầu, bi, khổ, ưu não, cứ xách đãi chạy hết chùa này qua chùa khác, chạy một ngàn cái chùa cũng tham, sân, si, bản ngã, cứ nhìn người bên ngoài thì tu một tỉ A-Tăng-Kỳ kiếp cũng ở trong vô minh, khát ái và bản ngã. Một khi không thành tựu Thánh tri kiến, một khi không thấy đúng về tự thân, tự tâm mình, một khi không nhìn ra được bản chất thật sự của thân xác này, của cảm giác, nghĩ tưởng và nhận thức, rõ biết này, không thành tựu bốn Thánh trí về ngũ uẩn, bốn Thánh trí về lậu hoặc, không nhìn ra được tham, sân, si, bản ngã trà trộn trong năm uẩn, không đặt tâm đúng hướng để phát giác, phát hiện, nhiếp phục làm cho nó giảm thiểu và đoạn tận thì sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ tiếp diễn mãi mãi không có ngày chấp dứt.
Thật là cay đắng cho chúng ta!
Thật là hoạn nạn cho chúng ta!
Thật là khổ nạn cho chúng ta trong một sự tu hành như vậy!
Thật là đau đớn và xót xa khi muốn bỏ cha bỏ mẹ ra đi mà cuối cùng lại đi vào mê hồn trận rồi dẫn mọi người đi trong con đường tà, mãi mãi không có lối ra. Trí huệ này là trí huệ thần thánh, trí tuệ này là trí tuệ tối thượng, vô thượng, thượng nhân pháp cao thượng.
III. Thế giới vô thường
Có một thầy Tỳ-kheo đến hỏi Đức Thế Tôn có một món đồ nào, có một thứ gì trên đời này mà thường còn, thường hằng, thường trú, không bị biến đổi và tan hoại không? Bạch Thế Tôn có một cảm giác nào, một hình bóng hay một suy nghĩ nào, một nhận thức nào mà thường còn, vĩnh viễn không tan hoại không thì Thế Tôn cúi xuống khơi lên một ít phân bò trong móng tay rồi ngài nói không có một chút sắc; thọ; tưởng; hành; thức nào dù nhỏ bằng một chút phân bò này có thể thường còn, thường trú, không biến đổi, vĩnh viễn không bao giờ có.
"Sau khi ngồi, vị Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, có thể có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?
Bạch Thế Tôn, có thể có thọ nào... có thể có tưởng nào... có thể có các hành nào... có thể có thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?
-- Này Tỳ-kheo, không có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.
Này Tỳ-kheo, không có thọ nào... không có tưởng nào... không có các hành nào... không có thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.
Rồi Thế Tôn lấy tay cầm lên một miếng phân bò và nói với Tỳ-kheo ấy:
-- Này Tỳ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú.
Nếu được một ngã thể nhỏ như thế này, này Tỳ-kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thưòng hằng, vĩnh trú, thời đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể trình bày. Vì này Tỳ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ bé như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú; do vậy đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể trình bày" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, IV. Phân Bò)
Mình đăng kí hộ khẩu thường trú nhưng không có cái gì là thường trú, cái thường trú đó cũng là tạm trú, con được nhập hộ khẩu thường trú ở đây nhưng trong thâm tâm con không có thường trú, người nào thấy thường trú thì người đó vô minh. Con ho mấy hôm nay, sư cô nói ho không sao nhưng đừng để bị nhiễm. Lỡ như con bị nhiễm rồi 14 ngày sau con chết thì con thường trú ở đâu? Chỗ này lại là của ai? Chỗ này nữa ai sẽ ngồi? Cái thất đó bây giờ gọi là thất của con nhưng nữa ai sẽ ở?
Những cái áo này được đốt đem theo, không có một sắc pháp nào gọi là thường trú, thường hằng, không chịu sự biến hoại là không có. Phải làm sao để thâm nhập được trí huệ này trong cái thấy, trong cái suy nghĩ, trong cảm giác, trong nhận thức, trong mỗi hơi thở của mình, trong đời sống thì mới gọi là thể nhập Thánh trí chứ không phải chỉ nghe rồi nói lại hoặc là có lúc thấy có lúc không, phải thường trực lúc nào cũng thấy như vậy thì mới hết khổ.
Nếu một ngã thể nhỏ bằng một chút phân bò này là thường còn, thường hằng, không biến hoại thì đời sống phạm hạnh để chân chánh đoạn tận khổ đau là không thể trình bày. Đức Phật nói nếu còn một chút xíu nào trong ngũ uẩn này mà thường hằng thì không thể có một đường lối thanh tịnh, một đạo lộ giải thoát chân chánh để đoạn tận khổ đau. Nếu có một cái thường hằng như vậy thì làm sao mình có thể chứng nhập được Niết-bàn, làm sao bỏ được hết cái vô thường? Vì nó là vô thường, khổ, vô ngã, nó trống rỗng, dù cho một chút bằng hạt cát cũng không ngoại lệ, chính vì không có cái gì là vĩnh trú cho nên Đức Phật mới trình bày đoạn tận vô thường, đoạn tận khổ đau, từ bỏ, ly tham đối với những thứ trống rỗng. Vì nó không có một chút ngã nào thường hằng cho nên đời sống phạm hạnh, con đường giác ngộ mới được trình bày để thật sự đoạn tận khổ đau trên cuộc đời này.
Rõ ràng là mình thấy thân này không sạch nhưng tại sao mình vẫn mê? Do cái tuệ mình chưa thể nhập trong cái trí bất tịnh nên nói theo ngoài đời là lý trí không đủ để chiến thắng tình cảm, nói theo trong đạo là cái trí mình không đủ để quật ngã cái tập khí dục, tham, ái dù mình thấy, mình biết cho nên cần nỗ lực thể nhập. Trong Trưởng Lão Tăng Kệ thường dùng cụm từ "triển khai thiền quán" cho những vị chuẩn bị thể nhập A-la-hán, cả một sự xuyên suốt, liên tục nhìn thấy như vậy. Một người phụ nữ thấy vị thầy tu nên cô cười để lộ hàm răng trắng đẹp, vị thầy thấy như vậy thì chứng Thánh quả.
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình giàu có, được đặt tên là Bhaddiya, nhưng vì ngài rất thấp, nên được biết với tên là Lakuntaka Bhaddhiya (Bhaddiya người lùn). Nghe bậc Ðạo Sư giảng, ngài xuất gia, trở thành một nhà học giả và biện tài, ngài dạy cho các người khác với một giọng nói rất dịu ngọt. Một hôm, nhân ngài đang lễ, một phụ nữ đi xe với một Bà-la-môn, thấy ngài và cười lên, để lộ hàm răng của nàng. Vị Trưởng lão, lấy hàm răng ấy như một đề tài để thiền quán, khởi lên thiền định và trên căn cứ ấy, phát triển thiền quán và trở thành một vị Bất Lai" (Tiểu Bộ, Tập III – Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VI. Phẩm Sáu Kệ, (CCXXV). Lakuntaka-Bhaddiya (Thera. 49))
Lúc đó ngài nhìn thấy một bộ xương đang cười thì ngày chứng nhập Thánh trí về bất tịnh quán của bạch cốt tưởng ngay tại đó, lậu tận sạch sẽ hết các lậu hoặc. Tức là ngài tu bạch cốt tưởng đến mức trở thành định tướng được duy trì liên tục, nhìn đâu cũng thấy bộ xương, các ngài tu như vậy liên tục không bị gián đoạn thì mới chứng nhập, còn mình vào nghe pháp thì xúc động ngay đó rồi trở ra cũng y như cũ, không giữ được định tướng, không duy trì được cảm thọ, không duy trì sự quán chiếu đó.
Giống như mình nấu cơm mà bật bếp lên cho nóng một chút rồi tắt, sau đó lại mở bếp lên cho nóng một chút rồi lại tắt, làm vậy hoài là cơm sình luôn, sự dụng tâm của mình không miên mật, không liên tục, không khít khao, không được xuyên suốt, mình trở ra là sống lại với phàm phu tri kiến, nhìn vào chỉ thấy người này vầy, người kia thế nọ mà không thấy được tâm hướng ngoại, tâm vô minh, chấp ngã, ngồi lại nói chỉ toàn sân si, bản ngã, đúng sai. Tu như vậy thì đến khi nào mới thành tựu? Trình pháp không thấy nói tại sao quán chiếu mà chưa được, chỉ thấy nói người này người kia không thôi.
Thế Tôn nói những đời trước ngài làm vua, ngài có tám mươi bốn ngàn thành phố, có rất nhiều cung điện đẹp, có nhiều gường chõng nạm vàng bạc, thảm bằng nhung lụa, tô chén dĩa bằng vàng ngọc để đựng thức ăn. Vậy mà những thứ đó đều thuộc về quá khứ, biến hoại và đoạn diệt, các hành không có thường trú, cho đến khi vậy là vừa đủ để nhàm chán đối với tất cả các thứ đó, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát. Tiền thân Đức Phật đã từng làm vua cai quản mấy chục ngàn thành phố, mấy chục ngàn cung điện, mấy chục ngàn tòa lâu đài Trùng Cát, mấy chục ngàn thảm lụa đẹp nhất, tất cả những cái đó ngài đều đã hưởng thụ, đã nếm trải nhưng tất cả các hành ấy đều đã thuộc về quá khứ, đã trở thành dĩ vãng, nó đã biến hoại.
"Thuở xưa, này Tỳ-kheo, Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh. Khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 đô thị, và đô thị Kusàvatì là bậc nhất.
Này Tỳ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 cung điện, và cung điện Dhamma là bậc nhất.
Này Tỳ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 trùng các, và trùng các Mahàvyuuha là bậc nhất.
Này Tỳ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 sàng tọa làm bằng ngà, làm bằng lõi cây, làm bằng vàng, làm bằng bạc, trải bằng nệm len có lông dài, trải bằng chăn len trắng, trải bằng chăn len thêu bông, trải nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, có lầu che phía trên và có gối chân màu đỏ cả hai đầu.
Này Tỳ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 con voi với những trang sức bằng vàng, với những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và voi chúa Uposatha là bậc nhất.
Này Tỳ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 con ngựa với những trang sức bằng vàng, với những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và ngựa chúa Valàhaka là bậc nhất.
Này Tỳ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 cỗ xe, với những trang sức bằng vàng, với những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và cỗ xe Vejayanta là bậc nhất.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, tất cả các hành ấy là thuộc quá khứ, đoạn diệt, biến hoại.
Như vậy vô thường, này các Tỳ-kheo, là các hành. Như vậy không thường hằng, này các Tỳ-kheo, là các hành. Như vậy không thường trú, này các Tỳ-kheo, là các hành.
Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán đối với tất cả hành, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, IV. Phân Bò)
Ca-tỳ-la-vệ nay còn đâu, chỉ còn lại một đống đất đá đổ nát, những vương quốc ngày xưa trị vì thiên hạ vang dội một thời chỉ còn lại những phế tích, những di chỉ được khai quật, nó không được nằm bên ngoài mà bị chôn vùi dưới những lớp sỏi đá, người ta nghiên cứu, tìm kiếm rồi đào lên mới hiện ra những di tích còn sót lại. Những cung điện huy hoàng, những trường đại học hàng chục ngàn chư Tăng theo học, ở Sri Lanka là những hồ tắm cho hàng mấy chục ngàn vị xuất gia nay chỉ còn lại những tàn tích. Vô thường là như vậy, biến hoại là như vậy, tan nát, hoại diệt là như vậy, tan nát, hủy hoại là như vậy, cho đến như vậy là vừa đủ để nhàm chán đối với tất cả, cho đến như vậy là vừa để không còn tham muốn đối với tất cả, cho đến như vậy là vừa đủ để giải thoát.
Đại chúng nghe kĩ, nhìn kĩ hành vi của con chó, nó có một cảm giác xót xa, lo sợ, cái tâm của nó không giữ được sự an tịnh, nó đầy rẫy sân hận, nó hướng ngoại và nó tháo động trong vô minh, tham ái và đời sống tiếp theo của mình là vậy. Nó đau khổ lắm, nếu mình sống theo vô minh, khát ái, sân si, hướng ngoại và tháo động, không nhiếp phục cảm thọ thì những thân thể đó chờ đợi mình trong tương lai. Nó vừa nghe cái gì một chút thôi là sủa vang trời cho nên phải tập cảm giác lắng dịu, đừng để cảm giác sân, cảm giác bản ngã sanh khởi, phải tập an tịnh, lắng dịu.
Khi nhìn thấy những đời sống của con người đầy rẫy tham, sân, si, bản ngã thì con thấy trong đó đời sống tương lai không phải là người, một khi nhắm mắt họ không còn thân người nữa, thật sự rất khổ cho nên phải tập cảm giác an tịnh, trầm lắng, đừng lóc chóc. Thân xác chúng ta đây đến một ngày kia cũng đổ vỡ xuống, chắc chắn có một ngày như vậy, không sớm thì muộn, nếu cô Tâm không biết dòng pháp này, những ngày cô ở trong bệnh viện phải đối diện với những cảm giác đau khổ, sợ hãi, khiếp đảm của bệnh hoạn thì sẽ ra sao, nếu cô nhắm mắt ra đi trong đợt bệnh vừa rồi mà không biết giáo pháp thì cô sẽ ra sao.
Thật là không dễ dàng để được ngồi đây nghe pháp và thiền định. Thật là không dễ dàng trong giờ phút này được an tịnh ở núi rừng. Thật không dễ dàng gì trong thời gian này được ẩn tịnh nơi non vắng. Thật không dễ dàng gì trong giai đoạn này mình hành trì Thánh pháp, nghe được những lời chưa từng nghe, hiểu được những lời chưa từng hiểu, cảm nhận được những đạo lý chưa từng cảm nhận trong vô lượng kiếp vừa qua cho nên phải biết trân trọng, trân quý vì biết đâu đời sống mình sẽ giống con chó này nếu không khéo tu. Cho đến như vậy là vừa đủ để nhàm chán đối với tất cả mọi thứ ở trên đời, cho đến như vậy là vừa đủ để ly tham đối với mọi thứ trên thế gian này, cho đến như vậy là vừa đủ để buông bỏ, giải thoát đối với ngũ uẩn.
"Ai ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai ưa thích các pháp, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai không ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ. Ai không ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai không ưa thích các pháp, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ" (Tương Ưng Bộ, Chương IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, VIII. Ưa Thích (2))
Hoan hỉ, ưa thích, đắm trước trong thân xác này là người đó hoan hỉ, ưa thích đối với khổ. Ai vui thích nhìn ngắm thân xác này, ai đam mê trong thân xác này, ai say mê đắm đuối trong thân xác này là người đó đắm đuối, say mê khổ. Người ưa thích, say mê đối với khổ thì người này chắc chắn không thoát khỏi khổ đau. Ai ưa thích trong thân xác con chó này thì chúng sanh đó ưa thích trong nỗi khổ của con chó, mình phải để những lời này ngắm vào tâm, vào tim, vào tủy não của mình.
Con chó có bản ngã của con chó, có tham ái của con chó và đời sống thân chó tiếp nối đối với nó. Con giòi có bản ngã của con giòi, nó đam mê, ưa thích trong đống phân và nước tiểu và đời sống tiếp nối của nói là những thân giòi tiếp tục tái sanh, nó ưa thích những cảm giác đó, nó ưa thích những suy nghĩ, những cái tưởng, những nhận thức đó và nó tiếp tục đời sống súc sanh hôi thối, bẩn thỉu và nhơ nhớp.
Chúng ta ôm ấp một cái tự ngã, một cái bản ngã, một cái tham ái trong đời sống này và một cái ta, tôi này, một cảm giác trương phình to tướng này, những cảm giác cao ngạo, say đắm, chìm đắm trong dục, ái, tham đối với thân xác này, đối với những đời sống này và tiếp diễn những đời sống dục, tham, ái, sân si, vô minh và bản ngã.
Đau đớn cho chúng ta! Xót thương cho những sự vô minh, tăm tối, sự nhận lầm, chấp lầm, mê lầm, hiểu lầm, tưởng lầm, nghĩ lầm, biết lầm, bấu víu, chấp thủ vào trong thây thối này, trong nhà máy sản xuất phân này, trong công ty xuất nhập nguồn nước tiểu này rồi vênh váo, kiêu căng, hách dịch, khinh thường thiên hạ. Đau khổ cho cái bản ngã, đau khổ cho cái tham, dục, ái trong cái mê muội, si ám, đau khổ cho những đời sống không biết lối ra, lòng vòng và luẩn quẩn trong những cảm giác, nghĩ tưởng đó không có ngày ra, không có cách ra, không biết làm sao để thoát ra.
Ai hoan hỉ đối với những hình bóng, cảm giác nội tâm, những suy nghĩ, những sự rõ biết, nhận thức thì người đó hoan hỉ với khổ, ai hoan hỉ với khổ thì không thoát khỏi khổ đau. Ai không hoan hỉ với sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì người ấy không hoan hỉ khổ, không ưa thích khổ, ai không ưa thích khổ thì giải thoát khỏi khổ đau. Mình đang đi trên con đường nhàm chán đối với năm uẩn, đang thực tập sự không tham muốn, ly tham đối với thân xác, cảm giác, nhận thức và nghĩ tưởng này để đi đến chỗ giải thoát khỏi năm uẩn. Phải thực tập và phải cảm nhận một cách sâu sắc, cực kì thẩm thấu, cực kì thông đạt điều này, trí huệ này của Đức Phật.
IV. Gánh nặng
Năm uẩn này là một cái gánh rất nặng, năm thủ uẩn này rất nặng nề, mình tưởng tượng đang gánh một đòn gánh phía trước là một trăm kí, phía sau cũng một trăm kí và người này phải gánh bảy mươi năm.
"Này các Tỳ-kheo, thế nào là gánh nặng? Năm thủ uẩn là câu trả lời. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là gánh nặng" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, I. Gánh Nặng)
Năm uẩn là gánh nặng, người mang gánh nặng là tên đó, dòng họ đó, cái gánh này thật là nặng, từ khi được sanh ra, nuôi dưỡng rồi lớn lên là bắt đầu bảo vệ, chăm sóc, o bế, nâng niu và người này bị sập bẫy của sắc thủ uẩn, trong nghĩ ngợi, nhận thức và cảm giác người này đều cho đây là tôi, đây là của tôi, là sắc thủ uẩn, đó là gánh nặng thứ nhất, đi đâu cũng vác cái gánh này theo.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là kẻ mang gánh nặng? Người là câu trả lời. Vị Tôn giả này có tên như thế này, dòng họ như thế này. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kẻ mang gánh nặng!" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, I. Gánh Nặng)
Ăn không ngon là giận, ngủ không được là phiền, mặc không được là hờn, ai chê bai là sân si lên, cau có lên, nhìn thấy thua người ta là ganh tỵ, đố kỵ nên phải chau chuốt cho nó, cho ăn, cho mặc, cho ngủ, ở nước ngoài trả góp căn nhà trong ba mươi năm vẫn chưa xong, đó là chỉ có một cái ở thôi đã làm trâu cày ba mươi năm. Ngoài ra còn ăn, mặc, xe, phải lo lắng, suy nghĩ mãi, phải tìm kiếm mãi, toan tính đủ cách để gánh cái gánh này, nếu cái gánh này quá nặng có khi trợt chân té là sụp xuống, sau đó lại gượng dậy gánh tiếp chứ không thể buông được cho nên mới gọi là sắc thủ uẩn.
Gánh nặng quá thì sụp xuống vào viện gặp bác sĩ, tỉnh ngộ được một chút trong những ngày nằm viện, hết bệnh trở về lại tiếp tục gánh cơm áo gạo tiền, vợ chồng, con cái, bảo thủ tiếp, chấp thủ tiếp. Cho đến một ngày cái gánh này hoàn toàn sụp đổ, nằm đó thì thào, thở những hơi thở khó khăn, đặt gánh nặng xuống. Người mang gánh nặng là tham ái đưa đến tái sanh cùng với sự vui thích, đi tìm sự vui sướng chỗ này chỗ kia và sự khao khát, ham muốn bên trong mang gánh nặng đó lên. Như vậy khi nằm xuống, ngã đổ xuống thì người này tiếc nuối, hối hận, đau khổ, nước mắt đầm đìa, mình thấy những người chết nước mắt chảy ra hai bên khóe mắt, có nhiều người nói không được nhưng nước mắt chảy ra.
Suốt đời mình lo cho ăn, mặt, ở là vật chất, còn bên trong là dục, ái, tham, đáp ứng những nhu cầu mà nó ham muốn, khao khát, tìm kiếm và một cái khổ là không bao giờ thấy thỏa mãn, nó đòi hỏi rồi cho nó, rồi lại đòi hỏi và lại cho, cứ phục vụ mãi như vậy, làm đầy tớ cung phụng hoài, suốt cuộc đời mình chỉ làm bao nhiêu đó, nếu được thì vui thích, không được thì nổi sân lên rồi thù hận, trong đó là sự si ám của vô minh nên cuộc đời mình cứ lòng vòng như vậy.
Những cảm giác bên trong, thúc giục, đòi hỏi, sân hận, những hình bóng, suy nghĩ, ông Năm, bà Năm tóc bạc trắng nhưng ngồi suy nghĩ vẫn có gánh nặng, vẫn còn lo cho con, lo cho cháu, lo cho nhà cửa, cho nên năm uẩn là gánh nặng. Những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ hiện ra con cháu, nhà cửa, người thân… đó là gánh nặng, mình gánh thân xác này hơn bảy mươi năm, những cảm giác sân si, phiền bực trong tâm là gánh nặng thứ hai, những hình bóng con cháu, nhà cửa là gánh nặng thứ ba, những suy nghĩ làm mình bệnh tật là gánh nặng thứ tư, những nhận thức, rõ biết đó là gánh nặng thứ năm.
"Năm uẩn là gánh nặng,
Kẻ gánh nặng là người;
Mang lấy gánh nặng lên,
Chính là khổ ở đời.
Còn đặt gánh nặng xuống,
Tức là lạc, không khổ,
Ðặt gánh nặng xuống xong,
Không mang thêm gánh khác.
Nếu nhổ khát ái lên,
Tận cùng đến gốc rễ,
Không còn đói và khát,
Ðược giải thoát tịnh lạc!" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, I. Gánh Nặng)
"Này các Tỳ-kheo, thế nào là đặt gánh nặng xuống? Ðây là sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đặt gánh nặng xuống" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, I. Gánh Nặng)
Không còn tham đối với năm uẩn nữa, chấm dứt ưa thích, lòng khao khát đối với năm uẩn một cách hoàn toàn, không chấp thủ nữa thì gọi là đặt gánh nặng xuống. Cho nên ngày đêm tu quán bất tịnh, quán chín giai đoạn một tử thi, quán ba mươi hai thể trược, quán Khổ Thánh Đế để ly tham, chấm dứt sự ưa thích trong năm uẩn một cách hoàn toàn, từ bỏ, xả ly, giải thoát, không chấp thủ. Mình cứ làm như vậy cho đến khi nào thành công là đặt gánh nặng xuống, không mang thêm gánh khác, không đói sắc, không đói những cảm giác, không đói khát những hình bóng, suy nghĩ đó, không ưa thích, thèm thuồng nó nữa, thấy được bản chất của nó là vô thường, trống rỗng, khổ, vô ngã, không đáng ưa thích, không đáng tham, không đáng để đi tìm kiếm nó nữa.
Kính thưa đại chúng, thật sự tu con đường này sẽ khó chứ không dễ, vì khó nên mới thất truyền hai ngàn năm chứ nếu dễ đã không thất truyền. Một câu niệm, một câu chú rất dễ cho nên vấn đề ở đây không phải dễ hay khó mà là đúng hay không đúng. Nếu đúng thì bất chấp khó dễ và làm sẽ có kết quả, còn nếu không đúng thì khó thật khó cũng không có kết quả cho nên mình phải hân hoan, phải luôn trú trong hỷ lạc, hiện pháp lạc trú. Ví dụ mình được thầy hay sư huynh, sư đệ chỉ lỗi mình còn bản ngã, nếu theo thông thường là mình buồn, nếu biết tu thì phải vui.
Mình ra kinh doanh mà có người chỉ cho mình bí quyết thành công thì mình có cảm ơn không? Tại sao mình tu mà được người ta chỉ cho cách thành công thì mình lại buồn? Có phải mình ngu không? Nếu biết tác ý thì tu mới tiến, tu mới thành, tu mới có kết quả vì tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, nếu tác ý lệch thì mình dừng lại hoặc đi theo hướng tà hoặc mình bị thối đọa, cái này rất nhiều và chính tự thân con cũng nhìn thấy. Mình bằng lòng với những cái mình đang có được, mình thỏa mãn thì những người hướng dẫn mình sẽ buồn lo, nếu mình đi đến lậu tận thì được còn chưa đến lậu tận mà mình bằng lòng, thỏa mãn với những gì mình đang có là không được. Đức Phật nói ngài không tán thán người đứng lại đối với thiện pháp.
"Này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán đứng một chỗ trong các thiện pháp, còn nói gì tổn giảm. Này các Tỳ-kheo, Ta tán thán tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (III). Ðứng Một Chỗ)
Đây là chỗ khéo léo trong cái tu, khó nhưng đúng. Muốn làm cơ trưởng máy bay không phải chuyện dễ dàng, còn muốn chạy xe Grab rất dễ, có xe là chạy thôi, còn bây giờ mình muốn dễ thì ra chạy xe Grab. Trong sự tu cũng vậy, kết quả càng lớn chừng nào thì nó đòi hỏi công sức của mình phải có sự đánh đổi tương xứng. Chỗ nào đi cũng có sỏi đá nhưng kim cương rất khó tìm, Thánh pháp này còn hơn cả kim cương nữa cho nên điều quan trọng trong sự tu là phải tác ý cung kính, quý trọng, hiếm có khó gặp, thứ hai là phải tác ý hân hoan, hỷ lạc, vui sướng, hạnh phúc, thứ ba là phải tác ý kính thầy trọng pháp.
Khi con học pháp là phải bỏ hết tất cả địa vị của một người xuất gia, của một thầy trụ trì, của một giảng sư, của một pháp sư, của một sư phụ, còn những địa vị đó là không học được. Nếu không để tâm cung kính pháp hết mức thì làm sao học được? Vì đối với con chỉ thấy pháp chứ không thấy người, bất kể hình thái người đó là ai nhưng quan trọng cái đó là chánh pháp thì đó là mục tiêu, chí hướng của mình thì mới thành công, còn nếu cứ nhìn người đó mãi thì không thể nhập pháp được, đừng nhìn người mà hãy nhìn pháp.
Trong trời đất vũ trụ này không nhìn thấy gì cả mà chỉ thấy pháp thôi thì mình sẽ đắc pháp, suốt ngày chỉ thấy pháp, trong tất cả mọi trường hợp đối với nhân vật, sự việc chỉ thấy pháp chứ không thấy những cái pháp. Được khen cũng thấy đó là pháp, bị rầy cũng thấy đó là pháp, bị mắng nhiếc, bị hắt hủi cũng thấy là pháp, không thấy khen chê, chửi rủa mà chỉ thấy pháp thôi. Không thấy người đó là cư sĩ, xuất gia, già trẻ, bé lớn, đẹp xấu, trắng đen, cao thấp mà chỉ thấy pháp, không thấy người, không thấy vật, không thấy sự, không thấy việc mà chỉ thấy pháp.
Đừng bám vào hình thức, danh vị mà phải luôn tác ý khi buồn chán, hiện pháp lạc trú, hỷ lạc, phải tác ý liên tục mình là người hạnh phúc nhất trên thế giới, mình là người phước báo nhất, công đức nhất, vĩ đại nhất, Thánh pháp đã bị thất truyền hai ngàn năm nhưng mình lại gặp được. Khi buồn chán là phải trú vào hỷ lạc lập tức, nếu không mình sẽ bị rơi rớt, không chỉ người cư sĩ mà ngay cả người xuất gia ở trên núi cả năm, nhận diện ngũ uẩn liên tục, thậm chí lên giảng pháp luôn mà vẫn bị rơi rớt như thường, trở về đi niệm câu chú vì tu cái này quá khó, muốn chạy xe Grab chứ làm cơ trưởng khó quá. Lúc trước mình không biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mình không thấy tham, sân, si, bản ngã sanh khởi, hoạt động, mình không biết nó khủng khiếp đến mức nào mà giờ mình đã thấy được thì đó chính là trí huệ, đó là mình đã thấy được tự thân tự tâm của mình.
Người mù 47 năm, từ khi sanh ra đã mù lại ở một mình nên căn nhà bẩn thỉu, hôi hám, rác chồng chất. Người này được sáng mắt thì đầu tiên người này sẽ thấy rác, thấy dơ, nhưng thấy rồi phải làm, dọn dẹp, nếu thấy mà không dọn thì một là người này bị điên loạn thần kinh không biết phân biệt sạch dơ, hai là bị mù vì nếu là người minh mẫn, sáng mắt mà thấy dơ bẩn như thế thì chắc chắn phải dọn dẹp.
"Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy" (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)
Như vậy với người thấy người biết thì chắc chắn người này sẽ dọn dẹp, làm vệ sinh, có thể đống rác đó lớn nhưng sức yếu nên làm lâu nhưng người này cũng phải dọn, tùy theo sự tinh tấn, tinh cần, nỗ lực của người này mà dọn sớm hay muộn. Bị bù hơn bốn mươi năm mà nay được sáng mắt thì tất nhiên phải vui mừng, hân hoan cho nên mỗi lần thấy chán nản, lười biếng thì phải tác ý "mình được sáng mắt, được thấy đường thì phải vui".
Phải an trú vào trong hỷ lạc mỗi khi thấy buồn bã, thối thất tâm, hỷ lạc là được sáng mắt, thấy được thân tâm, thứ hai là thấy rồi nhiếp phục được phần nào cũng tác ý hỷ lạc, tác ý đánh đuổi nó xong là phải mỉm cười, ngày xưa mình bị nó diệt còn giờ mình diệt được nó nên mình vui, mình cười. Chỉ có một cuộc điện thoại hay một tin nhắn thôi mà sanh khởi lên bản ngã, sân lên thì khi mình tác ý đánh tan cảm giác đó thì thật sung sướng, phải thấy được sự chiến thắng đó.
Những khi mình lên Bồ-đoàn ngồi quán là một lẽ nhưng thật sự đánh đuổi nó sẽ rất thú vị, tức là ngay khi nó sanh khởi mà mình nhiếp phục, đánh tan được nó thì chỗ đó là hỷ lạc. Khi thực hành rồi sẽ thấy rất thú vị, cảm thọ được tan ra cho nên mỗi khi chiến thắng là con cười vui sướng, trong thất đi kinh hành hạnh phúc, nếu mình còn sự hung dữ thì cần phải tu nhiều hơn. Mỗi khi đang sân mà con nhắn tin "Dạ, thưa chú ạ…" là con cảm thấy sung sướng vì đang sân mà có thể nhắn tin dạ thưa, xưng con, còn ngày xưa sẽ không được như vậy.
Qua đây mình thấy được sự giải tỏa, giải phóng cảm giác dục, tham, ái, sân si, bản ngã, hôm bữa con quỳ lạy thầy Pháp An để nhập thất mà thầy khóc, nếu không học dòng pháp này thì có đi xuất gia con cũng không lạy cho nên phải hỷ lạc trong chiến thắng, lấy những cái này làm động lực, làm sự khích lệ, làm sự tưới tẩm vì nếu không như vậy có khi thấy rác nhiều sẽ bị sốc, tức là thấy nội tâm quá khủng khiếp và có lúc mình sẽ nghĩ mình không tu nổi, những suy nghĩ này vô cùng nguy hiểm, rất dễ xuống núi hoặc là tu cho có hình thức, đến giờ tu cũng lên ngồi cho có, nghe người khác nói cũng gật đầu, gọi đến tên thì cũng cầm micro nói vài câu, giống như có xác mà không có hồn, không thấy hoan hỉ, không thấy hứng thú, sung sướng trong pháp.
Nếu tu dòng pháp này mà không có hỷ lạc là không tu được, sớm muộn gì cũng rơi rớt cho nên con nhìn gương mặt người nào thường bí xị là phải để ý chăm sóc người đó vì khi thấy trì trệ, không an trú hỷ lạc sẽ dễ rơi rớt. Có khi không phải an trú hỷ lạc một hai tháng mà có thể an trú hỷ lạc cả mấy năm, tức là lúc nào nghe pháp cũng thấy hỷ lạc, lúc nào tu cũng thấy hạnh phúc nhưng cũng có lúc thấy xấu hổ, nhức nhối vì trong sự tu này có đầy đủ các cung bậc cảm xúc. Nhìn thấy ngồi yên, thấy ở một mình nhưng trong tâm là những trận chiến ác liệt chứ không phải ngồi yên là yên, phải chiến đấu dữ dội trong tâm, như thế mới là:
"Dầu tại bãi chiến trường
Thắng ngàn ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng"
(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 103)
Thắng chính mình là thắng những cảm giác thúc giục, hướng ngoại, những cảm giác bực bội, khó chịu, sân giận, ta đây, bản ngã, hơn thua, thắng được những cảm giác đó là tự thắng được chính mình. Như vậy trong những trận thắng nhỏ đó phải biết tác ý hỷ lạc để vui mừng vì tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, nếu không tác ý thì làm sao pháp sanh khởi. Lên núi tu là tác ý, nghe chim hót cũng tác ý, nhìn trúc lay tác ý thấy hạnh phúc, vui sướng vì giờ này được ở đây, con ngồi nhìn trúc lay, chim hót cả một không gian mát mẻ, đại chúng trang nghiêm là con không muốn giảng vì con muốn kéo dài cảm giác yên tịnh, thần thánh, thiêng liêng này.
Cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác toàn thân, cảm nhận không gian, cảm nhận sự trang nghiêm, thanh tịnh của đại chúng tinh ba chứ không phải đại chúng cặn bã. Những cảm giác này nuôi dưỡng tâm tu của mình, nếu không có những cảm giác này là tu không được vì tu con đường này là diệt những cấu nhiễm cho nên phải thấy cấu nhiễm mới diệt được, còn không thấy thì làm sao diệt hoặc là thấy rồi sợ cấu nhiễm thì làm sao tu.
Có anh chàng cố gắng vẽ ra hình con ma, con quỷ cho thật ghê rợn, hung tợn nhưng vẽ ra rồi anh chàng lại sợ. Có nhiều người sợ ma lại thích xem phim ma, che đầu lại không dám đi đâu. Cũng vậy, trong sự tu này phải biết chế tác hỷ lạc, phải an trú trong sơ thiền càng nhiều chừng nào càng tốt chừng đó nhưng phải tinh cần, tinh tấn, nỗ lực. Hỷ lạc để cố gắng chứ không phải hỷ để thỏa mãn, hài lòng, hoan hỉ, thích thú trong hiện tại rồi dừng lại luôn, không tiến bộ nữa, tiến hoài mà không có hỷ đến khi căng thẳng sẽ mệt mỏi cho nên hỷ để nuôi tiến bộ và cái tiến bộ đặt nền tảng trên cái hoan hỉ.
Tu như vậy rất thú vị cho nên lâu lâu phải lên núi vì ở nhà một thời gian sẽ không có hỷ, thậm chí mất luôn sự tinh tấn nên cứ trơ trơ ra. Bị chi phối bởi công việc, chồng con, xem tin tức dịch bệnh nên lo sợ rồi mất luôn cả pháp cho nên phải duy trì hỷ lạc, mỗi khi nghe kinh mà sáng trí ra hoặc mình quán chiếu mà ngộ ra được vấn đề nào đó, cái tưởng khi thiền quán hiện rõ ra hơn lúc trước hoặc là nhờ dịch bệnh nên mình thấy lời Đức Phật nói hiện rõ ra nên tác ý tôn trọng pháp, cung kính pháp, khát khao pháp, khát ngưỡng pháp. Trong thời nghe pháp phải tác ý chứ không được để hôn trầm, tác ý đánh cho hôn trầm tan ra, dù cho nghe pháp liên tục vài tiếng cũng tỉnh táo, sáng suốt.
Cô mang thân thể nan y bệnh hoạn, nghe pháp muốn xỉu nhưng vẫn cố gắng nhiếp phục cảm thọ, bắt làm kinh là phải làm trong khi mình chỉ ngồi nghe pháp mà nghe không nổi nên phải thấy xấu hổ, phải tác ý nhiều cách để thành công, làm chủ cảm thọ, bắt nó phải làm dù cho mệt mỏi. Cũng như con uống thuốc ho sẽ hết ho nhưng buồn ngủ, có khi mệt quá thì ngủ nhưng có hôm cũng phải tác ý, đi thiền hành.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Kệ ngôn PAGEREF _Toc181210898 \h 1
II. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc181210899 \h 7
III. Thế giới vô thường PAGEREF _Toc181210900 \h 10
IV. Gánh nặng PAGEREF _Toc181210901 \h 17
I. Kệ ngôn
Tao liều một mạng này với mày
Hỡi bọn gian tà lũ yêu ma
Ngày đêm dụ hoặc, rù quến phá
Xúi giục người ta theo ác tà.
Tao liều một mạng này với mày
Ruồng tận hang ổ dục, ái, si
Thiêu hủy bọn bây thành tro bụi
Tan tành mây khói không còn gì.
Tao liều một mạng này với mày
Ngọn lửa Thánh tuệ đốt si mê
Xóa màn hôn ám trong nhân thế
Chỉ ra đạo lộ hữu tình về.
Tao liều một mạng này với mày
Đừng hòng rò rỉ xúi giục đi
Chết một lần thôi rồi bất tử
Sống để mà chi vạn đời si.
Tao liều một mạng này với mày
Thà rằng có chết cũng chẳng lay
Ốm đau, bệnh tật không chướng ngại
Giữ lòng như núi chẳng đổi thay.
Tao liều một mạng này với mày
Chết đi sống lại biết bao lần
Nay vượt hồng trần thoát tử sanh
Một ngàn cái mạng tao cũng đổi
Huống vì vài năm có mấy hồi.
Tao liều một mạng này với mày
Dục, ái, tham danh đã bao đời
Khao khát, khát khao vô lượng kiếp
Hỡi quân khốn kiếp hãy biến ngay.
Tao liều một mạng này với mày
Giành lòng biên mẫn quyết không phai
Đánh một trận này cho đại bại
Thẳng tay sát hại lũ hại người.
Tao liều một mạng này với mày
Vô lượng kiếp mi đọa đày
Hành hạ đời ta vô số kể
Hôm nay hết thời tao giết bây.
Tao liều một mạng này với mày
Bao nhiêu dòng huyết lệ đã rơi
Nước mắt nhiều hơn nước bốn biển
Máu này tuôn chảy đầy bể khơi.
Tao liều một mạng này với mày
Đau khổ đến đây đã đủ rồi
Hoạn nạn giờ này cũng vừa thôi
Tai ương từ nay sẽ dừng lại
Luân hồi chấm dứt cảnh nổi trôi.
Tao liều một mạng này với mày
Khóc than, than khóc vạn muôn lần
Khổ đau, đau khổ vô tỉ năm
Tử sanh, sanh tử không tính nổi
Điên khùng, khùng điên biết bao đời
Dại khờ, khờ dại vô số kiếp
Dục tham, tham dục chẳng hề vơi
Khát ái, ái khát không ngơi nghỉ
Thèm muốn, muốn thèm cứ vậy hoài
Đốt thiêu, thiêu đốt không dập tắt
Hừng hực, rừng rực cháy ngàn đời
Đói thiếu, thiếu đói cứ tái diễn
Ăn nuốt, nuốt ăn vạn muôn nơi
Đấm đá, đá đấm đầy thế giới
Giựt giành, giành giựt biết bao đời
Lợi danh, danh lợi bao nhiêu kiếp
Tranh đua, đua tranh vạn muôn lần
Chém giết, giết chém vô số kể
Si mê, mê si đã mấy thời
Nhục hờn, hờn nhục không tính kể
Hận sầu, sầu hận vạn trùng khơi
Ích kỷ hại người không tính hết
Lợi dụng, mưu sĩ biết bao đời
Nạn tai, tai nạn khắp mọi nơi
Bệnh già, già bệnh toàn thế giới
Sống chết, chết sống không kể hết
Tham, sân, si, mạn biết bao đời.
Ôi quá chán chê, quá chán chê
Hãy mau cùng nhau thoát ra đi
Thoát ra biển dục đầy khổ hận
Thoát ra sông ái chết chìm mê
Thoát ra lửa tham ngu ám muội
Thoát ra bản ngã nhục nhã hèn
Thoát ra khổ vui toàn giả dối
Thoát ra tuồng diễn kiếp luân hồi
Thoát ra bi kịch đầy nước mắt
Thoát ra ác nghiệp bệnh bướu giòi
Thoát ra chém giết phân xác nhau
Thoát ra mẹ con chặt đầu đau
Thoát ra con rể đâm cha vợ
Thoát ra điên khùng mãi hận sầu
Thoát ra cùi hủi lê lếch đến
Thoát ra bệnh nặng chờ chết dần
Thoát ra xe cán văng gan ruột
Thoát ra người yêu đầu độc nhau
Thoát ra tha hương cầu thực khổ
Chết bờ chết bụi chẳng ai hay.
Thoát ra cảnh mẹ nhớ trông con
Lưu lạc cách xa mấy chục năm
Ngày đêm mong nhớ thầm rơi lệ
Mòn mỏi đợi chờ trong sầu bi.
Thoát ra cảnh vợ phải ngóng chồng
Xuất khẩu lao động đi không về
Chết nơi biên ải không thấy xác
Ruột gan tan nát đầy thê lương.
Thoát ra bao cảnh quá thảm thương
Cụ già chín mươi ở ven đường
Ăn xin, lượm bọc, bán vé số
Lại bị kẻ gian cướp hết luôn.
Thoát ra bao cảnh quá thảm thương
Kiếp người ngắn ngủi đầy tai ương
Bé vừa mới sinh bị vứt bỏ
Cha nằm bệnh viện con trốn đi.
Mẹ mù con chửi mắng, đánh la
Mọi người ai thấy cũng xót xa
Chung cuộc kiếp người ôi ghê sợ
Mục đích cuộc đời là gì ta.
Ta phải thoát ta, phải thoát ra
Thoát ra tất cả, thoát thật xa
Thoát khỏi vô minh và khát ái
Chẳng còn sinh tử chìm ái hà.
Phá tan, phá nát kẻ làm nhà
Phá sạch gian tà, bọn quỷ ma
Xây dựng căn nhà tham, dục, ái
Khiến ta khốn khổ tợ hằng sa.
Ta phải thoát ta, phải thoát ra
Thoát ra tất cả lậu hoặc này
Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu
Đạt thành lậu tận chiến thắng ca.
Thái bình thiên hạ khắp mọi nhà
Nêu cao tông chỉ Diệt Khổ Đạo
Xứng danh đáng mặt bậc xuất gia
Từ bi trí tuệ khắp tinh hà
Tuyên dương Thánh trí truyền chánh pháp
Lợi lạc hữu tình đến muôn đời.
II. Khuyến tấn tu tập
Kính thưa đại chúng, thời gian này của chúng ta là thời gian rất quý báu, đây là cơ hội hiếm có trong cuộc đời của con người, rất thuận duyên để chúng ta ở yên. Mọi người khuyến khích mình ở yên, mấy trăm năm mới xảy ra đại dịch một lần như vậy cũng có nghĩa rằng mấy trăm năm con người mới thuận lợi trong điều kiện ai ở đâu thì ở yên đó. Đây là thời gian vàng, thời gian quý báu, cơ hội hiếm có trong nhiều trăm năm để chúng ta tu tập ở trên núi độc cư, thiền định, hành trì, quán chiếu, soi rọi, nỗi lực tinh tấn, chuyên tâm. Hãy quý trọng thật là nhiều thời gian này, hãy sử dụng nó một cách trọn vẹn, xứng đáng, sử dụng thời gian này một cách triệt để, hữu ích để sau này mình không hối hận vì mình không sử dụng thời gian này cho thật tốt thì sau này mình sẽ hối hận.
Lúc bình thường thì nói bận rộn quá không có thời gian tu, bây giờ có thời gian thuận lợi, thuận tiện thích hợp lại không chịu tu, không chịu học, đó là sự hoạt động của hữu lậu cho nên trong thời gian ba tháng dịch vừa rồi, sắp tới có thể là ba tháng nữa thì chúng ta phải xem ba tháng này là khóa tu, mỗi ngày đều là khóa tu, sự nỗ lực, cố gắng của chúng ta trong giai đoạn này sẽ mang lại lợi ích, kết quả lớn. Tối hôm trước con có giấc chiêm bao, trong giấc chiêm bao đó có cảm xúc dào dạt về Bát Chánh Đạo, nước mắt trào dâng và mình muốn rống lên cho vang dội khắp trời đất này để những người tu hành thấy được giá trị vĩ đại của Thánh pháp này.
Khi thức dậy thì cảm thọ cũng chưa tan hết, cảm thọ hỷ lạc, hạnh phúc khi thấy được con đường Đức Phật đã dạy trào dâng sung mãn nên muốn hét lên vang dội trời đất để nói cho mọi người thấy con đường Thánh đạo là đây, sự tu tập chân chánh là đây, xuất ly đạo lộ là đây, đừng đi tìm ở đâu nữa. Một người tu chân chánh trong dòng pháp này là ngày đêm, giờ phút chỉ quay lại nội tâm để làm cho nó khô kiệt, làm cho nó cạn kiệt những dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã, chỉ có một việc là suốt ngày đêm cứ nhìn vào trong để đào thải, thanh lọc, tẩy sạch và trừ diệt. Đó là thái độ tu hành chân chánh, không có thời gian để phiếm luận hay để tâm vào những chuyện khác, với một người tu chân chánh mà pháp nhãn đã mở, minh nhãn sanh, trí sanh, quanh sanh, tuệ sanh thì phải như vậy, còn người hay để tâm chuyện của người khác để phiền não thì người đó vẫn còn mù, chột.
Con tâm đắc câu "sống như lửa cháy đầu, cầu chứng cảnh bất động", bài này phải đọc trong mỗi buổi tụng kinh, mình phải cảm nhận thật sự chứ không phải nói trên miệng. Lửa đang cháy trên tóc mình, đang cháy trên nón mình, cực chẳng đã là bổn phận, trách nhiệm phải làm thì mình làm, ngoài ra dồn hết tâm lực vào việc không còn gì ý nghĩa hơn, thiêng liêng hơn, cao quý hơn, trọng yếu hơn việc không có ai ở đây hết mà chỉ có một đống bản ngã, vô minh, khát ái, chấp thủ, đống này dần dần đi đến chỗ cạn kiệt thì người đó tu mới tiến.
Một người tu hành chân chánh nhìn thấy ngũ uẩn thì người này nhìn lại không thấy có cái tôi, không thấy có cái của tôi mà thấy một đống dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã, chấp thủ và đống này đang được hốt, đang được vứt bỏ, đốt cháy, đang được dọn dẹp và dần dần đi đến chỗ cạn kiệt, chấm dứt thì người đó tu mới tiến. Nếu cái tâm còn hơn thua, còn so sánh, còn quá bén nhạy với thế gian pháp thì khó lòng tiến sâu vào pháp, phải làm cho tâm mình giống như con bò bị cưa hai sừng, không phải không biết, nghe thấy biết hết nhưng không còn nhạy nữa, không còn bén nữa để có tham, sân, si.
Đối với một hành giả phải thấy đây là một đống dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, chấp thủ, một đống này đang đi đến chỗ đoạn giảm và đang dần dần làm cho nó suy kiệt, kiệt quệ. Đừng có quá bén nhạy với thế gian, thấy gì cũng nói, nghe gì cũng ý kiến, chạm vào là phản ứng lại ngay, tập an tịnh, trầm lắng, tập những cảm thọ lắng dịu, dễ chịu, bớt những cảm giác sôi nổi, hướng ngoại.
Mình chạy đuổi mấy chục năm rồi được cái gì? Mình hướng ngoại mấy chục năm, mình đầu tư, lao tâm khổ tứ, hơn thua, ganh tỵ, mưu mô, mưu sĩ, mưu tính, mánh khóe đủ đường rồi được cái gì? Được một đống tham, sân, si, bản ngã, được một đống sầu, bi, khổ, ưu, não. Ngay cả người xuất gia nói cho hơn người ta để được cái gì? Mình tập luôn hướng nội, nội quán, nội soi, nội chiếu, nội tỉnh nhất tâm rồi mình sẽ thấy bình an đầy ý nghĩa, giá trị và lợi ích giữa cuộc đời này. Đừng quan trọng cái gì khác ngoài pháp, hãy xem pháp còn hơn sinh mạng của mình, không có gì trên cuộc đời này có ý nghĩa, cái thân này còn vô chủ, cái xác này ngã xuống là giòi từ bên trong ăn ra, kên kên, diều hâu, chó rừng từ bên ngoài ăn vô, người thân quấn chiếu đi thiêu, đi chôn cho nhanh cho nên đây là cơ hội quý báu để quán chiếu, mình mượn đại dịch làm cơ hội để nhảy thẳng vào Thánh đạo bất thối chuyển.
Mấy chục năm qua cuối cùng ngồi đối diện với chính mình thì được cái gì? Được lòng dục, lòng tham, lòng khao khát ngày càng trào dâng, không bao giờ thỏa mãn và nó chết trong khao khát đó, nó chết trong cái đòi hỏi, tìm kiếm, nó chết trong cái chấp thủ, bản ngã, nó chết trong sân hận, hơn thua đó.
Hãy phá sập, phá tan hết tất cả những thứ bám víu trong cuộc đời này. Vào tu không đúng chánh pháp là đầy rẫy sầu, bi, khổ, ưu não, cứ xách đãi chạy hết chùa này qua chùa khác, chạy một ngàn cái chùa cũng tham, sân, si, bản ngã, cứ nhìn người bên ngoài thì tu một tỉ A-Tăng-Kỳ kiếp cũng ở trong vô minh, khát ái và bản ngã. Một khi không thành tựu Thánh tri kiến, một khi không thấy đúng về tự thân, tự tâm mình, một khi không nhìn ra được bản chất thật sự của thân xác này, của cảm giác, nghĩ tưởng và nhận thức, rõ biết này, không thành tựu bốn Thánh trí về ngũ uẩn, bốn Thánh trí về lậu hoặc, không nhìn ra được tham, sân, si, bản ngã trà trộn trong năm uẩn, không đặt tâm đúng hướng để phát giác, phát hiện, nhiếp phục làm cho nó giảm thiểu và đoạn tận thì sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ tiếp diễn mãi mãi không có ngày chấp dứt.
Thật là cay đắng cho chúng ta!
Thật là hoạn nạn cho chúng ta!
Thật là khổ nạn cho chúng ta trong một sự tu hành như vậy!
Thật là đau đớn và xót xa khi muốn bỏ cha bỏ mẹ ra đi mà cuối cùng lại đi vào mê hồn trận rồi dẫn mọi người đi trong con đường tà, mãi mãi không có lối ra. Trí huệ này là trí huệ thần thánh, trí tuệ này là trí tuệ tối thượng, vô thượng, thượng nhân pháp cao thượng.
III. Thế giới vô thường
Có một thầy Tỳ-kheo đến hỏi Đức Thế Tôn có một món đồ nào, có một thứ gì trên đời này mà thường còn, thường hằng, thường trú, không bị biến đổi và tan hoại không? Bạch Thế Tôn có một cảm giác nào, một hình bóng hay một suy nghĩ nào, một nhận thức nào mà thường còn, vĩnh viễn không tan hoại không thì Thế Tôn cúi xuống khơi lên một ít phân bò trong móng tay rồi ngài nói không có một chút sắc; thọ; tưởng; hành; thức nào dù nhỏ bằng một chút phân bò này có thể thường còn, thường trú, không biến đổi, vĩnh viễn không bao giờ có.
"Sau khi ngồi, vị Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, có thể có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?
Bạch Thế Tôn, có thể có thọ nào... có thể có tưởng nào... có thể có các hành nào... có thể có thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?
-- Này Tỳ-kheo, không có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.
Này Tỳ-kheo, không có thọ nào... không có tưởng nào... không có các hành nào... không có thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.
Rồi Thế Tôn lấy tay cầm lên một miếng phân bò và nói với Tỳ-kheo ấy:
-- Này Tỳ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú.
Nếu được một ngã thể nhỏ như thế này, này Tỳ-kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thưòng hằng, vĩnh trú, thời đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể trình bày. Vì này Tỳ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ bé như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú; do vậy đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể trình bày" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, IV. Phân Bò)
Mình đăng kí hộ khẩu thường trú nhưng không có cái gì là thường trú, cái thường trú đó cũng là tạm trú, con được nhập hộ khẩu thường trú ở đây nhưng trong thâm tâm con không có thường trú, người nào thấy thường trú thì người đó vô minh. Con ho mấy hôm nay, sư cô nói ho không sao nhưng đừng để bị nhiễm. Lỡ như con bị nhiễm rồi 14 ngày sau con chết thì con thường trú ở đâu? Chỗ này lại là của ai? Chỗ này nữa ai sẽ ngồi? Cái thất đó bây giờ gọi là thất của con nhưng nữa ai sẽ ở?
Những cái áo này được đốt đem theo, không có một sắc pháp nào gọi là thường trú, thường hằng, không chịu sự biến hoại là không có. Phải làm sao để thâm nhập được trí huệ này trong cái thấy, trong cái suy nghĩ, trong cảm giác, trong nhận thức, trong mỗi hơi thở của mình, trong đời sống thì mới gọi là thể nhập Thánh trí chứ không phải chỉ nghe rồi nói lại hoặc là có lúc thấy có lúc không, phải thường trực lúc nào cũng thấy như vậy thì mới hết khổ.
Nếu một ngã thể nhỏ bằng một chút phân bò này là thường còn, thường hằng, không biến hoại thì đời sống phạm hạnh để chân chánh đoạn tận khổ đau là không thể trình bày. Đức Phật nói nếu còn một chút xíu nào trong ngũ uẩn này mà thường hằng thì không thể có một đường lối thanh tịnh, một đạo lộ giải thoát chân chánh để đoạn tận khổ đau. Nếu có một cái thường hằng như vậy thì làm sao mình có thể chứng nhập được Niết-bàn, làm sao bỏ được hết cái vô thường? Vì nó là vô thường, khổ, vô ngã, nó trống rỗng, dù cho một chút bằng hạt cát cũng không ngoại lệ, chính vì không có cái gì là vĩnh trú cho nên Đức Phật mới trình bày đoạn tận vô thường, đoạn tận khổ đau, từ bỏ, ly tham đối với những thứ trống rỗng. Vì nó không có một chút ngã nào thường hằng cho nên đời sống phạm hạnh, con đường giác ngộ mới được trình bày để thật sự đoạn tận khổ đau trên cuộc đời này.
Rõ ràng là mình thấy thân này không sạch nhưng tại sao mình vẫn mê? Do cái tuệ mình chưa thể nhập trong cái trí bất tịnh nên nói theo ngoài đời là lý trí không đủ để chiến thắng tình cảm, nói theo trong đạo là cái trí mình không đủ để quật ngã cái tập khí dục, tham, ái dù mình thấy, mình biết cho nên cần nỗ lực thể nhập. Trong Trưởng Lão Tăng Kệ thường dùng cụm từ "triển khai thiền quán" cho những vị chuẩn bị thể nhập A-la-hán, cả một sự xuyên suốt, liên tục nhìn thấy như vậy. Một người phụ nữ thấy vị thầy tu nên cô cười để lộ hàm răng trắng đẹp, vị thầy thấy như vậy thì chứng Thánh quả.
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình giàu có, được đặt tên là Bhaddiya, nhưng vì ngài rất thấp, nên được biết với tên là Lakuntaka Bhaddhiya (Bhaddiya người lùn). Nghe bậc Ðạo Sư giảng, ngài xuất gia, trở thành một nhà học giả và biện tài, ngài dạy cho các người khác với một giọng nói rất dịu ngọt. Một hôm, nhân ngài đang lễ, một phụ nữ đi xe với một Bà-la-môn, thấy ngài và cười lên, để lộ hàm răng của nàng. Vị Trưởng lão, lấy hàm răng ấy như một đề tài để thiền quán, khởi lên thiền định và trên căn cứ ấy, phát triển thiền quán và trở thành một vị Bất Lai" (Tiểu Bộ, Tập III – Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VI. Phẩm Sáu Kệ, (CCXXV). Lakuntaka-Bhaddiya (Thera. 49))
Lúc đó ngài nhìn thấy một bộ xương đang cười thì ngày chứng nhập Thánh trí về bất tịnh quán của bạch cốt tưởng ngay tại đó, lậu tận sạch sẽ hết các lậu hoặc. Tức là ngài tu bạch cốt tưởng đến mức trở thành định tướng được duy trì liên tục, nhìn đâu cũng thấy bộ xương, các ngài tu như vậy liên tục không bị gián đoạn thì mới chứng nhập, còn mình vào nghe pháp thì xúc động ngay đó rồi trở ra cũng y như cũ, không giữ được định tướng, không duy trì được cảm thọ, không duy trì sự quán chiếu đó.
Giống như mình nấu cơm mà bật bếp lên cho nóng một chút rồi tắt, sau đó lại mở bếp lên cho nóng một chút rồi lại tắt, làm vậy hoài là cơm sình luôn, sự dụng tâm của mình không miên mật, không liên tục, không khít khao, không được xuyên suốt, mình trở ra là sống lại với phàm phu tri kiến, nhìn vào chỉ thấy người này vầy, người kia thế nọ mà không thấy được tâm hướng ngoại, tâm vô minh, chấp ngã, ngồi lại nói chỉ toàn sân si, bản ngã, đúng sai. Tu như vậy thì đến khi nào mới thành tựu? Trình pháp không thấy nói tại sao quán chiếu mà chưa được, chỉ thấy nói người này người kia không thôi.
Thế Tôn nói những đời trước ngài làm vua, ngài có tám mươi bốn ngàn thành phố, có rất nhiều cung điện đẹp, có nhiều gường chõng nạm vàng bạc, thảm bằng nhung lụa, tô chén dĩa bằng vàng ngọc để đựng thức ăn. Vậy mà những thứ đó đều thuộc về quá khứ, biến hoại và đoạn diệt, các hành không có thường trú, cho đến khi vậy là vừa đủ để nhàm chán đối với tất cả các thứ đó, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát. Tiền thân Đức Phật đã từng làm vua cai quản mấy chục ngàn thành phố, mấy chục ngàn cung điện, mấy chục ngàn tòa lâu đài Trùng Cát, mấy chục ngàn thảm lụa đẹp nhất, tất cả những cái đó ngài đều đã hưởng thụ, đã nếm trải nhưng tất cả các hành ấy đều đã thuộc về quá khứ, đã trở thành dĩ vãng, nó đã biến hoại.
"Thuở xưa, này Tỳ-kheo, Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh. Khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 đô thị, và đô thị Kusàvatì là bậc nhất.
Này Tỳ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 cung điện, và cung điện Dhamma là bậc nhất.
Này Tỳ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 trùng các, và trùng các Mahàvyuuha là bậc nhất.
Này Tỳ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 sàng tọa làm bằng ngà, làm bằng lõi cây, làm bằng vàng, làm bằng bạc, trải bằng nệm len có lông dài, trải bằng chăn len trắng, trải bằng chăn len thêu bông, trải nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, có lầu che phía trên và có gối chân màu đỏ cả hai đầu.
Này Tỳ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 con voi với những trang sức bằng vàng, với những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và voi chúa Uposatha là bậc nhất.
Này Tỳ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 con ngựa với những trang sức bằng vàng, với những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và ngựa chúa Valàhaka là bậc nhất.
Này Tỳ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 cỗ xe, với những trang sức bằng vàng, với những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và cỗ xe Vejayanta là bậc nhất.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, tất cả các hành ấy là thuộc quá khứ, đoạn diệt, biến hoại.
Như vậy vô thường, này các Tỳ-kheo, là các hành. Như vậy không thường hằng, này các Tỳ-kheo, là các hành. Như vậy không thường trú, này các Tỳ-kheo, là các hành.
Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán đối với tất cả hành, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, IV. Phân Bò)
Ca-tỳ-la-vệ nay còn đâu, chỉ còn lại một đống đất đá đổ nát, những vương quốc ngày xưa trị vì thiên hạ vang dội một thời chỉ còn lại những phế tích, những di chỉ được khai quật, nó không được nằm bên ngoài mà bị chôn vùi dưới những lớp sỏi đá, người ta nghiên cứu, tìm kiếm rồi đào lên mới hiện ra những di tích còn sót lại. Những cung điện huy hoàng, những trường đại học hàng chục ngàn chư Tăng theo học, ở Sri Lanka là những hồ tắm cho hàng mấy chục ngàn vị xuất gia nay chỉ còn lại những tàn tích. Vô thường là như vậy, biến hoại là như vậy, tan nát, hoại diệt là như vậy, tan nát, hủy hoại là như vậy, cho đến như vậy là vừa đủ để nhàm chán đối với tất cả, cho đến như vậy là vừa để không còn tham muốn đối với tất cả, cho đến như vậy là vừa đủ để giải thoát.
Đại chúng nghe kĩ, nhìn kĩ hành vi của con chó, nó có một cảm giác xót xa, lo sợ, cái tâm của nó không giữ được sự an tịnh, nó đầy rẫy sân hận, nó hướng ngoại và nó tháo động trong vô minh, tham ái và đời sống tiếp theo của mình là vậy. Nó đau khổ lắm, nếu mình sống theo vô minh, khát ái, sân si, hướng ngoại và tháo động, không nhiếp phục cảm thọ thì những thân thể đó chờ đợi mình trong tương lai. Nó vừa nghe cái gì một chút thôi là sủa vang trời cho nên phải tập cảm giác lắng dịu, đừng để cảm giác sân, cảm giác bản ngã sanh khởi, phải tập an tịnh, lắng dịu.
Khi nhìn thấy những đời sống của con người đầy rẫy tham, sân, si, bản ngã thì con thấy trong đó đời sống tương lai không phải là người, một khi nhắm mắt họ không còn thân người nữa, thật sự rất khổ cho nên phải tập cảm giác an tịnh, trầm lắng, đừng lóc chóc. Thân xác chúng ta đây đến một ngày kia cũng đổ vỡ xuống, chắc chắn có một ngày như vậy, không sớm thì muộn, nếu cô Tâm không biết dòng pháp này, những ngày cô ở trong bệnh viện phải đối diện với những cảm giác đau khổ, sợ hãi, khiếp đảm của bệnh hoạn thì sẽ ra sao, nếu cô nhắm mắt ra đi trong đợt bệnh vừa rồi mà không biết giáo pháp thì cô sẽ ra sao.
Thật là không dễ dàng để được ngồi đây nghe pháp và thiền định. Thật là không dễ dàng trong giờ phút này được an tịnh ở núi rừng. Thật không dễ dàng gì trong thời gian này được ẩn tịnh nơi non vắng. Thật không dễ dàng gì trong giai đoạn này mình hành trì Thánh pháp, nghe được những lời chưa từng nghe, hiểu được những lời chưa từng hiểu, cảm nhận được những đạo lý chưa từng cảm nhận trong vô lượng kiếp vừa qua cho nên phải biết trân trọng, trân quý vì biết đâu đời sống mình sẽ giống con chó này nếu không khéo tu. Cho đến như vậy là vừa đủ để nhàm chán đối với tất cả mọi thứ ở trên đời, cho đến như vậy là vừa đủ để ly tham đối với mọi thứ trên thế gian này, cho đến như vậy là vừa đủ để buông bỏ, giải thoát đối với ngũ uẩn.
"Ai ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai ưa thích các pháp, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai không ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ. Ai không ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai không ưa thích các pháp, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ" (Tương Ưng Bộ, Chương IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, VIII. Ưa Thích (2))
Hoan hỉ, ưa thích, đắm trước trong thân xác này là người đó hoan hỉ, ưa thích đối với khổ. Ai vui thích nhìn ngắm thân xác này, ai đam mê trong thân xác này, ai say mê đắm đuối trong thân xác này là người đó đắm đuối, say mê khổ. Người ưa thích, say mê đối với khổ thì người này chắc chắn không thoát khỏi khổ đau. Ai ưa thích trong thân xác con chó này thì chúng sanh đó ưa thích trong nỗi khổ của con chó, mình phải để những lời này ngắm vào tâm, vào tim, vào tủy não của mình.
Con chó có bản ngã của con chó, có tham ái của con chó và đời sống thân chó tiếp nối đối với nó. Con giòi có bản ngã của con giòi, nó đam mê, ưa thích trong đống phân và nước tiểu và đời sống tiếp nối của nói là những thân giòi tiếp tục tái sanh, nó ưa thích những cảm giác đó, nó ưa thích những suy nghĩ, những cái tưởng, những nhận thức đó và nó tiếp tục đời sống súc sanh hôi thối, bẩn thỉu và nhơ nhớp.
Chúng ta ôm ấp một cái tự ngã, một cái bản ngã, một cái tham ái trong đời sống này và một cái ta, tôi này, một cảm giác trương phình to tướng này, những cảm giác cao ngạo, say đắm, chìm đắm trong dục, ái, tham đối với thân xác này, đối với những đời sống này và tiếp diễn những đời sống dục, tham, ái, sân si, vô minh và bản ngã.
Đau đớn cho chúng ta! Xót thương cho những sự vô minh, tăm tối, sự nhận lầm, chấp lầm, mê lầm, hiểu lầm, tưởng lầm, nghĩ lầm, biết lầm, bấu víu, chấp thủ vào trong thây thối này, trong nhà máy sản xuất phân này, trong công ty xuất nhập nguồn nước tiểu này rồi vênh váo, kiêu căng, hách dịch, khinh thường thiên hạ. Đau khổ cho cái bản ngã, đau khổ cho cái tham, dục, ái trong cái mê muội, si ám, đau khổ cho những đời sống không biết lối ra, lòng vòng và luẩn quẩn trong những cảm giác, nghĩ tưởng đó không có ngày ra, không có cách ra, không biết làm sao để thoát ra.
Ai hoan hỉ đối với những hình bóng, cảm giác nội tâm, những suy nghĩ, những sự rõ biết, nhận thức thì người đó hoan hỉ với khổ, ai hoan hỉ với khổ thì không thoát khỏi khổ đau. Ai không hoan hỉ với sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì người ấy không hoan hỉ khổ, không ưa thích khổ, ai không ưa thích khổ thì giải thoát khỏi khổ đau. Mình đang đi trên con đường nhàm chán đối với năm uẩn, đang thực tập sự không tham muốn, ly tham đối với thân xác, cảm giác, nhận thức và nghĩ tưởng này để đi đến chỗ giải thoát khỏi năm uẩn. Phải thực tập và phải cảm nhận một cách sâu sắc, cực kì thẩm thấu, cực kì thông đạt điều này, trí huệ này của Đức Phật.
IV. Gánh nặng
Năm uẩn này là một cái gánh rất nặng, năm thủ uẩn này rất nặng nề, mình tưởng tượng đang gánh một đòn gánh phía trước là một trăm kí, phía sau cũng một trăm kí và người này phải gánh bảy mươi năm.
"Này các Tỳ-kheo, thế nào là gánh nặng? Năm thủ uẩn là câu trả lời. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là gánh nặng" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, I. Gánh Nặng)
Năm uẩn là gánh nặng, người mang gánh nặng là tên đó, dòng họ đó, cái gánh này thật là nặng, từ khi được sanh ra, nuôi dưỡng rồi lớn lên là bắt đầu bảo vệ, chăm sóc, o bế, nâng niu và người này bị sập bẫy của sắc thủ uẩn, trong nghĩ ngợi, nhận thức và cảm giác người này đều cho đây là tôi, đây là của tôi, là sắc thủ uẩn, đó là gánh nặng thứ nhất, đi đâu cũng vác cái gánh này theo.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là kẻ mang gánh nặng? Người là câu trả lời. Vị Tôn giả này có tên như thế này, dòng họ như thế này. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kẻ mang gánh nặng!" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, I. Gánh Nặng)
Ăn không ngon là giận, ngủ không được là phiền, mặc không được là hờn, ai chê bai là sân si lên, cau có lên, nhìn thấy thua người ta là ganh tỵ, đố kỵ nên phải chau chuốt cho nó, cho ăn, cho mặc, cho ngủ, ở nước ngoài trả góp căn nhà trong ba mươi năm vẫn chưa xong, đó là chỉ có một cái ở thôi đã làm trâu cày ba mươi năm. Ngoài ra còn ăn, mặc, xe, phải lo lắng, suy nghĩ mãi, phải tìm kiếm mãi, toan tính đủ cách để gánh cái gánh này, nếu cái gánh này quá nặng có khi trợt chân té là sụp xuống, sau đó lại gượng dậy gánh tiếp chứ không thể buông được cho nên mới gọi là sắc thủ uẩn.
Gánh nặng quá thì sụp xuống vào viện gặp bác sĩ, tỉnh ngộ được một chút trong những ngày nằm viện, hết bệnh trở về lại tiếp tục gánh cơm áo gạo tiền, vợ chồng, con cái, bảo thủ tiếp, chấp thủ tiếp. Cho đến một ngày cái gánh này hoàn toàn sụp đổ, nằm đó thì thào, thở những hơi thở khó khăn, đặt gánh nặng xuống. Người mang gánh nặng là tham ái đưa đến tái sanh cùng với sự vui thích, đi tìm sự vui sướng chỗ này chỗ kia và sự khao khát, ham muốn bên trong mang gánh nặng đó lên. Như vậy khi nằm xuống, ngã đổ xuống thì người này tiếc nuối, hối hận, đau khổ, nước mắt đầm đìa, mình thấy những người chết nước mắt chảy ra hai bên khóe mắt, có nhiều người nói không được nhưng nước mắt chảy ra.
Suốt đời mình lo cho ăn, mặt, ở là vật chất, còn bên trong là dục, ái, tham, đáp ứng những nhu cầu mà nó ham muốn, khao khát, tìm kiếm và một cái khổ là không bao giờ thấy thỏa mãn, nó đòi hỏi rồi cho nó, rồi lại đòi hỏi và lại cho, cứ phục vụ mãi như vậy, làm đầy tớ cung phụng hoài, suốt cuộc đời mình chỉ làm bao nhiêu đó, nếu được thì vui thích, không được thì nổi sân lên rồi thù hận, trong đó là sự si ám của vô minh nên cuộc đời mình cứ lòng vòng như vậy.
Những cảm giác bên trong, thúc giục, đòi hỏi, sân hận, những hình bóng, suy nghĩ, ông Năm, bà Năm tóc bạc trắng nhưng ngồi suy nghĩ vẫn có gánh nặng, vẫn còn lo cho con, lo cho cháu, lo cho nhà cửa, cho nên năm uẩn là gánh nặng. Những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ hiện ra con cháu, nhà cửa, người thân… đó là gánh nặng, mình gánh thân xác này hơn bảy mươi năm, những cảm giác sân si, phiền bực trong tâm là gánh nặng thứ hai, những hình bóng con cháu, nhà cửa là gánh nặng thứ ba, những suy nghĩ làm mình bệnh tật là gánh nặng thứ tư, những nhận thức, rõ biết đó là gánh nặng thứ năm.
"Năm uẩn là gánh nặng,
Kẻ gánh nặng là người;
Mang lấy gánh nặng lên,
Chính là khổ ở đời.
Còn đặt gánh nặng xuống,
Tức là lạc, không khổ,
Ðặt gánh nặng xuống xong,
Không mang thêm gánh khác.
Nếu nhổ khát ái lên,
Tận cùng đến gốc rễ,
Không còn đói và khát,
Ðược giải thoát tịnh lạc!" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, I. Gánh Nặng)
"Này các Tỳ-kheo, thế nào là đặt gánh nặng xuống? Ðây là sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đặt gánh nặng xuống" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, I. Gánh Nặng)
Không còn tham đối với năm uẩn nữa, chấm dứt ưa thích, lòng khao khát đối với năm uẩn một cách hoàn toàn, không chấp thủ nữa thì gọi là đặt gánh nặng xuống. Cho nên ngày đêm tu quán bất tịnh, quán chín giai đoạn một tử thi, quán ba mươi hai thể trược, quán Khổ Thánh Đế để ly tham, chấm dứt sự ưa thích trong năm uẩn một cách hoàn toàn, từ bỏ, xả ly, giải thoát, không chấp thủ. Mình cứ làm như vậy cho đến khi nào thành công là đặt gánh nặng xuống, không mang thêm gánh khác, không đói sắc, không đói những cảm giác, không đói khát những hình bóng, suy nghĩ đó, không ưa thích, thèm thuồng nó nữa, thấy được bản chất của nó là vô thường, trống rỗng, khổ, vô ngã, không đáng ưa thích, không đáng tham, không đáng để đi tìm kiếm nó nữa.
Kính thưa đại chúng, thật sự tu con đường này sẽ khó chứ không dễ, vì khó nên mới thất truyền hai ngàn năm chứ nếu dễ đã không thất truyền. Một câu niệm, một câu chú rất dễ cho nên vấn đề ở đây không phải dễ hay khó mà là đúng hay không đúng. Nếu đúng thì bất chấp khó dễ và làm sẽ có kết quả, còn nếu không đúng thì khó thật khó cũng không có kết quả cho nên mình phải hân hoan, phải luôn trú trong hỷ lạc, hiện pháp lạc trú. Ví dụ mình được thầy hay sư huynh, sư đệ chỉ lỗi mình còn bản ngã, nếu theo thông thường là mình buồn, nếu biết tu thì phải vui.
Mình ra kinh doanh mà có người chỉ cho mình bí quyết thành công thì mình có cảm ơn không? Tại sao mình tu mà được người ta chỉ cho cách thành công thì mình lại buồn? Có phải mình ngu không? Nếu biết tác ý thì tu mới tiến, tu mới thành, tu mới có kết quả vì tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, nếu tác ý lệch thì mình dừng lại hoặc đi theo hướng tà hoặc mình bị thối đọa, cái này rất nhiều và chính tự thân con cũng nhìn thấy. Mình bằng lòng với những cái mình đang có được, mình thỏa mãn thì những người hướng dẫn mình sẽ buồn lo, nếu mình đi đến lậu tận thì được còn chưa đến lậu tận mà mình bằng lòng, thỏa mãn với những gì mình đang có là không được. Đức Phật nói ngài không tán thán người đứng lại đối với thiện pháp.
"Này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán đứng một chỗ trong các thiện pháp, còn nói gì tổn giảm. Này các Tỳ-kheo, Ta tán thán tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (III). Ðứng Một Chỗ)
Đây là chỗ khéo léo trong cái tu, khó nhưng đúng. Muốn làm cơ trưởng máy bay không phải chuyện dễ dàng, còn muốn chạy xe Grab rất dễ, có xe là chạy thôi, còn bây giờ mình muốn dễ thì ra chạy xe Grab. Trong sự tu cũng vậy, kết quả càng lớn chừng nào thì nó đòi hỏi công sức của mình phải có sự đánh đổi tương xứng. Chỗ nào đi cũng có sỏi đá nhưng kim cương rất khó tìm, Thánh pháp này còn hơn cả kim cương nữa cho nên điều quan trọng trong sự tu là phải tác ý cung kính, quý trọng, hiếm có khó gặp, thứ hai là phải tác ý hân hoan, hỷ lạc, vui sướng, hạnh phúc, thứ ba là phải tác ý kính thầy trọng pháp.
Khi con học pháp là phải bỏ hết tất cả địa vị của một người xuất gia, của một thầy trụ trì, của một giảng sư, của một pháp sư, của một sư phụ, còn những địa vị đó là không học được. Nếu không để tâm cung kính pháp hết mức thì làm sao học được? Vì đối với con chỉ thấy pháp chứ không thấy người, bất kể hình thái người đó là ai nhưng quan trọng cái đó là chánh pháp thì đó là mục tiêu, chí hướng của mình thì mới thành công, còn nếu cứ nhìn người đó mãi thì không thể nhập pháp được, đừng nhìn người mà hãy nhìn pháp.
Trong trời đất vũ trụ này không nhìn thấy gì cả mà chỉ thấy pháp thôi thì mình sẽ đắc pháp, suốt ngày chỉ thấy pháp, trong tất cả mọi trường hợp đối với nhân vật, sự việc chỉ thấy pháp chứ không thấy những cái pháp. Được khen cũng thấy đó là pháp, bị rầy cũng thấy đó là pháp, bị mắng nhiếc, bị hắt hủi cũng thấy là pháp, không thấy khen chê, chửi rủa mà chỉ thấy pháp thôi. Không thấy người đó là cư sĩ, xuất gia, già trẻ, bé lớn, đẹp xấu, trắng đen, cao thấp mà chỉ thấy pháp, không thấy người, không thấy vật, không thấy sự, không thấy việc mà chỉ thấy pháp.
Đừng bám vào hình thức, danh vị mà phải luôn tác ý khi buồn chán, hiện pháp lạc trú, hỷ lạc, phải tác ý liên tục mình là người hạnh phúc nhất trên thế giới, mình là người phước báo nhất, công đức nhất, vĩ đại nhất, Thánh pháp đã bị thất truyền hai ngàn năm nhưng mình lại gặp được. Khi buồn chán là phải trú vào hỷ lạc lập tức, nếu không mình sẽ bị rơi rớt, không chỉ người cư sĩ mà ngay cả người xuất gia ở trên núi cả năm, nhận diện ngũ uẩn liên tục, thậm chí lên giảng pháp luôn mà vẫn bị rơi rớt như thường, trở về đi niệm câu chú vì tu cái này quá khó, muốn chạy xe Grab chứ làm cơ trưởng khó quá. Lúc trước mình không biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mình không thấy tham, sân, si, bản ngã sanh khởi, hoạt động, mình không biết nó khủng khiếp đến mức nào mà giờ mình đã thấy được thì đó chính là trí huệ, đó là mình đã thấy được tự thân tự tâm của mình.
Người mù 47 năm, từ khi sanh ra đã mù lại ở một mình nên căn nhà bẩn thỉu, hôi hám, rác chồng chất. Người này được sáng mắt thì đầu tiên người này sẽ thấy rác, thấy dơ, nhưng thấy rồi phải làm, dọn dẹp, nếu thấy mà không dọn thì một là người này bị điên loạn thần kinh không biết phân biệt sạch dơ, hai là bị mù vì nếu là người minh mẫn, sáng mắt mà thấy dơ bẩn như thế thì chắc chắn phải dọn dẹp.
"Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy" (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)
Như vậy với người thấy người biết thì chắc chắn người này sẽ dọn dẹp, làm vệ sinh, có thể đống rác đó lớn nhưng sức yếu nên làm lâu nhưng người này cũng phải dọn, tùy theo sự tinh tấn, tinh cần, nỗ lực của người này mà dọn sớm hay muộn. Bị bù hơn bốn mươi năm mà nay được sáng mắt thì tất nhiên phải vui mừng, hân hoan cho nên mỗi lần thấy chán nản, lười biếng thì phải tác ý "mình được sáng mắt, được thấy đường thì phải vui".
Phải an trú vào trong hỷ lạc mỗi khi thấy buồn bã, thối thất tâm, hỷ lạc là được sáng mắt, thấy được thân tâm, thứ hai là thấy rồi nhiếp phục được phần nào cũng tác ý hỷ lạc, tác ý đánh đuổi nó xong là phải mỉm cười, ngày xưa mình bị nó diệt còn giờ mình diệt được nó nên mình vui, mình cười. Chỉ có một cuộc điện thoại hay một tin nhắn thôi mà sanh khởi lên bản ngã, sân lên thì khi mình tác ý đánh tan cảm giác đó thì thật sung sướng, phải thấy được sự chiến thắng đó.
Những khi mình lên Bồ-đoàn ngồi quán là một lẽ nhưng thật sự đánh đuổi nó sẽ rất thú vị, tức là ngay khi nó sanh khởi mà mình nhiếp phục, đánh tan được nó thì chỗ đó là hỷ lạc. Khi thực hành rồi sẽ thấy rất thú vị, cảm thọ được tan ra cho nên mỗi khi chiến thắng là con cười vui sướng, trong thất đi kinh hành hạnh phúc, nếu mình còn sự hung dữ thì cần phải tu nhiều hơn. Mỗi khi đang sân mà con nhắn tin "Dạ, thưa chú ạ…" là con cảm thấy sung sướng vì đang sân mà có thể nhắn tin dạ thưa, xưng con, còn ngày xưa sẽ không được như vậy.
Qua đây mình thấy được sự giải tỏa, giải phóng cảm giác dục, tham, ái, sân si, bản ngã, hôm bữa con quỳ lạy thầy Pháp An để nhập thất mà thầy khóc, nếu không học dòng pháp này thì có đi xuất gia con cũng không lạy cho nên phải hỷ lạc trong chiến thắng, lấy những cái này làm động lực, làm sự khích lệ, làm sự tưới tẩm vì nếu không như vậy có khi thấy rác nhiều sẽ bị sốc, tức là thấy nội tâm quá khủng khiếp và có lúc mình sẽ nghĩ mình không tu nổi, những suy nghĩ này vô cùng nguy hiểm, rất dễ xuống núi hoặc là tu cho có hình thức, đến giờ tu cũng lên ngồi cho có, nghe người khác nói cũng gật đầu, gọi đến tên thì cũng cầm micro nói vài câu, giống như có xác mà không có hồn, không thấy hoan hỉ, không thấy hứng thú, sung sướng trong pháp.
Nếu tu dòng pháp này mà không có hỷ lạc là không tu được, sớm muộn gì cũng rơi rớt cho nên con nhìn gương mặt người nào thường bí xị là phải để ý chăm sóc người đó vì khi thấy trì trệ, không an trú hỷ lạc sẽ dễ rơi rớt. Có khi không phải an trú hỷ lạc một hai tháng mà có thể an trú hỷ lạc cả mấy năm, tức là lúc nào nghe pháp cũng thấy hỷ lạc, lúc nào tu cũng thấy hạnh phúc nhưng cũng có lúc thấy xấu hổ, nhức nhối vì trong sự tu này có đầy đủ các cung bậc cảm xúc. Nhìn thấy ngồi yên, thấy ở một mình nhưng trong tâm là những trận chiến ác liệt chứ không phải ngồi yên là yên, phải chiến đấu dữ dội trong tâm, như thế mới là:
"Dầu tại bãi chiến trường
Thắng ngàn ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng"
(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 103)
Thắng chính mình là thắng những cảm giác thúc giục, hướng ngoại, những cảm giác bực bội, khó chịu, sân giận, ta đây, bản ngã, hơn thua, thắng được những cảm giác đó là tự thắng được chính mình. Như vậy trong những trận thắng nhỏ đó phải biết tác ý hỷ lạc để vui mừng vì tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, nếu không tác ý thì làm sao pháp sanh khởi. Lên núi tu là tác ý, nghe chim hót cũng tác ý, nhìn trúc lay tác ý thấy hạnh phúc, vui sướng vì giờ này được ở đây, con ngồi nhìn trúc lay, chim hót cả một không gian mát mẻ, đại chúng trang nghiêm là con không muốn giảng vì con muốn kéo dài cảm giác yên tịnh, thần thánh, thiêng liêng này.
Cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác toàn thân, cảm nhận không gian, cảm nhận sự trang nghiêm, thanh tịnh của đại chúng tinh ba chứ không phải đại chúng cặn bã. Những cảm giác này nuôi dưỡng tâm tu của mình, nếu không có những cảm giác này là tu không được vì tu con đường này là diệt những cấu nhiễm cho nên phải thấy cấu nhiễm mới diệt được, còn không thấy thì làm sao diệt hoặc là thấy rồi sợ cấu nhiễm thì làm sao tu.
Có anh chàng cố gắng vẽ ra hình con ma, con quỷ cho thật ghê rợn, hung tợn nhưng vẽ ra rồi anh chàng lại sợ. Có nhiều người sợ ma lại thích xem phim ma, che đầu lại không dám đi đâu. Cũng vậy, trong sự tu này phải biết chế tác hỷ lạc, phải an trú trong sơ thiền càng nhiều chừng nào càng tốt chừng đó nhưng phải tinh cần, tinh tấn, nỗ lực. Hỷ lạc để cố gắng chứ không phải hỷ để thỏa mãn, hài lòng, hoan hỉ, thích thú trong hiện tại rồi dừng lại luôn, không tiến bộ nữa, tiến hoài mà không có hỷ đến khi căng thẳng sẽ mệt mỏi cho nên hỷ để nuôi tiến bộ và cái tiến bộ đặt nền tảng trên cái hoan hỉ.
Tu như vậy rất thú vị cho nên lâu lâu phải lên núi vì ở nhà một thời gian sẽ không có hỷ, thậm chí mất luôn sự tinh tấn nên cứ trơ trơ ra. Bị chi phối bởi công việc, chồng con, xem tin tức dịch bệnh nên lo sợ rồi mất luôn cả pháp cho nên phải duy trì hỷ lạc, mỗi khi nghe kinh mà sáng trí ra hoặc mình quán chiếu mà ngộ ra được vấn đề nào đó, cái tưởng khi thiền quán hiện rõ ra hơn lúc trước hoặc là nhờ dịch bệnh nên mình thấy lời Đức Phật nói hiện rõ ra nên tác ý tôn trọng pháp, cung kính pháp, khát khao pháp, khát ngưỡng pháp. Trong thời nghe pháp phải tác ý chứ không được để hôn trầm, tác ý đánh cho hôn trầm tan ra, dù cho nghe pháp liên tục vài tiếng cũng tỉnh táo, sáng suốt.
Cô mang thân thể nan y bệnh hoạn, nghe pháp muốn xỉu nhưng vẫn cố gắng nhiếp phục cảm thọ, bắt làm kinh là phải làm trong khi mình chỉ ngồi nghe pháp mà nghe không nổi nên phải thấy xấu hổ, phải tác ý nhiều cách để thành công, làm chủ cảm thọ, bắt nó phải làm dù cho mệt mỏi. Cũng như con uống thuốc ho sẽ hết ho nhưng buồn ngủ, có khi mệt quá thì ngủ nhưng có hôm cũng phải tác ý, đi thiền hành.
./.