Nghiệp & Quả Báo 3
Kinh Nikāya Giảng Giải
Nghiệp & Quả Báo 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tầm quan trọng của năm giới PAGEREF _Toc180868272 \h 1
II. Tầm quan trọng của tám giới PAGEREF _Toc180868273 \h 4
I. Tầm quan trọng của năm giới
Kính bạch Đức Thế Tôn, kính bạch các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử. Hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu về chuyên đề nghiệp theo tinh thần kinh tạng Nikāya trong Tăng Chi Bộ kinh tập III, bài kinh Rất Là Nhẹ, tức là quả báo hết sức nhẹ của năm nghiệp ác như sau:
"- Này các Tỳ-kheo, sát sanh được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của sát sanh là được làm người với tuổi thọ ngắn" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)
Đây là những lời kim khẩu của Đức Phật nói về quả báo giết hại chúng sanh cho chúng ta biết. Nghiệp theo thời gian sẽ biến đổi và làm cho chín muồi giống như trái cây thì gọi là dị thục, quả báo của nghiệp ác theo thời gian sẽ biến đổi và chín muồi và khi nó biến đổi và chín muồi nếu nặng thì bị đọa xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, còn quả báo rất nhẹ của sát sanh là được làm người nhưng thường bị chết yểu.
"Này các Tỳ-kheo, lấy của không cho được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của lấy của không cho là được làm người với sự tổn hại tài sản" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)
Nghiệp trộm cắp nặng ví dụ như trộm thùng phước sương, trộm thùng tam bảo phước điền, trộm những của cải của thập phương thường trụ tam bảo… thì nó sẽ đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, còn quả báo thật là nhẹ của trộm cắp là người này bị trộm cắp lại, bị mất tiền của, bị phá sản…
"Này các Tỳ-kheo, tà hạnh trong các dục được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của tà hạnh trong các dục là được làm người với sự oán thù của kẻ địch" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)
Quả báo nặng của tà dâm, tà hạnh trong các dục là rơi xuống ba đường ác, quả dị thục nhẹ nhất là được sanh trở lại làm người nhưng người này sẽ có rất nhiều sự oán thù, có nhiều kẻ thù nghịch, thù địch. Qua đây chúng ta cần chiêm nghiệm lại trong đời sống của mình, nếu mình có nhiều kẻ thù, nhiều người không thích mình thì mình biết cái nhân của mình là như thế nào rồi. Có những người sanh ra có rất ít kẻ thù, thậm chí là không có nhưng cũng có người đi đến đâu là gặp người ghét, người thù đến đó không có lý do thì mình phải hiểu được quả báo trong quá khứ.
"Này các Tỳ-kheo, nói láo được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói láo là được làm người bị vu cáo không đúng sự thật" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)
Nếu nói láo được thuần thục, được làm cho đầy đủ thì đưa đến ba đường ác, còn quả dị thục rất nhẹ của nói láo là được làm người nhưng người này sẽ bị vu cáo không đúng sự thật. Có những người bị án oan hai mươi năm, ba mươi năm, thậm chí chết đi rồi mới được minh oan, đó là nặng còn thường sẽ bị vu khống, vu cáo dù mình không như vậy và mình phải biết rằng đó là quả dị thục rất nhẹ của nghiệp nói láo từ đời trước.
"Này các Tỳ-kheo, nói hai lưỡi được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói hai lưỡi là được làm người với bạn bè bị đổ vỡ" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)
Nói hai lưỡi tức là đâm bị thóc thọc bị gạo, đến người này thì nói xấu người kia, đến người kia thì nói xấu người này. Nghiệp này nếu nặng sẽ rơi vào ba đường ác, còn nhẹ nhất là được làm người nhưng chơi với bạn một thời gian là bị đổ vỡ, không có bạn tri ân, tri kỷ, không có người bạn lâu dài, bền bỉ, nói xấu hết người này đến người kia thì làm sao có được tình bạn bền chặt, bền lâu. Ngay trong hiện tại đã không có được tình bạn dài lâu thì nói gì người này đã tích tụ, đã huân tập, đã thực hiện nói hai lưỡi rất nhiều trong quá khứ thì quả báo nhẹ nhất là tình bạn bị đổ vỡ.
"Này các Tỳ-kheo, nói ác khẩu được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói ác khẩu là được làm người và được nghe những tiếng không khả ý" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)
Quả báo nặng của việc nói lời hung ác, nói lời hung tàn, hung dữ là đọa ba đường ác, còn nhẹ nhất là được làm người nhưng phải nghe những lời nói không vừa ý, phải nghe những tiếng làm cho mình xót xa, đau đớn, cay đắng chứ không được nghe những lời vừa lòng, thích ý, ngọt ngào. Khi học giáo lý về nghiệp thì mình sẽ rõ từ trong con người mình cho đến những người xung quanh và đến tất cả những loài hữu tình chúng sanh, nhìn lại là mình biết lúc trước mình tu ra sao, nhân gì mà bây giờ mình nhận quả báo này.
"Này các Tỳ-kheo, nói lời phù phiếm được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói lời phù phiếm là được làm người và được nghe những lời khó chấp nhận" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)
Nói lời phù phiếm là nói vu vơ, nói vô ích, vô nghĩa, không có lợi ích, giá trị gì cả nhưng cứ nói mãi, không ngừng nghỉ, đó cũng là một nghiệp xấu, nghiệp bất thiện vì khi nói những lời đó tâm mình bị tán loạn, dao động, buông lung phóng dật, từ lời nói đó sẽ chiêu cảm ra nghiệp ác, nghiệp xấu, quả dị thục nhẹ nhất của việc nói lời phù phiếm là được làm người nhưng phải nghe những lời nói khó chấp nhận. Trên đây là quả báo của bốn loại lời nói dối, nói lưỡi đôi chiều, nói lời ác khẩu và nói lời phù phiếm.
" Này các Tỳ-kheo, uống men rượu, rượu nấu, được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của uống rượu mem, rượu nấu là được làm người với tâm điên loạn" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)
Khi uống rượu say sưa, sử dụng những chất làm cho mình si mê, không tỉnh táo thì ngay trong lúc đang sử dụng mình đã là người ngu si, là người điên cuồng huống gì những thứ này được tích tập, được thực hiện, được làm cho sung mãn thì cái nặng nhất của mình là đưa đến địa ngục vì say sưa vào, si mê rồi sẽ dễ gây tội ác mà không có nhận thức, không có suy xét tỉnh táo, còn quả dị thục nhẹ là làm người nhưng điên loạn. Có những người đầu bù tóc rối, quần áo tả tơi thậm chí không mặc quần mặc áo đi lang thang ngoài đường nói chuyện một mình, chửi bới một mình thì đó là quả dị thục rất nhẹ của uống rượu trong đời trước hoặc ngay trong đời này.
Ngày đầu tiên mình bước vào cánh cửa chùa, phát tâm trở về nương tựa với Phật, với pháp, với Tăng thì Đức Phật đã dạy giữ năm giới, từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ lấy của không cho, tà bỏ tà tâm, tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, nói lời hung ác, nói lưỡi đôi chiều, nói lời phù phiếm, từ bỏ các chất say sưa nghiện ngập, đó là Đức Phật không muốn mình rơi vào chết yểu, thứ hai là phá sản, bị trộm cắp, thứ ba là ngài không muốn mình bị oán thù, thứ tư là ngài không muốn mình bị vu cáo, vu oan, thứ năm là Đức Phật không muốn mình bị đổ vỡ trong tình cảm bạn bè, muốn mình có được tình bạn tốt đẹp, thứ sáu là ngài muốn mình nghe những lời nói vừa lòng, dễ chịu chứ không phải nghe những lời khó chịu, đau lòng và cuối cùng là ngài muốn mình có tâm tỉnh táo, sáng suốt, thông minh. Năm điều đạo đức này là xây dựng hạnh phúc trong hiện tại, trong tương lai nhiều kiếp về sau trong cõi nhân thiên, đây là nền tảng rất quan trọng từ tại gia cho đến xuất gia, từ cư sĩ cho đến tu sĩ.
II. Tầm quan trọng của tám giới
Tiếp theo ngài giảng về bài kinh Ngày Trai Giới trong Tăng Chi Bộ, tập III.
"- Này các Tỳ-kheo, ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn. Như thế nào, này các Tỳ-kheo, là ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: 'Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành trai giới'. Ðây là chi phần thứ nhất được thành tựu" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (I). Các Trai Giới)
Trong bài kinh này Đức Phật tuyên dương về giới pháp trong bát quan trai giới, nhất là các vị Phật tử chúng ta cần để ý thật kĩ. Trọn đời các bậc Thánh đoạn tận, dứt hẳn sát sanh, từ bỏ sát sanh, các ngài bỏ gậy, bỏ kiếm, các ngài biết lo lắng và sợ hãi đối với cái nghiệp sát sanh, đối với quả báo của sự sát sanh. Các ngài sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả các loài có mạng sống cũng như các loại hữu tình có nhận thức, có nhận biết, mình cũng học theo các bậc Thánh bỏ gậy, bỏ kiếm, biết xấu hổ và sợ hãi khi sát sanh, thương xót đến tất cả hạnh phúc của chúng sanh, với chi phần này mình theo gương vị A-la-hán thực hành trai giới, như vậy chi phần thứ nhất được thành tựu.
Ở chi phần thứ nhất Đức Phật dạy phải tác ý, suy nghĩ theo các bậc Thánh nhân dứt bỏ sát sanh. Những điểm chúng ta cần ghi nhớ là biết tàm quý, nghĩa là biết xấu hổ và sợ hãi đối với cái nghiệp và quả báo của ác nghiệp. Mình không ăn những con vật đó không có nghĩa là mình chết, mình vẫn có thể ăn đậu, ăn rau, ăn củ quả để sống, thậm chí là sống khỏe, ít bệnh.
Chỉ vì một chút cảm thọ, cảm giác ở lưỡi mà chúng ta chặt cổ, nhổ lông, nhồi da, xáo thịt, chiên, xào, nấu, nướng rồi nói cười sung sướng trên nỗi đau khổ quằn quại của những chúng sanh đó. Vừa rồi trong quá tu Nikāya ở chùa Hoằng Pháp thì quý thầy có mở một đoạn clip ngắn về những người làm thịt chó, xem rồi mới thấy khủng khiếp, họ đập đầu, cắt cổ, lột da con chó trong vũng máu lênh láng, hoặc là chúng ta sẽ thấy rùng rợn, kinh hãi trong những lò mổ heo, mổ trâu, mổ bò, tất cả những điều này xuất phát từ cái miệng, từ sự ham thích, ưa thích vị ngon, cảm giác của lưỡi mà bao nhiêu loài vật, bao nhiêu chúng sanh hữu tình phải đau đớn, quằn quại. Trong một bài kinh khác Đức Phật nói rằng người nào còn phạm vào năm giới này thì còn sống trong sợ hãi và còn sống trong thù hận.
"- Này Gia chủ, ai không đoạn tận năm sợ hãi hận thù, được gọi là ác giới và sanh vào địa ngục. Thế nào là năm? Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men, rượu nấu.
Này Gia chủ, ai không đoạn tận năm sợ hãi hận thù này, được gọi là ác giới và sanh vào địa ngục" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XVIII. Phẩm Nam Cư Sĩ, (IV) Sợ Hãi Hận Thù)
Tại sao không đoạn tận năm sự sợ hãi này lại sống trong thù hận và sợ hãi? Vì không có con mèo, gà, chó, vịt, heo nào tự nguyện để mình giết nó, khi mình cắt cổ nhổ lông, thọc huyết thì nó kêu gào đau đớn ở trong cảm giác kinh hoàng, sân hận cho nên còn sát sanh là còn hận thù, còn sát sanh còn sợ hãi, còn đau đớn, còn máu, còn nước mắt.
Tuy rằng mình chưa ăn chay trường được thì mỗi khi dùng thức ăn đó phải biết đây là sự đau khổ của chúng sanh, máu và nước mắt trong đó, hoảng loạn trong đó, thù hận trong đó. Toàn cầu chúng ta đang phải chịu một đại dịch khủng khiếp, con số tử vong rất khủng khiếp, tất cả những cái này cũng từ quả báo sát sanh với tâm thù hận đã chất chứa từ lâu rồi sanh ra những loại vi khuẩn như vậy, những loại dịch bệnh như vậy, thậm chí đến cả dịch sốt xuất huyết cũng đang báo động, chỉ riêng trong thành phố đã có 1.118 ổ dịch và đã có người tử vong, ngoài ra còn biết bao biến chủng, biến thể và biết bao chứng bệnh kì lạ có liên hệ đến sự ăn uống của chúng ta, đó là những quả báo của sát sanh chiêu cảm lên như vậy. Có khi mình đã ăn chay trường rồi nhưng mình lỡ đạp con này, giết con kia cũng cảm thấy xót xa, tội lỗi, đó là tâm tàm quý, điều này rất quan trọng vì phải biết lo lắng và sợ hãi khi gây ra nghiệp sát sanh nên mình tránh tạo nghiệp và nuôi dưỡng lòng từ, đó là noi theo gương các bậc Thánh, các bậc A-la-hán.
"'Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới'. Ðây là chi phần thứ hai được thành tựu.
'Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận phi Phạm hạnh, hành Phạm hạnh, sống xa lánh, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận phi Phạm hạnh, hành Phạm hạnh, sống xa lánh, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới'. Ðây là chi phần thứ ba được thành tựu.
'Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới'. Ðây là chi phần thứ tư được thành tựu.
'Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận đắm say men rượu men, rượu nấu, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận đắm say men rượu men, rượu nấu, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới'. Ðây là chi phần thứ năm được thành tựu.
'Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới'. Ðây là chi phần thứ sáu được thành tựu.
'Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới'. Ðây là chi phần thứ bảy được thành tựu.
'Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận, không dùng các giường cao, giường lớn, từ bỏ không dùng các giường cao, giường lớn. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận, không dùng các giường cao, giường lớn, từ bỏ không dùng các giường cao, giường lớn. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới'. Ðây là chi phần thứ tám được thành tựu. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (I). Các Trai Giới)
Chúng ta nói một cách tổng quát về tám giới cao thượng, trong sạch của các bậc Thánh để các cư sĩ thực tập theo, có khi chúng ta giữ trong một ngày, có khi chúng ta giữ một tuần, có nhữnh vị phát tâm giữ bát quan trai giới một tháng, ba tháng, thậm chí có những vị nguyện giữ suốt đời để học theo gương hạnh của đời sống trong sạch, thanh tịnh của các bậc Thánh. Sau đây là kết quả thù thắng, tối thượng của ngày trai giới.
- Này các Tỳ-kheo, ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn. Như thế nào, này các Tỳ-kheo, là ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn?
Ví như, này các Tỳ-kheo, có người áp đặt chủ quyền cai trị trên mười sáu quốc độ lớn này tràn đầy bảy báu, như Anga, Magadha, Kàsìkosala, Vajjì, Cetì, Vamsà, Kurù, Pancàlà, Macchà, Sùrasenà, Asska, Avantì, Gandhàrà, Kambojà. Nhưng chủ quyền ấy không bằng một phần mười sáu của một ngày trai giới thành tựu tám chi phần. Vì cớ sao? Nhỏ nhoi, này các Tỳ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II). Các Trai Giới)
Đức Phật ví dụ một người làm vua của 16 nước với đầy đủ những thứ quý báu nhưng vẫn không quý báu bằng 1/16 sự thực hành một ngày trai giới trọn vẹn trong một ngày một đêm. Tại sao vậy? Vì người giữ gìn 8 giới này trọn vẹn trong một ngày một đêm thì người này chắc chắn sanh thiên.
"Năm mươi năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên Bốn thiên vương. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Năm mươi năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên Bốn thiên vương. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo: 'Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên Bốn thiên vương'. Do vậy, Ta nói: 'Nhỏ nhoi thay, này các Tỳ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên'". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II). Các Trai Giới)
Năm mươi năm của cõi người chúng ta chỉ bằng một ngày một đêm ở cõi trời tứ thiên vương, 50 năm tuổi đời chúng ta chỉ là một ngày ở cõi trời tứ thiên vương mà thôi. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Năm mươi năm như vậy là tuổi thọ của cõi trời tứ đại thiên vương, con số tuổi thọ rất là kinh khủng cho nên Đức Thế Tôn mới nói chủ quyền của loài người rất nhỏ nhoi. Cứ cho là mình sống được 100 tuổi, làm vua được cỡ khoảng tám chín chục năm thì cũng chỉ mới hơn được một ngày ở cõi trời tứ đại thiên vương, đó là làm vua được thuận lợi không bị tạo phản soái ngôi, không giết hại lẫn nhau giành giựt ngôi báu.
"Một trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Ba mươi ba. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Một ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Ba mươi ba. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo: 'Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Ba mươi ba'. Do vậy, Ta nói: 'Nhỏ nhoi thay, này các Tỳ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên'". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II). Các Trai Giới)
Một trăm năm của chúng ta chỉ bằng một ngày một đêm của cõi trời tam thập tam thiên, là cõi trời ba mươi ba. Tuổi thọ của cõi trời ba mươi ba lên đến một ngàn năm.
"Hai trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Yàma. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Hai ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Yàma. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo: 'Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Yàma". Do vậy, Ta nói: 'Nhỏ nhoi thay, này các Tỳ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên'". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II). Các Trai Giới)
Hai trăm năm ở thế giới của mình mới bằng một ngày một đêm ở cõi trời Dạ-ma thôi, hai ngàn năm là tuổi thọ của chư thiên ở cõi trời Dạ-ma. Có người nam hay người nữ tu bát quan trai giới thành tựu tám chi phần thì người này sau khi nhắm mắt thì sanh lên ở chung với chư thiên ở cõi trời Dạ-ma cho nên chủ quyền của loài người rất nhỏ nhoi nếu so sánh với hạnh phúc của chư thiên.
"Bốn trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Tusità (Ðâu-Xuất). Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Bốn ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Tusità. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo: 'Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Tusità'. Do vậy, Ta nói: 'Nhỏ nhoi thay, này các Tỳ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên'". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II). Các Trai Giới)
Bốn trăm năm của thế giới loài người chỉ bằng một ngày một đêm ở cõi trời Đâu-suất và tuổi thọ ở đó lên đến bốn ngàn năm.
"Tám trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Hóa lạc. Tám ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Hóa lạc. Sự kiện này có xảy ra, ... với hạnh phúc chư Thiên" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II). Các Trai Giới)
Tám trăm năm của loài người chỉ bằng một ngày một đêm của chư thiên ở cõi trời Hóa lạc, chư thiên ở đây sống đến tám ngàn tuổi.
"Mười sáu trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Mười sáu ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo: 'Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Do vậy, Ta nói: 'Nhỏ nhoi thay, này các Tỳ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên'" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II). Các Trai Giới)
Mười sáu trăm năm tức là một ngàn sáu trăm năm ở thế gian này mới bằng một ngày một đêm của chư thiên ở cõi trời tha hóa tự tại, tuổi thọ ở đây lên đến mười sáu ngàn năm, thật là khủng khiếp cho nên cái trí phàm phu của mình và cái tâm rất nhỏ hẹp, nhỏ bé, hơn thua từng chút một trong ánh mắt, trong hành động, hơn thua từng đồng từng cắc giống như đồ ăn rớt xuống đất là mấy con chó nhào đến giành giật, mấy con mèo nhảy lại hoặc cả bầy kiến bu vô, các bậc Thánh đệ tử thiên hoặc chư thiên thông thường nhìn thấy mình giống như đám giòi bu vào đống phân, trong một tấm thân đầy bất tịnh, đầy bệnh hoạn, đầy lo âu, bất an và sợ hãi lại thêm kiêu căng, ngạo mạn, hống hách tranh giành những điều vô nghĩa. Đức Thế Tôn, các bậc Thánh và các bậc Thánh đệ tử thiên ở Tịnh Cư thiên nhìn mình như những con giòi bò lúc nhúc trong đống phân, hằn học trong từng cử chỉ, hơn thua từng ánh mặt, đấu đá nhau từng chút một với những thứ vô thường, tạm bợ, những bọt bong bóng nước. Chúng ta thật là đáng thương, chúng ta rất là đáng thương, chúng ta rất là dại khờ, chúng ta rất là si mê, chúng ta rất mờ tối.
Thương thay trò sanh tử,
Thương thay nẻo tái sanh,
Thương thay cảnh nhân quả,
Chúng sanh đáng thương thay.
Thương thay tâm mờ tối,
Chẳng rõ khổ của nhau,
Còn bày thêm đau khổ,
Thêm khổ buồn cho nhau.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Các quán ăn tranh giành khách khứa rồi nói qua nói lại thế là đánh nhau, chém nhau, thậm chí người thân trong gia đình cũng không chừa chứ đừng nói gì người lạ, thậm chí bà con cùng một huyết thống, anh em ruột, cha mẹ nhưng gì lòng tham, vì sự ích kỷ, nhỏ mọn, vì hơn thua, cái ta, cái tôi nên làm khổ cho nhau, hành hạ cho nhau bằng những cảm giác của bực bội, bức xúc, hơn thua, chúng ta hành tội nhau bằng những cảm giác sân hận, tức giận, thiêu đốt. Chúng ta thật là đáng thương, thật là dại khờ, chúng ta bị bóng đêm của vô minh bao phủ, bao trùm, bao kín nhưng lúc nào chúng ta cũng vỗ ngực xưng tên mình thông minh chứ mình không biết sự thật vô cùng đau lòng là mình rất vô minh.
"Người ngu nghĩ mình ngu,
Nhờ vậy thành có trí.
Người ngu tưởng có trí,
Thật xứng gọi chí ngu"
(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 63)
Mình si mê nhưng biết mình si mê, nhờ vậy mình trở thành sáng suốt, nếu si mê mà cứ nghĩ là sáng suốt thì đó là đại si mê. Mình vô minh nhưng biết là vô minh thì từ từ mình sẽ phá cái vô minh đó để trở thành minh trí, mình vô minh nhưng lại cho rằng có trí thì đó là đại vô minh, mình không nhìn thấy được đời sống này là vô thường, mình không thấy đời sống này là sự bấp bênh như bọt bèo, như bong bóng, như hoa phù du, mình không thấy tai nạn và hiểm họa đang ở khắp mọi chỗ mọi nơi, nó đang rình rập chúng ta.
Chúng ta đang bị vây hãm trong sanh, già, bệnh, chết, chúng ta đang bị vây hãm trong bệnh tật, trong bất an, trong lo lắng, sợ hãi, chúng ta đang bị vây hãm trong tham dục, trong nóng giận, trong bóng tối của vô minh, tron sự hơn thua, giành giật, tranh đấu, bản ngã, kiêu căng, chúng ta đang bị vây hãm trong khổ đau, chúng ta phải nhận thức sâu sắc điều này để chúng ta từ bỏ những ác nghiệp, tu tập thiện nghiệp, từ bỏ con đường xấu để quay về nẻo thiện lành.
Đức Phật đưa ra năm giới, đó là năm điều đạo đức bảo vệ cuộc sống bình an, sau đó ngài lại đưa ra tám đều cao thượng, thánh thiện của đời sống bậc Thánh. Chúng ta chỉ cần giữ gìn tương đối tốt là chúng ta đã qua lại trong nhân thiên, còn nếu giữ gìn trọn vẹn thì lên được cõi trời tha hóa tự tại với tuổi thọ mười sáu ngàn năm. Chúng ta phải thường thực tập, quán chiếu cuộc sống của chúng ta vô cùng nhỏ nhoi, những cái phước mà mình đang có thật sự nhỏ bé, không đáng gì cả. Đừng vì một chút lợi ích mà huynh đệ tương tàn, anh em chia lìa, đừng vì vài câu nói mà vợ chồng sân hận nhau, đừng vì một chút tiền tài mà cha con bất hòa, mẹ con không nhìn mặt nhau rồi trở thành bất hiếu.
Phải cố gắng siêng năng sống có đạo đức, sống có nhân nghĩa, sống có nghĩa tình, sống có hiếu hạnh, biết giữ gìn những giới pháp trong sạch, cao thượng, thánh thiện mà Đức Phật đã truyền trao rồi chúng ta sẽ thấy được kết quả mà Đức Phật gọi là "được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn".
Trong thời gian gần đây Minh Thành rất xót xa về những sự việc xảy ra hằng ngày trên mặt báo, mình biết rằng ác nghiệp của chúng sanh càng ngày càng mãnh liệt, càng lớn mạnh, càng kinh hoàng, kinh hãi và khủng khiếp. Giai đoạn này rất phù hợp để chúng ta học về nghiệp và quả báo của nghiệp, chúng ta cố gắng tránh dữ làm làm và tu tập các thiện pháp, đây chính là tâm đại bi của Đức Phật, đây chính là chiếc bè, chiếc phao, chiếc thuyền mà Đức Thế Tôn đã để lại cho nhân loại, cho chư thiên dù đã trải qua hơn 26 thế kỉ.
Đức Phật đã lưu lại chiếc phao, chiếc bè, chiếc thuyền này để chúng sanh bám vào, leo lên để có thể qua được biển cả của khổ đau, của ác nghiệp, biển cả của tội lỗi, của ác thú, của đọa xứ, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Mong rằng chúng ta cần chiêm nghiệm thật kĩ những lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya và cố gắng thực hành năm giới, tám giới cao thượng, trong sạch, thanh tịnh để có thể giúp chúng ta có một đời sống an lạc, hạnh phúc ngay trong hiện tại và nhiều kiếp trong tương lai về sau như lời Đức Phật đã nói.
./.
Nghiệp & Quả Báo 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tầm quan trọng của năm giới PAGEREF _Toc180868272 \h 1
II. Tầm quan trọng của tám giới PAGEREF _Toc180868273 \h 4
I. Tầm quan trọng của năm giới
Kính bạch Đức Thế Tôn, kính bạch các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử. Hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu về chuyên đề nghiệp theo tinh thần kinh tạng Nikāya trong Tăng Chi Bộ kinh tập III, bài kinh Rất Là Nhẹ, tức là quả báo hết sức nhẹ của năm nghiệp ác như sau:
"- Này các Tỳ-kheo, sát sanh được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của sát sanh là được làm người với tuổi thọ ngắn" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)
Đây là những lời kim khẩu của Đức Phật nói về quả báo giết hại chúng sanh cho chúng ta biết. Nghiệp theo thời gian sẽ biến đổi và làm cho chín muồi giống như trái cây thì gọi là dị thục, quả báo của nghiệp ác theo thời gian sẽ biến đổi và chín muồi và khi nó biến đổi và chín muồi nếu nặng thì bị đọa xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, còn quả báo rất nhẹ của sát sanh là được làm người nhưng thường bị chết yểu.
"Này các Tỳ-kheo, lấy của không cho được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của lấy của không cho là được làm người với sự tổn hại tài sản" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)
Nghiệp trộm cắp nặng ví dụ như trộm thùng phước sương, trộm thùng tam bảo phước điền, trộm những của cải của thập phương thường trụ tam bảo… thì nó sẽ đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, còn quả báo thật là nhẹ của trộm cắp là người này bị trộm cắp lại, bị mất tiền của, bị phá sản…
"Này các Tỳ-kheo, tà hạnh trong các dục được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của tà hạnh trong các dục là được làm người với sự oán thù của kẻ địch" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)
Quả báo nặng của tà dâm, tà hạnh trong các dục là rơi xuống ba đường ác, quả dị thục nhẹ nhất là được sanh trở lại làm người nhưng người này sẽ có rất nhiều sự oán thù, có nhiều kẻ thù nghịch, thù địch. Qua đây chúng ta cần chiêm nghiệm lại trong đời sống của mình, nếu mình có nhiều kẻ thù, nhiều người không thích mình thì mình biết cái nhân của mình là như thế nào rồi. Có những người sanh ra có rất ít kẻ thù, thậm chí là không có nhưng cũng có người đi đến đâu là gặp người ghét, người thù đến đó không có lý do thì mình phải hiểu được quả báo trong quá khứ.
"Này các Tỳ-kheo, nói láo được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói láo là được làm người bị vu cáo không đúng sự thật" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)
Nếu nói láo được thuần thục, được làm cho đầy đủ thì đưa đến ba đường ác, còn quả dị thục rất nhẹ của nói láo là được làm người nhưng người này sẽ bị vu cáo không đúng sự thật. Có những người bị án oan hai mươi năm, ba mươi năm, thậm chí chết đi rồi mới được minh oan, đó là nặng còn thường sẽ bị vu khống, vu cáo dù mình không như vậy và mình phải biết rằng đó là quả dị thục rất nhẹ của nghiệp nói láo từ đời trước.
"Này các Tỳ-kheo, nói hai lưỡi được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói hai lưỡi là được làm người với bạn bè bị đổ vỡ" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)
Nói hai lưỡi tức là đâm bị thóc thọc bị gạo, đến người này thì nói xấu người kia, đến người kia thì nói xấu người này. Nghiệp này nếu nặng sẽ rơi vào ba đường ác, còn nhẹ nhất là được làm người nhưng chơi với bạn một thời gian là bị đổ vỡ, không có bạn tri ân, tri kỷ, không có người bạn lâu dài, bền bỉ, nói xấu hết người này đến người kia thì làm sao có được tình bạn bền chặt, bền lâu. Ngay trong hiện tại đã không có được tình bạn dài lâu thì nói gì người này đã tích tụ, đã huân tập, đã thực hiện nói hai lưỡi rất nhiều trong quá khứ thì quả báo nhẹ nhất là tình bạn bị đổ vỡ.
"Này các Tỳ-kheo, nói ác khẩu được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói ác khẩu là được làm người và được nghe những tiếng không khả ý" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)
Quả báo nặng của việc nói lời hung ác, nói lời hung tàn, hung dữ là đọa ba đường ác, còn nhẹ nhất là được làm người nhưng phải nghe những lời nói không vừa ý, phải nghe những tiếng làm cho mình xót xa, đau đớn, cay đắng chứ không được nghe những lời vừa lòng, thích ý, ngọt ngào. Khi học giáo lý về nghiệp thì mình sẽ rõ từ trong con người mình cho đến những người xung quanh và đến tất cả những loài hữu tình chúng sanh, nhìn lại là mình biết lúc trước mình tu ra sao, nhân gì mà bây giờ mình nhận quả báo này.
"Này các Tỳ-kheo, nói lời phù phiếm được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói lời phù phiếm là được làm người và được nghe những lời khó chấp nhận" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)
Nói lời phù phiếm là nói vu vơ, nói vô ích, vô nghĩa, không có lợi ích, giá trị gì cả nhưng cứ nói mãi, không ngừng nghỉ, đó cũng là một nghiệp xấu, nghiệp bất thiện vì khi nói những lời đó tâm mình bị tán loạn, dao động, buông lung phóng dật, từ lời nói đó sẽ chiêu cảm ra nghiệp ác, nghiệp xấu, quả dị thục nhẹ nhất của việc nói lời phù phiếm là được làm người nhưng phải nghe những lời nói khó chấp nhận. Trên đây là quả báo của bốn loại lời nói dối, nói lưỡi đôi chiều, nói lời ác khẩu và nói lời phù phiếm.
" Này các Tỳ-kheo, uống men rượu, rượu nấu, được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của uống rượu mem, rượu nấu là được làm người với tâm điên loạn" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)
Khi uống rượu say sưa, sử dụng những chất làm cho mình si mê, không tỉnh táo thì ngay trong lúc đang sử dụng mình đã là người ngu si, là người điên cuồng huống gì những thứ này được tích tập, được thực hiện, được làm cho sung mãn thì cái nặng nhất của mình là đưa đến địa ngục vì say sưa vào, si mê rồi sẽ dễ gây tội ác mà không có nhận thức, không có suy xét tỉnh táo, còn quả dị thục nhẹ là làm người nhưng điên loạn. Có những người đầu bù tóc rối, quần áo tả tơi thậm chí không mặc quần mặc áo đi lang thang ngoài đường nói chuyện một mình, chửi bới một mình thì đó là quả dị thục rất nhẹ của uống rượu trong đời trước hoặc ngay trong đời này.
Ngày đầu tiên mình bước vào cánh cửa chùa, phát tâm trở về nương tựa với Phật, với pháp, với Tăng thì Đức Phật đã dạy giữ năm giới, từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ lấy của không cho, tà bỏ tà tâm, tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, nói lời hung ác, nói lưỡi đôi chiều, nói lời phù phiếm, từ bỏ các chất say sưa nghiện ngập, đó là Đức Phật không muốn mình rơi vào chết yểu, thứ hai là phá sản, bị trộm cắp, thứ ba là ngài không muốn mình bị oán thù, thứ tư là ngài không muốn mình bị vu cáo, vu oan, thứ năm là Đức Phật không muốn mình bị đổ vỡ trong tình cảm bạn bè, muốn mình có được tình bạn tốt đẹp, thứ sáu là ngài muốn mình nghe những lời nói vừa lòng, dễ chịu chứ không phải nghe những lời khó chịu, đau lòng và cuối cùng là ngài muốn mình có tâm tỉnh táo, sáng suốt, thông minh. Năm điều đạo đức này là xây dựng hạnh phúc trong hiện tại, trong tương lai nhiều kiếp về sau trong cõi nhân thiên, đây là nền tảng rất quan trọng từ tại gia cho đến xuất gia, từ cư sĩ cho đến tu sĩ.
II. Tầm quan trọng của tám giới
Tiếp theo ngài giảng về bài kinh Ngày Trai Giới trong Tăng Chi Bộ, tập III.
"- Này các Tỳ-kheo, ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn. Như thế nào, này các Tỳ-kheo, là ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: 'Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành trai giới'. Ðây là chi phần thứ nhất được thành tựu" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (I). Các Trai Giới)
Trong bài kinh này Đức Phật tuyên dương về giới pháp trong bát quan trai giới, nhất là các vị Phật tử chúng ta cần để ý thật kĩ. Trọn đời các bậc Thánh đoạn tận, dứt hẳn sát sanh, từ bỏ sát sanh, các ngài bỏ gậy, bỏ kiếm, các ngài biết lo lắng và sợ hãi đối với cái nghiệp sát sanh, đối với quả báo của sự sát sanh. Các ngài sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả các loài có mạng sống cũng như các loại hữu tình có nhận thức, có nhận biết, mình cũng học theo các bậc Thánh bỏ gậy, bỏ kiếm, biết xấu hổ và sợ hãi khi sát sanh, thương xót đến tất cả hạnh phúc của chúng sanh, với chi phần này mình theo gương vị A-la-hán thực hành trai giới, như vậy chi phần thứ nhất được thành tựu.
Ở chi phần thứ nhất Đức Phật dạy phải tác ý, suy nghĩ theo các bậc Thánh nhân dứt bỏ sát sanh. Những điểm chúng ta cần ghi nhớ là biết tàm quý, nghĩa là biết xấu hổ và sợ hãi đối với cái nghiệp và quả báo của ác nghiệp. Mình không ăn những con vật đó không có nghĩa là mình chết, mình vẫn có thể ăn đậu, ăn rau, ăn củ quả để sống, thậm chí là sống khỏe, ít bệnh.
Chỉ vì một chút cảm thọ, cảm giác ở lưỡi mà chúng ta chặt cổ, nhổ lông, nhồi da, xáo thịt, chiên, xào, nấu, nướng rồi nói cười sung sướng trên nỗi đau khổ quằn quại của những chúng sanh đó. Vừa rồi trong quá tu Nikāya ở chùa Hoằng Pháp thì quý thầy có mở một đoạn clip ngắn về những người làm thịt chó, xem rồi mới thấy khủng khiếp, họ đập đầu, cắt cổ, lột da con chó trong vũng máu lênh láng, hoặc là chúng ta sẽ thấy rùng rợn, kinh hãi trong những lò mổ heo, mổ trâu, mổ bò, tất cả những điều này xuất phát từ cái miệng, từ sự ham thích, ưa thích vị ngon, cảm giác của lưỡi mà bao nhiêu loài vật, bao nhiêu chúng sanh hữu tình phải đau đớn, quằn quại. Trong một bài kinh khác Đức Phật nói rằng người nào còn phạm vào năm giới này thì còn sống trong sợ hãi và còn sống trong thù hận.
"- Này Gia chủ, ai không đoạn tận năm sợ hãi hận thù, được gọi là ác giới và sanh vào địa ngục. Thế nào là năm? Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men, rượu nấu.
Này Gia chủ, ai không đoạn tận năm sợ hãi hận thù này, được gọi là ác giới và sanh vào địa ngục" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XVIII. Phẩm Nam Cư Sĩ, (IV) Sợ Hãi Hận Thù)
Tại sao không đoạn tận năm sự sợ hãi này lại sống trong thù hận và sợ hãi? Vì không có con mèo, gà, chó, vịt, heo nào tự nguyện để mình giết nó, khi mình cắt cổ nhổ lông, thọc huyết thì nó kêu gào đau đớn ở trong cảm giác kinh hoàng, sân hận cho nên còn sát sanh là còn hận thù, còn sát sanh còn sợ hãi, còn đau đớn, còn máu, còn nước mắt.
Tuy rằng mình chưa ăn chay trường được thì mỗi khi dùng thức ăn đó phải biết đây là sự đau khổ của chúng sanh, máu và nước mắt trong đó, hoảng loạn trong đó, thù hận trong đó. Toàn cầu chúng ta đang phải chịu một đại dịch khủng khiếp, con số tử vong rất khủng khiếp, tất cả những cái này cũng từ quả báo sát sanh với tâm thù hận đã chất chứa từ lâu rồi sanh ra những loại vi khuẩn như vậy, những loại dịch bệnh như vậy, thậm chí đến cả dịch sốt xuất huyết cũng đang báo động, chỉ riêng trong thành phố đã có 1.118 ổ dịch và đã có người tử vong, ngoài ra còn biết bao biến chủng, biến thể và biết bao chứng bệnh kì lạ có liên hệ đến sự ăn uống của chúng ta, đó là những quả báo của sát sanh chiêu cảm lên như vậy. Có khi mình đã ăn chay trường rồi nhưng mình lỡ đạp con này, giết con kia cũng cảm thấy xót xa, tội lỗi, đó là tâm tàm quý, điều này rất quan trọng vì phải biết lo lắng và sợ hãi khi gây ra nghiệp sát sanh nên mình tránh tạo nghiệp và nuôi dưỡng lòng từ, đó là noi theo gương các bậc Thánh, các bậc A-la-hán.
"'Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới'. Ðây là chi phần thứ hai được thành tựu.
'Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận phi Phạm hạnh, hành Phạm hạnh, sống xa lánh, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận phi Phạm hạnh, hành Phạm hạnh, sống xa lánh, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới'. Ðây là chi phần thứ ba được thành tựu.
'Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới'. Ðây là chi phần thứ tư được thành tựu.
'Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận đắm say men rượu men, rượu nấu, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận đắm say men rượu men, rượu nấu, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới'. Ðây là chi phần thứ năm được thành tựu.
'Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới'. Ðây là chi phần thứ sáu được thành tựu.
'Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới'. Ðây là chi phần thứ bảy được thành tựu.
'Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận, không dùng các giường cao, giường lớn, từ bỏ không dùng các giường cao, giường lớn. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận, không dùng các giường cao, giường lớn, từ bỏ không dùng các giường cao, giường lớn. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới'. Ðây là chi phần thứ tám được thành tựu. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (I). Các Trai Giới)
Chúng ta nói một cách tổng quát về tám giới cao thượng, trong sạch của các bậc Thánh để các cư sĩ thực tập theo, có khi chúng ta giữ trong một ngày, có khi chúng ta giữ một tuần, có nhữnh vị phát tâm giữ bát quan trai giới một tháng, ba tháng, thậm chí có những vị nguyện giữ suốt đời để học theo gương hạnh của đời sống trong sạch, thanh tịnh của các bậc Thánh. Sau đây là kết quả thù thắng, tối thượng của ngày trai giới.
- Này các Tỳ-kheo, ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn. Như thế nào, này các Tỳ-kheo, là ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn?
Ví như, này các Tỳ-kheo, có người áp đặt chủ quyền cai trị trên mười sáu quốc độ lớn này tràn đầy bảy báu, như Anga, Magadha, Kàsìkosala, Vajjì, Cetì, Vamsà, Kurù, Pancàlà, Macchà, Sùrasenà, Asska, Avantì, Gandhàrà, Kambojà. Nhưng chủ quyền ấy không bằng một phần mười sáu của một ngày trai giới thành tựu tám chi phần. Vì cớ sao? Nhỏ nhoi, này các Tỳ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II). Các Trai Giới)
Đức Phật ví dụ một người làm vua của 16 nước với đầy đủ những thứ quý báu nhưng vẫn không quý báu bằng 1/16 sự thực hành một ngày trai giới trọn vẹn trong một ngày một đêm. Tại sao vậy? Vì người giữ gìn 8 giới này trọn vẹn trong một ngày một đêm thì người này chắc chắn sanh thiên.
"Năm mươi năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên Bốn thiên vương. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Năm mươi năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên Bốn thiên vương. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo: 'Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên Bốn thiên vương'. Do vậy, Ta nói: 'Nhỏ nhoi thay, này các Tỳ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên'". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II). Các Trai Giới)
Năm mươi năm của cõi người chúng ta chỉ bằng một ngày một đêm ở cõi trời tứ thiên vương, 50 năm tuổi đời chúng ta chỉ là một ngày ở cõi trời tứ thiên vương mà thôi. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Năm mươi năm như vậy là tuổi thọ của cõi trời tứ đại thiên vương, con số tuổi thọ rất là kinh khủng cho nên Đức Thế Tôn mới nói chủ quyền của loài người rất nhỏ nhoi. Cứ cho là mình sống được 100 tuổi, làm vua được cỡ khoảng tám chín chục năm thì cũng chỉ mới hơn được một ngày ở cõi trời tứ đại thiên vương, đó là làm vua được thuận lợi không bị tạo phản soái ngôi, không giết hại lẫn nhau giành giựt ngôi báu.
"Một trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Ba mươi ba. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Một ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Ba mươi ba. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo: 'Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Ba mươi ba'. Do vậy, Ta nói: 'Nhỏ nhoi thay, này các Tỳ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên'". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II). Các Trai Giới)
Một trăm năm của chúng ta chỉ bằng một ngày một đêm của cõi trời tam thập tam thiên, là cõi trời ba mươi ba. Tuổi thọ của cõi trời ba mươi ba lên đến một ngàn năm.
"Hai trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Yàma. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Hai ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Yàma. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo: 'Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Yàma". Do vậy, Ta nói: 'Nhỏ nhoi thay, này các Tỳ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên'". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II). Các Trai Giới)
Hai trăm năm ở thế giới của mình mới bằng một ngày một đêm ở cõi trời Dạ-ma thôi, hai ngàn năm là tuổi thọ của chư thiên ở cõi trời Dạ-ma. Có người nam hay người nữ tu bát quan trai giới thành tựu tám chi phần thì người này sau khi nhắm mắt thì sanh lên ở chung với chư thiên ở cõi trời Dạ-ma cho nên chủ quyền của loài người rất nhỏ nhoi nếu so sánh với hạnh phúc của chư thiên.
"Bốn trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Tusità (Ðâu-Xuất). Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Bốn ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Tusità. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo: 'Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Tusità'. Do vậy, Ta nói: 'Nhỏ nhoi thay, này các Tỳ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên'". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II). Các Trai Giới)
Bốn trăm năm của thế giới loài người chỉ bằng một ngày một đêm ở cõi trời Đâu-suất và tuổi thọ ở đó lên đến bốn ngàn năm.
"Tám trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Hóa lạc. Tám ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Hóa lạc. Sự kiện này có xảy ra, ... với hạnh phúc chư Thiên" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II). Các Trai Giới)
Tám trăm năm của loài người chỉ bằng một ngày một đêm của chư thiên ở cõi trời Hóa lạc, chư thiên ở đây sống đến tám ngàn tuổi.
"Mười sáu trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Mười sáu ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo: 'Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Do vậy, Ta nói: 'Nhỏ nhoi thay, này các Tỳ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên'" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II). Các Trai Giới)
Mười sáu trăm năm tức là một ngàn sáu trăm năm ở thế gian này mới bằng một ngày một đêm của chư thiên ở cõi trời tha hóa tự tại, tuổi thọ ở đây lên đến mười sáu ngàn năm, thật là khủng khiếp cho nên cái trí phàm phu của mình và cái tâm rất nhỏ hẹp, nhỏ bé, hơn thua từng chút một trong ánh mắt, trong hành động, hơn thua từng đồng từng cắc giống như đồ ăn rớt xuống đất là mấy con chó nhào đến giành giật, mấy con mèo nhảy lại hoặc cả bầy kiến bu vô, các bậc Thánh đệ tử thiên hoặc chư thiên thông thường nhìn thấy mình giống như đám giòi bu vào đống phân, trong một tấm thân đầy bất tịnh, đầy bệnh hoạn, đầy lo âu, bất an và sợ hãi lại thêm kiêu căng, ngạo mạn, hống hách tranh giành những điều vô nghĩa. Đức Thế Tôn, các bậc Thánh và các bậc Thánh đệ tử thiên ở Tịnh Cư thiên nhìn mình như những con giòi bò lúc nhúc trong đống phân, hằn học trong từng cử chỉ, hơn thua từng ánh mặt, đấu đá nhau từng chút một với những thứ vô thường, tạm bợ, những bọt bong bóng nước. Chúng ta thật là đáng thương, chúng ta rất là đáng thương, chúng ta rất là dại khờ, chúng ta rất là si mê, chúng ta rất mờ tối.
Thương thay trò sanh tử,
Thương thay nẻo tái sanh,
Thương thay cảnh nhân quả,
Chúng sanh đáng thương thay.
Thương thay tâm mờ tối,
Chẳng rõ khổ của nhau,
Còn bày thêm đau khổ,
Thêm khổ buồn cho nhau.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Các quán ăn tranh giành khách khứa rồi nói qua nói lại thế là đánh nhau, chém nhau, thậm chí người thân trong gia đình cũng không chừa chứ đừng nói gì người lạ, thậm chí bà con cùng một huyết thống, anh em ruột, cha mẹ nhưng gì lòng tham, vì sự ích kỷ, nhỏ mọn, vì hơn thua, cái ta, cái tôi nên làm khổ cho nhau, hành hạ cho nhau bằng những cảm giác của bực bội, bức xúc, hơn thua, chúng ta hành tội nhau bằng những cảm giác sân hận, tức giận, thiêu đốt. Chúng ta thật là đáng thương, thật là dại khờ, chúng ta bị bóng đêm của vô minh bao phủ, bao trùm, bao kín nhưng lúc nào chúng ta cũng vỗ ngực xưng tên mình thông minh chứ mình không biết sự thật vô cùng đau lòng là mình rất vô minh.
"Người ngu nghĩ mình ngu,
Nhờ vậy thành có trí.
Người ngu tưởng có trí,
Thật xứng gọi chí ngu"
(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 63)
Mình si mê nhưng biết mình si mê, nhờ vậy mình trở thành sáng suốt, nếu si mê mà cứ nghĩ là sáng suốt thì đó là đại si mê. Mình vô minh nhưng biết là vô minh thì từ từ mình sẽ phá cái vô minh đó để trở thành minh trí, mình vô minh nhưng lại cho rằng có trí thì đó là đại vô minh, mình không nhìn thấy được đời sống này là vô thường, mình không thấy đời sống này là sự bấp bênh như bọt bèo, như bong bóng, như hoa phù du, mình không thấy tai nạn và hiểm họa đang ở khắp mọi chỗ mọi nơi, nó đang rình rập chúng ta.
Chúng ta đang bị vây hãm trong sanh, già, bệnh, chết, chúng ta đang bị vây hãm trong bệnh tật, trong bất an, trong lo lắng, sợ hãi, chúng ta đang bị vây hãm trong tham dục, trong nóng giận, trong bóng tối của vô minh, tron sự hơn thua, giành giật, tranh đấu, bản ngã, kiêu căng, chúng ta đang bị vây hãm trong khổ đau, chúng ta phải nhận thức sâu sắc điều này để chúng ta từ bỏ những ác nghiệp, tu tập thiện nghiệp, từ bỏ con đường xấu để quay về nẻo thiện lành.
Đức Phật đưa ra năm giới, đó là năm điều đạo đức bảo vệ cuộc sống bình an, sau đó ngài lại đưa ra tám đều cao thượng, thánh thiện của đời sống bậc Thánh. Chúng ta chỉ cần giữ gìn tương đối tốt là chúng ta đã qua lại trong nhân thiên, còn nếu giữ gìn trọn vẹn thì lên được cõi trời tha hóa tự tại với tuổi thọ mười sáu ngàn năm. Chúng ta phải thường thực tập, quán chiếu cuộc sống của chúng ta vô cùng nhỏ nhoi, những cái phước mà mình đang có thật sự nhỏ bé, không đáng gì cả. Đừng vì một chút lợi ích mà huynh đệ tương tàn, anh em chia lìa, đừng vì vài câu nói mà vợ chồng sân hận nhau, đừng vì một chút tiền tài mà cha con bất hòa, mẹ con không nhìn mặt nhau rồi trở thành bất hiếu.
Phải cố gắng siêng năng sống có đạo đức, sống có nhân nghĩa, sống có nghĩa tình, sống có hiếu hạnh, biết giữ gìn những giới pháp trong sạch, cao thượng, thánh thiện mà Đức Phật đã truyền trao rồi chúng ta sẽ thấy được kết quả mà Đức Phật gọi là "được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn".
Trong thời gian gần đây Minh Thành rất xót xa về những sự việc xảy ra hằng ngày trên mặt báo, mình biết rằng ác nghiệp của chúng sanh càng ngày càng mãnh liệt, càng lớn mạnh, càng kinh hoàng, kinh hãi và khủng khiếp. Giai đoạn này rất phù hợp để chúng ta học về nghiệp và quả báo của nghiệp, chúng ta cố gắng tránh dữ làm làm và tu tập các thiện pháp, đây chính là tâm đại bi của Đức Phật, đây chính là chiếc bè, chiếc phao, chiếc thuyền mà Đức Thế Tôn đã để lại cho nhân loại, cho chư thiên dù đã trải qua hơn 26 thế kỉ.
Đức Phật đã lưu lại chiếc phao, chiếc bè, chiếc thuyền này để chúng sanh bám vào, leo lên để có thể qua được biển cả của khổ đau, của ác nghiệp, biển cả của tội lỗi, của ác thú, của đọa xứ, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Mong rằng chúng ta cần chiêm nghiệm thật kĩ những lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya và cố gắng thực hành năm giới, tám giới cao thượng, trong sạch, thanh tịnh để có thể giúp chúng ta có một đời sống an lạc, hạnh phúc ngay trong hiện tại và nhiều kiếp trong tương lai về sau như lời Đức Phật đã nói.
./.