Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

NGHE PHÁP - LỢI ÍCH KHÔNG LƯỜNG 2

2026-03-03 00:55:22
NGHE PHÁP – LỢI ÍCH KHÔNG LƯỜNG 2

-Thích Minh Thành-

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Năm lợi ích khi nghe pháp PAGEREF _Toc72479715 \h 1

II.Nghe nhiều, trì pháp và thể nhập trí tuệ PAGEREF _Toc72479716 \h 6

III. Khéo học khéo tu PAGEREF _Toc72479717 \h 11

Năm lợi ích khi nghe pháp

Tinh cần giữa phóng dật,

Tỉnh thức giữa quần mê,

Người trí như ngựa phi,

Bỏ sau con ngựa hèn.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật)

Kính bạch đại chúng, lời đầu tiên Minh Thành cảm ơn tất cả đại chúng đã chịu khó trong thời gian qua đã ngồi nghe pháp rất nhiều dù là mệt mỏi. Chúng ta hãy xem việc nghe pháp là một thời khóa tu học ở tại núi này, ở đây việc nghe pháp là một hạnh lành, việc lành, công đức. Đại chúng hãy cố gắng kham nhẫn ngồi nghe, việc lành này không những lợi ích cho bản thân người nghe, cho bản thân người nói, cho tất cả những người có mặt trong hiện tại mà còn đem lại lợi lạc dài lâu về sau. Cho nên mong đại chúng cố gắng xem đây là thiện hạnh, thiện sự, thiện phước báu và công đức. Với tâm nguyện của mình, Minh Thành muốn diễn giải những lời cổ điển, sâu xa, khó hiểu của Đức Phật trở thành lời nói bình dị, dễ hiểu, dễ học, dễ tu cho mọi người hành trì, thực tập để đem lại lợi lạc rộng lớn dài lâu. Chính nơi đây như là một phim trường vĩ đại của Phật giáo.

Hôm nay chúng ta sẽ học tiếp những bài kinh nói về lợi ích của nghe Chánh Pháp, rất nhiều bản kinh Đức Phật nói cho chúng ta lợi ích của pháp. Có nhiều lắm những lợi ích vô tận của Chánh Pháp mà Đức Phật gọi là “ai bố thí Pháp thì người đó cho bất tử”.

Trong Tăng Chi Bộ Kinh – tập 2, bài kinh “Nghe pháp”:

“Này các Tỷ-kheo, nghe pháp có năm lợi ích này.

Thế nào là năm?

Được nghe điều chưa nghe,

Làm cho trong sạch điều được nghe,

Đoạn trừ nghi,

Làm cho tri kiến chánh trực,

Làm cho tâm tịnh tín. (tức là làm cho mình có được lòng tin mạnh mẽ, rõ ràng, sáng tỏ).

Này các Tỷ-kheo, nghe pháp có năm lợi ích này.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 2, 5. Chương Năm Pháp, XXI. Phẩm Kimbila, bài kinh Nghe Pháp)

Lợi ích thứ nhất là “được nghe những điều chưa bao giờ nghe”. Những điều chúng ta nghe trong lời dạy của Đức Phật thật sự là điều mà chúng ta chưa bao giờ được nghe từ khi mình sinh ra cho đến chết. Nếu không nghe pháp thì mình không thể nào nghe ở một chỗ thứ hai nào khác ngoài Như Lai, đệ tử của Như Lai, hoặc là những người nghe từ hai vị đó, ngoài ba người đó ra thì không có chỗ khác được nói Chánh Pháp. Ba người này là nhân thiên nhãn mục (con mắt của trời và người), là ánh sáng, con đường, chiếc cầu, chiếc thuyền, chiếc bè chỉ cho mình, từ đó mình sẽ bước qua, sẽ nghe được những điều chưa bao giờ nghe, không phải chỉ trong một kiếp này mà trong trăm ngàn vạn kiếp.

“Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân hồi này. Điểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi. Có thể có một thời, này các Tỷ kheo, biển lớn đi đến khô cạn, hoàn toàn đi đến khô kiệt, không có hiện hữu; có thể có một thời, này các Tỷ-kheo, Sineru(Tudi), Vua các núi, đi đến băng hoại, hoại diệt, không có hiện hữu. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta không có tuyên bố rằng, có sự chấm dứt khổ đau đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển luân hồi.”(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập III. Thiên Uẩn, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, V. Phẩm Hoa, bài kinh Dây Thằng)

Trong sự sống chết, chết sống, sanh sanh tử tử, tử tử sanh sanh, lặp tới lặp lui, thây phơi chồng chất như núi cao, nước mắt ràn rụa tràn đầy như Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Bắc Băng Dương, Ấn Độ Dương mà mình cũng chưa từng được nghe pháp này. Chúng ta toàn nghe những lời thị phi, nhân ngã, đúng sai, hay dở, phải quấy, tốt xấu, phiền não, sầu bi, những lời nói của vô minh và tham ái, chấp thủ, chỉ có ở trong Chánh Pháp này mình mới nghe được những điều chưa từng nghe. Nghe được những điều chưa từng nghe là nghe được tứ đại, thân này là bốn đại, không có cái tôi, chỉ là năm nhóm, nghe được điều gì làm cho mình đau khổ và từ đâu để làm cho chấm dứt khổ đau… Đó là một trong những điều mà mình chưa từng nghe, còn nhiều lắm nói không hết.

Điều thứ hai là “làm cho trong sạch những điều được nghe”. Khi nghe pháp thường thì có khi nghe 1-2 lần không hiểu, 3-5 lần cũng chưa hiểu nhưng nghe 10-20-40-50-100 lần thì lúc đó những điều mà mình được nghe sẽ được sáng tỏ, gọi là trong sạch, tức là làm sáng tỏ. Nhờ nghe tới nghe lui, nghe đi nghe lại, nghe hoài thì những điều mà lúc trước mình chưa hiểu thì bây giờ hiểu, lúc trước chưa rõ thì bây giờ rõ, lúc trước chưa tin thì bây giờ tin, đây gọi là làm cho tâm tịnh tín, lúc trước chưa tin nhưng bây giờ tin và tin chắc, niềm tin không dao động, không lay chuyển, suy xiểng, lung lay, bất động, đó là nhờ công đức của nghe pháp. Từ đó, chúng ta sẽ sáng ra, hiểu ra, rõ ra những điều lúc trước mình nghe mà chưa hiểu hoặc hiểu mà chưa đúng, hiểu chưa hết, chưa trọn, đây gọi là tuệ tri, liễu tri, thắng tri, biến tri – đó những từ trong tạng kinh thường dùng.

Cái “biết” của mình thông thường là tưởng tri, thức tri, là biết trên sự tưởng tượng, tưởng là thấy rồi, biết rồi nhưng không phải, đó không phải là tưởng, biết trên tưởng và tưởng là hiểu. Mình tưởng như điều đó khó lắm, làm không được nhưng khi làm thì được, cho nên biết của tưởng tượng là biết của vô văn phàm phu, biết của tri thức, kinh nghiệm, gọi là thức tri, là biết của người không nghe pháp nhiều, không nghe Chánh Pháp Nikāya này. Biết dựa trên kiến thức, tri thức, sự hiểu biết, sự kinh nghiệm, học hỏi từ nơi người khác, nghe người ta nói thì cái biết này không phải được nhắc đến, cái biết nói đến ở đây là sự tuệ tri – biết bằng trí huệ, sự liễu tri – biết một cách trọn vẹn, thấu đáo, tường tận, sự thắng tri – biết một cách thù thắng, biết thấu triệt bản chất, sự biến tri – biết cùng khắp tất cả mọi khía cạnh, một cách biết tròn đầy, viên mãn, không thiếu sót, đây là cái biết mà giáo pháp đem đến cho mình.

Ví dụ, thường khi không nghe Phật Pháp, không xuất gia tu thì mình chỉ biết một mặt khác của thân thể này thôi. Như trên các bảng quảng cáo trên tivi, phim ảnh, họ toàn chọn người đẹp, mặc đồ đẹp, đi xe đẹp, đó là biết một khía cạnh thôi. Nếu như có xấu, có già thì họ cũng chọn những cụ già diện mạo ổn để đóng phim, đâu thể đem một cụ già nằm liệt giường liệt chiếu, bệnh hoạn hay bị điếc, mù, câm, ngọng mà đóng phim, trừ những trường hợp đặc biệt còn đại đa số là giấu hết, che đậy hết. Giống như Thái tử Tất Đạt Đa, vua Tịnh Phạn không cho đi ra ngoài hoàng cung, hoặc đi đến đâu đều phải dọn dẹp, thu xếp ở đó rồi mới cho tới, sợ thấy các cảnh khổ, cảnh bệnh, nhưng cuối cùng rồi Ngài cũng thấy được, đó là biết một cách trọn vẹn mọi khía cạnh của đời sống.

Còn biết của mình là một cách biết cục bộ, thiên kiến – biết nghiêng về chiều mà mình thích; tư kiến – biết vô tư, nhỏ hẹp; tà kiến – biết sai lầm, lệch lạc; kiến chấp – chỉ bám vào những thấy biết của riêng mình; có nhiều loại kiến khác. Thời Đức Phật còn tại thế có 62 tà kiến và còn hơn thế nữa được nhắc đến trong Trường Bộ Kinh – kinh Phạm Võng. Khi đọc qua sẽ thấy được những thấy biết sai lầm của những người không phải là Chánh Đẳng Chánh Giác. Cho nên, do việc nghe pháp rồi suy tư thì mới có thể làm cho điều mình nghe được sáng tỏ, mới làm cho tâm mình có niềm tin, thanh tịnh, đoạn trừ các nghi hoặc.

Lúc trước Minh Thành đã có giảng, trong bài kinh “Nghe với tai”, Tăng Chi Bộ Kinh – tập 2, Đức Phật đã nói: “Các pháp do được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập”. Các câu trên đều không đơn giản, đây là pháp hành trong khi nghe pháp. Không phải nghe rồi ngồi và ai cũng nghe như nhau, không phải như vậy, có người nghe tới bậc Thiền, bậc Thánh, còn có những người nghe nhưng bị ngũ cái che đậy, bản ngã chắn trước mặt, vô minh dày đặc. Thành ra không phải mình nói nghe là nghe đâu. Nghe bằng tai, đây là ai cũng nghe được, nhưng tụng đọc bằng lời, có người nghe nhưng không tụng đọc. Chúng ta có tụng đọc, mỗi buổi sáng mình đọc thuộc lòng, tụng Kinh Nikāya, khi nãy trước khi vào giảng mình cũng đọc một bài. Tụng đọc bằng lời, nghe bằng tai – hai điều đó có thể có nhiều người biết và làm được, nhưng đến thứ ba là “ý quán sát và kiến khéo thể nhập” thì không phải ai cũng làm được.

Ý quán sát là khi nghe phải dùng tâm ý quán sát lời của Đức Phật trong khi nghe, không phải chỉ nghe ngoài tai, đọc ở trên miệng nhưng ý không quán sát thì nghe đó không đi đến lợi ích trọn vẹn, không đến chỗ kiến thể nhập, tức là thể nhập Chánh Tri Kiến, kiến đây là tri kiến của bậc Thánh, sự thấy biết của Thánh Pháp. Cho nên, do ý quán sát, do kiến khéo thể nhập nên có bốn lợi ích được chờ đợi. Ý của mình phải quán sát trong khi mình nghe, không thể cứ ngồi đơ đơ, lờ đờ, mờ mờ, tai còn nghe âm thanh không rõ thì làm sao mình đi đến bước ý quán sát?

Ví dụ, nói “Hãy nhìn lại cảm giác, hãy thấy được tính chất vô thường của cảm giác!” là mình nhìn lại, quán sát ngay trong tự thân của mình liền lúc đó, đó gọi là ý quán sát. Phải như vậy khi nghe pháp, đó gọi là thực nghiệm, thực pháp, thực chứng trong khi mình đang nghe pháp, sự nghe đó mới đưa đến Thánh đạo, Thánh quả. Còn nghe mà mình chống ở bên trong, hoặc xem thường, cho là mình hiểu biết hơn vậy thì đó là chướng ngại pháp, cho nên phải quán sát. Khi nói: “Phải nhìn lại những suy nghĩ, những suy nghĩ này là do duyên sanh, do xúc tập khởi nên hành tập khởi, do sự tiếp xúc nên mới sinh khởi ra những suy nghĩ”, ngay lúc đó mình nhìn lại nhĩ xúc của mình, nhìn lại hành uẩn vận hành, sinh diệt ngay lúc đó, đó là ý quán sát trong khi mình nghe pháp và mình thấy liền. Chẳng hạn như đang ngồi và nói về “bộ xương, về mười hai thể trược” thì tự nhiên mình nghe và cảm thán là “không sạch sẽ, ớn quá, chán ngán quá!”, nhàm chán, ly tham ngay tại nơi đó là ý quán sát. Do ý quán sát như vậy nên kiến khéo thể nhập, mình vào Chánh Tri Kiến, vào tri kiến của bậc Thánh ngay, mình nhảy vào dòng sông của Thánh trí và trầm mình vào đó ngay chỗ mình đang nghe, đó là tuyệt diệu. Như vậy, “nghe bằng tai, tụng đọc bằng lời, ý quán sát và kiến khéo thể nhập” là phương pháp, là cách để nghe Chánh Pháp, là con đường để đi đến Chánh Tri Kiến, Nhập Lưu trong khi nghe pháp.

Trong khi tiếp xúc: mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị và thân xúc chạm, ý duyên với pháp, đều thực tập như vậy, đều là ý quán sát, kiến khéo thể nhập. Ta hướng tâm của mình, đặt tâm đúng hướng, đưa tâm vào lãnh vực của Tứ Niệm Xứ, của Thánh Trí Năm Uẩn, của Bát Thánh Đạo, Tứ Thánh Đế để thể nhập, đi vào, chứng ngộ Thánh Tri kiến, Thánh Tư Duy, Thánh Ngữ, Thánh Nghiệp, Thánh Mạng, Thánh Chánh Niệm, Thánh Chánh Định. Cho nên gần bậc chân nhân có lợi ích là tăng trưởng Thánh Giới Uẩn, Thánh Định Uẩn, Thánh Tuệ Uẩn, Thánh Giải Thoát Uẩn – đó là bốn lợi ích của người ở gần bậc chân nhân, tiếp xúc bậc chân nhân, phải hướng tâm mình vào đó. Đây là một công đức, nghe Chánh Pháp là tuyệt diệu, bí mật, bí chiêu mà thật sự không có bí mật gì hết, Đức Phật đã nói như vậy, ai sử dụng được thì người đó như có bảo bối, ai thực tập được là người đó có bí kiếp, còn ai không nghe, không thực tập thì người đó không có. Dù cho mỗi ngày đem bài kinh ra đọc nhưng mình không làm theo thì cũng vậy thôi, chỉ dừng lại ở chỗ đọc tụng bằng lời.

Lợi ích tiếp theo là “đoạn trừ nghi và làm cho tri kiến chánh trực”. Như đã nói, phải nghe tới nghe lui, nghe đi nghe lại với sự đọc bằng lời, nghe bằng tai, ý quán sát và thể nhập được Thánh Tri Kiến thì nghi ngờ chắn chắc sẽ được đoạn trừ, tri kiến chắc chắn được chánh trực.

Nghe nhiều, trì pháp và thể nhập trí tuệ

Một vị Tỳ-kheo bạch Đức Thế Tôn:

“- Bậc nghe nhiều, trì pháp. Bậc nghe nhiều, trì pháp, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là một bậc nghe nhiều, trì pháp?

- Nhiều, này Tỷ-kheo, là pháp ta thuyết giảng: Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Này Tỷ-kheo, nếu ai hiểu nghĩa một bài kệ có bốn câu, hiểu pháp và thực hành pháp tùy pháp, người ấy được gọi là vị nghe nhiều, trì pháp.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 2, 4. Chương Bốn Pháp , XIX. Phẩm Chiến Sĩ, bài kinh Con Đường Sai Lạc)

Đức Thế Tôn giảng pháp có rất nhiều thể loại, có khi Ngài nói bằng bài kệ, có khi Ngài nói lời cảm hứng – cảm hứng ngữ, là không ai hỏi mà tự Ngài nói. Giống như là:

Lang thang bao kiếp sống

Ta tìm nhưng chẳng gặp,

Người xây dựng nhà này,

Khổ thay, phải tái sanh.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Già)

Đó là tự Ngài nói lên nên gọi là cảm hứng ngữ, như thị thuyết. Ví dụ có nhiều bài pháp mà vắn tắt, tóm tắt:

Các thầy Tỳ-kheo đến bạch Thế Tôn:

- Xin Thế Tôn nói pháp vắn tắt cho con, sau khi con nghe Thế Tôn nói con sẽ một mình để nỗ lực hành trì tinh tấn!

Khi đó Đức Phật nói rất ít, chỉ có một câu hay vài ba chữ thôi.

Đức Phật nói rằng:

- Đừng có suy nghĩ, lìa tham.

- Bạch Thế Tôn, con đã hiểu, bạch Thiện Thệ con đã hiểu!

Đức Phật hỏi lại:

- Vậy ông hiểu ra sao?

- Bạch Thế Tôn là không suy nghĩ về sắc, không suy nghĩ về thọ, không suy nghĩ về tưởng, không suy nghĩ về hành, không suy nghĩ về thức, không suy nghĩ dính mắc trong năm thủ uẩn. Con hiểu lời nói của Thế Tôn như vậy!

- Lành thay, lành thay, ông đã hiểu bài pháp vắn tắt của ta. Ông đã hiểu!

Rồi vị Tỳ-kheo lạy Đức Phật rồi về tu tập, được chứng quả A-la-hán.

Cho nên còn một hơi thở, một thời gian nào là Minh Thành trân trọng từng giờ phút nói pháp. Mình chưa đi vào Thánh quả, với một tâm chân thành tha thiết học pháp, hiểu pháp và truyền bá Chánh Pháp thì mình phải năng nổ, rắn rỏi, tinh tấn. Mình chưa được như Đức Phật là thân, da, xương này khô kiệt, sức tinh tấn, tinh cần, dũng mãnh không ngừng nghỉ, thì ít ra mình phải nỗ lực trong thiện pháp, không được lười nhác và xem thường. Bởi vì bất cứ lúc nào mình cũng có thể ra đi. Ngày xưa có những vị tu chứng thần thông có thể bay lên trời, xuống dưới biển, mắt có thể nhìn thấy hết tất cả thiên nhãn, tai nghe xuyên suốt tất cả khắp thế giới, chân có thể bay đi, phi hành trong hư không. Đến khi các vị này biết mình sắp chết thì họ bay lên giữa hư không, xuống dưới đại dương đáy biển trốn dưới, vào trong hang động nhưng cuối cùng cũng chết.

Không trên trời, giữa biển,

Không lánh vào động núi,

Không chỗ nào trên đời,

Trốn được quả ác nghiệp.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Ác)

Thành ra Minh Thành nhắc hoài bốn chữ làm đề mục “sợ hãi tử vong”. Không được quên, không bao giờ được quên, nhất là tuổi lớn, thấy ngồi nghe được pháp là Minh Thành vui lắm. Vì thật sự là mình hoàn toàn không biết, không phải mình bi quan mà sự thật là mình không biết mình chết ở đâu, chết lúc nào và chết như thế nào. Nên nếu đó là thiện hạnh, thiện pháp, công đức mà nhất là những công đức tối thượng của pháp thì mình phải gắng sức, dù còn hơi thở cuối cùng. Đừng sợ dù cho có đang ngồi nghe pháp mà ngã ra chết thì chắc chắn đó là sanh thiên, sanh lên cõi trời, tối thiểu cũng là thượng thặng, thượng lưu của cõi người, còn bình thường là sanh lên cõi trời. Cho nên hết sức quan trọng, không phải chuyện thường.

Thầy Tỳ-kheo này hỏi thêm một câu nữa:

“- Bậc có nghe với trí tuệ thể nhập (quyết trạch), bậc có nghe với trí tuệ thể nhập, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến khi nào, bạch Thế Tôn, được gọi là bậc có nghe với trí tuệ thể nhập?”

Khi nãy là hỏi nghe nhiều, trì pháp, giờ là trí tuệ thể nhập, là thêm một bậc nữa. Đã nghe nhiều, đã trì pháp mà giờ là trí tuệ thể nhập nên khi thấy đọc kinh phải chú ý từng chữ từng câu, chứ không phải mới nghe sơ qua đã đọc hết bốn bộ kinh rồi. Vì kinh Phật không giống như mình đọc báo, xem tiểu thuyết. Có khi một bài kinh nghe hàng trăm lần, chỉ một bài thôi.

Đức Thế Tôn khen:

“Lành thay lành thay! Thầy hỏi rất hay!”

Các vị thầy này được Đức Thế Tôn khen nhiều qua bài kinh “Con đường sai lạc”. Có những câu hay hơn nữa nhưng ở đây mình đang nói về giảng pháp, lợi ích nghe pháp nên lấy những câu hỏi đó còn những câu khác hay lắm. Lúc này, mình mới thấy Tứ Thánh Đế thật sự là kinh khiếp lắm.

“- Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được nghe: "Đây là khổ", thể nhập và thấy ý nghĩa với trí tuệ. Được nghe: "Đây là khổ tập", thể nhập và thấy ý nghĩa với trí tuệ. Được nghe: "Đây là khổ diệt", thể nhập và thấy ý nghĩa với trí tuệ. Được nghe: "Đây là con đường đi đến khổ diệt", thể nhập và thấy ý nghĩa với trí tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vị có nghe với trí tuệ thể nhập.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 2, 4. Chương Bốn Pháp , XIX. Phẩm Chiến Sĩ, bài kinh Con Đường Sai Lạc)

Hôm qua Minh Thành nghe bài kinh “Ngày trai giới” trong Tăng Chi Bộ Kinh. Lúc đó Đức Phật vui lắm và nói trong hội chúng này có những vị Tỳ-kheo địa vị ngang bằng Phạm Thiên, tức là tu tập bốn tâm vô lượng. Trong hội chúng này có những Tỳ-kheo đang ở địa vị Bất động, là ngang bằng với vua trời. Trong hội chúng này, có những vị Hướng Dự Lưu, Nhập Lưu, Nhất Lai, Bất Lai, Vô Sanh, là những Tỳ-kheo ở nơi Thánh vị (địa vị của bậc Thánh).

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chứng đạt địa vị bậc Thánh?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật quán tri: "Đây là khổ" … như thật quán tri: "Đây là con đường đưa đến khổ diệt. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đạt được địa vị bậc Thánh.”(Tăng Chi Bộ Kinh – tập 2, 4. Chương Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, bài kinh Ngày Trai Giới)

Khi nghe tới đây, Minh Thành cảm thấy rúng động, nổi gai óc toàn thân và trí về Tứ Thánh Đế rực sáng lên trong tâm của mình, xác quyết cho mình một niềm tin bất động đối với Tứ Thánh Đế. Người thấy biết tu tập trí huệ của Tứ Thánh Đế là địa vị của bậc Thánh. Không phải là chuyện bình thường để thấy được bản chất của năm thủ uẩn này là khổ đau. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ; sanh, bệnh, già, chết là khổ; yêu thương mà xa lìa là khổ; oán ghét mà gặp gỡ là khổ. Người thấy được như vậy là người Nhập Lưu Thánh vị, không phải là chuyện bình thường đối với Tứ Thánh Đế. Cho nên, đây gọi là bậc trí huệ thể nhập – thể nhập và thấy ý nghĩ với trí huệ, thấy bằng trí huệ, thể nhập vô sự thấy biết đó. Không phải chuyện đơn giản để mình nhìn thấy tất cả mọi mặt đời sống này, bản chất của nó là khổ, thấy được như vậy là trí huệ của bậc Thánh, thể nhập Thánh trí. Chỉ có thấy được như vậy mới có thể ly tham, nhàm chán, từ bỏ và chấm dứt. Nếu không thấy được như vậy thì làm sao ly tham, làm sao mà nhàm chán, làm sao từ bỏ, làm sao chấm dứt, đoạn tận?

Cho nên, tất cả sự nghe pháp và suy tư quán chiếu của mình để củng cố, tưới tẩm làm cho tăng trưởng, phát triển, quảng đại cái thấy biết về cuộc đời này, về thân thể này, về tự tâm này, về đời sống của toàn bộ thế giới này, đó gọi là trí tuệ thể nhập, thể nhập trí huệ của bậc Thánh (nói theo văn phạm tiếng Việt). Ở trong thấy biết của mình phải luôn luôn đặt tâm đúng hướng, đừng để rẽ sang hướng khác, hướng lạc, đó là hướng của phàm. Một khi đã lạc, vui thích, đam mê bất cứ một thứ gì khi nghe, thấy, ngửi, nếm, tiếp xúc, duyên với pháp trong nội tâm, trong ngoài các pháp đều hướng tới chỗ “Đây là khổ” thì như vậy viễn ly mới có thể sanh, sự xa lìa mới sanh, có sự rời xa, lìa xa, sự thoát ra thì xuất ly đạo lộ mới hình thành – mới có một con đường thoát ra.

Đừng nghĩ mình thấy như vậy là buồn, mà là vui, vì thấy được tất cả là khổ thì lúc đó viễn ly sanh, nhàm chán sanh và lúc đó hỷ lạc cũng sanh. Vì mình không còn đeo đuổi, chạy, tìm kiếm mệt mỏi nữa, tất cả ngũ uẩn của mình sẽ an tịnh, sắc, thọ, tưởng, hành, thức được an tịnh, trong sáng. Lúc đó sanh hỷ lạc địa của sơ thiền sẽ được hình thành, dào dạt mọi lúc mọi nơi, không phải tới lúc mình ngồi đó tác ý thì lúc đó mới vào sơ thiền, mà sơ thiền sẽ dào dạt mọi lúc mọi nơi, lúc nào cũng viễn lý đối với ngũ uẩn. Tác ý cho viễn ly nhiều, tác ý như vậy thì mình sẽ có được hỷ lạc. Nếu chưa thuần thục thì mình nên tác ý mạnh lên thì nó sẽ sanh ra hỷ lạc, đó là trạng thái của sơ thiền, tầm tứ, làm cho nó sanh hỷ lạc.

Khéo học khéo tu

Trong Tăng Chi Bộ Kinh – tập 2, bài kinh “Thời gian 1”:

“Có bốn thời gian này, này các Tỷ-kheo, nếu khéo tu tập, nếu khéo vận chuyển, tuần tự đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là bốn?

Nghe pháp đúng thời,

Đàm luận về pháp đúng thời,

Chỉ đúng thời,

Quán đúng thời.”

(Tăng Chi Bộ Kinh – tập 2, 4. Chương Bốn Pháp , XV. Phẩm Ánh Sáng, bài kinh Thời gian 1)

Như vậy toàn bộ sự tu tập của mình có thể gói gọn nghe pháp, đàm luận pháp, chỉ và quán. Ở đây thì mình làm gì ngoài ngồi nghe pháp ra thì mình ngồi thiền rồi mình thảo luận. Ngồi thiền thì có thiền chỉ và thiền quán, nghe pháp và thảo luận đó là bốn thời gian. Mình dành như gần một ngày để mình làm các việc này, nghe pháp, đàm luận pháp và thiền – tức là chỉ quán, đó là bốn thời gian.

“Bốn thời gian này, này các Tỷ-kheo, khéo tu tập, khéo vận chuyển, tuần tự đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc.” (Tăng Chi Bộ Kinh – tập 2, 4. Chương Bốn Pháp , XV. Phẩm Ánh Sáng, bài kinh Thời gian 2)

Ngôn ngữ Đức Thế Tôn dùng mình phải nghiền ngẫm mới thấm thía, một nhà ngôn ngữ học vĩ đại của Tam Giới. Nếu khéo tu tập, khéo vận chuyển tuần tự đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc, tức là tuy tu bốn thời gian này (nghe pháp, đàm luận, chỉ và quán) nhưng phải khéo tu tập, chứ không phải cứ như vậy mà đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc, khéo tu tập, khéo vận chuyển, vận chuyển là sự vận hành ở trong sự tu tập đó. Ví dụ như ngồi hoài mỏi chân thì mình phải đi thiền hành, đó là mình khéo léo, đi thiền hành xong mình lại ngồi thiền, ngồi thiền xong rồi nghe pháp rồi thảo luận pháp. Đó là ở ngoài còn ở bên trong, khi mình vận dụng chỉ, quán thì phải thật là khéo.

Có một bài kinh Đức Phật dạy về sự tu tập Thất Giác Chi, Đức Phật nói khi tâm mình dao động thì lúc đó không phải thời để tu Tinh Tấn Giác Chi hay Trạch Pháp Giác Chi. Lúc dao động nhiều thì phải tu Khinh An Giác Chi, Định Giác Chi, Xả Giác Chi. Còn lúc bị thụ động, mình không tu khinh an, không tu định, không tu xả mà khi thụ động, làm biếng, cơ thể rã rượi thì lúc đó phải tu tập Tinh Tấn Giác Chi, Trạch Pháp Giác Chi, Hỷ Giác Chi. Và đặc biệt, Niệm Giác Chi là đối với tất cả trường hợp nào cũng có thể tu tập được.

Cho nên vấn đề hết sức khéo léo trong sự tu tập là mình phải biết nội tâm của mình như thế nào, người khác không biết được. Trừ những bậc có tha tâm thông, không phải vị A-la-hán nào cũng có thần thông vì có nhiều vị A-la-hán không có thần thông, như Ngài Xá-lợi-phất không có thần thông, mình cứ hiểu lầm rằng vị A-la-hán nào cũng có lục thông nhưng không phải. Đoạn tận các lậu hoặc là bậc A-la-hán, sạch hết rác bẩn, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu là bậc A-la-hán. Thần thông là do nhân duyên những đời trước của các vị đó. Chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác là đạt được viên mãn tức khả pháp. Cho nên nhiều khi các vị A-la-hán hỏi Đức Phật, xin Đức Phật chỉ dạy, vì tâm của Ngài thanh tịnh như Phật nhưng những thiện xảo trí huệ trong độ sanh thuyết pháp, những phương diện khéo léo thì chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác được viên mãn.

Vì vậy, mình phải biết tâm thức của mình, biết lúc đó nên vận dụng cái gì, đây gọi là khéo, khéo vận chuyển, khéo vận hành, khéo vận dụng trong khi mình tu tập. Thành ra chữ khéo này thật là khó giải, khó giảng, thật là khó biết. Khéo tu tập, khéo vận chuyển như vậy cứ tuần tự, từ từ, từng bước theo thứ lớp, từ từ sẽ đi đến sự đoạn diệt các lậu hoặc. Nên bốn điều này là mình đang tu, phải tôn trọng thiền định, nghe pháp, thảo luận pháp, nó như nhau và giá trị của nó ngang như nhau hết. Có những người hiểu lầm lên ngồi thiền tụng kinh mới tu còn ngồi nghe pháp thôi là không phải vì bốn thời gian nêu trên đều là tu tập.

Trong kinh “Thời gian 2”, Tăng Chi Bộ Kinh:

“Ví như, này các Tỷ-kheo, trên đỉnh núi, trời mưa nặng hột, và nước chảy theo triền thấp, tràn đầy hang núi, khe núi, thung lũng. Khi các hang núi, khe núi, thung lũng được tràn đầy, thời ao nhỏ được tràn đầy. Ao nhỏ được tràn đầy, thời ao lớn được tràn đầy. Ao lớn được tràn đầy, thời sông nhỏ được tràn đầy. Sông nhỏ được tràn đầy, thời sông lớn được tràn đầy. Sông lớn được tràn đầy, thời biển lớn đại dương được tràn đầy.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bốn thời gian này, nếu khéo tu tập, nếu khéo vận chuyển, tuần tự đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc.” (Tăng Chi Bộ Kinh – tập 2, 4. Chương Bốn Pháp , XV. Phẩm Ánh Sáng, bài kinh Thời gian 2)

Đức Phật hay lấy ví dụ này nên mình đọc phải hiểu chứ không phải chỉ đọc chữ thôi. Khi trời mưa lớn thì từ trên đỉnh núi, nước sẽ chảy trên triền, nước luôn luôn chảy xuống theo triền dốc. Đầu tiên, nó sẽ chảy đầy những hang, những hồ ở trên núi, đầy ở trên trước rồi mới xuống thung lũng, đến những hồ bên dưới rồi chảy qua những ao nhỏ, tới những ao lớn, đến sông nhỏ, sông lớn rồi cuối cùng mới tới biển.

Như vậy, nếu khéo léo tu tập thì chúng ta sẽ thấm đượm dần dần, lan tỏa dần dần từ sự tín giải thoát, niềm tin cho đến hành pháp, tùy pháp, kiến pháp… Tức là những thứ bậc của Thánh quả, những cấp độ của trí huệ sẽ được tăng trưởng dần dần. Ví dụ giống như là ao nhỏ, rồi tới ao lớn, sông nhỏ, rồi sông lớn cuối cùng là đại dương tức là A-la-hán quả. Đó là những mức độ thành tựu của một người tu tập trí huệ, sự thâm nhập tuần tự của người hành trì, như vậy các lậu hoặc sẽ được đoạn diệt.

./.