Tinh Hoa Nikāya - Hướng Dẫn Ba Pháp Và Nhận Diện Năm Uẩn
Tinh Hoa Nikāya
Hướng Dẫn Ba Pháp Và Nhận Diện Năm Uẩn
Thích Minh Thành
Ngày 02 tháng 09 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hướng dẫn ba pháp PAGEREF _Toc114235559 \h 1
II. Nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc114235560 \h 2
III. Tham – sân – si PAGEREF _Toc114235561 \h 6
I. Hướng dẫn ba pháp
Kính bạch các bậc hiền trí, Tăng Ni và quý Phật tử. Chiều hôm nay chúng ta thực tập ba pháp và làm bài tập nhận diện ngũ uẫn mà sáng nay phái đoàn mới đến đã được hòa thượng Thượng Tâm Hạ Đức hướng dẫn. Pháp thứ nhất là chúng ta cảm nhận hơi thở của mình, tiếp theo là chúng ta cảm nhận cảm giác của cơ thể, cảm nhận cảm giác ở trên đỉnh đầu, gương mặt, lỗ tai, đôi vai, cánh tay, bàn tay, ngón tay, lưng, bụng, mông, chân, móng chân, bàn chân, lòng bàn chân, ngón chân. Cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể từ đỉnh đầu cho tới gót chân. Pháp thứ hai là rõ biết ở trước mặt, khi chúng ta ngồi thiền tuyệt đối không nhắm mắt, chúng ta mở mắt nhìn xuống về phía trước khoảng chừng một mét. Mắt của chúng ta phải sáng rõ, sáng tỏa, tầm nhìn phải rộng mở hết mức ra hai bên, ánh nhìn của mình là một ánh nhìn sáng toả, rộng mở, rõ biết ở phía trước mặt, ở đây Đức Thế Tôn gọi là Chánh niệm trước mặt, đặc niệm trước mặt hay rõ biết trước mặt, ba câu này là cùng một ý nghĩa, đây là pháp thứ hai. Rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, thở vào, thở ra làm cho thân an tịnh, tâm lắng dịu, dễ chịu. Mỗi hơi thở của mình, mình tác ý niệm thầm: “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu”.
Sau khi rõ biết trước mặt, sau khi an trú cảm giác toàn thân, làm cho thân an tịnh, tâm lắng dịu rồi đến pháp thứ ba là nội tâm tỉnh giác. Là mình rõ biết được hình bóng gì đang có ở trong tâm, tức là tưởng gì. Rõ biết mình đang có những suy nghĩ gì, tức là hành gì. Rõ biết trong tâm đang có cảm giác gì, tức là thọ gì. Nội tâm tỉnh giác là biết rõ được thọ, tưởng, hành ở bên trong, biết rõ được cảm giác ở trong tâm, hình bóng trong tâm, suy nghĩ trong tâm, đó là pháp thứ ba. Chúng ta nhắc lại: Rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Ba pháp này là sẽ sử dụng cùng khắp tất cả trong đi, đứng, ngồi, nằm không phải chỉ lúc ngồi thiền. Lúc nào cũng rõ biết trước mặt, rõ biết toàn thân, lúc nào nội tâm mình cũng tỉnh giác, biết được những hình bóng, những suy nghĩ, những cảm giác bên trong.
Mấy vị mới về thực tập được chưa? Bây giờ mấy quý vị cũ đừng có đọc, ngồi im, mời quý vị mới vừa lên đọc định nghĩa năm uẩn. Mời trưởng đoàn khởi xướng đầu tiên. Nếu chưa thuộc con sẽ giúp cho quý vị thuộc ngay tại chỗ, quý vị đọc lại ba lần.
“Thân người là sắc
Cảm giác là thọ
Hình bóng là tưởng
Suy nghĩ là hành
Rõ biết là thức”
Ai xung phong đọc thật lòng sẽ có thưởng sách. Chúng ta đã thuộc hết thì như vậy phần lý thuyết là chúng ta tạm ổn. Bây giờ ba pháp hồi nãy chúng ta thực hành được chưa có cái gì chưa rõ trong cái sự học mà được hướng dẫn thực tập ba pháp hồi nãy. Có cái nào chúng ta chưa có rõ trong phần thực tập ba pháp không ạ? Chúng ta im lặng nghĩa là rõ rồi hay là chưa có được gì hết. Rồi bây giờ mình sẽ làm bài tập nhận diện ngũ uẩn. Mình sẽ mời đoàn mới lên chúng ta có người nào xung phong nhận diện ngũ uẩn, ngày hôm qua lúc mà đi lên núi nhận diện lại sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình, lúc mình lên núi nó như thế nào? Tùy mình nhận diện lúc nghe pháp hay là lúc ngồi thiền, hoặc lúc mình trải tâm từ, “Trải mười phương” sáng nay cũng được. Mời quý vị làm bài tập nãy là lý thuyết bây giờ là thực hành.
(Phần Phật tử trình pháp)
II. Nhận diện năm uẩn
Cái này là tuyệt đối quan trọng, nếu mà không nhận diện được năm uẩn, thì mình sẽ không biết thân mình, không biết tâm mình là cái gì? Nếu mình không biết được thọ, tưởng, hành, thức, tức là mình không biết được tâm. Mà mình không biết được tâm thì làm sao mà mình nhiếp phục, chế ngự, tu tập và làm chủ tâm. Thành ra từ sáng giờ chúng ta học chính là tìm hiểu cái tâm thực sự của mình. Mà nhận diện ngũ uẩn chính là để nhận biết được tâm của mình thực sự là cái gì? Nó có mấy khía cạnh, có mấy nhóm, nó vận hành làm sao, nó hoạt động như thế nào và nó đang có mặt như thế nào? Đây là cái bước đầu tiên, quan trọng nhất để đi vào nội tâm, sau đó mới tu được. Nếu cái này không nắm vững thì chúng ta chỉ tu ở bên ngoài nhân thiên, phước báo thôi, không thể thấy được hang ổ của tham, sân, si, không thể nhiếp phục, đoạn tận, chế ngự, tẩy sạch được tham, sân, si. Cho nên bước này là bước quan trọng, làm sao từ đây cho đến lúc chúng ta xuống núi, chúng ta nhận diện được năm uẩn, thực hành được ba pháp, như vậy là thành công bước thứ nhất.
Bản thân bạn thân con 28 năm tụng “Tâm Kinh Bát Nhã” ro ro, nhưng mà cái đó thuộc bằng chữ thôi, còn cái nghĩa mình hiểu còn lờ mờ, huống chi là mình nhìn vào tâm để mình thấy được ngũ uẩn. Nếu mình không nhìn thấy được ngũ uẩn, tức là mình không nhìn thấy được tâm mình một cách toàn diện, đầy đủ, rõ ràng, minh bạch. Nếu mình không nhìn thấy được tâm mình toàn diện, đầy đủ, rõ ràng, minh bạch thì mình không có cách nào mà mình có thể nhiếp phục, chế ngự, sửa trị, tu tập cái tâm mình hết. Mình có tu đi nữa thì mình chỉ có tu ở trên suy tưởng, tại vì mình đâu có thấy rõ đâu.
Bây giờ con nói thí dụ quý cô muốn dọn dẹp một cái căn nhà, lâu đài, biệt thự hay villa, mà mình chỉ đứng ở ngoài cửa, mình không vô được, thì làm sao mà dọn phải không ạ? Mình đứng ngoài cửa, mình cứ đi vòng vòng ở ngoài, mình nghĩ mình sẽ dọn, mình sẽ dẹp, mình sẽ vệ sinh, mình làm cái này cái nọ, thì chỉ là trên suy tưởng thôi. Trừ khi nào mình mở được cánh cửa đi vô nhà, thấy được, sau đó mình mới dùng dụng cụ để mình vệ sinh bằng nhiều cách. Cũng vậy nhận diện nằm uẩn là chìa khóa mở cánh cửa căn nhà nội tâm của chúng ta, là sự quyết định trong tu tập.
Có rất nhiều có rất là nhiều những nhà triết gia, nhà khoa học, những nhà trí thức trên thế giới người ta nói rằng: “Tôi suy nghĩ cái đó là tôi”, Thì vậy mới nói được cái uẩn nào ạ? Hành uẩn. Có nhiều người nói: “Tôi nhận thức được thì cái đó là tôi” thì cái đó là uẩn nào ạ? Thức uẩn thôi. Còn có người lại nói rằng “tôi cảm giác thì cái đó là tôi” thì cái đó là thọ. Nhìu người nói: “Tôi có tư tưởng rồi, cái tư tưởng đó là tôi”, thì cái đó là được uẩn nào nữa? Là tưởng. Thì như vậy, cái đó là những cái nhìn phiến diện, góc cạnh của phàm phu. Mà cái ngũ uẩn này là duy nhất chỉ có một mình bậc Chánh đẳng, Chánh giác, Đức Thế Tôn của chúng ta mới trình bày được về năm uẩn. Không có một người thứ hai trong 3.000 đại thiên thế giới, chứ không phải chỉ có một hành tinh này không có người thứ hai chỉ ra được năm uẩn.
Cho nên Đức Phật tuyên bố ở trong “Tương Ưng Uẩn”: “Này các Tỳ-kheo, ta chỉ tuyên bố ta chứng đạt được sự giác ngộ vô thượng, cùng tột, tối thắng khi nào ta thấu triệt được hoàn toàn về năm thủ uẩn”. Ta không có tuyên bố ta là bậc Chánh đẳng, Chánh giác khi ta chưa thấu suốt hoàn toàn tất cả góc độ, khía cạnh, phương diện về thân tâm năm uẩn này. Thành ra chứng ngộ của Đức Phật là chứng ngộ năm uẩn. Mà năm uẩn là cái gì? Là thân tâm của mình. Mà bây giờ mình không biết thân tâm mình thì làm sao mình tu.
Thí dụ như giờ mình chưa học về nhận diện ngũ uẩn, mà có người hỏi tâm mình là cái gì? Thì mình trả lời làm sao? Con hỏi thiệt các câu hỏi thiệt các bậc tôn đức, hiền trí trả lời dùm con. Mình chỉ trả lời “tôi không biết thôi”, thì đó là tất cả chúng sanh, không chỉ là người mà ngay cả chư thiên luôn, khỏi cần nói địa ngục ngạ quỷ súc sanh, là điều vô mình nói với năm uẩn, tức là không thấy không biết đối với năm uẩn. Mà năm uẩn chính là thân tâm tự thân của họ, nhưng mà họ không biết, thì chỗ này là mấu chốt của vấn đề.
Nếu mình không biết tâm mình là cái gì thì làm sao mình biết tham, sân, si nó ở đâu? Nó sanh khởi như thế nào? Nó vận hành như thế nào nó xâm chiếm, áp đảo, giết hại mình như thế nào? Nó làm cho mình đau khổ, chết bờ, chết bụi, chết lên, chết xuống, sống chết vô lượng, vô biên kiếp vì tham, sân, si, bản ngã này. Mình không biết thì làm sao mà mình diệt nó được? Mà nó nằm ở trong tâm, mà tâm mình không biết thì làm sao mà mình nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch được. Đây là chỗ tuyệt đối quan trọng ở trong kinh tạng Nikāya. Chúng ta bắt đầu biết năm uẩn chưa ạ? Chúng ta biết là chúng ta bắt đầu mở con mắt pháp.
Con xin thưa tất cả các vị về đây tu học, dù cho cũ hay mới phải làm bài tập với nhau, không có đợi con lên, hay quý thầy, quý cô nói đến giờ làm bài tập mình mới làm. Mà bạn bè, huynh đệ, tỷ muội làm bài tập với nhau. Rảnh là cứ “chị nhận diện năm uẩn dùm em với, giờ này năm uẩn chị ra làm sao?”, “huynh nhận diện năm uẩn dùm đệ, giờ này năm uẩn của huynh ra làm sao?” Thì cái đó chính là tập để nhận biết chính mình. Tại vì cái quen của mình là cái quen nhìn ở ngoài không à, ở ngoài mình giỏi lắm, mấy người kế bên tính tình như làm sao mình nói là: “Tôi đi guốc trong bụng hết trơn à!” hay “con ruồi bay ngang tôi biết ruồi đực, ruồi cái” giỏi lắm, giỏi nhìn ở ngoài, giỏi hướng ngoại, giỏi nhìn người ta đặng tham, sân, si, phiền não.
Nhưng mà mình thì sao? Đức Thế Tôn dùng từ là mù lòa. “Chuyện người thì sáng, chuyện mình thì quán”, quán không phải quán chiếu đâu, mà là quán gà đó. Đây là cái chỗ tại sao mình đau khổ, phiền não, mình không thấy biết được mình, tức là mình không có tự giác, tự giác là biết mình đó, chữ “giác” là biết, chữ tự” là mình. Mà mình không biết được thân tâm của mình là cái gì thì làm sao mình tu? Thì nhận diện ngũ uẩn chính là biết được thân tâm của mình là cái gì. “Chúng ta thấy chúng ta thấy cái này vi diệu không?”
Phải tập coi cảm giác mình giờ ra làm sao? Coi trong tâm có hình bóng gì không? Coi nó đang có suy nghĩ gì? Phải thường tập, thường coi xem cảm giác là cảm giác gì đây? Thường coi trong tâm đang có hình bóng gì? Thường coi lại xem đang có suy nghĩ gì? Cái hành nó đang ra làm sao? Thì như vậy là mình đang đọc nội tâm của mình, đó gọi là nội soi, nội quán, nội chiếu, nội tỉnh. Mình đọc được cái đó rồi mình sẽ phát giác, phát hiện ra những sự thật sốc toàn tập.
Lúc đó mình bắt đầu thấy được cái tâm thật của mình, bộ mặt nó như thế nào? Và cái gì làm cho mình đau khổ? Từ từ mình sẽ nhận diện ra được khổ và nguyên nhân của khổ. Còn bây giờ mình quen, mình cứ nhìn “mây đẹp quá, trúc đẹp quá, chim bay, chụp hình đăng lên”. Đi tu mà cứ nhìn ở ngoài không à, chứ không thấy được tâm. Nếu không nhận diện ngũ uẩn, là không thấy được tâm, tới chết cũng không thấy tâm. Người xưa nói: “Biển cả khô rồi còn thấy đái, người đời đến chết chẳng biết được tâm của mình”.
III. Tham – sân – si
Cho nên học Phật chính là học trở lại tự thân tâm của mình, chứ không có gì xa xôi hết. Không phải tìm hiểu phương tây, phương đông, phương bắc, phương thượng, phương hạ gì hết, mà là tìm hiểu chính mình. Khi mình thấu hiểu tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ về thân tâm của mình, thì lúc đó mình sẽ giải quyết được vấn đề gốc rễ của khổ đau. Giải quyết được vấn đề đó, tức là mình diệt tận đau khổ, đó gọi là tu thành tựu, thành quả của sự tu là bốn thành quả, tức là bốn Thánh quả. Thành ra, chúng ta phải để ý cái nhận diện ngũ uẩn này tuyệt đối quan trọng. Bất cứ mọi lúc nào cũng phải tập nhìn lại cảm giác bây giờ đang ra sao? “Con mời các vị mới thôi, mấy vị cũ ngồi im ru, ngồi đại định cho con, ngồi thiền, an tịnh, lắng dịu”. “Có mấy cảm giác, mấy cảm thọ?” Thứ nhất là dễ chịu, thứ 2 là khó chịu, thứ 3 là không dễ chịu không khó chịu. Giỏi rồi đó, mấy thầy mấy cô đã hướng dẫn cho ba cảm thọ này có gì ở trong đó chưa? Bây giờ còn hỏi các vị mới là: “Tham, sân, si ở đâu?”.
Không phải cảm giác dễ chịu là tham, mà là tham trú ở trong cảm giác dễ chịu. Mình để ý đi, lúc nào mình có cảm giác dễ chịu thì lúc đó có tham ở trong đó, nó đi theo miên man ở trong đó. Trong kinh Nikāya Đức Phật chỉ cho mình hang ổ, sào huyệt của tham, sân, si ở trong cảm thọ. Bản thân con gần 30 năm đi tu học cùng khắp trong nước, ngoài nước, cầu đạo khắp hành tinh, mà cũng không biết tham, sân, si ở đâu. Chỉ tới khi nào học Nikāya này rồi mới biết nằm trong cảm thọ. “Quý vị biết rồi quý vị có mừng không?” Biết được cái nguyên nhân làm cho mình khổ đó. Rồi con nói ví dụ cho quý vị dễ hiểu, mấy cái ví dụ về ăn, ngủ, đi chơi nó dễ hiểu lắm.
Chẳng hạn như hồi sáng này mình ăn gì vậy? Ăn được không? Ăn ngon vậy mình lấy cái món phở này làm ví dụ. Thì hồi nãy có cô đang nhận diện ngũ uẩn đó có cảm giác đói bụng là khổ thọ hay lạc thọ, dễ chịu hay khó chịu? Khó chịu. Xong mình ngồi vô bàn, có người bưng cho mình một tô phở nóng hổi, mà khói nó bốc lên cái mùi phảng phất, rồi mình để một miếng tương, mình để một miếng ớt, mình nặn một miếng chanh, mình bỏ rau quế, rau ôm, ngò gai, mình bứt bứt bỏ vô, mình xới lên, mình gắp một đũa, mình để vô miệng, lúc đó cái cảm thọ nó ra làm sao? “Dễ chịu, sung sướng!” Đúng rồi đó. Mà cái lúc đó mình nhai là mình nhai như thế nào? Lúc đó mình thích thích, khoái khoái không? Rồi trong người mình có thúc giục gắp thêm đũa thứ hai không? Rồi mình gấp thêm đũa thứ hai, mà cái miệng nhai chưa hết mà mình gấp thêm chờ sẵn.
Để con chỉ cho đại chúng thấy là nó vận hành dục, tham, ái trong khi mình ăn. Dục là sự thúc giục, muốn ăn nhanh, muốn ăn mau, muốn ăn lẹ, để mình cảm thọ, cảm giác cái cảm giác đó, thì trong này có sự thúc giục. Cho nên mình thấy người nghèo đói họ ăn khác, một người giàu có mình thấy ăn khác. Rồi mình thấy con vật, thí dụ như con chó nó được cái món ăn nó cũng khác. Tất cả là cái cảm thọ hết, trong này là một sự thúc giục.
Người mà làm chủ được cái cảm thọ thúc giục nhiều chừng nào, thì người đó ở một cái địa vị cao chừng đó, cái này là cái sâu sắc. Mình ví dụ có hai người bạn đi chung với nhau, một người thì gặp chuyện gì đó cũng lính quýnh, điện thoại, la lối. Còn người kia bình thản, chậm chậm, từ từ, thì mình thấy giữa hai người đó, người nào là cao cấp hơn? Người bình thản là người nhiếp phục được cái cảm thọ đó, kiềm chế được sự thúc giục ở trong người. Một là thúc giục theo chiều hướng tham, hai là bị cái cảm thọ của bực bội, bứt rứt, bức xúc là sân. Thì người nào có khả năng nhiếp phục, chế ngự được những cảm xúc thúc giục hoặc là nóng giận đó thì người đó là người có tu tập, người có địa vị trong xã hội, người có trình độ, người có đẳng cấp.
Ở ngoài đời hay trong đạo cũng vậy, người nhiếp phục, chế ngự được cảm thọ, thì người đó là người tu, chúng ta để ý nha. Khi mình đưa một tô phở ra trong này có cảm giác thúc giục, hoặc là mình đang khát nước, mình gặp một cái ly cà phê sữa đá đúng cái gu của mình, mình thấy ly cà phê là mình nhìn vô cái cảm thọ của mình liền, nó kêu mình, thúc giục “lẹ lẹ, mau à nghe”. Rồi khi mình nếm vô mình thích thích, khoái khoái phải không? Thì cái thích thích, khoái khoái đó là ái. Sự thúc giục cho mình mau đó là dục. Rồi cái uống một miếng, rồi uống thêm một miếng nữa, nhiều khi đưa lên uống một hơi hết trơn ly nước, thì cái đó là tham. Tức là nó muốn them, muốn thêm là tham. Thì chúng ta phân biệt dục khác, ái khác, tham khác, đều ở trong cảm thọ của mình hết. Cho nên Đức Phật nói rằng: “Tất cả pháp hội tụ trong cảm thọ”, đây là kinh Tăng Chi Bộ, bài kinh “Cội Rễ Của Sự Vật”.
Con thưa quý vị, tại sao hồi nãy chúng ta thực tập cảm giác toàn thân? Là vì tất cả pháp hội tụ trong cảm thọ, mà mình thường xuyên để ý, xem xét, theo dõi cảm thọ của mình, thì cũng có cái gì cục kịt, rục rịch, nhúc nhích là mình biết liền, để mình xử trí nó, “quý vị thấy chỗ này có tuyệt vời không?” Đó là cái lý do tại sao mình tu cảm giác toàn thân, tại vì tất cả pháp nằm trong cái cảm thọ, mình chỉ cần nhìn vô trong cảm thọ, là cái gì nó có ở trong đó là nó hiện ra hết. Mình thấy có những người mới nghe nói một câu, là cái mặt phừng phừng, phẫn nộ lên, làm dữ dằn lên, dù câu nói đó không có gì hết trơn. Vậy người này sân khí rất là dữ dằn, mà cái sân khí dữ dằn như vậy rất dễ rơi vào tam ác đạo. Nếu muốn để cho sân khí này lắng xuống, dịu xuống, thì người này phải tu tập cái tâm hiền, tâm từ. Mà đặc biệt trong Nikāya là bệnh nào thì có thuốc nấy, chứ không có chung chung được, bệnh nào có thuốc tương ứng với nó, chứ không có một viên thuốc mà trị tất cả bệnh được, điều đó không có.
Lúc nãy là tham, bây giờ tới sân nè. Trong cảm giác khó chịu của mình thì cái sân đi theo mien man trong đó, hễ lúc nào khó chịu là lúc đó có sân. Ví dụ bây giờ nói mấy cô cho dễ hiểu, người ta mặc đồ đẹp, người ta uốn tóc nhuộm tóc, tô phấn son này kia đàng hoàng. Lên chê “chị nay sao mặt nhìn giống bệnh vậy?” Nghe câu đó thì cảm giác sao? Công trình trang điểm suốt cả ngày mấy bữa người ta lựa áo quần, tự nhiên gặp cái chê người ta “mặt bữa nay bệnh hay sao vậy? Sao nhìn giống bệnh vậy? Có đau gì không?”.
Nghe câu nói đó thấy: “Bà này sao vô duyên quá ta”, nghe cái câu đó là tự nhiên ở trong người mình có một cảm giác khó chịu, thì trong cái cảm thọ của mình bực bội, là sân ở trong đó. Nhưng mà chúng ta học cái này chúng ta mới thấy hay, không phải đợi chửi lộn, đánh lộn mới biết là sân, cái đó khỏi cần tu thì ai cũng biết hết trơn. Nếu mà đợi đánh lộn, chửi lộn mới biết lúc đó là sân, giận, thì mình tu làm chi, vì ai cũng biết hết. Nhưng mà mình học nhận diện ngũ uẩn, thì cái cảm giác trong này chưa có nói nên lời, nó mới bắt đầu phừng phừng lên trong cái lồng ngực là mình thấy cái được rồi “tuyệt vời không?”
Thí dụ như mình nấu nồi nước sôi, ấm nước sôi, bình nước sôi, thì bây giờ cái nắp ở trên nó lắc lắc, cái bọt tươm tươm ra, như vậy thì cái đó mình thấy nó là dữ dội quá rồi, nước sôi nó trào ra luôn rồi, mà lúc đó mình mới thấy nó sôi thì dễ lắm. Nhưng cái này là bắt đầu ở dưới nó có cái tim bọt, nó lên tim bọt, là mình đã nhìn thấy, mình đã biết có cái gì ở dưới cái nồi, đó là lửa. Mình đang nói cái ví dụ rồi chúng ta sẽ học pháp. Như vậy lợi ích nhận diện ngũ uẩn là mình đọc được thọ, tưởng, hành ở trong tâm của mình, khi nó chưa có biểu hiện ra có khẩu hành và cái thân hành. Tức là nó chưa phát ra lời, chưa có hành động, mà nó mới trong cái suy nghĩ, cảm giác là mình đọc: “Mày chết mày nha, kiếm chuyện hoài phải không? Rồi mày tối ngày mình cứ bực bội, sân hận hoài hả? Mày làm ơn lắng dịu, mày đốt nhà hả? Mày muốn đốt nhà nữa phải không? Thôi an tịnh đi, lắng dịu đi dễ chịu đi, đừng quậy nữa”, được không?
Thì mình diệt nó từ trong trứng nước, từ trong mầm mống nó nhúc nhích, rục rịch, muốn kiếm chuyện, là mình nhiếp phục, chế ngự nó liền. Thì cái đó là cái tu của Nikāya, đó là quán thọ, quán tâm, “thân thọ tâm pháp” là cái đó. Là thấy được cái suy nghĩ, cảm giác, hình bóng của mình. Hình bóng nó lầm bầm, nó tính, từ cái chỗ lồng ngực đầu tiên, khi mà nghe nói cái câu xúc phạm đến mình, thì lúc đó cái lồng ngực nó máy động, phừng phừng, hoả khí xung thiên bốc lên, rồi cái gương mặt đỏ lên, lỗ tai đỏ lên, con mắt đỏ lên, lỗ tai lùng bùng con mắt lờ đờ, lờ mờ hết, cái miệng giật giật, đó là hình tướng của sân. Cho nên mình học nhận diện ngũ uẩn rồi là nó tuyệt diệu lắm, mình sẽ nhìn ra được tất cả cái căn nguyên từ trong gốc rễ, rồi lên cái thân, rồi lên cái cành, rồi đến cái lá của nó, nó sẽ vận hành như thế nào mình sẽ hay biết hết cái quá trình, tiến trình, lộ trình tâm, nó sanh khởi, vận hành ở bên trong con người của mình, thì mình thấy được hết.
Còn nếu mà mình không biết nó ở trong cảm thọ, thì làm gì mình biết, mình nói: “Lúc đó tôi giận, cái này đáng giận lắm, cái này không có tha thứ được” rồi xong, đó là vô văn phàm phu, ngu si, mê muội, đau khổ. Còn cái này, mình nhìn thấy ở trong cái cảm thọ của mình giờ đang có biến động, trong lồng ngực bây giờ nó đang nóng, nó đang có sự bừng bừng, bốc hoả, hỏa khí lên, xông lên, gương mặt mình bây giờ đổi màu, đổi sắc mặt, lỗ tai mình lùng bùng, con mắt mình lờ mờ, cái miệng bắt đầu muốn nói cái gì đó để cho nó hả dạ. Nếu mà nói chưa hả dạ nữa, thì động tay động chân. Sau khi động tay động chân thì sao? “Động quan luôn”. “Chú cư sĩ cạo tóc này cũng hơi đặc biệt đó”. Nhưng đúng như vậy, động tay động chân xong rồi là động quan, động quách luôn.
Thì như vậy chúng ta mới thấy được mình nhận diện cái cảm thọ của mình, trong cái cảm giác dễ chịu và cảm giác khó chịu, mình thấy được cái chỗ trú ẩn của tham và sân. Thì từ chỗ đó mình mới ra công, dụng hạnh, mình mới công phu, mới hạ thủ, mình mới dồn sức vô tu tập cái cảm thọ được. Cho nên hồi sáng này chúng ta được tưới tẩm cái cảm thọ ngọt ngào, yêu thương của từ tâm, để chúng ta làm xoa dịu, lắng dịu cái cảm thọ ghim rút, bức xúc, nóng bức, nhiệt não đó. Hồi sáng này là một trận mưa, chúng ta có cảm nhận được không? “Hồi nãy cô trình pháp giống như là cam lồ, là sương ngọt đó”, là nó mưa xuống như vậy.
Mà trong này là cái lửa nó âm ỉ, nhiều khi nhìn ở ngoài đó là đóng tro, nhưng mà ở dưới đó có lửa than, ở dưới đó trong đống tro tàn nó còn âm ỉ than ở dưới. Mình nói “thầy, bây giờ con ngồi con đâu có sân đâu, sao thầy nói con sân, con có sân đâu?” Ở ngoài nhìn không thấy sân, nhưng mà đụng vô là biết mặt, đụng vô đi rồi biết, nó nằm ở trong đó. Thì Đức Thế Tôn nói là: “Tùy miên nó ngủ ngầm”. Cho nên bây giờ nhìn không thấy sân, có người hiểu lầm nói: “Bây giờ con ngồi trên Niết-bàn rồi”, không phải.
Tại vì mình không có thấy được nó là những thứ thâm căn, cố đế, vô lượng, vô biên kiếp, đã ăn sâu trong cái cảm thọ của mình. Nó ngủ ngầm trong đó, chạm tới là nó bùng dậy, nó sừng sộ, phẫn nộ, thì như vậy làm sao mà Niết-bàn được. Thành ra mình phải bứng tận gốc nó, thì mình phải có nhiều cái thiện xảo, phương tiện để mà tu tập. Rồi chỉ ra cảm giác không dễ chịu không khó chịu là có sở, vô mình, tùy miên trú ẩn trong đó. Không phải được một tô phở mà cũng không phải bị người ta chửi, bình thường như vậy đó. Bình thường thì mình nghĩ “sáng thì ăn sáng, trưa thì ăn trưa, chiều thì đi ngủ, ngày nào không vậy”, thì cái đó là si mê, vô minh. Tại vì tất cả các pháp sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là các pháp hữu vi, vô thường, sanh diệt, biến hoại, tiêu tan, tan hoại, hủy diệt, diệt tận, làm sao nó đứng yên được.
Bây giờ con hỏi chứ mới trong ngày lễ hôm nay mà 13 người chết, mười mấy người bị thương. Thì những người mà họ chết, họ có nghĩ là ngày hôm nay họ bị tai nạn giao thông chết không? Nếu họ biết tai nạn họ có bị không? Họ đâu có nghĩ là ngày hôm nay họ bị tai nạn, họ đâu có nghĩ ngày hôm nay họ bị chết, họ đâu có nghĩ ngày này năm sau là ngày giỗ của họ. Nhưng các pháp nó luôn luôn trong vòng đổi thay, tan hoại, hủy hoại, biến hoại, hoại diệt, đi đến chỗ tan rã, sanh diệt. Mà mình lại cho rằng nó cứ vậy hoài, trong kinh nói chữ “chấp thường” thì mình khó hiểu, không biết chấp thường là gì, nói tiếng Việt của mình nghĩa là “mình cứ nghĩ như vậy hoài”, cái đó là chấp thường. Mình nghĩ: “Sáng nào mình cũng được ăn sáng, sáng nào mình cũng được đi làm, ngày nào mà mình không được tụng kinh, ngày nào mà mình không được nghe pháp, tôi muốn nghe tôi bấm lên một cái là tôi nghe, có gì đâu”, nhưng mà không phải. Rồi có một ngày mình điếc, một ngày mình nằm trên giường bệnh, không có nhận thức nữa. Mà cái ngày đó là bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, như vậy mới gọi là vô thường.
Khi mình thẩm thấu được cái sự thật, tất cả mọi sự, mọi vật ở trong ngũ uẩn: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức này, thân xác này, bất cứ lúc nào cũng có thể đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử. Cảm giác này, mình được thương rồi mình sẽ bị ghét. Mình thân, rồi mình sẽ trở thành sơ. Mình yêu, rồi có thể mình sẽ trở thành hận. Bạn rồi mình có thể trở thành thù. Cảm giác nó sẽ đổi thay nó không như vậy. Rồi những suy nghĩ của mình cũng sẽ thay đổi, bây giờ mình suy nghĩ như vầy, rồi một chút xíu mình sẽ suy nghĩ khác. Cái tư tưởng của mình bây giờ là như vầy, nhưng mà ngày mai mình sẽ đổi khác “nó muốn xuống núi sớm”. Cái nhận thức của mình cũng vậy, nó sẽ đổi thay, liên tục biến động như vậy. Thì mình nhìn ra được hết sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là pháp tiêu tan, hoại diệt, biến động, sanh diệt, tai họa bất cứ lúc nào. Mình cứ tác ý như vậy, nhìn như vậy, suy nghĩ như vậy, về cái tư tưởng như vậy, thì mới phá được cái si mê, trơ trơ, vô minh này.
Có ai nghĩ là mình đang ngồi uống cà phê, mình bị viên đạn bắn trúng gục chết tại chỗ, không thể tưởng tượng nổi, nhưng sự việc đó có thật. “Chúng ta có thấy không ạ?” Bàng hoàng, ngỡ ngàng hết tất cả. Trước khi đại dịch, thế giới sẽ chứng kiến cảnh dịch bệnh chết bao nhiêu triệu người vậy không? Đâu có ai nghĩ như vậy, nhưng mà nó có. Có ai nghĩ rằng mình đi phơi đồ mà tan thân, xương tan, thịt nát không? Không ai nghĩ, mà nó có thật ở Sài Gòn, cô đó băng qua đường rầy xe lửa phơi đồ, xe chạy tới mà cô ráng băng qua đường, thành bầy nhầy một đống. Phải có những cái nhìn, cái thấy, cái tư duy như vậy, mình mới phá được cái vô minh, si mê cho rằng mình như vậy hoài, thì đó là phá tham, sân, si.
Đó là hôm nay con giới thiệu rất là ngắn gọn để cho đại chúng nhìn thấy. Tầm vóc quan trọng, nguyên nhân, lý do và mục đích tại sao mình thực hành cảm giác toàn thân. Tất cả các pháp hội tụ trong cảm thọ, nếu mình không an trú cảm giác toàn thân, thì thân tâm mình có gì mình không biết gì hết. Mình sẽ không biết tại sao mình khổ, tại sao mình bị chửi, bị đánh, bị tai họa, mình không biết. Cho nên cái thứ nhất cảm giác toàn thân, cái thứ hai nhận diện ngũ uẩn, để thấy biết rõ được tâm của mình gồm có những gì? Đang hoạt động như thế nào? Và cái thứ ba là chỉ ra hang ổ, xào huyệt, nơi cư trú của tham, sân, si trong ba cảm thọ, dễ chịu, khó chịu và không dễ chịu, không khó chịu. Thứ tư là giới thiệu một cách hết sức đơn giản cho mình phương pháp đối trị tham, sân, si.
Tham dục là Đức Phật dạy “Dục bất tịnh quán”, còn cái tham tiền, của này kia ở ngoài, thì dùng “Quán vô thường” để trị. Còn sân là phải dùng “Từ tâm giải thoát”, dùng cái tâm từ. Si phải dùng sự quán chiếu về sự bất an, tan biến, hủy hoại, hoại diệt của ngũ uẩn, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, trí tuệ “Quán vô thường, khổ, vô ngã”. Đó là buổi đầu tiên con giới thiệu gắn gọn, sơ lượt về cái đạo lộ, bước đầu tiên trong sự tu tập kinh tạng Nikāya. “Chúng ta có hoan hỷ không ạ?” Thành ra con mong rằng tất cả các vị, nếu có điều gì nghi vấn là phải hỏi. Từ đây cho đến khi xuống núi, phải nắm thật kỹ thực hành ba pháp, phải thuộc lòng nhận diện ngũ uẩn. Nhận diện được ngũ uẩn và thực tập được cảm giác toàn thân, thì không có uổng công mình đi lên núi cầu đạo. Để khi mình trở về, mình sẽ nắm được một báu vật mà vô lượng, vô biên kiếp trong vòng sanh tử vừa qua mình chưa từng được thấy, chưa từng được nghe, chưa từng được cảm xúc, cảm nhận. Chúc cho quý vị nắm được pháp bảo vô giá, tối thượng.
Hướng Dẫn Ba Pháp Và Nhận Diện Năm Uẩn
Thích Minh Thành
Ngày 02 tháng 09 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hướng dẫn ba pháp PAGEREF _Toc114235559 \h 1
II. Nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc114235560 \h 2
III. Tham – sân – si PAGEREF _Toc114235561 \h 6
I. Hướng dẫn ba pháp
Kính bạch các bậc hiền trí, Tăng Ni và quý Phật tử. Chiều hôm nay chúng ta thực tập ba pháp và làm bài tập nhận diện ngũ uẫn mà sáng nay phái đoàn mới đến đã được hòa thượng Thượng Tâm Hạ Đức hướng dẫn. Pháp thứ nhất là chúng ta cảm nhận hơi thở của mình, tiếp theo là chúng ta cảm nhận cảm giác của cơ thể, cảm nhận cảm giác ở trên đỉnh đầu, gương mặt, lỗ tai, đôi vai, cánh tay, bàn tay, ngón tay, lưng, bụng, mông, chân, móng chân, bàn chân, lòng bàn chân, ngón chân. Cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể từ đỉnh đầu cho tới gót chân. Pháp thứ hai là rõ biết ở trước mặt, khi chúng ta ngồi thiền tuyệt đối không nhắm mắt, chúng ta mở mắt nhìn xuống về phía trước khoảng chừng một mét. Mắt của chúng ta phải sáng rõ, sáng tỏa, tầm nhìn phải rộng mở hết mức ra hai bên, ánh nhìn của mình là một ánh nhìn sáng toả, rộng mở, rõ biết ở phía trước mặt, ở đây Đức Thế Tôn gọi là Chánh niệm trước mặt, đặc niệm trước mặt hay rõ biết trước mặt, ba câu này là cùng một ý nghĩa, đây là pháp thứ hai. Rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, thở vào, thở ra làm cho thân an tịnh, tâm lắng dịu, dễ chịu. Mỗi hơi thở của mình, mình tác ý niệm thầm: “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu”.
Sau khi rõ biết trước mặt, sau khi an trú cảm giác toàn thân, làm cho thân an tịnh, tâm lắng dịu rồi đến pháp thứ ba là nội tâm tỉnh giác. Là mình rõ biết được hình bóng gì đang có ở trong tâm, tức là tưởng gì. Rõ biết mình đang có những suy nghĩ gì, tức là hành gì. Rõ biết trong tâm đang có cảm giác gì, tức là thọ gì. Nội tâm tỉnh giác là biết rõ được thọ, tưởng, hành ở bên trong, biết rõ được cảm giác ở trong tâm, hình bóng trong tâm, suy nghĩ trong tâm, đó là pháp thứ ba. Chúng ta nhắc lại: Rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Ba pháp này là sẽ sử dụng cùng khắp tất cả trong đi, đứng, ngồi, nằm không phải chỉ lúc ngồi thiền. Lúc nào cũng rõ biết trước mặt, rõ biết toàn thân, lúc nào nội tâm mình cũng tỉnh giác, biết được những hình bóng, những suy nghĩ, những cảm giác bên trong.
Mấy vị mới về thực tập được chưa? Bây giờ mấy quý vị cũ đừng có đọc, ngồi im, mời quý vị mới vừa lên đọc định nghĩa năm uẩn. Mời trưởng đoàn khởi xướng đầu tiên. Nếu chưa thuộc con sẽ giúp cho quý vị thuộc ngay tại chỗ, quý vị đọc lại ba lần.
“Thân người là sắc
Cảm giác là thọ
Hình bóng là tưởng
Suy nghĩ là hành
Rõ biết là thức”
Ai xung phong đọc thật lòng sẽ có thưởng sách. Chúng ta đã thuộc hết thì như vậy phần lý thuyết là chúng ta tạm ổn. Bây giờ ba pháp hồi nãy chúng ta thực hành được chưa có cái gì chưa rõ trong cái sự học mà được hướng dẫn thực tập ba pháp hồi nãy. Có cái nào chúng ta chưa có rõ trong phần thực tập ba pháp không ạ? Chúng ta im lặng nghĩa là rõ rồi hay là chưa có được gì hết. Rồi bây giờ mình sẽ làm bài tập nhận diện ngũ uẩn. Mình sẽ mời đoàn mới lên chúng ta có người nào xung phong nhận diện ngũ uẩn, ngày hôm qua lúc mà đi lên núi nhận diện lại sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình, lúc mình lên núi nó như thế nào? Tùy mình nhận diện lúc nghe pháp hay là lúc ngồi thiền, hoặc lúc mình trải tâm từ, “Trải mười phương” sáng nay cũng được. Mời quý vị làm bài tập nãy là lý thuyết bây giờ là thực hành.
(Phần Phật tử trình pháp)
II. Nhận diện năm uẩn
Cái này là tuyệt đối quan trọng, nếu mà không nhận diện được năm uẩn, thì mình sẽ không biết thân mình, không biết tâm mình là cái gì? Nếu mình không biết được thọ, tưởng, hành, thức, tức là mình không biết được tâm. Mà mình không biết được tâm thì làm sao mà mình nhiếp phục, chế ngự, tu tập và làm chủ tâm. Thành ra từ sáng giờ chúng ta học chính là tìm hiểu cái tâm thực sự của mình. Mà nhận diện ngũ uẩn chính là để nhận biết được tâm của mình thực sự là cái gì? Nó có mấy khía cạnh, có mấy nhóm, nó vận hành làm sao, nó hoạt động như thế nào và nó đang có mặt như thế nào? Đây là cái bước đầu tiên, quan trọng nhất để đi vào nội tâm, sau đó mới tu được. Nếu cái này không nắm vững thì chúng ta chỉ tu ở bên ngoài nhân thiên, phước báo thôi, không thể thấy được hang ổ của tham, sân, si, không thể nhiếp phục, đoạn tận, chế ngự, tẩy sạch được tham, sân, si. Cho nên bước này là bước quan trọng, làm sao từ đây cho đến lúc chúng ta xuống núi, chúng ta nhận diện được năm uẩn, thực hành được ba pháp, như vậy là thành công bước thứ nhất.
Bản thân bạn thân con 28 năm tụng “Tâm Kinh Bát Nhã” ro ro, nhưng mà cái đó thuộc bằng chữ thôi, còn cái nghĩa mình hiểu còn lờ mờ, huống chi là mình nhìn vào tâm để mình thấy được ngũ uẩn. Nếu mình không nhìn thấy được ngũ uẩn, tức là mình không nhìn thấy được tâm mình một cách toàn diện, đầy đủ, rõ ràng, minh bạch. Nếu mình không nhìn thấy được tâm mình toàn diện, đầy đủ, rõ ràng, minh bạch thì mình không có cách nào mà mình có thể nhiếp phục, chế ngự, sửa trị, tu tập cái tâm mình hết. Mình có tu đi nữa thì mình chỉ có tu ở trên suy tưởng, tại vì mình đâu có thấy rõ đâu.
Bây giờ con nói thí dụ quý cô muốn dọn dẹp một cái căn nhà, lâu đài, biệt thự hay villa, mà mình chỉ đứng ở ngoài cửa, mình không vô được, thì làm sao mà dọn phải không ạ? Mình đứng ngoài cửa, mình cứ đi vòng vòng ở ngoài, mình nghĩ mình sẽ dọn, mình sẽ dẹp, mình sẽ vệ sinh, mình làm cái này cái nọ, thì chỉ là trên suy tưởng thôi. Trừ khi nào mình mở được cánh cửa đi vô nhà, thấy được, sau đó mình mới dùng dụng cụ để mình vệ sinh bằng nhiều cách. Cũng vậy nhận diện nằm uẩn là chìa khóa mở cánh cửa căn nhà nội tâm của chúng ta, là sự quyết định trong tu tập.
Có rất nhiều có rất là nhiều những nhà triết gia, nhà khoa học, những nhà trí thức trên thế giới người ta nói rằng: “Tôi suy nghĩ cái đó là tôi”, Thì vậy mới nói được cái uẩn nào ạ? Hành uẩn. Có nhiều người nói: “Tôi nhận thức được thì cái đó là tôi” thì cái đó là uẩn nào ạ? Thức uẩn thôi. Còn có người lại nói rằng “tôi cảm giác thì cái đó là tôi” thì cái đó là thọ. Nhìu người nói: “Tôi có tư tưởng rồi, cái tư tưởng đó là tôi”, thì cái đó là được uẩn nào nữa? Là tưởng. Thì như vậy, cái đó là những cái nhìn phiến diện, góc cạnh của phàm phu. Mà cái ngũ uẩn này là duy nhất chỉ có một mình bậc Chánh đẳng, Chánh giác, Đức Thế Tôn của chúng ta mới trình bày được về năm uẩn. Không có một người thứ hai trong 3.000 đại thiên thế giới, chứ không phải chỉ có một hành tinh này không có người thứ hai chỉ ra được năm uẩn.
Cho nên Đức Phật tuyên bố ở trong “Tương Ưng Uẩn”: “Này các Tỳ-kheo, ta chỉ tuyên bố ta chứng đạt được sự giác ngộ vô thượng, cùng tột, tối thắng khi nào ta thấu triệt được hoàn toàn về năm thủ uẩn”. Ta không có tuyên bố ta là bậc Chánh đẳng, Chánh giác khi ta chưa thấu suốt hoàn toàn tất cả góc độ, khía cạnh, phương diện về thân tâm năm uẩn này. Thành ra chứng ngộ của Đức Phật là chứng ngộ năm uẩn. Mà năm uẩn là cái gì? Là thân tâm của mình. Mà bây giờ mình không biết thân tâm mình thì làm sao mình tu.
Thí dụ như giờ mình chưa học về nhận diện ngũ uẩn, mà có người hỏi tâm mình là cái gì? Thì mình trả lời làm sao? Con hỏi thiệt các câu hỏi thiệt các bậc tôn đức, hiền trí trả lời dùm con. Mình chỉ trả lời “tôi không biết thôi”, thì đó là tất cả chúng sanh, không chỉ là người mà ngay cả chư thiên luôn, khỏi cần nói địa ngục ngạ quỷ súc sanh, là điều vô mình nói với năm uẩn, tức là không thấy không biết đối với năm uẩn. Mà năm uẩn chính là thân tâm tự thân của họ, nhưng mà họ không biết, thì chỗ này là mấu chốt của vấn đề.
Nếu mình không biết tâm mình là cái gì thì làm sao mình biết tham, sân, si nó ở đâu? Nó sanh khởi như thế nào? Nó vận hành như thế nào nó xâm chiếm, áp đảo, giết hại mình như thế nào? Nó làm cho mình đau khổ, chết bờ, chết bụi, chết lên, chết xuống, sống chết vô lượng, vô biên kiếp vì tham, sân, si, bản ngã này. Mình không biết thì làm sao mà mình diệt nó được? Mà nó nằm ở trong tâm, mà tâm mình không biết thì làm sao mà mình nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch được. Đây là chỗ tuyệt đối quan trọng ở trong kinh tạng Nikāya. Chúng ta bắt đầu biết năm uẩn chưa ạ? Chúng ta biết là chúng ta bắt đầu mở con mắt pháp.
Con xin thưa tất cả các vị về đây tu học, dù cho cũ hay mới phải làm bài tập với nhau, không có đợi con lên, hay quý thầy, quý cô nói đến giờ làm bài tập mình mới làm. Mà bạn bè, huynh đệ, tỷ muội làm bài tập với nhau. Rảnh là cứ “chị nhận diện năm uẩn dùm em với, giờ này năm uẩn chị ra làm sao?”, “huynh nhận diện năm uẩn dùm đệ, giờ này năm uẩn của huynh ra làm sao?” Thì cái đó chính là tập để nhận biết chính mình. Tại vì cái quen của mình là cái quen nhìn ở ngoài không à, ở ngoài mình giỏi lắm, mấy người kế bên tính tình như làm sao mình nói là: “Tôi đi guốc trong bụng hết trơn à!” hay “con ruồi bay ngang tôi biết ruồi đực, ruồi cái” giỏi lắm, giỏi nhìn ở ngoài, giỏi hướng ngoại, giỏi nhìn người ta đặng tham, sân, si, phiền não.
Nhưng mà mình thì sao? Đức Thế Tôn dùng từ là mù lòa. “Chuyện người thì sáng, chuyện mình thì quán”, quán không phải quán chiếu đâu, mà là quán gà đó. Đây là cái chỗ tại sao mình đau khổ, phiền não, mình không thấy biết được mình, tức là mình không có tự giác, tự giác là biết mình đó, chữ “giác” là biết, chữ tự” là mình. Mà mình không biết được thân tâm của mình là cái gì thì làm sao mình tu? Thì nhận diện ngũ uẩn chính là biết được thân tâm của mình là cái gì. “Chúng ta thấy chúng ta thấy cái này vi diệu không?”
Phải tập coi cảm giác mình giờ ra làm sao? Coi trong tâm có hình bóng gì không? Coi nó đang có suy nghĩ gì? Phải thường tập, thường coi xem cảm giác là cảm giác gì đây? Thường coi trong tâm đang có hình bóng gì? Thường coi lại xem đang có suy nghĩ gì? Cái hành nó đang ra làm sao? Thì như vậy là mình đang đọc nội tâm của mình, đó gọi là nội soi, nội quán, nội chiếu, nội tỉnh. Mình đọc được cái đó rồi mình sẽ phát giác, phát hiện ra những sự thật sốc toàn tập.
Lúc đó mình bắt đầu thấy được cái tâm thật của mình, bộ mặt nó như thế nào? Và cái gì làm cho mình đau khổ? Từ từ mình sẽ nhận diện ra được khổ và nguyên nhân của khổ. Còn bây giờ mình quen, mình cứ nhìn “mây đẹp quá, trúc đẹp quá, chim bay, chụp hình đăng lên”. Đi tu mà cứ nhìn ở ngoài không à, chứ không thấy được tâm. Nếu không nhận diện ngũ uẩn, là không thấy được tâm, tới chết cũng không thấy tâm. Người xưa nói: “Biển cả khô rồi còn thấy đái, người đời đến chết chẳng biết được tâm của mình”.
III. Tham – sân – si
Cho nên học Phật chính là học trở lại tự thân tâm của mình, chứ không có gì xa xôi hết. Không phải tìm hiểu phương tây, phương đông, phương bắc, phương thượng, phương hạ gì hết, mà là tìm hiểu chính mình. Khi mình thấu hiểu tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ về thân tâm của mình, thì lúc đó mình sẽ giải quyết được vấn đề gốc rễ của khổ đau. Giải quyết được vấn đề đó, tức là mình diệt tận đau khổ, đó gọi là tu thành tựu, thành quả của sự tu là bốn thành quả, tức là bốn Thánh quả. Thành ra, chúng ta phải để ý cái nhận diện ngũ uẩn này tuyệt đối quan trọng. Bất cứ mọi lúc nào cũng phải tập nhìn lại cảm giác bây giờ đang ra sao? “Con mời các vị mới thôi, mấy vị cũ ngồi im ru, ngồi đại định cho con, ngồi thiền, an tịnh, lắng dịu”. “Có mấy cảm giác, mấy cảm thọ?” Thứ nhất là dễ chịu, thứ 2 là khó chịu, thứ 3 là không dễ chịu không khó chịu. Giỏi rồi đó, mấy thầy mấy cô đã hướng dẫn cho ba cảm thọ này có gì ở trong đó chưa? Bây giờ còn hỏi các vị mới là: “Tham, sân, si ở đâu?”.
Không phải cảm giác dễ chịu là tham, mà là tham trú ở trong cảm giác dễ chịu. Mình để ý đi, lúc nào mình có cảm giác dễ chịu thì lúc đó có tham ở trong đó, nó đi theo miên man ở trong đó. Trong kinh Nikāya Đức Phật chỉ cho mình hang ổ, sào huyệt của tham, sân, si ở trong cảm thọ. Bản thân con gần 30 năm đi tu học cùng khắp trong nước, ngoài nước, cầu đạo khắp hành tinh, mà cũng không biết tham, sân, si ở đâu. Chỉ tới khi nào học Nikāya này rồi mới biết nằm trong cảm thọ. “Quý vị biết rồi quý vị có mừng không?” Biết được cái nguyên nhân làm cho mình khổ đó. Rồi con nói ví dụ cho quý vị dễ hiểu, mấy cái ví dụ về ăn, ngủ, đi chơi nó dễ hiểu lắm.
Chẳng hạn như hồi sáng này mình ăn gì vậy? Ăn được không? Ăn ngon vậy mình lấy cái món phở này làm ví dụ. Thì hồi nãy có cô đang nhận diện ngũ uẩn đó có cảm giác đói bụng là khổ thọ hay lạc thọ, dễ chịu hay khó chịu? Khó chịu. Xong mình ngồi vô bàn, có người bưng cho mình một tô phở nóng hổi, mà khói nó bốc lên cái mùi phảng phất, rồi mình để một miếng tương, mình để một miếng ớt, mình nặn một miếng chanh, mình bỏ rau quế, rau ôm, ngò gai, mình bứt bứt bỏ vô, mình xới lên, mình gắp một đũa, mình để vô miệng, lúc đó cái cảm thọ nó ra làm sao? “Dễ chịu, sung sướng!” Đúng rồi đó. Mà cái lúc đó mình nhai là mình nhai như thế nào? Lúc đó mình thích thích, khoái khoái không? Rồi trong người mình có thúc giục gắp thêm đũa thứ hai không? Rồi mình gấp thêm đũa thứ hai, mà cái miệng nhai chưa hết mà mình gấp thêm chờ sẵn.
Để con chỉ cho đại chúng thấy là nó vận hành dục, tham, ái trong khi mình ăn. Dục là sự thúc giục, muốn ăn nhanh, muốn ăn mau, muốn ăn lẹ, để mình cảm thọ, cảm giác cái cảm giác đó, thì trong này có sự thúc giục. Cho nên mình thấy người nghèo đói họ ăn khác, một người giàu có mình thấy ăn khác. Rồi mình thấy con vật, thí dụ như con chó nó được cái món ăn nó cũng khác. Tất cả là cái cảm thọ hết, trong này là một sự thúc giục.
Người mà làm chủ được cái cảm thọ thúc giục nhiều chừng nào, thì người đó ở một cái địa vị cao chừng đó, cái này là cái sâu sắc. Mình ví dụ có hai người bạn đi chung với nhau, một người thì gặp chuyện gì đó cũng lính quýnh, điện thoại, la lối. Còn người kia bình thản, chậm chậm, từ từ, thì mình thấy giữa hai người đó, người nào là cao cấp hơn? Người bình thản là người nhiếp phục được cái cảm thọ đó, kiềm chế được sự thúc giục ở trong người. Một là thúc giục theo chiều hướng tham, hai là bị cái cảm thọ của bực bội, bứt rứt, bức xúc là sân. Thì người nào có khả năng nhiếp phục, chế ngự được những cảm xúc thúc giục hoặc là nóng giận đó thì người đó là người có tu tập, người có địa vị trong xã hội, người có trình độ, người có đẳng cấp.
Ở ngoài đời hay trong đạo cũng vậy, người nhiếp phục, chế ngự được cảm thọ, thì người đó là người tu, chúng ta để ý nha. Khi mình đưa một tô phở ra trong này có cảm giác thúc giục, hoặc là mình đang khát nước, mình gặp một cái ly cà phê sữa đá đúng cái gu của mình, mình thấy ly cà phê là mình nhìn vô cái cảm thọ của mình liền, nó kêu mình, thúc giục “lẹ lẹ, mau à nghe”. Rồi khi mình nếm vô mình thích thích, khoái khoái phải không? Thì cái thích thích, khoái khoái đó là ái. Sự thúc giục cho mình mau đó là dục. Rồi cái uống một miếng, rồi uống thêm một miếng nữa, nhiều khi đưa lên uống một hơi hết trơn ly nước, thì cái đó là tham. Tức là nó muốn them, muốn thêm là tham. Thì chúng ta phân biệt dục khác, ái khác, tham khác, đều ở trong cảm thọ của mình hết. Cho nên Đức Phật nói rằng: “Tất cả pháp hội tụ trong cảm thọ”, đây là kinh Tăng Chi Bộ, bài kinh “Cội Rễ Của Sự Vật”.
Con thưa quý vị, tại sao hồi nãy chúng ta thực tập cảm giác toàn thân? Là vì tất cả pháp hội tụ trong cảm thọ, mà mình thường xuyên để ý, xem xét, theo dõi cảm thọ của mình, thì cũng có cái gì cục kịt, rục rịch, nhúc nhích là mình biết liền, để mình xử trí nó, “quý vị thấy chỗ này có tuyệt vời không?” Đó là cái lý do tại sao mình tu cảm giác toàn thân, tại vì tất cả pháp nằm trong cái cảm thọ, mình chỉ cần nhìn vô trong cảm thọ, là cái gì nó có ở trong đó là nó hiện ra hết. Mình thấy có những người mới nghe nói một câu, là cái mặt phừng phừng, phẫn nộ lên, làm dữ dằn lên, dù câu nói đó không có gì hết trơn. Vậy người này sân khí rất là dữ dằn, mà cái sân khí dữ dằn như vậy rất dễ rơi vào tam ác đạo. Nếu muốn để cho sân khí này lắng xuống, dịu xuống, thì người này phải tu tập cái tâm hiền, tâm từ. Mà đặc biệt trong Nikāya là bệnh nào thì có thuốc nấy, chứ không có chung chung được, bệnh nào có thuốc tương ứng với nó, chứ không có một viên thuốc mà trị tất cả bệnh được, điều đó không có.
Lúc nãy là tham, bây giờ tới sân nè. Trong cảm giác khó chịu của mình thì cái sân đi theo mien man trong đó, hễ lúc nào khó chịu là lúc đó có sân. Ví dụ bây giờ nói mấy cô cho dễ hiểu, người ta mặc đồ đẹp, người ta uốn tóc nhuộm tóc, tô phấn son này kia đàng hoàng. Lên chê “chị nay sao mặt nhìn giống bệnh vậy?” Nghe câu đó thì cảm giác sao? Công trình trang điểm suốt cả ngày mấy bữa người ta lựa áo quần, tự nhiên gặp cái chê người ta “mặt bữa nay bệnh hay sao vậy? Sao nhìn giống bệnh vậy? Có đau gì không?”.
Nghe câu nói đó thấy: “Bà này sao vô duyên quá ta”, nghe cái câu đó là tự nhiên ở trong người mình có một cảm giác khó chịu, thì trong cái cảm thọ của mình bực bội, là sân ở trong đó. Nhưng mà chúng ta học cái này chúng ta mới thấy hay, không phải đợi chửi lộn, đánh lộn mới biết là sân, cái đó khỏi cần tu thì ai cũng biết hết trơn. Nếu mà đợi đánh lộn, chửi lộn mới biết lúc đó là sân, giận, thì mình tu làm chi, vì ai cũng biết hết. Nhưng mà mình học nhận diện ngũ uẩn, thì cái cảm giác trong này chưa có nói nên lời, nó mới bắt đầu phừng phừng lên trong cái lồng ngực là mình thấy cái được rồi “tuyệt vời không?”
Thí dụ như mình nấu nồi nước sôi, ấm nước sôi, bình nước sôi, thì bây giờ cái nắp ở trên nó lắc lắc, cái bọt tươm tươm ra, như vậy thì cái đó mình thấy nó là dữ dội quá rồi, nước sôi nó trào ra luôn rồi, mà lúc đó mình mới thấy nó sôi thì dễ lắm. Nhưng cái này là bắt đầu ở dưới nó có cái tim bọt, nó lên tim bọt, là mình đã nhìn thấy, mình đã biết có cái gì ở dưới cái nồi, đó là lửa. Mình đang nói cái ví dụ rồi chúng ta sẽ học pháp. Như vậy lợi ích nhận diện ngũ uẩn là mình đọc được thọ, tưởng, hành ở trong tâm của mình, khi nó chưa có biểu hiện ra có khẩu hành và cái thân hành. Tức là nó chưa phát ra lời, chưa có hành động, mà nó mới trong cái suy nghĩ, cảm giác là mình đọc: “Mày chết mày nha, kiếm chuyện hoài phải không? Rồi mày tối ngày mình cứ bực bội, sân hận hoài hả? Mày làm ơn lắng dịu, mày đốt nhà hả? Mày muốn đốt nhà nữa phải không? Thôi an tịnh đi, lắng dịu đi dễ chịu đi, đừng quậy nữa”, được không?
Thì mình diệt nó từ trong trứng nước, từ trong mầm mống nó nhúc nhích, rục rịch, muốn kiếm chuyện, là mình nhiếp phục, chế ngự nó liền. Thì cái đó là cái tu của Nikāya, đó là quán thọ, quán tâm, “thân thọ tâm pháp” là cái đó. Là thấy được cái suy nghĩ, cảm giác, hình bóng của mình. Hình bóng nó lầm bầm, nó tính, từ cái chỗ lồng ngực đầu tiên, khi mà nghe nói cái câu xúc phạm đến mình, thì lúc đó cái lồng ngực nó máy động, phừng phừng, hoả khí xung thiên bốc lên, rồi cái gương mặt đỏ lên, lỗ tai đỏ lên, con mắt đỏ lên, lỗ tai lùng bùng con mắt lờ đờ, lờ mờ hết, cái miệng giật giật, đó là hình tướng của sân. Cho nên mình học nhận diện ngũ uẩn rồi là nó tuyệt diệu lắm, mình sẽ nhìn ra được tất cả cái căn nguyên từ trong gốc rễ, rồi lên cái thân, rồi lên cái cành, rồi đến cái lá của nó, nó sẽ vận hành như thế nào mình sẽ hay biết hết cái quá trình, tiến trình, lộ trình tâm, nó sanh khởi, vận hành ở bên trong con người của mình, thì mình thấy được hết.
Còn nếu mà mình không biết nó ở trong cảm thọ, thì làm gì mình biết, mình nói: “Lúc đó tôi giận, cái này đáng giận lắm, cái này không có tha thứ được” rồi xong, đó là vô văn phàm phu, ngu si, mê muội, đau khổ. Còn cái này, mình nhìn thấy ở trong cái cảm thọ của mình giờ đang có biến động, trong lồng ngực bây giờ nó đang nóng, nó đang có sự bừng bừng, bốc hoả, hỏa khí lên, xông lên, gương mặt mình bây giờ đổi màu, đổi sắc mặt, lỗ tai mình lùng bùng, con mắt mình lờ mờ, cái miệng bắt đầu muốn nói cái gì đó để cho nó hả dạ. Nếu mà nói chưa hả dạ nữa, thì động tay động chân. Sau khi động tay động chân thì sao? “Động quan luôn”. “Chú cư sĩ cạo tóc này cũng hơi đặc biệt đó”. Nhưng đúng như vậy, động tay động chân xong rồi là động quan, động quách luôn.
Thì như vậy chúng ta mới thấy được mình nhận diện cái cảm thọ của mình, trong cái cảm giác dễ chịu và cảm giác khó chịu, mình thấy được cái chỗ trú ẩn của tham và sân. Thì từ chỗ đó mình mới ra công, dụng hạnh, mình mới công phu, mới hạ thủ, mình mới dồn sức vô tu tập cái cảm thọ được. Cho nên hồi sáng này chúng ta được tưới tẩm cái cảm thọ ngọt ngào, yêu thương của từ tâm, để chúng ta làm xoa dịu, lắng dịu cái cảm thọ ghim rút, bức xúc, nóng bức, nhiệt não đó. Hồi sáng này là một trận mưa, chúng ta có cảm nhận được không? “Hồi nãy cô trình pháp giống như là cam lồ, là sương ngọt đó”, là nó mưa xuống như vậy.
Mà trong này là cái lửa nó âm ỉ, nhiều khi nhìn ở ngoài đó là đóng tro, nhưng mà ở dưới đó có lửa than, ở dưới đó trong đống tro tàn nó còn âm ỉ than ở dưới. Mình nói “thầy, bây giờ con ngồi con đâu có sân đâu, sao thầy nói con sân, con có sân đâu?” Ở ngoài nhìn không thấy sân, nhưng mà đụng vô là biết mặt, đụng vô đi rồi biết, nó nằm ở trong đó. Thì Đức Thế Tôn nói là: “Tùy miên nó ngủ ngầm”. Cho nên bây giờ nhìn không thấy sân, có người hiểu lầm nói: “Bây giờ con ngồi trên Niết-bàn rồi”, không phải.
Tại vì mình không có thấy được nó là những thứ thâm căn, cố đế, vô lượng, vô biên kiếp, đã ăn sâu trong cái cảm thọ của mình. Nó ngủ ngầm trong đó, chạm tới là nó bùng dậy, nó sừng sộ, phẫn nộ, thì như vậy làm sao mà Niết-bàn được. Thành ra mình phải bứng tận gốc nó, thì mình phải có nhiều cái thiện xảo, phương tiện để mà tu tập. Rồi chỉ ra cảm giác không dễ chịu không khó chịu là có sở, vô mình, tùy miên trú ẩn trong đó. Không phải được một tô phở mà cũng không phải bị người ta chửi, bình thường như vậy đó. Bình thường thì mình nghĩ “sáng thì ăn sáng, trưa thì ăn trưa, chiều thì đi ngủ, ngày nào không vậy”, thì cái đó là si mê, vô minh. Tại vì tất cả các pháp sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là các pháp hữu vi, vô thường, sanh diệt, biến hoại, tiêu tan, tan hoại, hủy diệt, diệt tận, làm sao nó đứng yên được.
Bây giờ con hỏi chứ mới trong ngày lễ hôm nay mà 13 người chết, mười mấy người bị thương. Thì những người mà họ chết, họ có nghĩ là ngày hôm nay họ bị tai nạn giao thông chết không? Nếu họ biết tai nạn họ có bị không? Họ đâu có nghĩ là ngày hôm nay họ bị tai nạn, họ đâu có nghĩ ngày hôm nay họ bị chết, họ đâu có nghĩ ngày này năm sau là ngày giỗ của họ. Nhưng các pháp nó luôn luôn trong vòng đổi thay, tan hoại, hủy hoại, biến hoại, hoại diệt, đi đến chỗ tan rã, sanh diệt. Mà mình lại cho rằng nó cứ vậy hoài, trong kinh nói chữ “chấp thường” thì mình khó hiểu, không biết chấp thường là gì, nói tiếng Việt của mình nghĩa là “mình cứ nghĩ như vậy hoài”, cái đó là chấp thường. Mình nghĩ: “Sáng nào mình cũng được ăn sáng, sáng nào mình cũng được đi làm, ngày nào mà mình không được tụng kinh, ngày nào mà mình không được nghe pháp, tôi muốn nghe tôi bấm lên một cái là tôi nghe, có gì đâu”, nhưng mà không phải. Rồi có một ngày mình điếc, một ngày mình nằm trên giường bệnh, không có nhận thức nữa. Mà cái ngày đó là bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, như vậy mới gọi là vô thường.
Khi mình thẩm thấu được cái sự thật, tất cả mọi sự, mọi vật ở trong ngũ uẩn: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức này, thân xác này, bất cứ lúc nào cũng có thể đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử. Cảm giác này, mình được thương rồi mình sẽ bị ghét. Mình thân, rồi mình sẽ trở thành sơ. Mình yêu, rồi có thể mình sẽ trở thành hận. Bạn rồi mình có thể trở thành thù. Cảm giác nó sẽ đổi thay nó không như vậy. Rồi những suy nghĩ của mình cũng sẽ thay đổi, bây giờ mình suy nghĩ như vầy, rồi một chút xíu mình sẽ suy nghĩ khác. Cái tư tưởng của mình bây giờ là như vầy, nhưng mà ngày mai mình sẽ đổi khác “nó muốn xuống núi sớm”. Cái nhận thức của mình cũng vậy, nó sẽ đổi thay, liên tục biến động như vậy. Thì mình nhìn ra được hết sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là pháp tiêu tan, hoại diệt, biến động, sanh diệt, tai họa bất cứ lúc nào. Mình cứ tác ý như vậy, nhìn như vậy, suy nghĩ như vậy, về cái tư tưởng như vậy, thì mới phá được cái si mê, trơ trơ, vô minh này.
Có ai nghĩ là mình đang ngồi uống cà phê, mình bị viên đạn bắn trúng gục chết tại chỗ, không thể tưởng tượng nổi, nhưng sự việc đó có thật. “Chúng ta có thấy không ạ?” Bàng hoàng, ngỡ ngàng hết tất cả. Trước khi đại dịch, thế giới sẽ chứng kiến cảnh dịch bệnh chết bao nhiêu triệu người vậy không? Đâu có ai nghĩ như vậy, nhưng mà nó có. Có ai nghĩ rằng mình đi phơi đồ mà tan thân, xương tan, thịt nát không? Không ai nghĩ, mà nó có thật ở Sài Gòn, cô đó băng qua đường rầy xe lửa phơi đồ, xe chạy tới mà cô ráng băng qua đường, thành bầy nhầy một đống. Phải có những cái nhìn, cái thấy, cái tư duy như vậy, mình mới phá được cái vô minh, si mê cho rằng mình như vậy hoài, thì đó là phá tham, sân, si.
Đó là hôm nay con giới thiệu rất là ngắn gọn để cho đại chúng nhìn thấy. Tầm vóc quan trọng, nguyên nhân, lý do và mục đích tại sao mình thực hành cảm giác toàn thân. Tất cả các pháp hội tụ trong cảm thọ, nếu mình không an trú cảm giác toàn thân, thì thân tâm mình có gì mình không biết gì hết. Mình sẽ không biết tại sao mình khổ, tại sao mình bị chửi, bị đánh, bị tai họa, mình không biết. Cho nên cái thứ nhất cảm giác toàn thân, cái thứ hai nhận diện ngũ uẩn, để thấy biết rõ được tâm của mình gồm có những gì? Đang hoạt động như thế nào? Và cái thứ ba là chỉ ra hang ổ, xào huyệt, nơi cư trú của tham, sân, si trong ba cảm thọ, dễ chịu, khó chịu và không dễ chịu, không khó chịu. Thứ tư là giới thiệu một cách hết sức đơn giản cho mình phương pháp đối trị tham, sân, si.
Tham dục là Đức Phật dạy “Dục bất tịnh quán”, còn cái tham tiền, của này kia ở ngoài, thì dùng “Quán vô thường” để trị. Còn sân là phải dùng “Từ tâm giải thoát”, dùng cái tâm từ. Si phải dùng sự quán chiếu về sự bất an, tan biến, hủy hoại, hoại diệt của ngũ uẩn, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, trí tuệ “Quán vô thường, khổ, vô ngã”. Đó là buổi đầu tiên con giới thiệu gắn gọn, sơ lượt về cái đạo lộ, bước đầu tiên trong sự tu tập kinh tạng Nikāya. “Chúng ta có hoan hỷ không ạ?” Thành ra con mong rằng tất cả các vị, nếu có điều gì nghi vấn là phải hỏi. Từ đây cho đến khi xuống núi, phải nắm thật kỹ thực hành ba pháp, phải thuộc lòng nhận diện ngũ uẩn. Nhận diện được ngũ uẩn và thực tập được cảm giác toàn thân, thì không có uổng công mình đi lên núi cầu đạo. Để khi mình trở về, mình sẽ nắm được một báu vật mà vô lượng, vô biên kiếp trong vòng sanh tử vừa qua mình chưa từng được thấy, chưa từng được nghe, chưa từng được cảm xúc, cảm nhận. Chúc cho quý vị nắm được pháp bảo vô giá, tối thượng.