Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Búa ở trong miệng - khẩu nghiệp Đã Chỉnh

2026-03-03 00:55:23
BÚA Ở TRONG MIỆNG – KHẨU NGHIỆP

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Hổ thẹn và sợ hãi PAGEREF _Toc69460237 \h 1

II.Quả báo của ác khẩu PAGEREF _Toc69460238 \h 3

III. Tu tập Chánh ngữ PAGEREF _Toc69460239 \h 10

IV. Những đề tài câu chuyện PAGEREF _Toc69460240 \h 15

Hổ thẹn và sợ hãi

Hôm nay chúng ta học một bài học, có thể quý vị sẽ không thích nghe, nhưng bài học này có lợi ích rất lớn. Trong Kinh Tạng Nikāya Đức Phật dạy, người tu muốn tiến bộ, muốn bước lên, muốn tu học ngày càng có kết quả thì người tu phải có hai cái tâm hổ thẹn và sợ hãi. Hai tâm này nhất định người tu phải có, nếu không có thì không phải người tu, và tu không thành công, nhưng đôi khi mình lại lãng quên hai tâm này rất nhiều.

Trong buổi lạy sám hối nửa tháng một lần, phải làm cho mình phát sanh được tâm hổ thẹn và sợ hãi lỗi lầm đối với sai quấy nhưng do lạy nhiều lần nên sanh ra nhàm, bình thường, mình cứ nghĩ sám hối là vào lạy hết từ số 1 đến 108 là sám hối xong, như vậy là không phải. Mà buổi lạy sám hối là làm thế nào trong khi lạy ý thức được lỗi lầm, sai quấy, tội, và mình cảm thấy xấu hổ nhục nhã, tàm quý, và mình cảm thấy sợ hãi những lỗi lầm đó, mình nguyện với lòng, nguyện trước Tam Bảo, nguyện trước thầy, trước bạn là sẽ không tái diễn, tái phạm, tái tục tiếp nối trở lại những lỗi lầm, đó mới là ý nghĩa của buổi sám hối. Còn nếu lạy xong rồi trở ra, thì không phải là ý nghĩa chân thật của buổi sám hối. Còn quý vị lạy theo như thế nào? Nếu lạy lúc đó sanh khởi tâm rất là xấu hổ, nhục nhã, tàm quý, sợ, hoảng sợ, hãi sợ, kinh hãi, thì những điều xấu sẽ không lặp lại; còn nếu lạy xong rồi trở ra thì không phải là sám hối, chính vì vậy mình có lạy nhiều nhưng không có thay đổi gì hết.

Thí dụ nhỏ nhất thực tế trong đạo tràng, khi đang nghe pháp mà chuông điện thoại reo lên thì mình cảm thấy xấu hổ, sau đó mình phải tìm mọi cách như tắt nguồn điện thoại hoặc giấu điện thoại, thậm chí đi tu không mang theo điện thoại, đó mới là người tu. Hoặc đang nghe pháp mà mình không tập trung, ngủ và khi giật mình thức dậy mình cảm thấy rất xấu hổ, nhục nhã, muốn độn thổ, muốn quay đầu vào tường, muốn đập đầu vào tường, đó là sự nhục nhã, mình suy nghĩ người không biết hổ thẹn mới làm điều đó. Do đây là nơi tu học trang nghiêm, thanh tịnh để tu học chứ không phải là nơi mình đến ngủ, nếu mình chấp nhận cho điều này tái diễn là mình không biết xấu hổ, như thế thì mình vẫn dậm chân tại chổ.

Đối với một cơn nóng giận khởi lên, mình phải cảm thấy nhục nhã, tồi bại, hèn hạ, không có phấn đấu, tại sao mình không có sức nhẫn, không chế phục nội tâm để cho tâm phát tát những thứ độc hại trong tâm thức. Do đó mình phải dập đầu trước Phật và lạy, chứ không thể dung thứ cho lỗi lầm đó, không để lỗi lầm tái diễn. Vì tu là tu sửa, tu chỉnh mà mình không chỉnh sửa thì mãi mãi mình không tiến được, không làm mới được. Sám hối diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi chứ không phải chỉ ở trên chánh điện, phải ý thức về sai lầm một cách sâu sắc. Đức Phật gọi là tàm quý sắc bén, sự xấu hổ sâu sắc không cho tái tục, tiếp nối, không cho tái diễn, không cho tái phạm, thì người đó tu mới tiến, và người đó cảm thấy sợ hãi trước những tội lỗi nhỏ nhặt, luôn luôn lúc nào cũng phải cẩn thận trong thân, trong lời, trong ý.

Hôm nay bài học chỉ nói một điều, đáng lẽ phải học một tháng mới xong, nhưng hôm nay mình sẽ học trước một buổi. Đó là người ở trên đời như búa để trong miệng, sở dĩ chém mình là do lời nói dữ, do búa nằm sẵn trong miệng chứ không phải cât búa ở ngoài. Quý vị phải sợ điều này chứ đừng nhắm mắt hả họng mà cười, hôm nào đi nghe pháp cũng như xem thách thức danh hài thì không được, hoặc đấu trường tiếu lâm, nghe pháp không phải để tìm tiếng cười, để tìm lời khen, mà tu học sâu sắc, tu học theo chánh pháp là càng ngày phải thấy những tiềm ẩn ô uế, nhơ nhớp, phiền não trong nội tâm của mình, càng thấy rõ thì sẽ nhanh thành tựu trí huệ.

Thí dụ những công ty thải ra chất thải làm ô nhiễm môi trường mà không ai biết, đến lúc biết được thì cá chết hàng loạt, người bệnh, cây cối môi trường xung quanh bị tác hại, khi biết được sự việc thì sự việc đi đến tồi tệ. Hoặc có nơi du lịch ở miền trung xả rác bừa bãi trên bãi biển rất đẹp, sau đó bị Đài VTV phản ánh 2-3 lần trên ti vi, thì bãi biển trở nên sạch đẹp. Nếu Đài truyền hình không đưa tin tức thì bãi biển sẽ không sạch đẹp, nếu đài không đưa lên những nơi xả rác vào môi trường làm chết những con sinh vật biển thì nơi đó sẽ không khắc phục.

Đối với người tu học cũng giống như vậy, mình phải khắc phục và nhận lỗi, muốn nhận lỗi thì mình phải nhìn lại phải quán xét, cho nên Tứ Niệm Xứ nhìn lại tâm mình, thân mình, nhìn lại thì mình mới thấy, mới phát giác, và thấy rõ thì gọi là giác ngộ, thấy thì phải khắc phục, điều chỉnh, từ bỏ, chấm dứt nó, làm cho nó không còn, thì đó mới là công việc của người tu. Còn mình nghe người khác chỉ ra lỗi của mình thì mình không chịu nhận lỗi, đó là sự sai lầm, vô minh, chấp ngã, đại đa số mình đều bị lỗi này, cho nên tu không tiến bộ. Bất cứ ai cũng nghe khen thì thích, mà nghe chê là bực, mình không biết chê đúng hay sai, mà bực bội trước đã.

Quả báo của ác khẩu

Trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 4, trang 467, bài kinh Tỷ-kheo Kokàlika, vị Tỷ-kheo này đi đến gặp Phật nói xấu Ngài Xá Lợi Phất (Sàriputta) và Ngài Mục Kiền Liên (Moggallàna), nói rằng Ngài Xá Lợi Phất và Ngài Mục Kiền Liên bị ác dục chinh phục, có những ham muốn xấu ác. Trong khi Đức Thế Tôn đã nói rõ hai vị ấy là tướng quân của chánh pháp, có khả năng thay thế Phật để chuyển pháp luân. Một người giống như sanh mẫu, một người là dưỡng mẫu của chư vị Tỷ-kheo. (Sanh mẫu là mẹ đẻ, dưỡng mẫu là mẹ nuôi). Đức Thế Tôn đã khen ngợi trong đại chúng, xác nhận là bậc A-la-hán. Ngài Xá lợi Phất thường thuyết pháp cho những người phát tâm, tín tâm xuất gia tu hành, nhờ Ngài mà các vị được xuất gia trong giáo pháp, được sanh trong giáo pháp, do đó Ngài giống như sanh mẫu. Sau đó vào tăng đoàn thì Ngài Mục Kiền Liên chăm sóc dạy dỗ, dạy bảo, đào tạo, giáo dục giống như dưỡng mẫu. Nhưng trong thời điểm này thì 2 ngài cũng giống như chư Tăng bình thường.

Bấy giờ có Tỷ-kheo Kokàlika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kokàlika bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, Sàriputta và Moggallàna là ác dục, bị ác dục chinh phục.

- Này Kokàlika, chớ có nói vậy! Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlika, tâm hãy tịnh tín đối với Sàriputta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.

Lần thứ hai, Tỷ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có lòng tin và tin tưởng, đối với con Sàriputta và Moggallàna là ác dục, bị ác dục chinh phục."

- Này Kokàlika, chớ có nói vậy! Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlika, tâm hãy tịnh tín đối với Sàriputta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.

Lần thứ 3 ông Tỷ-kheo không nghe Đức Phật can ngăn và vẫn lặp lại nói xấu 2 vị ấy.

Rồi Tỷ-kheo Kokàlika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Thế Tôn rồi đi ra. Tỷ-kheo Kokàlika ra đi không bao lâu, toàn thân của Tỷ-kheo Kokàlika nổi lên những mụt to bằng hạt cải: sau khi lớn bằng hạt cải, chúng lớn lên bằng hột đậu; sau khi lớn lên bằng hột đậu, chúng lớn lên bằng hạt đậu lớn; sau khi lớn bằng hột đậu lớn, chúng lớn lên bằng hòn sỏi; sau khi lớn bằng hòn sỏi Kolatthi, chúng lớn lên bằng hột táo; sau khi lớn lên bằng hột táo, chúng lớn lên bằng trái Àmala, chúng lớn lên bằng trái dưa (trái vilva); sau khi lớn lên bằng trái dưa vilva, chúng lớn lên bằng trái billa (trái dưa đã chín); sau khi lớn lên bằng trái billa, chúng bị phá vỡ, mủ và máu chảy ra. Tại đây, nó nằm trên lá chuối, như con cá ăn phải đồ độc.

Lúc ấy có độc giác Phạm thiên Tudu đi đến Tỷkheo Kokàlika, sau khi đến, đứng trên hư không và nói với Tỷ-kheo Kokàlika: - Này Kokàlika, hãy đặt tâm tịnh tín nơi Sàriputta và Moggallàna! Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna. - Ông là ai?

- Ta là độc giác Phạm thiên Tudu.

- Thưa Hiền giả, có phải Hiền giả là người được Thế Tôn trả lời là đã chứng Bất lai? Sao người lại đến đây? Hãy xem như thế nào người đã lầm lạc trong vấn đề này.

Có nghĩa là vị Phạm Thiên đã chứng bất lai thì đến đây làm gì, đây là chuyện của ông ta mà thôi, không liên quan đến vị Phạm Thiên thì nói làm chi.

Rồi độc giác Phạm thiện Tudu nói lên với Tỷ-kheo Kokàlika bài kệ này:

Con người được sanh ra,

Sanh với búa trong miệng,

Người ngu nói điều xấu,

Là tự chém vào mình.

Ai khen người đáng chê,

Ai chê người đáng khen,

Đều chất chứa bất hạnh,

Do từ miệng tạo thành,

Và chính do bất hạnh,

Nên không được an lạc.

Nhỏ thay, bất hạnh này,

Chính do cờ bạc sanh,

Khiến tài sản tiêu hao,

Bất hạnh này lớn hơn,

Không những mất tất cả,

Lại mất cả tự mình,

Là người khởi ác ý

Đối với chư Thiện Thệ.

Ai chỉ trích bậc Thánh,

Với lời, với ác ý,

Trải qua trăm ngàn thời,

Với ni-rab-bu-đa,

Còn thêm ba mươi sáu,

Với năm a-bu-đa,

Phải sanh vào địa ngục

Chịu khổ đau tại đấy.

Rồi Tỷ-kheo Kokàlika, do chứng bệnh ấy mệnh chung. Sau khi chết, Tỷ-kheo Kokàlika sanh vào địa ngục sen hồng vì tâm khởi ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna.

Địa ngục Sen Hồng trong kinh Xá Lợi Phất giải thích rất khiếp đảm.

Trong một bài kinh khác, do Đức Phật tuyên bố vị Tỷ-kheo phỉ báng Ngài xá Lợi và Mục Kiền Liên rơi xuống địa ngục Sen Hồng. Vì vậy vị Phạm Thiên Sahampati là Ta Bà Chủ, là đấng sáng tạo chúa trời, phước đức là đứng đầu của cõi Ta Bà, Chính vị này khi Đức Phật thành đạo lễ thỉnh Đức Phật 3 lần để Đức Phật giảng pháp.

Vị Phạm Thiên Sambati bạch Đức Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika mệnh chung, phải sanh vào địa ngục sen hồng, vì tâm khởi ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna". Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Nói như vậy xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ.

Nghe tên địa ngục sen Hồng rất đẹp, nhưng vào thì rất đau đớn, giống như trong Suối Tiên mà có địa ngục, do đó Sen Hồng không giống hoa sen cúng, còn địa ngục Sen Hồng rất khủng khiếp, máu chảy ra giống như màu hoa sen.

Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

- Này Tỷ-kheo, tuổi thọ ở địa ngục sen hồng, rất khó mà tính được. Có chừng ấy năm, hay có chừng ấy trăm năm, hay có chừng ấy ngàn năm, hay có chừng ấy trăm ngàn năm.

- Bạch Thế Tôn, có thể cho một ví dụ được chăng?

- Có thể được, này Tỷ-kheo, một cỗ xe chở hai mươi cân kosala chở đầy hột mè. Rồi một người cứ sau một trăm năm, một trăm năm lấy lên một hột mè. Mau hơn này Tỷ-kheo là cỗ xe chở hai mươi cân kosala chở đầy hột mè, do phương pháp này, đi đến tận sạch, không còn gì nữa, cũng chưa đủ là một abbuda địa ngục.

1. Địa ngục Abbuda.

2. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi abbuda địa ngục là bằng một Nirabbuda địa ngục.

3. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Nirabbuda địa ngục là bằng một ababà địa ngục.

4. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi ababà địa ngục bằng một ahaha địa ngục.

5. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi ahaha địa ngục là bằng một atato địa ngục.

6. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi atato địa ngục bằng một kumodo địa ngục.

7. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi kumodo địa ngục là bằng một sogandhika địa ngục.

8. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi sogandhika địa ngục bằng một uppalako địa ngục.

9. Ví như, này Tỷ-kheo hai mươi uppalako địa ngục bằng một pundarika địa ngục.

10. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi pundarika địa ngục bằng một paduma địa ngục.

Này Tỷ kheo, Tỷ kheo Kokàlika phải sanh vào địa ngục paduma (sen hồng), vì khởi lên ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna.

Như vậy, thì chúng ta tính ra 100 năm mới lấy ra một hột mè, chỉ là địa ngục nhỏ, còn địa ngục Sen Hồng tuổi thọ gấp hàng mấy trăm lần, gần nhất khoảng 200 bao, mỗi bao 100 kg mè, 100 năm lấy ra một hột mè, lấy hết số hột mè thì mới hết tuổi thọ đày trong địa ngục Sen Hồng.

Đức Thế Tôn nói bài kệ:

Con người được sanh ra

Sanh với búa trong miệng,

Người ngu nói điều xấu,

Là tự chém vào mình.

Ai khen người đáng chê,

Ai chê người đáng khen,

Đều chất chứa bất hạnh,

Do từ miệng tạo thành,

Và chính do bất hạnh,

Nên không được an lạc

Nhỏ thay bất hạnh này,

Chính do cờ bạc sanh,

Khiến tài sản tiêu hao,

Bất hạnh này lớn hơn,

Không những mất tất cả,

Lại mất cả tự mình.

Là người khởi ác ý,

Đối với chư Thiện thệ.

Ai chỉ trích bậc Thánh,

Với lời, với ác ý,

Trải qua trăm ngàn thời,

Với ni-rab-bu-da,

Còn thêm ba mươi sáu,

Với năm a-bu-đa,

Phải sanh vào địa ngục,

Chịu khổ đau tại đấy.

(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 4, 10. Chương Mười Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, bài kinh Tỷ Kheo Kokàlika)

Bài kinh này rất là quan trọng, Minh Thành đọc mà cảm thấy sợ cho người mà cũng sợ cho chính mình. Cho nên đây là một lời nhắc nhở cảnh tỉnh, cũng là một tiếng chuông, trước hết là đối với Phật tử còn sau là đối với người xuất gia. Minh Thành thấy Phật tử phê phán chư Tăng Ni, điều này rất nguy hiểm. Bản thân mình chưa tu được bao nhiêu, tội lỗi nghiệp chướng đầy đầu, đầy mình mà không chịu lo tu sửa, mà đi vào chùa tìm lỗi của người xuất gia, điều này rất nguy hiểm, nếu không nói cho họ biết thì họ sẽ đi xuống ngạ quỷ, súc sanh, mà không biết ngày nào lên được. Điều này rất quan trọng mà Minh Thành muốn nhắc nhở trong đạo tràng, đối với các bậc Hiền Thánh Tăng, những bậc có giới hạnh, mình phỉ báng là đã có tội chứ đừng nói đến những bậc đã hướng Dự lưu, đã vào Dự lưu hay Tam quả, Nhị quả, Tứ quả Thánh hiền. Đối với những bậc này thì tâm không dao động, mặc dù mình có chửi mắng cũng không có gì, mà chỉ thương cho mình, nhưng người chửi phải lãnh hậu quả khủng khiếp, kinh khủng khiếp.

Vì vậy, khi học những điều này mình phải rất sợ, tuyệt đối không nói lỗi của các bậc tu hành, tại mình chưa tu được, chưa xuất gia được, mình có thấy thì là để sợ cho chính mình và tránh. Cho nên Minh Thành thường nhắc nhở từ trong Phật tử cho đến chú phụ trợ trong Tam bảo. Đôi khi nếu thỉnh thoảng đến chùa thì mình quý kính thầy cô nhưng đến nhiều lần mình bắt đầu xem thường, có khi ở lâu lại thấy lỗi xấu. Điều này là thà mình đừng đến chùa, nếu đến chùa mà gây nhân nghiệp rất là nguy hiểm, chưa thấy phước mà đã mang tội nặng nề, nhưng bản thân người đó không biết do họ chưa học, không ai hướng dẫn nên không biết. Quý vị thấy rằng chỉ nói Ngài Xá Lợi Phất và Ngài Mục Kiền Liên là ác dục, là có sự ham muốn xấu ác, xấu xa, chỉ có một câu là ngay lập tức vị Tỷ-kheo bị nổi mục như hột mè, hột đậu, trái cây, trái dưa rồi vỡ ra máu mủ vỡ ra nằm xuống tại chổ cho đến chết rồi bị đày xuống địa ngục, vì vậy mình rất sợ, khi đã học rồi mình phải cẩn thận.

Minh Thành xem trên mạng về Lễ thượng thọ của Hòa Thượng Trúc Lâm 94 tuổi, có những lời bình luận rất nguy hiểm, nói những câu nói xúc phạm, Minh Thành đọc mà rất sợ, còn rất nhiều bình luận, phê bình đủ thứ hết, bản thân Minh Thành cũng nghe. Mình chỉ thương xót rất nguy hiểm cho họ, không thể tưởng tượng nổi sự dài lâu trong địa ngục, do đó phải tuyệt đối cẩn thận. Khi mình có con cháu, hoặc hàng xóm, bạn đạo nói phỉ báng thì mình phải ngăn họ lại không cho nói, hoặc tránh đừng cho họ phát ra khẩu nghiệp, đó là búa đang chặt chính thân của họ, búa ngay miệng chặt chém chính thân mình. Không chỉ có người xuất gia, ngay cả bạn đạo cũng không được nói lỗi của người đó nhiều, tập nhìn lại lỗi mình, nếu thấy người ta sai thì phải rút kinh nghiệm và tránh, mình phải sợ sệt cho chính bản thân. Quý vị học trong kinh tạng Nikāya rất là hay, trong khi từ trước mình nghe chỉ nghe cho vui.

Trong Kinh Tăng Chi Bộ tập 2, trang 718, Đức Phật nói:

Có năm nguy hại này cho người nói nhiều.

Thế nào là năm?

Nói láo;

Nói lời hai lưỡi;

Nói lời độc ác;

Nói lời phù phiếm;Sau khi thân hoại hạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này cho người nói nhiều. (Tăng Chi Bộ Kinh tập 2, 5. Chương Năm Pháp, XXII. Phẩm Mắng Nhiếc, bài kinh Người Nói Nhiều)

Đó là năm nguy hại cho người nói nhiều, do nói nhiều thì cũng nói láo. Xin thưa quý Phật tử, có người hỏi Minh Thành “Sao thầy có thể giảng được nhiều như vậy”, nhưng nếu không lên pháp tòa thì Minh Thành cũng sợ những người nói nhiều, quý vị vào gặp Minh Thành và nói nhiều là Minh Thành im lặng không nói và bỏ đi. Nếu người đó nói Phật pháp thì được, bất cứ khi nói chuyện điện thoại hay gặp trực tiếp nếu nói việc ngoài đời và nói đến ai là Minh Thành sẽ bỏ đi. Minh Thành rất sợ hãi, do mình tu dỡ nên sợ, còn người khác tu giỏi nên không sợ, địa ngục mà họ không sợ thì sợ gì nữa.

Tu tập Chánh ngữ

Trong Tăng Chi Bộ Kinh, Đức Phật có nói:

Thành tựu năm chi phần, này các Tỷ-kheo, các lời là thiện thuyết, không phải ác thuyết, không có phạm tội và không bị những người có trí chỉ trích.

Thế nào là năm?

Nói đúng thời,

Nói đúng sự thật,

Nói lời nhu hòa,

Nói lời liên hệ đến lợi ích,

Nói với lời từ tâm.

Thành tựu năm chi phần, này các Tỷ-kheo, các lời là thiện thuyết, không phải ác thuyết, không có phạm tội và không bị những người có trí chỉ trích. (Tăng Chi Bộ Kinh tập 2, 5. Chương Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, bài kinh Lời Nói)

Thứ nhất là nói đúng thời là nói đúng lúc, muốn nói điều đó mà không đúng lúc thì không phải là thiện thuyết, không phải khéo nói, và phải có trí tuệ mới biết lúc nào là đúng lúc. Thí dụ khi quý vị đi ghi danh tu học một ngày, quý vị tình nguyện đi học và ngồi nghe Minh Thành giảng thì Minh Thành mới nói được những điều này, nếu ngoài đường hay ở nhà mà nói những điều này thì không đúng lúc, do đó nói đúng thời, đúng lúc rất quan trọng.

Thứ hai là nói đúng sự thật, đây gọi là khéo nói, cho nên mình phải trở về bài học cảm giác toàn thân, để nhìn được cảm giác và nhiếp phục cảm giác, cảm giác toàn thân luôn luôn để ý cảm giác xem có tham, sân, si trong cảm giác không.

Thứ ba là lời nói liên hệ đến lợi ích, bậc trí tuệ mới nói được điều này, lời nói liên hệ đến lợi ích cho mình và cho người, lời nói đó dẫn đến lợi ích trong hiện tại và tương lai cho mình và cho người.

Thứ tư là nói với lời nói từ tâm, nói với tâm từ bi, tình thương đó là khéo nói. Thí dụ con sai, chồng không đúng sự việc, mình rất bực nhưng không nói ngay lúc đó, mà vào phòng đóng cửa ngồi hít thở, cảm giác toàn thân, xem cơn giận dữ như thế nào, xem 3 thọ là thọ gì, 3 cảm giác đang khó chịu, khó chịu từ đâu? Từ tiếng nói của chồng con, tiếng nói nghe được từ lỗ tai, âm thanh, rõ biết, 3 cái này giao thoa với nhau, rồi sanh cảm thọ, là cảm thọ do nhỉ súc sanh, là cảm thọ từ tiếp xúc lỗ tai mới sanh ra, pháp duyên khởi duyên hợp. Tại sao nghe tiếng chửi trong ti vi nghe hoài mà không sân? Bây giờ có phong chức thánh chửi dùng ngôn từ bậy bạ, chửi mà lên thánh, do đó rối loạn hết văn hóa, đạo đức, những Chánh pháp từ từ bị hoại diệt, làm gì chửi mà xưng là thánh chửi, vậy mà cũng dùng phổ biến. Mình trở lại vấn đề phải nhìn thấy được cảm giác của mình, để cho cảm giác lắng dịu, mình dùng tha thứ, sự thấu hiểu, quán chiếu nghiệp quả, mình khởi tâm từ cho tan hết thì mới nói, khi đó mình nói bằng tâm từ, góp ý kiến thì mới có tác dụng, lúc đang giận mà nói thì sẽ sai, phản tác dụng hết.

Trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 1, trang 227, bài kinh “Nói Như Hoa”, Đức Phật nói có ba hạng người có mặt trên cõi đời:

Một là hạng người nói như phân.

Thứ hai hạng người nói như hoa.

Thứ ba là hạng người nói như mật.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người nói như phân?

Có hạng người khi đi vào hội trường, hay đi vào hội chúng, hay đi đến giữa các người bà con, hay khi đi đến giữa các người đồng một tổ hợp, hay đi đến giữa cung vua, hay bị dẫn như là người làm chứng, được nói: "Ngươi biết gì, hãy nói lên". Người ấy không biết, nói rằng: "Tôi có biết"; có biết, nói rằng: "Tôi không biết"; không thấy, nói rằng: "Tôi có thấy"; có thấy, nói rằng: "Tôi không thấy". Do vì mình hay vì người, hay vì một vài lợi vật nhỏ mà đã cố ý nói láo. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người nói như phân.

Làm chứng ra tòa hầu tòa, hay trong cuộc sống bình thường mình không thấy mà nói thấy, không biết mà nói biết, không có mà nói có đó là hạng người nói như phân, người đó nói bay ra mùi khó chịu nên những người ở gần sẽ không chịu nổi mùi này, khủng hoảng hết với những người này. Mình thỉnh thoảng cũng bị vi tế, do đôi khi mình giận, không phải là vu khống, như chuyện ít nhưng mình lại nói cho tròn, thí dụ người mà mình đang ghét mà có người nói xấu, mình châm nói thêm vào “Tôi thấy đúng vậy, tôi thấy còn hơn” đó là nói như phân.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người nói như hoa?

Là người biết nói biết, thấy nói thấy, không biết nói không biết, không thấy nói không thấy. Không vì mình hay vì người, hay vì một vài lợi vật nhỏ mà cố ý nói láo. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người nói như hoa.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người nói như mật?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người đoạn tận ác ngữ, từ bỏ lời nói ác ngữ. Lời nói của người ấy không hại, tai ưa nghe, khả ái, đi thẳng đến tâm, lễ độ, được nhiều người ưa thích, được nhiều người thích ý, người ấy nói những lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người nói như mật. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1, 3. Chương Ba Pháp, III. Phẩm Người, bài kinh Nói Như Hoa)

Đoạn tận là chấm dứt lời nói ác, không nói lời ác, từ bỏ lời nói ác, từ bỏ lời nói ác. Lời nói của người đó không có hại, thân không hại nhưng có thể lời nói có hại, nếu không khéo tu thì lời nói cũng dễ gây hại. Tai ưa nghe là người này nói lời dễ nghe, khả ái, lời nói đi thẳng đến tâm, đi thẳng vào tim, lễ độ được nhiều người ưa thích, được nhiều người thích ý, người ấy nói lời như vậy là nói lời như mật. Quý vị chấm xem mình thuộc về lời nói nào? mình lẫn lộn giữa lời nói số 1 và số 2, còn lời nói số 3 đang hướng tới là mình đang học tập nói như mật.

Trong bài kinh “Phân Biệt Về Sự Thật”, Đức Phật nói thế nào là Chánh ngữ? “Tự chế không nói láo, tự chế không nói hai lưỡi, tự chế không nói lời ác, tự chế không nói lời phù phiếm, này chư hiền như vậy gọi là Chánh ngữ”. Hai chữ quan trọng là tự chế là tự mình chế ngự lời nói, biết kiềm chế lời nói, mình kông cho bung hết mà phải kiềm chế lại, hai chữ tự chế chính là tu. Đức Phật gọi là điều ngự chế phục thân, chế phục lời, chế phục ý không cho lung tung, lang bang, phóng túng, không cho phóng vật, nhiếp phục và thu phục nó, hàng phục làm cho nó khuất phục, điều phục, nếu thành công mình sẽ trở thành điều ngự trượng phu. Cho nên cái khó điều phục là cái miệng, mà Minh Thành nhắc khóa tu của mình là tịnh khẩu như không thấy tịnh khẩu, hôm nay nhắc trở lại là phải tập tịnh khẩu, lúc mới vào thì nói ít, sau đó tập tịnh khẩu.

Đi vào chùa Hoằng Pháp 1.500 – 2.000 người, mà không nghe tiếng động là khóa tu đặc biệt, mà mình khoảng 70-80 người, mình phải làm cho được, phải nhiếp phục, chế phục, điều phục trong buổi tu. Chúng ta phải tập tịnh khẩu, chuyện gì quan trọng thì mình phải tập ra dấu, nếu ra dấu không hiểu, thì nói nhỏ vào lỗ tai. Còn không chúng ta học lớp khiếm thính, để sử dụng trong buổi thọ bát, sử dụng ngôn ngữ hình thể, cố gắng trong buổi thọ bát mình giữ tịnh khẩu trong nửa ngày. Giống như Minh Thành ở trong thất không nói chuyện với ai, không có ai để nói, mà nhờ không nói chuyện, mình mới nghe được tiếng nói bên trong tâm, mới nhìn sâu được những vi tế, còn nói nhiều thì không nhìn ra được, chúng ta phải để ý tu là phải tiến, không cho đứng tại chổ không cho lùi.

Đức Phật nói rằng: “Ta không nói rằng tất cả đều được thấy cần phải nói ra, Ta không nói rằng tất cả đều được thấy không nên nói ra. Tất cả đều nghe nên nói ra hay tất cả đều được nghe không nên nói ra. Tất cả đều được cảm giác nên nói ra hay tất cả đều được cảm giác không nên nói ra. Tất cả điều mình thức tri nên nói ra hay tất cả điều mình được rõ biết không nên nói ra. Này Bà-la-môn, phàm nói lên điều thấy gì các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, Ta nói rằng điều thấy như vậy không nên nói ra, phàm nói lên điều thấy gì các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng điều thấy như vậy nên nói ra”.

Đức Phật không nói rằng không cho nói, cũng không nói thấy gì cũng nói, nghe cái gì cũng nói hay không được nói cũng không phải, hay cảm giác cái gì được nói hay không được nói cũng không phải. Mà Đức Phật nói rằng: “Nếu như mình nghe điều gì, cảm giác điều gì, mình nhận được điều gì, mà điều đó nói ra thiện pháp, pháp lành tăng trưởng thì hãy nói. Nếu như mình nói, cảm giác biết được mà mình nói nghe cái pháp lành tổn giảm, pháp ác phát triển thì không được nói”. Đây là chỗ rất quan trọng, Đức Phật đâu cấm không cho nói thì những người câm đã chứng quả hết, Đức Phật nói rằng không phải là không cho nói, mà không phải nói hết mà là nói lời gì để tăng trưởng pháp lành thì mình hãy nói, những cái gì nghe thấy, cảm giác biết được mà mình nói ra pháp ác tăng trưởng thì không được nói, những pháp ác nói ra bị tổn giảm, làm cho tâm động loạn, do đó phải học nhiều kinh tạng Nikāya.

Hôm đó, Đức Thế Tôn đang trong tịnh thất mà nghe ồn ào bên ngoài, Ngài hỏi A-nan: “Chuyện gì vậy?”.

Ngài A-nan trả lời: “Bạch Đức Thế Tôn, các vị Tỷ-kheo mới vừa xuất gia 500 vị, về diện kiến thăm Đức Thế Tôn”.

Đức Thế Tôn nói: “Giống như chợ cá, ta không ưa thích những người ồn ào giống như chợ cá, chợ mắm, nhân danh của ta đi ra đuổi các Tỷ-kheo ấy đi, không cho gặp, ta không tiếp, này A-nan ra nói với các Tỷ-kheo ấy như vậy”.

500 vị Tỷ-kheo mới xuất gia diện kiến Đức Thế Tôn rất nhiều lần đều không tiếp.

Cho nên quý vị về đây tu mà thanh tịnh trang nghiêm, thì quý vị vừa được lợi ích mà đạo tràng cũng được quý thầy ở đây cũng được tiếng khen

Những đề tài câu chuyện

Tăng Chi Bộ tập 4, trang 408, bài kinh “Những Đề Tài Câu Chuyện”.

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana trong khu vườn của ông Anàthapindika.

Lúc bấy giờ, rất nhiều Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, ngồi tụ họp tại hội trường. Các vị này đang chú tâm trong nhiều câu chuyện phù phiếm sai khác sau đây: Câu chuyện về vua, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về quân đội, câu chuyện về sợ hãi, câu chuyện về chiến trận, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về đồ nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng, câu chuyện về thị trấn, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về ma quỷ, các câu chuyện sai khác về thế giới, về biển lớn, các câu chuyện về hữu và phi hữu.

Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, các Thầy nay ngồi hội họp ở đây, nói chuyện về vấn đề gì? Câu chuyện gì đang bàn giữa các Thầy chưa bàn xong?

Câu này rất hay và nhờ đó Minh Thành được rất nhiều lợi lạc, ai nói Minh Thành chuyện gì, Minh Thành nghe và hỏi lại người bị nói xem có phải không? Nghe nói vậy mà có không? Mình không nên nghe một chiều, nghe một chiều sẽ sai lầm.

Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã nghe hết câu chuyện, do thiên nhỉ thuần tĩnh siêu nhân, ngồi ở đây chứ chổ khác nói gì đều nghe thấy biết rõ hết. Nhưng Đức Phật hỏi các thầy đang nói chuyện gì? giống như Ngài không biết, nhưng cũng không ai dám gạt Ngài điều gì.

- Bạch Thế Tôn, ở đây, chúng con sau buổi ăn, sau khi đi khất trở về, chúng con ngồi hội họp tại hội trường, và chúng con đang chú tâm trong nhiều câu chuyện phù phiếm sai khác sau đây: Câu chuyện về vua, câu chuyện về ăn trộm... các câu chuyện về hữu và phi hữu.

- Này các Tỷ-kheo, thật không xứng đáng cho các Thầy, là những thiện nam tử, vì lòng xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại có thể sống sai khác, như câu chuyện về vua... câu chuyện về hữu và phi hữu. Này các Tỷ-kheo, có mười đề tài nói chuyện này

Thế nào là mười? 1. Câu chuyện về ít dục. 2. Câu chuyện về biết đủ. 3. Câu chuyện về viễn ly. 4. Câu chuyện về không tụ hội. 5. Câu chuyện về tinh tấn. 6. Câu chuyện về giới. 7. Câu chuyện về định. 8. Câu chuyện về tuệ. 9. Câu chuyện về giải thoát. 10. Câu chuyện về giải thoát tri kiến.

Này các Tỷ-kheo, có mười đề tài để nói chuyện này. 4. Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy tiếp tục nói những câu chuyện liên hệ đến mười đề tài để nói chuyện này, thời các Thầy có thể với ánh sáng (của mình) đánh bạt ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực, có uy lực, còn nói gì của các du sĩ ngoại đạo. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 4, 10. Chương Mười Pháp, VII. Phẩm Song Đôi, bài kinh Những Đề Tài Câu Chuyện 1)

Đó là 10 đề tài mà quý vị cần phải khai triển, Đức Phật đâu có cấm không cho nói chuyện những lúc pháp đàm, những câu chuyện này nói về những câu chuyện ít dục, ít ham muốn để mình bớt dục, bớt ham muốn, nói về chuyện biết đủ để cảm nhận những thứ mình đang có. Nói về chuyện xa lìa, nếu mình không tập sống xa lìa, tập tâm xa lìa, thì đến lúc xa lìa thì mình không chịu đựng được, nếu không thực tập tâm xa lìa, mình sẽ không ra đi thanh thản, mình sẽ bị lôi kéo trong luân hồi, trong nghiệp, nhất là trong nghiệp xấu ác. Cho nên mình phải tập nói về những câu chuyện xa lìa, quán chiếu và tư duy về những điều đó. Câu chuyện về không hội tụ, đừng có thấy 3-4 người đang nói chuyện là vào, thấy là mình phải bỏ đi, kiếm chỗ ngồi quán chiếu vô thường, khổ vô ngã, câu chuyện về tinh tấn. Mọi người ráng cố gắng tu, mỗi ngày phải nghe 2 thời pháp, lúc trước nghe 1 thời pháp, bây giờ nghe 2 thời pháp, nghe 2-3 buổi, đọc kinh Nikāya, kinh Vô thường mà Đức Phật dạy. Tuổi già cần đọc về thiên năm uẩn, quán về quán tử thi, quán bất tịnh, quán 32 thể trượt. Quán những thứ này để mình xả, mình nói những câu chuyện về giới, định, tuệ, giải thoát, tri kiến giải thoát.

Đức Phật nói những điều này như sau: “Các thầy với ánh sáng của chính mình đánh bạt ánh sáng của mặt trời, mặt trăng của các vật đại thần lực, có uy lực còn nói gì đến du sĩ ngoại đạo”. Tức là ánh sáng của quý vị là siêu việt cả nhật nguyệt quang, là ánh sáng của trí huệ. Phải luôn phát sanh cái tâm xấu hổ và sợ hãi đối với tội lỗi nhỏ nhặt nhất, luôn phấn đấu tinh tấn, nỗ lực hoàn thiện chính mình, làm cho mình toàn thiện, làm mới mình, làm đẹp mình. Ngày nào cũng đi “thẩm mỹ viện tâm linh”, ngày nào cũng lấy giới, lấy định, lấy tuệ, lấy tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học để trang sức cho thân, giải thoát cho tâm linh của mình. Từ bỏ những lời nói xấu ác và mình nguyện sẽ nói lời như hoa, như mật chứ đừng nói như phân. Mình sẽ tránh xa sự phỉ báng chê bai những vị xuất gia, nếu không sẽ lãnh lấy quả báo khủng khiếp dài lâu nơi địa ngục. Ngay cả những cư sĩ và tất cả mọi người, cũng không được phỉ báng, không chê bai, không soi mói những tật xấu của họ, mà thấy người khác để điều chỉnh chính mình, rất sợ và cẩn thận trong khi phát ngôn.Trở về chùa thực tập tinh tấn, tịnh khẩu, có nói chỉ nói những đề tài mà Đức Phật đã nói./.