Nhận Diện Thân Tâm 16 - Căn Bản Trí
Nhận Diện Thân Tâm 16 - Căn Bản Trí
Thích Minh Thành
Ngày 31 tháng 05 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bảy trí về năm uẩn PAGEREF _Toc106434292 \h 1
II. Nguyên nhân luân hồi PAGEREF _Toc106434293 \h 3
I. Bảy trí về năm uẩn
Minh Thành thưa các quý thầy, có thầy nào xung phong trả bài không? Về câu quán chiếu tu tập từ khi mới tu đến khi chứng Thánh quả tối cao. Bài kinh Vị giữ giới. Quán chiếu năm thủ uẩn như thế nào? Câu thứ hai là có vị nào xung phong trả bài về Bảy trí, về thọ, tưởng, hành, thức. Có ai thuộc bảy trí về tưởng không?
Tại sao mình có suy nghĩ? Suy nghĩ từ đâu sanh khởi? Làm sao để chấm dứt suy nghĩ? Nói theo danh từ chúng ta thường học là tại sao có vọng tưởng? Làm sao để chấm dứt vọng tưởng?
04:40-07:50: Sư thầy trình pháp
Khi thầy phân tích, giải thích vị ngọt của tưởng, khi tiếp xúc với người, cảnh đẹp, sự nguy hại và sự thoát ra của nó như thế nào?
08:00-10:00: Sư thầy trình pháp
Về bảy trí về hành, bảy trí về thức?
10:50- 14:00: Sư thầy trình pháp
Mời thầy cho ví dụ, tại sao mình có suy nghĩ giận người ta hay là ham thích một thứ gì và làm sao mình nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận nó được?
14:25-26:30: Các sư thầy trình pháp
Duyên sanh pháp của thức, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý khác với duyên sanh pháp của năm căn ở trước là do tiếp xúc bên ngoài, còn ý là tiếp xúc bên trong, là ý xúc. Nên nhớ kĩ điều này, tức là mình cần để ý vào trong tâm, là ý căn thì lúc đó thầy thấy được hình bóng của chuông đó là tưởng, suy nghĩ về cái chuông là hành, có cảm thọ thích thích và bên trong thầy nhận thức được điều đó, thầy biết rõ được là trong tâm thầy đang có hình bóng, suy nghĩ và cảm giác thích đối với cái chuông thì đó là thức. Điều này rất quan trọng, các thầy nên học thuộc lòng công thức, định lí này.
Duyên sanh pháp của ý không giống với duyên sanh pháp của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân bên trong.
28:30-29:05: Sư thầy trình pháp
Chúng ta đã đi rất chậm, các phần Minh Thành đã chia sẻ với các thầy thật ra chúng ta đã có thể học xong từ lâu. Nhưng nếu mình học qua loa như vậy, học cho hết trang, hết chữ, hết bài, hết sách thì chúng ta sẽ rất uổng phí. Vậy nên Minh Thành đã đi rất chậm và cho chúng ta làm bài tập rất thường xuyên. Chúng ta nắm thật vững những căn bản trí này, dù nói là căn bản trí nhưng đó cũng là Thánh trí và chúng ta phải học thuộc lòng, nếu chúng ta không học thuộc lòng thì sau này chúng ta quên hết, là mất hết. Sau đó chúng ta học suy diễn, suy tưởng mà mình không thực chứng được sự thật của pháp vì những điều này không một người thứ hai nói được mà đây là Thánh trí của Đức Phật. Những lời Minh Thành chia sẻ chỉ là dùng ngôn ngữ bây giờ để giải thích ngôn ngữ trong kinh và không thêm một ý gì vào đó.
Do Đức Phật mới là pháp chủ, pháp bổn, mới là bậc pháp nhãn, chủ của pháp, con mắt của pháp, gốc của pháp. Nếu chúng ta không học theo Đức Phật mà học theo những người sau này thì chúng ta sẽ không đạt được những gì Đức Phật nói. Đây là chỗ sâu sắc trong sự tu học, Minh Thành mong các thầy để ý thật kĩ, lấy lời nói của Đức Phật làm chuẩn tắc, làm khuôn phép, làm chuẩn mực, trong kinh dùng từ là Thánh ngôn lượng. Tức là lấy lời của Đức Phật để làm cán cân định lượng, lường xét xem đó là đúng hay không đúng Chánh pháp, phải lấy lại của Đức Phật.
Như chúng ta đã học bảy trí về năm uẩn, Đức Phật đã nói rõ nguồn cơn tại sao có vọng tưởng, tại sao để mình nhiếp phục, chế ngự vọng tưởng, còn nếu chúng ta học bình thường thì không biết được tại sao có vọng tưởng, làm sao nhiếp phục, chế ngự, diệt tận vọng tưởng mình đều không biết. Không phải mình không nghĩ là nó không có, mà phải biết được căn nguyên của nó, sự thấy đúng về nó, mình phải thành tựu. Thấy đúng về nó là thấy về trí tuệ của mình, về tưởng uẩn.
Nên từ đầu đến giờ là chúng ta đang học chưa hết năm uẩn đó. Chúng ta đã đi qua những phần rất quan trọng, nếu những vị nào chịu khó học, thực tập, thường xuyên làm bài tập thì người trí sẽ tự mình giác hiểu.
II. Nguyên nhân luân hồi
Pháp do Như Lai khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Đó là định nghĩa pháp do chính Thế Tôn định nghĩa. Vậy nên, khi chúng ta đã hiểu căn bản về năm uẩn rồi thì giờ chúng ta mới bắt đầu mở Căn bản trí số một lên, bài đầu tiên Niệm nguyên nhân luân hồi, chúng ta mới bắt đầu thấy được nguồn cơn của sự có mặt trong thân xác này và nguyên nhân tại sao mình cứ lẩn quẩn, lanh quanh ở trong đời sống vô thường, ở trong những ham muốn, khao khát, khát ái.
Đây là bài kinh Trường bộ, chúng ta mở quyển Căn bản trí số một, bài Niệm nguyên nhân luân hồi.
“- Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi. Bốn Thánh đế ấy là gì?
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Tập Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Ðạo Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm,Ta và các Ngươi.
Này các Tỷ-kheo khi Khổ Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Tập Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Ðạo Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.
3. Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ lại nói thêm:
- Chính vì không thấy như thật Bốn Thánh đế nên có sự luân chuyển lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự thực này được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt, khi khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa.”
(Bài Tụng Phẩm II - Kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh)
Minh Thành thưa các thầy, đến ngày hôm nay chúng ta học thì Minh Thành mới dám vào bài kinh này để giới thiệu về Bốn Thánh Đế. Khi mình nghe lời gọi của Đức Phật “Này các Tỷ-kheo” mình có cảm nhận được sự ngọt ngào, sự ấm áp, lòng đại bi của Thế Tôn. Khi chúng ta đọc kinh sẽ thấy câu trên xuất hiện rất nhiều lần, một câu đó thôi là mình thấy rất ngọt ngào, ấm áp, dạt dào tình thương của Đức từ phụ, của bậc Đại đạo sư. Chúng ta đọc kinh không thể đọc lướt qua được. Chúng ta phải bắt đầu nhận diện những cảm thọ, cảm xúc thì chúng ta sẽ thấy những lời dạy của Đức Phật mỗi câu mỗi chữ là huyết lệ, xương máu, là tủy não. Khi đọc phải thấm thía, thấm đẫm tình thương của Đức Phật, thấm đẫm từ tâm của Thế Tôn.
Mình đọc qua một cùm từ thôi “Này các Tỷ-kheo”, đó là cả một tấm lòng tình thương mà Đức Phật lo cho hàng đệ tử xuất gia của Ngài. Chính vì không giác ngộ, không thông hiểu bốn sự thật của bậc Thánh mà chúng ta phải trôi nổi, trôi lăn, trôi dạt, chìm nổi, quay vòng, lanh quanh lẩn quẩn trong một vòng tròn của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, của A-tu-la, của người, của trời. Lanh quanh, lẩn quẩn trong một vòng tròn của dục ái, thèm muốn, khao khát, tìm kiếm, tri tập, đòi hỏi, khát ái.
Chính vì không hiểu bốn sự thật về khổ mà bậc Thánh chứng ngộ nên cứ quay cuồng, lòng vòng, lanh quanh, lẩn quẩn, không biết đường nào thoát ra, không biết bao giờ mới ra khỏi, không biết đến khi nào mới chấm dứt nước mắt, những sự tức giận, những thèm muốn, khao khát đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức này.
“Này các Tỳ-kheo, Bốn sự thật là gì?” Chính vì không thấy biết, không thông hiểu, không thấu triệt sự thật về khổ đau của bậc Thánh chứng ngộ mà chúng ta phải trôi nổi, trôi dạt, trôi lăn, chìm đắm, thăng trầm rất lâu năm, rất nhiều năm, vô lượng năm. Ta và các ông vì không thông hiểu, không thấy biết sự thật về đau khổ mà bậc Thánh chứng ngộ nên chúng ta trôi nổi, chìm đắm, trôi dạt, phiêu bạt, lang thang, tìm kiếm, khao khát, thèm muốn, đòi hỏi mãi, tri tầm mãi, chạy đuổi mãi suốt cuộc đời này cho tới đời khác.
Vì không thấy được sự thật của ngũ uẩn này là khổ, vì không biết rằng tất cả các hình sắc là vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Vì không biết được phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ. Vì không biết được tất cả cảm thọ là khổ cho nên mới yêu thích những cảm thọ vui sướng và ghét bỏ những cảm thọ khó chịu, si mê trong những cảm thọ đơ đơ, trơ trơ, mê muội, si ám, vô minh vì không biết năm thủ uẩn này là khổ, không biết rằng mọi suy nghĩ, tư tưởng đều là khổ đau. Dù có tưởng cái gì thì cũng là tưởng trong khổ, tất cả mọi suy nghĩ của chúng ta là suy nghĩ trong vô minh và tham ái đối với ngũ uẩn. Tất cả những suy nghĩ của mình: sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, tất cả những loại suy nghĩ đều đưa đến khổ.
Vì chúng ta không thấy được đây là năm đống khổ, là đại khổ uẩn. Vì mê lầm, vô minh, si ám, vì cho rằng cái này là sung sướng, khoan khoái, thích thú, thiệt là mình, là ta, là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.
Minh Thành hỏi thật các quý thầy, mỗi một ngày có hai mươi bốn tiếng đồng hồ thì mình sống trong thọ gì? Mình sống trong tưởng, hành gì? Mình có trú được trong cảm thọ của bậc Thánh không? Tức là cảm thọ khổ uẩn này. Mình phải nhìn thấy tất cả cái này, đây là khổ, mang vác một cái thân này là khổ. Phải cho nó ăn, uống, tắm, phải cho nó giặt, cho nó gội, phải cho nó đòi hỏi những dục ái, khao khát của nó. Ai đụng chạm nó là nó sân si lên. Mình phải nhìn thấy được đây là một đống khổ, cái thấy đó mới là cái thấy của trí tuệ, của bậc Thánh.
Vì mình không thấy được như vậy, “Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu sự thật về đau khổ của bậc Thánh chứng ngộ mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm. Ta và các ông.”
Một ngày mình nhìn thấy cảm thọ này là khổ được mấy lần? Mình học thì học Tứ Thánh Đế như vậy, mình học thì nói là khổ, kể ra được là sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, quán tánh hội ái, biệt ly… Nhưng khi mình nhìn thấy thì không thấy khổ, mình thấy có một cái tự ngã, khen là phơi phới lên, chê là mặt xụ xuống, hoàn toàn sống ở trong một ảo tưởng về tự ngã trong suy nghĩ của mình.
Vậy từng suy nghĩ của mình, thì mình nghĩ cái suy nghĩ đó là khổ không? Trong tưởng của mình, mỗi một hình bóng trong tâm mình thì mình cần phải biết những hình bóng này là nguyên nhân dẫn tới đau khổ? Hay là mình nắm giữ những hình bóng đó, gọi là tưởng thủ uẩn, mình cho những hình bóng đó là “Tôi nghĩ, tôi tưởng, tư tưởng của tôi.”
Khi chúng ta đi vào thì chúng ta mới thấy được trí tuệ của bậc Thánh này nổ tung hết tất cả pháp, mới nhìn thấy được cả thế giới này, cả Trái đất, địa cầu này chỉ là một đống khổ. Dù cho ở trên địa vị làm chủ thiên hạ mà Bồ tát Tất-đạt-đa đã nhìn thấy đó, sự nguy hiểm và tác hại của nó ở trên cái ngai vàng đó. Đó là chưa chứng ngộ.
Đối với chúng ta thì giờ trong chúng được bầu lên làm nhóm trưởng, lớp trưởng, chúng trưởng, tri sự, quản chúng… Là tâm mình đã đổi khác, đó là thất bại hoàn toàn. Đây là chỗ mà chúng ta phải nhìn sâu sắc, phải nhìn rất sâu vào trong sự tu hành của mình, bằng không cả cuộc đời tu của mình chỉ gieo được chút ít nhân thiên phước báo thôi.
“Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thấu hiểu nguyên nhân của khổ đau mà các bậc Thánh chứng ngộ nên chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm. Ta và các ông.”
Làm sao chúng ta có thể nhìn thấy được năm thủ uẩn này, những cảm giác, suy nghĩ, những hình bóng trong tâm này, những nhận thức, thấy biết này là vô thường, ung nhọt, mũi tên, người lạ, bất hạnh, trống rỗng, vô ngã. Dù cho mình có thấy nghe đi nữa thì cũng chỉ là trò ảo thuật của tâm thức thôi, thấy theo nghiệp. Vì dụ như con dòi này nhìn con dòi kia say mê, đắm đuối, nó ăn phân, ăn đồ hôi mà rất khoan khoái, đó là theo nghiệp. Con chó này nhìn con chó kia hấp dẫn lắm, lôi cuốn lắm, con bò này nhìn con bò kia, con trâu này nhìn con trâu kia là đẹp lắm, đẹp nhất đời nó. Đó là nghiệp nên thấy biết đó không có thật, đó chỉ là trò ảo thuật.
Nhưng mình lại tin vào cái thấy nghe này rồi mình đau khổ. Ví dụ như có người kia nói mình một câu nặng là mình đau khổ, nhức nhối không? Nhưng mình không biết rằng rất tội nghiệp người đó, người đó là người đáng tội nghiệp, người đó đang bị thêu đốt trong những cảm xúc của sân hận, của ghim gút, ganh tị. Nên thương họ, thương xót cho họ, trong lòng mình sanh khởi lên một bi tâm, lòng bi mẫn, lòng thương xót, trải tâm từ mình đến đối tượng đang kiếm chuyện, gây sự, chỉ trích mình. Nên thương họ, tội nghiệp họ, họ là huynh đệ, họ đang bị thêu đốt mà, không lẽ giờ mình ném lửa, ném cuỉ, ném xăng, đổ dầu vào đốt thêm? Hay là mình cần phải dùng nước mát thanh lương để tưới lên người họ để dập tắt người họ. Còn nếu mình tiếp tục đổ xăng, đổ dầu, mình đưa củi, đưa lửa vào thì mình cũng là kẻ vô minh, mù lòa thôi.
Vậy nên chúng ta học cái này mới nhìn ra được chân tướng của ngũ uẩn này, chân tướng của thế giới này, đều vạch trần, phơi bày ra hết trong Thánh trí ngũ uẩn. Nên các vị ngày xưa, các vị Bà-la-môn, Sa-môn đều tán thán Đức Phật như người bị dựng đứng lại những gì đã bị quăng ngã xuống, chỉ đường cho người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, cho những ai có mắt có thể thấy sắc, phơi bày ra những gì bị che kín. Chính là mục đích của Đức Phật đã xuất hiện và cũng là công năng, công dụng của Thánh trí, của giáo pháp. Nếu không khéo thì chúng ta tu từ nhỏ đến già cũng tôi là tôi, ta là ta trong bản ngã, trong vô minh, không thấy ngũ uẩn, không thấy được tham sân si đang làm cho mình khổ, làm cho người bên cạnh mình khổ hay hữu tình khổ, làm cho tất cả chúng sanh đau khổ, không nhìn thấy, không thấy rằng tất cả ngũ uẩn này là những đống khổ đau, là những đống đau khổ to lớn, đầy nước mắt và máu, đầy sân hận, ghim gút, bom đạn, súng ống.
Như chúng ta vừa thấy bên Mỹ, người này chỉ mới mười tám tuổi nhưng dùng súng lia đã chết cả chục mạng người. Trước đó không bao lâu cũng một đứa trẻ nhỏ bắn chết hàng chục người. Hay trong nước mình có vụ án vợ chồng chặt xác, phân xác nhau. Mỗi ngày đều có vụ án. Vì đó là đống khổ, mang dáng một đống sắc uẩn này, sắc pháp, sắc thân này, đầy rẫy những khổ. Cho đến khi nào chúng ta nhìn vào đây cảm thấy nhàm chán, ngao ngán, thấy rất sợ những phân, nước tiểu, ruột, phèo, phổi, nước mũi, rái tai, nước miếng, máu mủ dơ bẩn… làm cho mình nhìn vào thấy sợ cả chính mình. Lúc đó là chuẩn bị thể nhập trí tuệ.
Còn bây giờ, hằng ngày mình sống với cảm thọ gì khi mình quay lại nhìn? Vậy nên mình chưa thấy khổ, nếu mình thấy khổ thì đã khác, không còn tranh với bất cứ ai trên cuộc đời này nữa. Không còn hơn thua, ganh tị, đố kỵ với ai, nhìn vào đây thấy khổ ở đây, nhìn vào đây là những cục khổ đang hiện hữu, chạm vào thì sẽ biết.
Từ đó Khổ Thánh Trí được thành lập. Minh Thành đã chia sẻ mười mấy buổi trong mùa an cư dịch bệnh vừa rồi, về Khổ Thánh Trí, tất cả chủ đề Đức Phật nói về khổ trong kinh Nikaya. Khi mình nghe thì chấn động, rúng động, cái khổ không như chúng ta hiểu, không phải kiểu phàm phu của mình hiểu về khổ. Mỗi cảm giác con người mình sanh ra là khổ. Vậy tham ăn, thèm có khổ không? Cảm giác tức giận, ta đây muốn hơn người nọ người kia ganh tị, đố kị có khổ không?
Những cái đó đều bên trong mà mình không thấy, mình không nhận diện năm uẩn nên mình không thấy, không thấy được thọ, tưởng, hành. Cứ dính chùm vào nhau rồi mình nói “Tôi nghĩ, tôi tưởng, tôi cảm xúc, cảm giác đây!” Khi mình nhận diện ngũ uẩn rồi mình mới thấy, nguyên nhân khổ nằm bên trong này, không phải ở ngoài kia. Và khi mình nhìn thấy được nguyên nhân khổ trong này thì không chỉ trong tâm này là khổ, mà thân này cũng là nguyên nhân của khổ và tất cả những đồ đẹp, những cái mình cho là đẹp đều là nguyên nhân của khổ. Vì nhìn nó sanh khởi lên dục, tham, ái.
Vì vậy Đức Thế Tôn có nói: “Này các Tỳ-kheo, sắc là khổ, ai thưa thích sắc là người đó ưa thích khổ, ai ưa thích khổ thì người đó không thoát khỏi khổ.” Cảm thọ có phải là khổ không? Tìm một chút cảm giác thôi cũng có thể làm tan nhà nát cửa. Vừa rồi ông giám đốc y tế của tỉnh Đắk Lắk khóc òa lên, ôm từng người trước khi vào tù, là vị giám đốc CDC. Hoặc những người chỉ vì một chút của cơn dục vọng mà tan gia bại sản, thân bại danh liệt.
Đó là vì cảm giác khổ đó, đi tìm cảm giác của dục đó nên những lời của Đức Phật nói ra là Thánh điển, Thánh tuệ.
“Này các Tỳ-kheo, từ khi thành đạo ở Bồ đề đạo tràng cho đến khi nhập diệt ở Ta-la sông thọ, khoảng giữa đó, những lời mà Như Lai nói ra không bao giờ sai, không bao giờ khác, những lời nói như thật, là đúng sự thật, không sai, không khác.”
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là khổ. Giờ khi đi tu mà hình bóng cứ ám ảnh trong tâm, hình bóng ngày trước đi học chung, những cảm giác đã từng trải qua… Cứ ám ảnh các hình bóng đó hoài, tưởng là khổ. Đó là nói yêu, còn khi nói hận thì cũng vậy. Khi cãi lộn với một người nào đó hay ai đó rồi hình bóng đó cứ hiện trong tâm hoài, vậy tưởng có khổ không?
Mình nhớ lại những hình bóng mình sân hận rồi mình cứ bực bội, bức xúc, cứ thiêu đốt thì đó là tưởng là khổ. Tưởng cũng là sướng, nhưng sướng đó là khổ, không phải sướng thật. Tưởng những thứ dục ái làm cho mình khổ. Vậy nên sắc, thọ, tưởng, hành, thức là khổ, thấy được những thứ đó thì mới gọi là thấy được Khổ Thánh Đế.
“Này các Tỳ-kheo, năm thủ uẩn là khổ. Sự nắm chặt vào trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là khổ đau.”
Mình học Bốn Thánh trí bài vừa rồi thấy là nhận thức này là khổ, không có sướng chút nào cả.
Ví dụ mình đang đi đường bình thường, bỗng nhiên có người bị rơi cả một cục dày, một cọc dày thì các thầy dùng thọ, tưởng, hành để tưởng tượng xem đó là cái gì? Màu xanh, sáu con số, số năm và năm số không, khi mình đang đi trên đường thì thấy nó rơi ngay trước mặt. Người đánh rơi cũng đi luôn như vậy.
Như vậy lúc đó cái gì sanh khởi?
Như mình đang đi bộ lòng vòng trước chùa thì vô tình mình đạp trúng một vật, khi nhìn xuống thì thấy rất dày, màu xanh, có con số năm và năm con số không thì lúc đó ra sao? Tim có đập nhanh, mắt hơi lờ mờ, không biết là mình nhìn có đang là sự thật không hay là đang mơ? Tay chân bắt đầu rơi run và cúi xuống nhặt lên, lúc đó không có ai cả. Khi nhìn kĩ thì phát hiện ra đó là tiền giả, tiền âm phủ thì thôi, mọi thứ trở lại bình thường.
Như vậy, khi nãy tưởng là tiền thật, làm khởi lên lòng tham, thích, khoái “Trúng mánh rồi! Giờ là giả rồi thì thôi!” Nói câu chuyện trên là vui nhưng thật sự thì tất cả pháp đều giống như vậy, là chúng ta bị lừa, bị ngũ uẩn lừa, tưởng đâu sắc, thọ, tưởng, hành, thức là thật nhưng nhìn kĩ, sâu, nhìn bằng trí tuệ, bằng thiền quán thì chúng ta mới thấy nó là đồ giả.
Khi xấp tiền đó là giả thì người đó quăng đi rồi bỏ đi tiếp, cũng vậy, Đức Phật và những bậc Thánh, các Ngài ấy quăng ngũ uẩn như là quăng xấp tiền giả đó, thấy vô giá trị, không xài được. Ví dụ đó để chúng ta thấy là nguyên nhân của khổ là lòng tham muốn đối với những thứ đó, một khi lòng tham muốn này còn mạnh mẽ, cường liệt, sung mãn, đầy ắp, dồi dào, tràn ngập, còn chất chứa, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển, mình còn tồn kho, tồn đọng, tồn trữ, tồn hàng, những thứ yêu thích, khoan khoái, nắm giữ, gom góp, chất chứa thì còn khổ, đối với ngũ uẩn là còn khổ.
Nên chúng ta thấy được Khổ Tập Thánh đế là cả một vấn đề, đó gọi là thấy pháp. Khổ Tập Thánh Đế là thấy được nguyên nhân, ngọn nguồn, nguồn cơn, căn nguyên, lý do thật sự làm cho mình khổ là ham thích, tham muốn, tham ái, tham dục, tham lam đối với ngũ uẩn này. Cho đến khi nào, dù mình học để mình biết, mình tu chưa tới nhưng học để biết là mình đang ở đâu vì nhiều khi mình tưởng là mình ngon lắm. Tưởng đâu là mình gần tới tổ rồi nhưng chạm vào tổ sân. Mới xuất gia chừng một, hai năm chỉ toàn nói tổ, chạm vào là tổ sân, một cái sân rất to.
Để cho mình biết được mình đang ở vị trí nào trong Chánh Pháp thôi mình sẽ lầm tưởng, lầm tưởng rất nguy hiểm, tăng thượng mạng, chưa chứng mà cho ra chứng, chưa đắc mà cho ra đắc, được ít mà cho là đủ. Vậy nên rất nguy hiểm. Nên mình thấy được nguyên nhân của khổ, mình nhìn lại ngũ uẩn, nhận diện ngũ uẩn mới thấy được trong người mình có đầy ngập hết, nào là ham ăn, mê ngủ, thích đi chơi, danh lợi… Mình xem để đọc những tư tưởng, những suy nghĩ trong đó, đọc và lắng nghe những thọ, tưởng, hành thật kĩ. Nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm, lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kĩ, nghe suy nghĩ nói cái gì. Sáng thức dậy là phải nghe, đọc suy nghĩ, mới thức dậy thì nó nói cái gì. Trưa làm việc cũng phải lắng nghe xem cảm giác giờ đang muốn cái gì. Tối lên ngồi thiền thì nhìn kĩ vào bộ mặt của nó, nhìn kĩ bản mặt của nó có bản lai, diện mục, tham, sân, si của nó, xem bộ mặt thật sự của bản ngã đó. Nhìn kĩ, vạch mặt nó ra, phơi bày những suy nghĩ ác, bất thiện pháp, những cái cấu nhiễm đó, phải nhìn thấy nó, chỉ mặt nó, điểm mặt nó, xử lý nó, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch nó. Đó là mình đang diệt trừ nguyên nhân của khổ.
“Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu nguyên nhân của khổ đau mà các bậc Thánh chứng ngộ nên chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm.”
Chính vì không biết những cảm giác, nghĩ tưởng, tham muốn, nóng giận, si mê, vô minh, bản ngã này thật sự là động cơ của khổ, nguyên nhân của khổ, thật sự là căn nguyên của khổ, nó nằm trong thọ, tưởng, hành này mà từ xưa đến nay con không nhìn thấy, con mù lòa, si mê, vô minh và ngày hôm nay con bắt đầu nhìn ra được thật sự nguyên nhân đó làm cho con đau khổ. Con cảm ơn, con biết ơn Đức Thế Tôn nhiều lắm, con tri ơn Đức Thế Tôn nhiều lắm, con nhớ ơn Đức Thế Tôn nhiều lắm. Con đội ơn, mang ơn Đức Thế Tôn nhiều lắm.
Đó là người đệ tử Phật chân chánh biết được ân đức của Như Lai. Khi mình thấy được những động cơ, cảm xúc, cảm nhận, cảm giác thúc giục, thiêu đốt ở bên trong này, si ám, phình trương, vênh váo, ta đây, bản ngã trong này. Mình thấy được chúng rồi thì mình ê chề, gớm ghê, chán chê, ngao ngán, nhàm chán, mình muốn viễn ly, xả ly, xuất ly, lúc đó là mình thành tựu được Khổ Thánh Trí, Khổ Tập Thánh Đế được nhìn thấy, được biết, được thấy, được thấu hiểu, thông hiểu, thấy biết.
Nên mình phải suốt ngày nhìn lại tâm của mình mãi, không hở lúc nào, từng suy nghĩ của mình thì mình phải đọc từng suy nghĩ, từng cảm giác của mình thì mình phải soi vào xem đó là cảm giác gì, từng hình bóng trong tâm là phải rọi nó, phải nội chiếu, nội soi, nội quán, nội tỉnh. Soi vào bên trong, không nhìn người ta, thấy người ta có lỗi nhưng quay trở về xem mình có giống vậy không? Có phải giống mình vậy không? Khi đó chúng ta mới thấy được thật sự nguyên nhân của khổ là ở trong ta.
Chúng ta thấy mang vác thân này là khổ, mình nhìn vào tâm mình là thọ, tưởng, hành này là khổ. Sau này, nếu chúng ta còn học thì chúng ta cần có những buổi thiền quán, bữa giờ là Minh Thành chỉ giới thiệu nhẹ nhẹ, vì nếu triển khai thiền quán thì có thể khóc ròng, cảm xúc của mình có thể trào dâng. Phải thuần học một chút mới đi vào thiền quán được.
Chúng ta trước nay quen với thiền chỉ, chúng ta sẽ tìm hiểu thêm, thực tập thêm về thiền quán. Thiền quán mới diệt tận được triệt để gốc của khổ đau, mới mở ra trí tuệ cho mình một cách mạnh mẽ, thiền chỉ là giúp cho tâm mình an định, yên tịnh, thiền quán là đột phá, phá tung những cảm thọ vô minh, tham ái và chấp thủ.
Vừa rồi Minh Thành có triển khai một ít thiền quán cho các thầy. Vị nào tinh tế thì sẽ thấy những tác ý vào trong sự thật để cho mình thấy những thứ nhàm chán, những thứ khổ này. Nhiều khi mình nhìn thấy cái thân này tưởng như ngon lành lắm, nhưng không phải vậy, vài ngày sau phát hiện bị ung thư giai đoạn ba, lúc đó chúng ta mới thấy khổ thì thưa quý thầy lúc đó là muộn, tu không kịp. Để nó bại hoại rồi lúc đó mới tu thì sẽ không kịp nên mình phải tập nhìn.
Như con ruồi vừa đậu vào tay nhìn thấy nó rất khổ, như con muỗi chích mình thì nó nghĩ là nó sướng nhưng nó đau khổ, cuộc đời của nó cứ đi chích máu người ta. Những người hiền hiền như thầy chùa tu thì đỡ hơn, còn nó gặp những người ở ngoài không biết tu thì “chát” thôi là đỏ hết. Vì một bữa ăn nhưng mất mạng, vậy có khổ không? Quá khổ, không có gì sướng.
Khi mình thấy con chó thì thấy thương, nhìn thấy mèo thì thấy cưng, nhưng rất khổ. Khi nghe con chó nào sủa thì nó cũng nhào ra sủa, bóng ai đi cũng chạy ra sủa, trong nó là những cảm thọ đầy rẫy những sân hận, bản ngã, tham ái. Mình phải nhìn bằng Thánh trí thì mình mới thấy được tất cả những hình thể, hình thái, hình thức, hình dáng, hình tướng của ngũ uẩn đều là khổ. Đó mới là thông hiểu Khổ Thánh Đế.
Nên chữ Khổ Thánh Đế trong Tứ Thánh Đế này là thâm sâu, vô lượng, phải là những bậc Nhập lưu mới hiểu chính xác ý nghĩa của Khổ Thánh Đế, không phải là chuyện đơn giản như ngày xưa mình học “Tứ Đế tôi biết rồi! Là khổ tập diệt đạo!” Đó là biết chữ, phải là bậc Nhập lưu, mới hiểu đúng chính xác nhiều phương diện, khía cạnh, của sự thật khổ đau trong cuộc đời này.
Khi chúng ta ngồi đây thì thấy bình bình, an an, ổn ổn nhưng nhiều khi người cúng một bao gạo cho mình ăn thì đã qua nước mắt, máu. Chúng ta lên bữa ăn thì thấy bình thường, nhưng đối với những người nghèo khổ bên ngoài xã hội thì một bữa ăn như vậy là chan đầy nước mắt. Vậy nên thấy biết của mình không đúng, “beng beng” là tới giờ lên ăn, lên ngồi, ngày nào cũng đều đặn như vậy.
Đó là nguy hiểm và tai họa nằm trong đó, lông và sừng ẩn sau những bữa cơm đó. Minh Thành xin hỏi quý thầy, nếu chúng ta nhìn bằng con mắt thường, nhãn thức bình thường thì làm sao chúng ta thấy được cái đó? Nó phải nhìn bằng trí tuệ, mỗi bữa cơm của mình, mỗi chung trà của mình, mỗi áo mình đang mặc, chỗ mình đang ngồi đây thì bao nhiêu cô hồn, ngạ quỷ, chỗ mình ngồi đây là bao nhiêu nước mắt và máu trong những miếng gạch, bàn gỗ này, trong cái chuông cũng có thể bên trong này, những vong linh, ngạ quỷ.
Nhưng chúng ta không thấy, chúng ta chỉ nhìn thấy “Cái phòng này đẹp quá ha, mát mẻ!” mà đó là bị khổ, thọ dụng cái này không tu hành đắc đạo. Vì tham ái, dính mắc, chấp thủ trong đây. Nhắm mắt một cái thì kêu be be, hay ột ột, kêu gâu gâu… Đủ thứ loại kêu hết, chứ không an ổn chút nào. Mình phải lo sợ, phải biết lo lắng và sợ hãi, tự nhắc nhở mình trong thường lúc, mọi lúc, mọi khi, mọi nơi, mọi chốn.
Vậy nên sự thấy biết của mình không đúng, khi nào mình thành tựu Chánh Kiến thì thấy biết đó tương ưng với Bậc Thánh. Còn thấy biết của mình bây giờ chỉ thấy biết ở trước mắt. Ví dụ bàn của thầy đang ngồi có người từng đi khiêng cây gỗ chết để làm ra cái bàn đó. Mình không biết được, làm sao mình biết được, nhưng điều đó có thể có.
Vì vậy, chúng ta nhìn cho nên những bậc mở thiên nhãn, thì chúng ta nhàm chán thế gian, đó là những bậc đã thành tựu Chánh Kiến. Còn những bậc chưa thành tựu Chánh Kiến thì vẫn chấp thủ trong ngũ uẩn, không đi ra khỏi. Nên làm sao để mình tập, khi tu là phải tập, phải hành, mình phải tập nhìn bằng Khổ Thánh Trí đối với mọi sự mọi việc. Chúng ta tưởng cầm ly nước uống thì thấy khỏe, thích thú trong đó như nước ổi, nước cam, nước cà phê khoan khoái trong đó. Nước mắt, mồ hôi trong đó, như trái ổi trồng bao nhiêu công sức trong đó, biết từ đâu nó có ra? Chỉ biết cầm, xài, nhưng là đi ở đợ lấy tiền cúng dường.
Ngày đó Minh Thành đi vào nhà bếp chùa Bửu Liên, có cô Phật tử gặp chắp tay, xá rồi khóc “Thầy ơi con mừng quá! Con gặp được thầy con vui quá!” Hỏi ra sao thì cô đó đáp “Con cũng đã đến đây cúng được mấy lần, ba bốn tháng con đến cúng một lần, con cúng cây chổi, chai dầu ăn, cũng bịch bột ngọt. Thầy biết không? Con đi ở đợ, rồi con để dành chút chút rồi ba bốn tháng con mới có tiền mua đủ. Nhưng con không nói với ai, con đi thẳng vào nhà bếp rồi đưa vào trong nhà bếp.”
Minh Thành nghe câu nói đó thì đứng sững người, tay chân bủn rủn, đứng tần ngần, đứng như trời trồng mà rưng rưng nước mắt. Nhưng hình ảnh đó, cảm xúc đó, sự việc đó cho tới bây giờ nó ám ảnh, đã tám năm rồi không quên, vẫn lưu giữ hình ảnh, cảm xúc, suy nghĩ đó để khích lệ sự tu hành của mình.
Cây chổi mình nhìn thấy đó là người ta đi ở đợ lấy tiền đi cúng chùa, nhiều khi mình nghĩ rất đơn giản, mình nghĩ tất cả những cái này có sẵn, không có gì. Nhưng mình không biết người ta làm suốt ngày, ngày tám tiếng hay phải tăng ca đêm, một ngày làm mười hai, mười bốn tiếng mới dành một chút tiền đem vào cúng chùa. Nhất là cúng cho thiền viện thì càng phước đức được nhiều. Chúng ta phải có gì? Điều đó Minh Thành để các quý thầy tự suy tư.
Thích Minh Thành
Ngày 31 tháng 05 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bảy trí về năm uẩn PAGEREF _Toc106434292 \h 1
II. Nguyên nhân luân hồi PAGEREF _Toc106434293 \h 3
I. Bảy trí về năm uẩn
Minh Thành thưa các quý thầy, có thầy nào xung phong trả bài không? Về câu quán chiếu tu tập từ khi mới tu đến khi chứng Thánh quả tối cao. Bài kinh Vị giữ giới. Quán chiếu năm thủ uẩn như thế nào? Câu thứ hai là có vị nào xung phong trả bài về Bảy trí, về thọ, tưởng, hành, thức. Có ai thuộc bảy trí về tưởng không?
Tại sao mình có suy nghĩ? Suy nghĩ từ đâu sanh khởi? Làm sao để chấm dứt suy nghĩ? Nói theo danh từ chúng ta thường học là tại sao có vọng tưởng? Làm sao để chấm dứt vọng tưởng?
04:40-07:50: Sư thầy trình pháp
Khi thầy phân tích, giải thích vị ngọt của tưởng, khi tiếp xúc với người, cảnh đẹp, sự nguy hại và sự thoát ra của nó như thế nào?
08:00-10:00: Sư thầy trình pháp
Về bảy trí về hành, bảy trí về thức?
10:50- 14:00: Sư thầy trình pháp
Mời thầy cho ví dụ, tại sao mình có suy nghĩ giận người ta hay là ham thích một thứ gì và làm sao mình nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận nó được?
14:25-26:30: Các sư thầy trình pháp
Duyên sanh pháp của thức, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý khác với duyên sanh pháp của năm căn ở trước là do tiếp xúc bên ngoài, còn ý là tiếp xúc bên trong, là ý xúc. Nên nhớ kĩ điều này, tức là mình cần để ý vào trong tâm, là ý căn thì lúc đó thầy thấy được hình bóng của chuông đó là tưởng, suy nghĩ về cái chuông là hành, có cảm thọ thích thích và bên trong thầy nhận thức được điều đó, thầy biết rõ được là trong tâm thầy đang có hình bóng, suy nghĩ và cảm giác thích đối với cái chuông thì đó là thức. Điều này rất quan trọng, các thầy nên học thuộc lòng công thức, định lí này.
Duyên sanh pháp của ý không giống với duyên sanh pháp của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân bên trong.
28:30-29:05: Sư thầy trình pháp
Chúng ta đã đi rất chậm, các phần Minh Thành đã chia sẻ với các thầy thật ra chúng ta đã có thể học xong từ lâu. Nhưng nếu mình học qua loa như vậy, học cho hết trang, hết chữ, hết bài, hết sách thì chúng ta sẽ rất uổng phí. Vậy nên Minh Thành đã đi rất chậm và cho chúng ta làm bài tập rất thường xuyên. Chúng ta nắm thật vững những căn bản trí này, dù nói là căn bản trí nhưng đó cũng là Thánh trí và chúng ta phải học thuộc lòng, nếu chúng ta không học thuộc lòng thì sau này chúng ta quên hết, là mất hết. Sau đó chúng ta học suy diễn, suy tưởng mà mình không thực chứng được sự thật của pháp vì những điều này không một người thứ hai nói được mà đây là Thánh trí của Đức Phật. Những lời Minh Thành chia sẻ chỉ là dùng ngôn ngữ bây giờ để giải thích ngôn ngữ trong kinh và không thêm một ý gì vào đó.
Do Đức Phật mới là pháp chủ, pháp bổn, mới là bậc pháp nhãn, chủ của pháp, con mắt của pháp, gốc của pháp. Nếu chúng ta không học theo Đức Phật mà học theo những người sau này thì chúng ta sẽ không đạt được những gì Đức Phật nói. Đây là chỗ sâu sắc trong sự tu học, Minh Thành mong các thầy để ý thật kĩ, lấy lời nói của Đức Phật làm chuẩn tắc, làm khuôn phép, làm chuẩn mực, trong kinh dùng từ là Thánh ngôn lượng. Tức là lấy lời của Đức Phật để làm cán cân định lượng, lường xét xem đó là đúng hay không đúng Chánh pháp, phải lấy lại của Đức Phật.
Như chúng ta đã học bảy trí về năm uẩn, Đức Phật đã nói rõ nguồn cơn tại sao có vọng tưởng, tại sao để mình nhiếp phục, chế ngự vọng tưởng, còn nếu chúng ta học bình thường thì không biết được tại sao có vọng tưởng, làm sao nhiếp phục, chế ngự, diệt tận vọng tưởng mình đều không biết. Không phải mình không nghĩ là nó không có, mà phải biết được căn nguyên của nó, sự thấy đúng về nó, mình phải thành tựu. Thấy đúng về nó là thấy về trí tuệ của mình, về tưởng uẩn.
Nên từ đầu đến giờ là chúng ta đang học chưa hết năm uẩn đó. Chúng ta đã đi qua những phần rất quan trọng, nếu những vị nào chịu khó học, thực tập, thường xuyên làm bài tập thì người trí sẽ tự mình giác hiểu.
II. Nguyên nhân luân hồi
Pháp do Như Lai khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Đó là định nghĩa pháp do chính Thế Tôn định nghĩa. Vậy nên, khi chúng ta đã hiểu căn bản về năm uẩn rồi thì giờ chúng ta mới bắt đầu mở Căn bản trí số một lên, bài đầu tiên Niệm nguyên nhân luân hồi, chúng ta mới bắt đầu thấy được nguồn cơn của sự có mặt trong thân xác này và nguyên nhân tại sao mình cứ lẩn quẩn, lanh quanh ở trong đời sống vô thường, ở trong những ham muốn, khao khát, khát ái.
Đây là bài kinh Trường bộ, chúng ta mở quyển Căn bản trí số một, bài Niệm nguyên nhân luân hồi.
“- Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi. Bốn Thánh đế ấy là gì?
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Tập Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Ðạo Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm,Ta và các Ngươi.
Này các Tỷ-kheo khi Khổ Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Tập Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Ðạo Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.
3. Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ lại nói thêm:
- Chính vì không thấy như thật Bốn Thánh đế nên có sự luân chuyển lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự thực này được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt, khi khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa.”
(Bài Tụng Phẩm II - Kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh)
Minh Thành thưa các thầy, đến ngày hôm nay chúng ta học thì Minh Thành mới dám vào bài kinh này để giới thiệu về Bốn Thánh Đế. Khi mình nghe lời gọi của Đức Phật “Này các Tỷ-kheo” mình có cảm nhận được sự ngọt ngào, sự ấm áp, lòng đại bi của Thế Tôn. Khi chúng ta đọc kinh sẽ thấy câu trên xuất hiện rất nhiều lần, một câu đó thôi là mình thấy rất ngọt ngào, ấm áp, dạt dào tình thương của Đức từ phụ, của bậc Đại đạo sư. Chúng ta đọc kinh không thể đọc lướt qua được. Chúng ta phải bắt đầu nhận diện những cảm thọ, cảm xúc thì chúng ta sẽ thấy những lời dạy của Đức Phật mỗi câu mỗi chữ là huyết lệ, xương máu, là tủy não. Khi đọc phải thấm thía, thấm đẫm tình thương của Đức Phật, thấm đẫm từ tâm của Thế Tôn.
Mình đọc qua một cùm từ thôi “Này các Tỷ-kheo”, đó là cả một tấm lòng tình thương mà Đức Phật lo cho hàng đệ tử xuất gia của Ngài. Chính vì không giác ngộ, không thông hiểu bốn sự thật của bậc Thánh mà chúng ta phải trôi nổi, trôi lăn, trôi dạt, chìm nổi, quay vòng, lanh quanh lẩn quẩn trong một vòng tròn của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, của A-tu-la, của người, của trời. Lanh quanh, lẩn quẩn trong một vòng tròn của dục ái, thèm muốn, khao khát, tìm kiếm, tri tập, đòi hỏi, khát ái.
Chính vì không hiểu bốn sự thật về khổ mà bậc Thánh chứng ngộ nên cứ quay cuồng, lòng vòng, lanh quanh, lẩn quẩn, không biết đường nào thoát ra, không biết bao giờ mới ra khỏi, không biết đến khi nào mới chấm dứt nước mắt, những sự tức giận, những thèm muốn, khao khát đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức này.
“Này các Tỳ-kheo, Bốn sự thật là gì?” Chính vì không thấy biết, không thông hiểu, không thấu triệt sự thật về khổ đau của bậc Thánh chứng ngộ mà chúng ta phải trôi nổi, trôi dạt, trôi lăn, chìm đắm, thăng trầm rất lâu năm, rất nhiều năm, vô lượng năm. Ta và các ông vì không thông hiểu, không thấy biết sự thật về đau khổ mà bậc Thánh chứng ngộ nên chúng ta trôi nổi, chìm đắm, trôi dạt, phiêu bạt, lang thang, tìm kiếm, khao khát, thèm muốn, đòi hỏi mãi, tri tầm mãi, chạy đuổi mãi suốt cuộc đời này cho tới đời khác.
Vì không thấy được sự thật của ngũ uẩn này là khổ, vì không biết rằng tất cả các hình sắc là vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Vì không biết được phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ. Vì không biết được tất cả cảm thọ là khổ cho nên mới yêu thích những cảm thọ vui sướng và ghét bỏ những cảm thọ khó chịu, si mê trong những cảm thọ đơ đơ, trơ trơ, mê muội, si ám, vô minh vì không biết năm thủ uẩn này là khổ, không biết rằng mọi suy nghĩ, tư tưởng đều là khổ đau. Dù có tưởng cái gì thì cũng là tưởng trong khổ, tất cả mọi suy nghĩ của chúng ta là suy nghĩ trong vô minh và tham ái đối với ngũ uẩn. Tất cả những suy nghĩ của mình: sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, tất cả những loại suy nghĩ đều đưa đến khổ.
Vì chúng ta không thấy được đây là năm đống khổ, là đại khổ uẩn. Vì mê lầm, vô minh, si ám, vì cho rằng cái này là sung sướng, khoan khoái, thích thú, thiệt là mình, là ta, là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.
Minh Thành hỏi thật các quý thầy, mỗi một ngày có hai mươi bốn tiếng đồng hồ thì mình sống trong thọ gì? Mình sống trong tưởng, hành gì? Mình có trú được trong cảm thọ của bậc Thánh không? Tức là cảm thọ khổ uẩn này. Mình phải nhìn thấy tất cả cái này, đây là khổ, mang vác một cái thân này là khổ. Phải cho nó ăn, uống, tắm, phải cho nó giặt, cho nó gội, phải cho nó đòi hỏi những dục ái, khao khát của nó. Ai đụng chạm nó là nó sân si lên. Mình phải nhìn thấy được đây là một đống khổ, cái thấy đó mới là cái thấy của trí tuệ, của bậc Thánh.
Vì mình không thấy được như vậy, “Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu sự thật về đau khổ của bậc Thánh chứng ngộ mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm. Ta và các ông.”
Một ngày mình nhìn thấy cảm thọ này là khổ được mấy lần? Mình học thì học Tứ Thánh Đế như vậy, mình học thì nói là khổ, kể ra được là sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, quán tánh hội ái, biệt ly… Nhưng khi mình nhìn thấy thì không thấy khổ, mình thấy có một cái tự ngã, khen là phơi phới lên, chê là mặt xụ xuống, hoàn toàn sống ở trong một ảo tưởng về tự ngã trong suy nghĩ của mình.
Vậy từng suy nghĩ của mình, thì mình nghĩ cái suy nghĩ đó là khổ không? Trong tưởng của mình, mỗi một hình bóng trong tâm mình thì mình cần phải biết những hình bóng này là nguyên nhân dẫn tới đau khổ? Hay là mình nắm giữ những hình bóng đó, gọi là tưởng thủ uẩn, mình cho những hình bóng đó là “Tôi nghĩ, tôi tưởng, tư tưởng của tôi.”
Khi chúng ta đi vào thì chúng ta mới thấy được trí tuệ của bậc Thánh này nổ tung hết tất cả pháp, mới nhìn thấy được cả thế giới này, cả Trái đất, địa cầu này chỉ là một đống khổ. Dù cho ở trên địa vị làm chủ thiên hạ mà Bồ tát Tất-đạt-đa đã nhìn thấy đó, sự nguy hiểm và tác hại của nó ở trên cái ngai vàng đó. Đó là chưa chứng ngộ.
Đối với chúng ta thì giờ trong chúng được bầu lên làm nhóm trưởng, lớp trưởng, chúng trưởng, tri sự, quản chúng… Là tâm mình đã đổi khác, đó là thất bại hoàn toàn. Đây là chỗ mà chúng ta phải nhìn sâu sắc, phải nhìn rất sâu vào trong sự tu hành của mình, bằng không cả cuộc đời tu của mình chỉ gieo được chút ít nhân thiên phước báo thôi.
“Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thấu hiểu nguyên nhân của khổ đau mà các bậc Thánh chứng ngộ nên chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm. Ta và các ông.”
Làm sao chúng ta có thể nhìn thấy được năm thủ uẩn này, những cảm giác, suy nghĩ, những hình bóng trong tâm này, những nhận thức, thấy biết này là vô thường, ung nhọt, mũi tên, người lạ, bất hạnh, trống rỗng, vô ngã. Dù cho mình có thấy nghe đi nữa thì cũng chỉ là trò ảo thuật của tâm thức thôi, thấy theo nghiệp. Vì dụ như con dòi này nhìn con dòi kia say mê, đắm đuối, nó ăn phân, ăn đồ hôi mà rất khoan khoái, đó là theo nghiệp. Con chó này nhìn con chó kia hấp dẫn lắm, lôi cuốn lắm, con bò này nhìn con bò kia, con trâu này nhìn con trâu kia là đẹp lắm, đẹp nhất đời nó. Đó là nghiệp nên thấy biết đó không có thật, đó chỉ là trò ảo thuật.
Nhưng mình lại tin vào cái thấy nghe này rồi mình đau khổ. Ví dụ như có người kia nói mình một câu nặng là mình đau khổ, nhức nhối không? Nhưng mình không biết rằng rất tội nghiệp người đó, người đó là người đáng tội nghiệp, người đó đang bị thêu đốt trong những cảm xúc của sân hận, của ghim gút, ganh tị. Nên thương họ, thương xót cho họ, trong lòng mình sanh khởi lên một bi tâm, lòng bi mẫn, lòng thương xót, trải tâm từ mình đến đối tượng đang kiếm chuyện, gây sự, chỉ trích mình. Nên thương họ, tội nghiệp họ, họ là huynh đệ, họ đang bị thêu đốt mà, không lẽ giờ mình ném lửa, ném cuỉ, ném xăng, đổ dầu vào đốt thêm? Hay là mình cần phải dùng nước mát thanh lương để tưới lên người họ để dập tắt người họ. Còn nếu mình tiếp tục đổ xăng, đổ dầu, mình đưa củi, đưa lửa vào thì mình cũng là kẻ vô minh, mù lòa thôi.
Vậy nên chúng ta học cái này mới nhìn ra được chân tướng của ngũ uẩn này, chân tướng của thế giới này, đều vạch trần, phơi bày ra hết trong Thánh trí ngũ uẩn. Nên các vị ngày xưa, các vị Bà-la-môn, Sa-môn đều tán thán Đức Phật như người bị dựng đứng lại những gì đã bị quăng ngã xuống, chỉ đường cho người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, cho những ai có mắt có thể thấy sắc, phơi bày ra những gì bị che kín. Chính là mục đích của Đức Phật đã xuất hiện và cũng là công năng, công dụng của Thánh trí, của giáo pháp. Nếu không khéo thì chúng ta tu từ nhỏ đến già cũng tôi là tôi, ta là ta trong bản ngã, trong vô minh, không thấy ngũ uẩn, không thấy được tham sân si đang làm cho mình khổ, làm cho người bên cạnh mình khổ hay hữu tình khổ, làm cho tất cả chúng sanh đau khổ, không nhìn thấy, không thấy rằng tất cả ngũ uẩn này là những đống khổ đau, là những đống đau khổ to lớn, đầy nước mắt và máu, đầy sân hận, ghim gút, bom đạn, súng ống.
Như chúng ta vừa thấy bên Mỹ, người này chỉ mới mười tám tuổi nhưng dùng súng lia đã chết cả chục mạng người. Trước đó không bao lâu cũng một đứa trẻ nhỏ bắn chết hàng chục người. Hay trong nước mình có vụ án vợ chồng chặt xác, phân xác nhau. Mỗi ngày đều có vụ án. Vì đó là đống khổ, mang dáng một đống sắc uẩn này, sắc pháp, sắc thân này, đầy rẫy những khổ. Cho đến khi nào chúng ta nhìn vào đây cảm thấy nhàm chán, ngao ngán, thấy rất sợ những phân, nước tiểu, ruột, phèo, phổi, nước mũi, rái tai, nước miếng, máu mủ dơ bẩn… làm cho mình nhìn vào thấy sợ cả chính mình. Lúc đó là chuẩn bị thể nhập trí tuệ.
Còn bây giờ, hằng ngày mình sống với cảm thọ gì khi mình quay lại nhìn? Vậy nên mình chưa thấy khổ, nếu mình thấy khổ thì đã khác, không còn tranh với bất cứ ai trên cuộc đời này nữa. Không còn hơn thua, ganh tị, đố kỵ với ai, nhìn vào đây thấy khổ ở đây, nhìn vào đây là những cục khổ đang hiện hữu, chạm vào thì sẽ biết.
Từ đó Khổ Thánh Trí được thành lập. Minh Thành đã chia sẻ mười mấy buổi trong mùa an cư dịch bệnh vừa rồi, về Khổ Thánh Trí, tất cả chủ đề Đức Phật nói về khổ trong kinh Nikaya. Khi mình nghe thì chấn động, rúng động, cái khổ không như chúng ta hiểu, không phải kiểu phàm phu của mình hiểu về khổ. Mỗi cảm giác con người mình sanh ra là khổ. Vậy tham ăn, thèm có khổ không? Cảm giác tức giận, ta đây muốn hơn người nọ người kia ganh tị, đố kị có khổ không?
Những cái đó đều bên trong mà mình không thấy, mình không nhận diện năm uẩn nên mình không thấy, không thấy được thọ, tưởng, hành. Cứ dính chùm vào nhau rồi mình nói “Tôi nghĩ, tôi tưởng, tôi cảm xúc, cảm giác đây!” Khi mình nhận diện ngũ uẩn rồi mình mới thấy, nguyên nhân khổ nằm bên trong này, không phải ở ngoài kia. Và khi mình nhìn thấy được nguyên nhân khổ trong này thì không chỉ trong tâm này là khổ, mà thân này cũng là nguyên nhân của khổ và tất cả những đồ đẹp, những cái mình cho là đẹp đều là nguyên nhân của khổ. Vì nhìn nó sanh khởi lên dục, tham, ái.
Vì vậy Đức Thế Tôn có nói: “Này các Tỳ-kheo, sắc là khổ, ai thưa thích sắc là người đó ưa thích khổ, ai ưa thích khổ thì người đó không thoát khỏi khổ.” Cảm thọ có phải là khổ không? Tìm một chút cảm giác thôi cũng có thể làm tan nhà nát cửa. Vừa rồi ông giám đốc y tế của tỉnh Đắk Lắk khóc òa lên, ôm từng người trước khi vào tù, là vị giám đốc CDC. Hoặc những người chỉ vì một chút của cơn dục vọng mà tan gia bại sản, thân bại danh liệt.
Đó là vì cảm giác khổ đó, đi tìm cảm giác của dục đó nên những lời của Đức Phật nói ra là Thánh điển, Thánh tuệ.
“Này các Tỳ-kheo, từ khi thành đạo ở Bồ đề đạo tràng cho đến khi nhập diệt ở Ta-la sông thọ, khoảng giữa đó, những lời mà Như Lai nói ra không bao giờ sai, không bao giờ khác, những lời nói như thật, là đúng sự thật, không sai, không khác.”
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là khổ. Giờ khi đi tu mà hình bóng cứ ám ảnh trong tâm, hình bóng ngày trước đi học chung, những cảm giác đã từng trải qua… Cứ ám ảnh các hình bóng đó hoài, tưởng là khổ. Đó là nói yêu, còn khi nói hận thì cũng vậy. Khi cãi lộn với một người nào đó hay ai đó rồi hình bóng đó cứ hiện trong tâm hoài, vậy tưởng có khổ không?
Mình nhớ lại những hình bóng mình sân hận rồi mình cứ bực bội, bức xúc, cứ thiêu đốt thì đó là tưởng là khổ. Tưởng cũng là sướng, nhưng sướng đó là khổ, không phải sướng thật. Tưởng những thứ dục ái làm cho mình khổ. Vậy nên sắc, thọ, tưởng, hành, thức là khổ, thấy được những thứ đó thì mới gọi là thấy được Khổ Thánh Đế.
“Này các Tỳ-kheo, năm thủ uẩn là khổ. Sự nắm chặt vào trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là khổ đau.”
Mình học Bốn Thánh trí bài vừa rồi thấy là nhận thức này là khổ, không có sướng chút nào cả.
Ví dụ mình đang đi đường bình thường, bỗng nhiên có người bị rơi cả một cục dày, một cọc dày thì các thầy dùng thọ, tưởng, hành để tưởng tượng xem đó là cái gì? Màu xanh, sáu con số, số năm và năm số không, khi mình đang đi trên đường thì thấy nó rơi ngay trước mặt. Người đánh rơi cũng đi luôn như vậy.
Như vậy lúc đó cái gì sanh khởi?
Như mình đang đi bộ lòng vòng trước chùa thì vô tình mình đạp trúng một vật, khi nhìn xuống thì thấy rất dày, màu xanh, có con số năm và năm con số không thì lúc đó ra sao? Tim có đập nhanh, mắt hơi lờ mờ, không biết là mình nhìn có đang là sự thật không hay là đang mơ? Tay chân bắt đầu rơi run và cúi xuống nhặt lên, lúc đó không có ai cả. Khi nhìn kĩ thì phát hiện ra đó là tiền giả, tiền âm phủ thì thôi, mọi thứ trở lại bình thường.
Như vậy, khi nãy tưởng là tiền thật, làm khởi lên lòng tham, thích, khoái “Trúng mánh rồi! Giờ là giả rồi thì thôi!” Nói câu chuyện trên là vui nhưng thật sự thì tất cả pháp đều giống như vậy, là chúng ta bị lừa, bị ngũ uẩn lừa, tưởng đâu sắc, thọ, tưởng, hành, thức là thật nhưng nhìn kĩ, sâu, nhìn bằng trí tuệ, bằng thiền quán thì chúng ta mới thấy nó là đồ giả.
Khi xấp tiền đó là giả thì người đó quăng đi rồi bỏ đi tiếp, cũng vậy, Đức Phật và những bậc Thánh, các Ngài ấy quăng ngũ uẩn như là quăng xấp tiền giả đó, thấy vô giá trị, không xài được. Ví dụ đó để chúng ta thấy là nguyên nhân của khổ là lòng tham muốn đối với những thứ đó, một khi lòng tham muốn này còn mạnh mẽ, cường liệt, sung mãn, đầy ắp, dồi dào, tràn ngập, còn chất chứa, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển, mình còn tồn kho, tồn đọng, tồn trữ, tồn hàng, những thứ yêu thích, khoan khoái, nắm giữ, gom góp, chất chứa thì còn khổ, đối với ngũ uẩn là còn khổ.
Nên chúng ta thấy được Khổ Tập Thánh đế là cả một vấn đề, đó gọi là thấy pháp. Khổ Tập Thánh Đế là thấy được nguyên nhân, ngọn nguồn, nguồn cơn, căn nguyên, lý do thật sự làm cho mình khổ là ham thích, tham muốn, tham ái, tham dục, tham lam đối với ngũ uẩn này. Cho đến khi nào, dù mình học để mình biết, mình tu chưa tới nhưng học để biết là mình đang ở đâu vì nhiều khi mình tưởng là mình ngon lắm. Tưởng đâu là mình gần tới tổ rồi nhưng chạm vào tổ sân. Mới xuất gia chừng một, hai năm chỉ toàn nói tổ, chạm vào là tổ sân, một cái sân rất to.
Để cho mình biết được mình đang ở vị trí nào trong Chánh Pháp thôi mình sẽ lầm tưởng, lầm tưởng rất nguy hiểm, tăng thượng mạng, chưa chứng mà cho ra chứng, chưa đắc mà cho ra đắc, được ít mà cho là đủ. Vậy nên rất nguy hiểm. Nên mình thấy được nguyên nhân của khổ, mình nhìn lại ngũ uẩn, nhận diện ngũ uẩn mới thấy được trong người mình có đầy ngập hết, nào là ham ăn, mê ngủ, thích đi chơi, danh lợi… Mình xem để đọc những tư tưởng, những suy nghĩ trong đó, đọc và lắng nghe những thọ, tưởng, hành thật kĩ. Nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm, lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kĩ, nghe suy nghĩ nói cái gì. Sáng thức dậy là phải nghe, đọc suy nghĩ, mới thức dậy thì nó nói cái gì. Trưa làm việc cũng phải lắng nghe xem cảm giác giờ đang muốn cái gì. Tối lên ngồi thiền thì nhìn kĩ vào bộ mặt của nó, nhìn kĩ bản mặt của nó có bản lai, diện mục, tham, sân, si của nó, xem bộ mặt thật sự của bản ngã đó. Nhìn kĩ, vạch mặt nó ra, phơi bày những suy nghĩ ác, bất thiện pháp, những cái cấu nhiễm đó, phải nhìn thấy nó, chỉ mặt nó, điểm mặt nó, xử lý nó, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch nó. Đó là mình đang diệt trừ nguyên nhân của khổ.
“Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu nguyên nhân của khổ đau mà các bậc Thánh chứng ngộ nên chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm.”
Chính vì không biết những cảm giác, nghĩ tưởng, tham muốn, nóng giận, si mê, vô minh, bản ngã này thật sự là động cơ của khổ, nguyên nhân của khổ, thật sự là căn nguyên của khổ, nó nằm trong thọ, tưởng, hành này mà từ xưa đến nay con không nhìn thấy, con mù lòa, si mê, vô minh và ngày hôm nay con bắt đầu nhìn ra được thật sự nguyên nhân đó làm cho con đau khổ. Con cảm ơn, con biết ơn Đức Thế Tôn nhiều lắm, con tri ơn Đức Thế Tôn nhiều lắm, con nhớ ơn Đức Thế Tôn nhiều lắm. Con đội ơn, mang ơn Đức Thế Tôn nhiều lắm.
Đó là người đệ tử Phật chân chánh biết được ân đức của Như Lai. Khi mình thấy được những động cơ, cảm xúc, cảm nhận, cảm giác thúc giục, thiêu đốt ở bên trong này, si ám, phình trương, vênh váo, ta đây, bản ngã trong này. Mình thấy được chúng rồi thì mình ê chề, gớm ghê, chán chê, ngao ngán, nhàm chán, mình muốn viễn ly, xả ly, xuất ly, lúc đó là mình thành tựu được Khổ Thánh Trí, Khổ Tập Thánh Đế được nhìn thấy, được biết, được thấy, được thấu hiểu, thông hiểu, thấy biết.
Nên mình phải suốt ngày nhìn lại tâm của mình mãi, không hở lúc nào, từng suy nghĩ của mình thì mình phải đọc từng suy nghĩ, từng cảm giác của mình thì mình phải soi vào xem đó là cảm giác gì, từng hình bóng trong tâm là phải rọi nó, phải nội chiếu, nội soi, nội quán, nội tỉnh. Soi vào bên trong, không nhìn người ta, thấy người ta có lỗi nhưng quay trở về xem mình có giống vậy không? Có phải giống mình vậy không? Khi đó chúng ta mới thấy được thật sự nguyên nhân của khổ là ở trong ta.
Chúng ta thấy mang vác thân này là khổ, mình nhìn vào tâm mình là thọ, tưởng, hành này là khổ. Sau này, nếu chúng ta còn học thì chúng ta cần có những buổi thiền quán, bữa giờ là Minh Thành chỉ giới thiệu nhẹ nhẹ, vì nếu triển khai thiền quán thì có thể khóc ròng, cảm xúc của mình có thể trào dâng. Phải thuần học một chút mới đi vào thiền quán được.
Chúng ta trước nay quen với thiền chỉ, chúng ta sẽ tìm hiểu thêm, thực tập thêm về thiền quán. Thiền quán mới diệt tận được triệt để gốc của khổ đau, mới mở ra trí tuệ cho mình một cách mạnh mẽ, thiền chỉ là giúp cho tâm mình an định, yên tịnh, thiền quán là đột phá, phá tung những cảm thọ vô minh, tham ái và chấp thủ.
Vừa rồi Minh Thành có triển khai một ít thiền quán cho các thầy. Vị nào tinh tế thì sẽ thấy những tác ý vào trong sự thật để cho mình thấy những thứ nhàm chán, những thứ khổ này. Nhiều khi mình nhìn thấy cái thân này tưởng như ngon lành lắm, nhưng không phải vậy, vài ngày sau phát hiện bị ung thư giai đoạn ba, lúc đó chúng ta mới thấy khổ thì thưa quý thầy lúc đó là muộn, tu không kịp. Để nó bại hoại rồi lúc đó mới tu thì sẽ không kịp nên mình phải tập nhìn.
Như con ruồi vừa đậu vào tay nhìn thấy nó rất khổ, như con muỗi chích mình thì nó nghĩ là nó sướng nhưng nó đau khổ, cuộc đời của nó cứ đi chích máu người ta. Những người hiền hiền như thầy chùa tu thì đỡ hơn, còn nó gặp những người ở ngoài không biết tu thì “chát” thôi là đỏ hết. Vì một bữa ăn nhưng mất mạng, vậy có khổ không? Quá khổ, không có gì sướng.
Khi mình thấy con chó thì thấy thương, nhìn thấy mèo thì thấy cưng, nhưng rất khổ. Khi nghe con chó nào sủa thì nó cũng nhào ra sủa, bóng ai đi cũng chạy ra sủa, trong nó là những cảm thọ đầy rẫy những sân hận, bản ngã, tham ái. Mình phải nhìn bằng Thánh trí thì mình mới thấy được tất cả những hình thể, hình thái, hình thức, hình dáng, hình tướng của ngũ uẩn đều là khổ. Đó mới là thông hiểu Khổ Thánh Đế.
Nên chữ Khổ Thánh Đế trong Tứ Thánh Đế này là thâm sâu, vô lượng, phải là những bậc Nhập lưu mới hiểu chính xác ý nghĩa của Khổ Thánh Đế, không phải là chuyện đơn giản như ngày xưa mình học “Tứ Đế tôi biết rồi! Là khổ tập diệt đạo!” Đó là biết chữ, phải là bậc Nhập lưu, mới hiểu đúng chính xác nhiều phương diện, khía cạnh, của sự thật khổ đau trong cuộc đời này.
Khi chúng ta ngồi đây thì thấy bình bình, an an, ổn ổn nhưng nhiều khi người cúng một bao gạo cho mình ăn thì đã qua nước mắt, máu. Chúng ta lên bữa ăn thì thấy bình thường, nhưng đối với những người nghèo khổ bên ngoài xã hội thì một bữa ăn như vậy là chan đầy nước mắt. Vậy nên thấy biết của mình không đúng, “beng beng” là tới giờ lên ăn, lên ngồi, ngày nào cũng đều đặn như vậy.
Đó là nguy hiểm và tai họa nằm trong đó, lông và sừng ẩn sau những bữa cơm đó. Minh Thành xin hỏi quý thầy, nếu chúng ta nhìn bằng con mắt thường, nhãn thức bình thường thì làm sao chúng ta thấy được cái đó? Nó phải nhìn bằng trí tuệ, mỗi bữa cơm của mình, mỗi chung trà của mình, mỗi áo mình đang mặc, chỗ mình đang ngồi đây thì bao nhiêu cô hồn, ngạ quỷ, chỗ mình ngồi đây là bao nhiêu nước mắt và máu trong những miếng gạch, bàn gỗ này, trong cái chuông cũng có thể bên trong này, những vong linh, ngạ quỷ.
Nhưng chúng ta không thấy, chúng ta chỉ nhìn thấy “Cái phòng này đẹp quá ha, mát mẻ!” mà đó là bị khổ, thọ dụng cái này không tu hành đắc đạo. Vì tham ái, dính mắc, chấp thủ trong đây. Nhắm mắt một cái thì kêu be be, hay ột ột, kêu gâu gâu… Đủ thứ loại kêu hết, chứ không an ổn chút nào. Mình phải lo sợ, phải biết lo lắng và sợ hãi, tự nhắc nhở mình trong thường lúc, mọi lúc, mọi khi, mọi nơi, mọi chốn.
Vậy nên sự thấy biết của mình không đúng, khi nào mình thành tựu Chánh Kiến thì thấy biết đó tương ưng với Bậc Thánh. Còn thấy biết của mình bây giờ chỉ thấy biết ở trước mắt. Ví dụ bàn của thầy đang ngồi có người từng đi khiêng cây gỗ chết để làm ra cái bàn đó. Mình không biết được, làm sao mình biết được, nhưng điều đó có thể có.
Vì vậy, chúng ta nhìn cho nên những bậc mở thiên nhãn, thì chúng ta nhàm chán thế gian, đó là những bậc đã thành tựu Chánh Kiến. Còn những bậc chưa thành tựu Chánh Kiến thì vẫn chấp thủ trong ngũ uẩn, không đi ra khỏi. Nên làm sao để mình tập, khi tu là phải tập, phải hành, mình phải tập nhìn bằng Khổ Thánh Trí đối với mọi sự mọi việc. Chúng ta tưởng cầm ly nước uống thì thấy khỏe, thích thú trong đó như nước ổi, nước cam, nước cà phê khoan khoái trong đó. Nước mắt, mồ hôi trong đó, như trái ổi trồng bao nhiêu công sức trong đó, biết từ đâu nó có ra? Chỉ biết cầm, xài, nhưng là đi ở đợ lấy tiền cúng dường.
Ngày đó Minh Thành đi vào nhà bếp chùa Bửu Liên, có cô Phật tử gặp chắp tay, xá rồi khóc “Thầy ơi con mừng quá! Con gặp được thầy con vui quá!” Hỏi ra sao thì cô đó đáp “Con cũng đã đến đây cúng được mấy lần, ba bốn tháng con đến cúng một lần, con cúng cây chổi, chai dầu ăn, cũng bịch bột ngọt. Thầy biết không? Con đi ở đợ, rồi con để dành chút chút rồi ba bốn tháng con mới có tiền mua đủ. Nhưng con không nói với ai, con đi thẳng vào nhà bếp rồi đưa vào trong nhà bếp.”
Minh Thành nghe câu nói đó thì đứng sững người, tay chân bủn rủn, đứng tần ngần, đứng như trời trồng mà rưng rưng nước mắt. Nhưng hình ảnh đó, cảm xúc đó, sự việc đó cho tới bây giờ nó ám ảnh, đã tám năm rồi không quên, vẫn lưu giữ hình ảnh, cảm xúc, suy nghĩ đó để khích lệ sự tu hành của mình.
Cây chổi mình nhìn thấy đó là người ta đi ở đợ lấy tiền đi cúng chùa, nhiều khi mình nghĩ rất đơn giản, mình nghĩ tất cả những cái này có sẵn, không có gì. Nhưng mình không biết người ta làm suốt ngày, ngày tám tiếng hay phải tăng ca đêm, một ngày làm mười hai, mười bốn tiếng mới dành một chút tiền đem vào cúng chùa. Nhất là cúng cho thiền viện thì càng phước đức được nhiều. Chúng ta phải có gì? Điều đó Minh Thành để các quý thầy tự suy tư.