Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

KINH VÍ DỤ CON RẮN 3 - TRUNG BỘ - 6 Kiến Chấp Về Bản Ngã - Cách Mở Khoá

2026-03-03 00:55:23
Nikāya Giảng Giải

SÁU KIẾN CHẤP VỀ BẢN NGÃ - CÁCH MỞ KHOÁ

Kinh Ví Dụ Con Rắn 3 - Trung Bộ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Dụng tâm học pháp PAGEREF _Toc134810493 \h 1

II.Kinh Ví Dụ Con Rắn (tt) PAGEREF _Toc134810494 \h 7

1.Các kiến chấp PAGEREF _Toc134810495 \h 7

2.Mở khóa thoát ngục PAGEREF _Toc134810496 \h 11

3.Nguyên nhân Chánh Pháp biến mất PAGEREF _Toc134810497 \h 15

4.Quán từ bỏ PAGEREF _Toc134810498 \h 17

Dụng tâm học pháp

Chúng ta đã nghe Đức Phật giảng về sáu kiến chấp của kẻ phàm phu xung quanh vấn đề cho rằng có tôi, có của tôi, có tự ngã của tôi. Đối với những thứ không thật ở bên ngoài và những thứ không thật ở bên trong mà chúng ta cho rằng đó là thường trú, thường còn, thường hằng, không biến hoại, tồn tại mãi mãi… thì đó là những kiến chấp của phàm phu. Chính những kiến chấp, cái nhìn sai lầm như vậy đã làm cho chúng sanh lo âu, bất an, khổ sầu. Đó là những pháp hết sức quan trọng và cốt lõi, chúng ta cần ghi nhớ và thực tập.

Mỗi ngày chúng ta nhắc nhở mình nhớ nghĩ, nhớ niệm về sự thật vô thường, vô ngã của đời sống này (gọi là niệm xứ). Đức Phật dạy “Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng”, khi nghe để nhớ về điều đó gọi là niệm tăng thượng; sau đó lấy tác ý làm sanh khởi, nếu chưa tự tác ý được thì hãy nhờ lời kinh của Đức Phật tác ý giúp mình, kết hợp lấy những lời Minh Thành chia sẻ tác ý thêm lần nữa, sau đó được mời trình pháp là thêm một lần tác ý, về nhà viết nhật ký tu học là tiếp tục tác ý. Tất cả những gì Minh Thành làm đều có dụng ý, đều đưa mọi người vào niệm và tác ý. Đầu tiên là làm cho thiện pháp, sự thật, trí tuệ đó sanh khởi trong thọ, tưởng, hành, thức. Kế đó là chúng ta nhắc nhớ (niệm xứ) về tự thân, về nội tâm, về ngoại cảnh, về bản chất sự thật. Cũng như lò trầm, khi đốt trầm lên cũng giống chúng ta đang tác ý, khi khói của trầm bay lên giống như chúng ta được xông trầm, xung quanh nơi này được thơm ngát hương trầm. Cứ tiếp tục đốt trầm như vậy thì mùi hương này sẽ xông ướp, thẩm thấu, sau đó dù không đốt nữa thì nơi đây vẫn còn lưu hương. Sự tác ý và niệm cũng giống như vậy.

Có những pháp hành quan trọng chúng ta cần để tâm: Như Lý Tác Ý; Niệm, niệm này là chánh niệm, cũng là niệm xứ, cũng là niệm giác chi, các pháp này liên quan đến nhau, có nghĩa là phải nhắc nhớ chính mình; Như Lý Giác Sát. Đức Phật dạy phải “lấy Định làm thượng thủ; lấy Niệm làm Tăng thượng” (trích Tăng Chi Bộ I, kinh Cội rễ của sự vật). Khi có Niệm thì tâm sẽ có sự tập trung, lúc đó nhìn điều gì cũng sâu sắc vào bản chất của các pháp.

Cũng như lời dạy của Đức Phật trong Kinh Ví Dụ Con Rắn, Ngài nói những thứ giả dối bên ngoài có thể làm chúng sanh lo âu, phiền muộn; những thứ giả dối bên trong cũng có thể làm chúng sanh phiền muộn, lo âu. Nếu không thấy được tính chất vô ngã thì nhìn đâu cũng thấy buồn phiền, vì vậy, sự nhắc nhớ về Thánh trí tuệ của Đức Phật là vô cùng quan trọng. Vì vậy, khi chúng ta được nghe, được đọc, được tụng, được trùng tuyên Pháp bảo, được pháp đàm… tất cả đều để chúng ta nhắc nhớ, tác ý, niệm, tập trung tâm ý và sự quán pháp; sau đó trách tâm, quở tâm, mắng tâm, chửi tâm, chửi các ác, bất thiện pháp. Dần dần, từ Ngũ căn biến thành Ngũ lực, tức là ta có sức mạnh để thấy bản chất của mọi sự vật, sự việc.

Như đối với một người làm công hay người học trò, chỉ cần ông chủ hay sư phụ nhìn bằng một ánh mắt là người này liền sợ, biết mình sai ở đâu. Cũng vậy, khi đã tác ý quen và thuần thục, đã có sự niệm, định; khi thọ, tưởng, hành sanh khởi, chỉ cần nhìn vào là nó liền tan biến. Khi đó, Năm căn biến thành Năm lực, khi “căn” trở thành “lực” tức là có sức mạnh. Trước khi có sức mạnh thì phải có gốc rễ, tức là phải có ngũ căn trước, tức là có: tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Cho nên, đầu tiên chúng ta phải làm cho mình có được gốc rễ, nếu chưa có gốc rễ thì không thể trở thành sức mạnh được. Sau khi có gốc rễ, có thân, có cành, có lá, có tàng là chúng ta có sức mạnh để biến “căn” thành “lực”. Sau khi thành sức mạnh thì đối với các phiền não, tập khí, lậu hoặc… chúng ta có thể nhiếp phục một cách không quá khó khăn, mệt nhọc, phí sức. Do đó, giai đoạn bắt đầu tu tập là hết sức quan trọng.

Thế nên, khi Sư Cô Huệ Lý xin Minh Thành về thăm chùa một tháng thì Minh Thành nói như vậy là quá lâu, vì cô mới bắt đầu nảy mầm Chánh Pháp mà đi lâu như vậy thì không nên. Trừ khi có việc gì hết sức quan trọng như cha mẹ sắp chết, hoặc có chuyện cần thiết thì chỉ nên dành vài ngày để sắp xếp, còn mạnh mẽ hơn thì nhất quyết không về, xem như từ nay đã chết. Khi tín lực, tấn lực, niệm lực đã có thì chúng ta sẽ có sức mạnh buông bỏ, thí xả. Mỗi khi có các thầy, các sư cô, các chú, các cô xin về nhà là Minh Thành rất lo. Từ ngày Minh Thành đi xuất gia chưa có chuyện đi về thăm nhà, chỉ khi cần làm giấy tờ, ở nhà có người bệnh nặng, có chuyện quan trọng thì mới về, hoặc có đi chia sẻ pháp gần nhà thì Minh Thành mới sẵn dịp ghé nhà.

Chúng ta cần làm cho từ niềm tin biến thành sức mạnh, từ tín căn biến thành tín lực. Muốn được như vậy, cần thường xuyên nghe lời kinh của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, từ lời kinh đó, Minh Thành mới lặp lại, làm cho sáng tỏ, chứ không giảng thêm bất cứ điều gì. Minh Thành chỉ giảng nghĩa bài kinh theo câu từ bây giờ để mọi người dễ hiểu; ngoài ra, Minh Thành không có công gì trong đây, cũng không làm được gì cho quý vị, chỉ giúp quý vị được sáng tỏ hơn lời của Đức Phật. Khi quý vị đã hiểu thì phải tiếp tục nhìn vào tâm, trình bày cái hiểu đó thêm một lần nữa, đó là lần thứ ba chúng ta ôn lại Thánh trí tuệ. Như vậy, khi nghe pháp chúng ta phải tập trung tâm ý lắng nghe để thọ nhận pháp, sau khi nghe-hiểu-trình pháp thì về nhà chúng ta ghi lại những gì thọ nhận được, đây là lần thứ tư niệm pháp; sau đó chúng ta liên tục Như lý tác ý về pháp, tức là học pháp lần thứ năm, thứ sáu, thứ bảy… Cho nên, những vị không chịu viết nhật ký tu học, không chịu trình pháp là đang bỏ lỡ cơ hội học sâu về pháp. Vì vậy, vị nào không nói được thì viết, không viết được thì có thể ghi âm… dùng bất cứ mọi hình thức để tu học. Phải rèn luyện mình trong hàng chục lớp như vậy, luôn luôn nhắc nhớ bản thân trú trong pháp. Nửa đêm giật mình thức dậy cũng phải nhắc, vừa xả thiền cũng phải nhắc, đang ăn cơm cũng phải nhắc mình nhớ về pháp, nhớ về sự thật của đời sống này. Chứ không phải chỉ tu trong lúc ngồi nghe pháp, ngồi thiền là đủ; phải nhắc cho đến khi không quên sự thật này nữa là lúc đó sự thật này được an trú vào tâm ta.

Đó là Minh Thành giải thích lí do ngày nào chúng ta cũng phải nghe pháp, trình pháp và viết nhật ký.

---

Giờ đây, chúng ta đang được ngồi bình yên nghe pháp, trong khi biết bao người ngoài kia đầu tắt mặt tối để kiếm từng đồng từng cắc, có khi còn bị chửi lên chửi xuống mới có tiền nuôi gia đình. Vì vậy, khi nghe pháp, chúng ta cần tỉnh táo, không được để hôn trầm xâm chiếm và biết cách tác ý. Một người minh mẫn, sáng suốt, có trí tuệ đang ngồi nghe pháp chỉ cần nhìn vào ánh mắt họ là biết được. Chỉ cần nhìn vào ánh mắt là Minh Thành biết một người đang si hay đang sáng suốt. Có người dù ánh mắt đang nhìn xuống nhưng có độ tinh minh, trong sáng; nhưng cũng có người nhìn cứ như con gà cú rủ, đầu cúi xuống si mê, buồn ngủ. Ngoài đời mà sáng sớm như vậy thì không làm ăn được gì.

Tâm ta quyết định tất cả. Người nào có tâm lực mạnh thì thân không ảnh hưởng được nhiều. Người có tâm lực yếu thì thân chỉ mệt một chút là lập tức bị thọ thân ảnh hưởng đến thọ tâm. Cho nên, người có tâm lực mạnh thì ngoại cảnh không chi phối được. Hãy quán chiếu ngũ uẩn ngay lúc hôn trầm, cảm thọ con mắt, cảm thọ toàn thân, quay vào bên trong nhìn ngó, như lý giác sát, như lý tác ý. Nếu không diệt được Năm Triền Cái thì không tu được, không tiến bộ được. Không thể ngày nào lên Pháp tòa Minh Thành cũng phải nhắc đến việc buồn ngủ, ngủ gục. Cho nên, nếu không có sự nỗ lực thì chúng ta không có sự tiến bộ trong pháp. Chẳng lẽ, ngồi thiền đã 5 năm mà ngày nào cũng gặp vấn đề hồn trầm, ngủ gục. Thành ra, nếu không để tâm diệt Năm Triền Cái thì sự tu không tiến bộ, mà cứ lùng nhùng, loanh quanh chỉ bấy nhiêu, không thoát khỏi được ma trận của các triền cái.

Mỗi khi nghe pháp, ngồi thiền, thực hành pháp thì độ sắc bén, tinh anh phải giống như sư tử đang săn mồi, giống như mèo rình chuột. Con mèo khi rình bắt chuột thì vô cùng tập trung để quán sát, để ý; sư tử khi vồ mồi thì hết sức quyết liệt. Còn nếu tu học mà với thái độ rã rời, uể oải, không quyết liệt, cố gắng hết sức thì sẽ không đi đến đâu. Có những điều hết sức bình thường trong sự tu học này nhưng nếu không có công phu thì cũng không thể chiến thắng. Muốn tu có kết quả thì phải để ý đến những thứ nhỏ nhất, có như vậy thì tu mới tiến.

Nếu không để ý bước chân mỗi khi đi thì chúng ta sẽ đi xèm xẹp, phát ra tiếng động, đó là do mình không niệm thân, không niệm oai nghi. Nếu không để ý lời nói thì lời nói phát ra sẽ không có trên dưới, nói trỏng không. Người lớn có nhắc nhở thì trả lời là do quen rồi, tính cách như vậy, nói thế thì còn tu gì nữa, vì tu là để sửa đổi cho hoàn thiện. Cho nên, khi có lỗi thì phải sửa, muốn sửa được thì phải như lý giác sát. Xem chỗ nào còn buông thả, lúc nào thường buông thả thì phải để tâm canh chừng. Trong từng bước đi phải để ý cẩn thận, không được buông lung. Trong bài kinh “Brahmayu” nói về cách thọ thực của Đức Phật, sau khi ăn xong “Ngài đi không quá mau, không quá chậm. Ngài đi không phải (như muốn) lánh xa hội chúng ấy”. Đức Phật dùng cơm xong không đi vội vã, cũng không đi quá chậm như thân đang mệt mỏi. Chúng ta phải học những bài này thật kỹ, vì học theo lời dạy của Ngài mà không biết Ngài sinh hoạt thế nào thì sao học theo được. Nếu cần thiết thì đại chúng có thể đọc tụng trong suốt một tuần để ghi nhớ.

Cho nên, khi đi, khi nói, khi làm việc, khi giao tiếp phải tập nhận diện ngũ uẩn, tập kiểm soát các cảm thọ, tập thực hành ba pháp. Chữ “tập” này nghĩa là mình vẫn còn lúc được lúc không, khi nhớ khi quên, đến một lúc nào không còn quên nữa, mình có thể chủ động đối với mọi việc. Ví dụ đối với những người mới đến, chưa hiểu pháp thì mình có thể cười, vui để giúp đỡ họ; khi đó mình cho phép bản thân làm như vậy và mình làm chủ những hành động đó. Thế nên, việc gì cũng phải luyện tập. Hơn nữa, Thân Hành Niệm có khi tập đến chết cũng chưa xong; khi nào thực tập được là “siêu phàm nhập thánh”, nói đơn giản là trở thành một người tu thật sự, một người tu đúng nghĩa.

Có những chuyện rất nhỏ nhưng Minh Thành nhắc rất nhiều lần, chẳng hạn những vị xuất gia thì không được đắp y, cởi y ở trong Vân Thủy Đường, tuy nhiên đến giờ Minh Thành vẫn thấy trường hợp này. Nếu đối với những việc nhỏ mà không cung kính, không tôn trọng, không chấp nhập học pháp, xem thường lời dạy của thầy thì tu không thể nào tiến bộ. Cũng như mình từ xa về chuẩn bị vào làm lễ với cha mẹ nhưng lại đứng trước mặt cha mẹ mặc đồ thì có được không? Về sau này Minh Thành thấy rất nhiều vị đứng ở nhà tổ, đứng ở chánh điện, đứng ở thiền đường nhưng vẫn cứ nghiễm nhiên tháo y, ngay trước Thánh tượng. Cho nên, quý thầy cô, quý Phật tử phải đắp y, mặc áo tràng từ chỗ mình ở rồi mới qua Chánh điện. Chư Tỳ-kheo ngày xưa y mặc luôn trên người. Đây là việc nhỏ nhiệm Minh Thành chia sẻ để đại chúng hành trì, nếu những điều này làm còn không được thì khó mà làm việc lớn.

Khi ăn, khi uống, khi co, khi duỗi, khi nói, khi nín, khi làm việc, khi tiếp xúc, khi đại tiểu tiện… nhất nhất mọi việc đều để tâm chánh niệm tỉnh giác. Một người có cảm giác toàn thân hay không, chỉ cần nhìn mặt là biết được. Người với ánh mắt lờ đờ, cái miệng chu ra, nét mặt chầm dầm hay như hoa nở, phấn khởi đều biểu hiện ra vì không có sự chánh niệm, những nét mặt đó biểu hiện cho tham, sân… Khi đó người ngoài có sự khéo léo nhìn là biết ngay, còn bản thân người đó thì không hay biết. Đức Phật và các vị Thánh Tăng khi vui thì chỉ mỉm cười, không cười ha hả buông lung. Trong Tăng Chi Bộ Kinh I, bài kinh “Khóc than”, Đức Phật dạy: cười quá đáng là “trẻ con trong giới luật bậc Thánh”; ca vịnh là “khóc than trong giới luật bậc Thánh”; múa nhảy là “điên loạn trong giới luật bậc Thánh”. Đây là những bài kinh phải đọc tụng để nhắc nhở chính mình, vì bây giờ có rất nhiều người tu mà thích ca hát. Nhiều khi đang đi thì bất thình lình cũng nghe tiếng hát của người khác vang lại, đó là tiếng than khóc cho cuộc đời. Thỉnh thoảng Minh Thành có nghe những tiếng hát nhỏ nhỏ của những vị ở xung quanh; mấy chú cư sĩ thì còn có thể chấp nhận được, còn nếu đó là những người xuất gia thì rất xấu hổ. Vì nếu có sự nhận diện ngũ uẩn thì khi lời ca đó ở trong ý hành là mình đã phải nhiếp phục, còn này đã phát ra ngoài miệng nhưng mình lại không hay biết. Có khi tay chân cũng táy máy, nhịp theo nhạc, những điều này phải nhiếp phục, chế ngự. Có rất nhiều điều hay, vi tế mà chúng ta phải biết lưu ý để mà tu. Mỗi khi nhìn thấy, nhiếp phục được những điều như vậy là mình có được một niềm vui, mặc dù đối với những người ngoài đời chuyện đó là bình thường.

Ở ngoài đường, rất nhiều người đeo tai nghe rồi đầu rung lắc cả người theo nhịp nhạc. Có nhiều người vừa đi vừa nói chuyện một mình, điều này rất bất ổn, ý hành phát ra là miệng nói theo luôn, tình trạng này nếu nghiêm trọng là “sút bản lề” giữa ý hành và khẩu hành, người ta phát điên cũng là do như vậy, họ nghĩ gì nói nấy, không kiểm soát được. Những người này thường có tinh thần yếu, tâm lực không mạnh nên mới rơi vào trường hợp này. Nếu những người này gặp chấn động mạnh sẽ ảnh hưởng đến thần kinh.

Người tu chúng ta nếu tập được Thân Hành Niệm sẽ rất tuyệt vời. Nhờ tập được những điều nhỏ nhiệm nên khi gặp những biến động, những chuyện bất ngờ thì ta vẫn an tịnh, lắng dịu mà nhiếp phục.

Kinh Ví Dụ Con Rắn (tt)

Sau đây, chúng ta tiếp tục tìm hiểu Kinh Ví Dụ Con Rắn.

Các kiến chấp

Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể chấp thủ Ngã luận thủ nào mà Ngã luận thủ ấy được chấp thủ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không? Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Ngã luận thủ nào mà Ngã luận thủ ấy được chấp thủ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

-- Bạch Thế Tôn không.

-- Lành thay, này các Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, Ta cũng không thấy Ngã luận thủ nào mà Ngã luận thủ ấy được chấp thủ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Ngã luận thủ là sự nắm giữ những lý luận về bản ngã, những kiến chấp. Trong đó “luận” là những quan điểm, những luận thuyết, những chủ thuyết, những sự bàn luận về cái tôi, về bản ngã mà người này nắm giữ, không chịu bỏ. Khi nắm giữ về một cái tôi, cái ta, cái mình hay bản ngã thì chắc chắn sẽ có sầu, bi, khổ, ưu, não. Bất cứ khi nào có suy nghĩ về cái tôi, cái của tôi thì sẽ có những hành động, lời nói tương ứng với suy nghĩ bản ngã đó, như vậy sẽ khởi lên buồn đau, lo lắng, khổ sầu. Còn khi nào không thấy cái tôi thì tự nhiên sầu, bi, khổ, ưu, não tự động được lắng dịu, tan biến.

Ví dụ, khi có người chê bai, mắng chửi thì chúng ta cảm thấy khổ vì chấp vào “tôi bị chê”, “tôi bị mắng”, “tôi bị sỉ nhục”; nếu không có “tôi” thì chê ai, mắng ai, sỉ nhục ai? Còn cho rằng họ đang chửi cái nùi giẻ, chửi cái cầu tiêu thì không sanh khởi sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì vậy, khi nào còn ý niệm có tôi, có ta, có mình, có mi thì lúc đó còn khởi lên sự buồn bã, khổ đau, lo lắng, phiền muộn, bất an, sợ hãi; còn người không có suy nghĩ về cái tôi thì không xảy ra điều này.

Vậy, làm sao để có được suy nghĩ “không có cái tôi”? Cần huân tập, quán chiếu thật nhiều để loại bỏ những thọ, tưởng, hành, thức về tôi, về của tôi một cách thường xuyên trong mỗi suy nghĩ, mỗi hình ảnh. Điều này đòi hỏi người tu phải thật siêng năng, tinh tấn trong sự thực hành. Còn tu mà bị chạm một chút là sừng sộ, nhắc nhở một chút là khó chịu, dạy bảo một chút là bỏ đi thì tu cái gì? Chẳng khác gì là một tượng sáp bên ngoài giống như người tu, còn bên trong thật ra không có gì.

Đoạn kinh trên có nghĩa rằng, việc “tự thân nắm giữ cái tôi, nhìn thấy người khác nắm giữ cái tôi mà không sanh khởi sầu, bi, khổ, ưu, não” là điều không thể xảy ra. Do đó, tự mình nắm chặt bản ngã là điều khổ đau, người khác nắm giữ cái tôi cũng điều đau khổ; thậm chí con chó chấp vào bản ngã của nó cũng là điều khổ đau, những con khác cũng giống như vậy. Ví dụ như con ma chấp thủ bản ngã nên cũng khổ đau, không siêu thoát được. Có những bộ phim nói về những người đợi nhau suốt mấy ngàn năm cũng vì cảm thọ ái luyến nên không siêu thoát được, đây là chuyện hoàn toàn có thể có thật.

Chính vì vậy, Đức Thế Tôn nói rằng, Ngài cũng không thấy một ai chấp ngã mà không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Người nào càng buồn nhiều, giận nhiều, phiền nhiều thì người đó chấp ngã càng nhiều.

---

-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có kiến y nào, mà kiến y ấy được y chỉ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không? Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy kiến y nào, mà kiến y ấy được y chỉ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

-- Bạch Thế Tôn, không.

-- Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, Ta cũng không thấy một kiến y nào, mà kiến y ấy được y chỉ như vậy, lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Cũng giống như “sanh y”, là chỗ y cứ, chỗ dựa của tái sanh, sanh tử; “kiến y” là chỗ dựa của kiến chấp, chấp ngã, kiến chấp về tự ngã. Ví dụ, dù được học về vô ngã, nhưng ý hành bên trong lại nói rằng “tu như vậy khó lắm, sao mà tu nổi, chỉ có bậc Thánh mới tu được”, suy nghĩ đó chính là kiến y, là chỗ dựa cho chấp ngã, làm mình không phá được kiến chấp. Mặc dù được học nhận diện ngũ uẩn, biết “suy nghĩ nói thầm trong tâm là hành” nhưng khi có suy nghĩ “pháp này khó quá, tu không nổi” khởi lên thì lại cho rằng đó là “tôi nghĩ”, chứ không xem đó là ý hành và suy nghĩ đó chính là kiến y. Những chỗ dựa của kiến chấp này thật ra cũng nằm trong chính thọ, tưởng, hành, không đi ngoài ngũ uẩn. Nếu nhận diện được điểm này thì đó mới thật sự là trí tuệ tinh vi, sắc bén.

Chẳng hạn, mỗi ngày quý vị đều ăn sáng vào lúc 6h30 nhưng lên Linh Quy Pháp Ấn thì phải nghe pháp đến 8h30 mới được ăn, khi đó suy nghĩ khởi lên “ăn uống trễ như vậy chắc tu không nổi, không khéo bị bệnh bao tử” và khiến mình xuống núi. Trái lại, nếu phá được kiến y, không còn suy nghĩ như vậy thì chúng ta có tu quyết tâm, tinh tấn tu học. Nhờ phá được kiến y mà chúng ta có thể làm được những việc tưởng chừng không được. Cho nên, chúng ta phải tập bỏ đi những thói quen không tốt; bỏ qua những hủ tục, phá những điều “xưa bày sau, nay làm vậy” không phù hợp. Đối với con đường người trước đã đi qua nhưng sai lệch thì ta phải quyết tâm từ bỏ một cách mạnh mẽ. Điều này cần căn cứ vào Pháp, căn cứ theo trí tuệ nhìn thấy sự thật.

---

Chư Tỷ-kheo, nếu có ngã thời có ngã sở thuộc của tôi không?

-- Bạch Thế Tôn, có.

-- Chư Tỷ-kheo, nếu có ngã sở thuộc, thời có ngã của tôi không?

-- Bạch Thế Tôn, có.

-- Chư Tỷ-kheo, nếu ngã và ngã sở thuộc không thể được chấp nhận là thường còn, thường hằng, thì kiến xứ này: "Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết tôi sẽ thành thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi". Này các Tỷ-kheo, kiến xứ ấy là hoàn toàn, triệt để chẳng ngu si không?

-- Bạch Thế Tôn, làm sao có thể hoàn toàn, triệt để chẳng ngu si được!

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Đức Phật hỏi nếu có “tôi” thì có cái “của tôi” không? Nếu có cái “của tôi” thì có cái “tôi của tôi” không? Chư Tỳ-kheo trả lời là có. Đức Phật nói, dù cho trong tâm không xem cái “tôi” và cái “của tôi” là thường hằng, thường còn thì sáu kiến chấp: "Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết tôi sẽ thành thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi" vẫn chưa hoàn toàn, triệt để là hết ngu si.

Sau đó, Đức Phật tiếp tục hỏi: sắc, thọ, tưởng, hành, thức là thường hay vô thường, các vị Tỷ-kheo đáp đó là vô thường, không phải tự ngã. Đức Thế Tôn hỏi:

-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

-- Bạch Thế Tôn, khổ

-- Do vậy, này các Tỷ-kheo, bất cứ các sắc pháp nào, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc pháp là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là của tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", cần phải như thật quán với chánh trí tuệ. Bất cứ cảm thọ nào... Bất cứ tưởng nào... Bất cứ hành nào... Bất cứ thức nào, quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả thức là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", cần phải như thật quán với chánh trí tuệ.

Chư Tỷ-kheo, nhờ thấy vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử yểm ly đối với sắc, yểm ly đối với thọ, yểm ly đối với tưởng, yểm ly đối với hành, yểm ly đối với thức, do yểm ly nên ly tham, do ly tham, nên được giải thoát, trong sự giải thoát có trí khởi lên, biết được đã giải thoát. Vị ấy biết: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui tại đây với một đời sống khác".

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Do chán lìa nên không tham, do không tham nên vị ấy thoát ra khỏi năm uẩn.

Mở khóa thoát ngục

(Bậc A-la-hán)

Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là vị đã vất bỏ đi các chướng ngại vật, là vị đã lấp đầy các thông hào, là vị đã nhổ lên cột trụ, là vị đã mở tung các lề khóa, là bậc Thánh đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy.

Và thế nào là Tỷ-kheo đã vất bỏ đi các chướng ngại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, là đã đoạn trừ vô minh, cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã vất bỏ đi các chướng ngại.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã lấp đầy các thông hào? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ tái sanh và sự luân chuyển sanh tử, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã lấp đầy thông hào.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã nhổ lên cột trụ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ khát ái, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã nhổ lên cột trụ.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã mở tung các lề khóa? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã mở tung các lề khóa.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo bậc Thánh, đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ ngã mạn, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta- la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là vị Tỷ-kheo bậc Thánh, đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy.

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Đức Phật đưa ra rất nhiều hình ảnh để ví dụ:

Vất bỏ đi các chướng ngại tức là đoạn trừ vô minh; vô minh là chướng ngại pháp lớn nhất trong tất cả các chướng ngại.

Khi nghe pháp, cứ lắng dịu thọ nhận, không phải cứ gật gù liên tục là tốt. Vô minh là con mắt không sáng, lỗ tai không sáng… cảm thọ cũng không sáng, không sắc bén nên khi thọ pháp không được viên mãn (“thọ” nghĩa là “nhận”). Sau những buổi giảng pháp, mỗi lần gặp quý thầy, quý cô là Minh Thành thường hỏi “hôm nay có thọ pháp được không” là muốn biết quý vị có thọ nhận pháp được đến đâu. Ví dụ, ngoài đời có người đưa cho mình 50 triệu nhưng mình cầm một lúc thì chỉ còn có 10 triệu, rớt mất hết 40 triệu, về đến nhà chỉ còn lại 5 triệu; đó là mình không nhận trọn vẹn cái người ta cho. Trong thời Đức Phật, chỉ cần Ngài giảng xong một bài là các vị bên dưới chứng Sơ quả, Nhị quả, Tam quả, Tứ quả, chứng A-la-hán và giải thoát. Đó là do các vị thọ nhận pháp bằng cả trái tim, bằng cả tấm lòng, nhờ vậy nên trí tuệ được khai mở. Chỉ cần một thời pháp là cả ngàn vị chứng Thánh quả. Để được như vậy, không phải chỉ cần một mình Đức Phật giảng là mọi người chứng được, mà đòi hỏi những người nghe phải tiếp nhận trọn vẹn, cùng hợp tác thì mới đi đến thành tựu.

Lấp đầy các thông hào tức là đã đoạn trừ tái sanh và sự luân chuyển sanh tử.

Nhổ lên cột trụ tức là đã đoạn trừ khát ái.

Mở tung các lề khóa tức là đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.

Năm hạ phần kiết sử: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân. Đây chính là ổ khóa đã khóa chặt, bắt nhốt tất cả chúng ta. Những tham dục, sân hận, nghi ngờ, những cách giữ giới sai lầm cũng là tù ngục, nhốt ta không đi ra ngoài được. Thân kiến này làm hang, làm ổ, làm tổ trong thân: “Thân trống rỗng không ai trong đó – Tâm vào đây làm tổ chi tâm – Tâm vào đây làm ổ làm gì – Thân trống rỗng dễ tan vỡ lắm”. Đây chính là cách mở khóa, phá được thân kiến, Bậc Đạo Sư đưa chìa khóa cho chúng ta mở ra cánh cửa ngục tù này bằng bài Thân Trống Rỗng. Nếu cần thiết, đại chúng có thể ngồi thiền và thiền quán chỉ duy nhất bài này trong suốt bảy ngày. Minh Thành thường xuyên nghe bài này cả ngày từ sáng đến chiều để cho sự thật này thấm nhuần. Trong thời gian tĩnh tu, có khi Minh Thành nghe bài Đức hạnh Ngài Xá Lợi Phất trong suốt nhiều ngày, cứ nghe rồi ngồi thiền, sau khi xả thiền rồi lại nghe cho thật thấm thía trí tuệ này.

Tất cả những bài này là chìa khóa mà Bậc Đạo Sư đưa cho chúng ta mở được ổ khóa ngàn năm, từ vô thỉ kiếp, lâu bằng trái đất. Chỉ có chìa khóa Thánh trí, chìa khóa thân kiến mới mở ra được. Đức Phật đã trao cho chúng ta Quán tứ đại, Quán ba mươi hai thể trược, Quán chín giai đoạn tử thi, Quán cốt tưởng, Quán nắm tro tàn… đó chính là chìa khóa mở tung các lề khóa. Tứ Niệm Xứ là chìa khóa, Thân Hành Niệm là chìa khóa để mở ngục.

Thân này là tù ngục, là nhà giam, là nhà tù, là nhà lao; thọ, tưởng, hành, thức này cũng là nhà giam, nhà tù, nhà lao. Chúng ta đã có chìa khóa trong tay, tại sao lại không chịu mở. Tại sao cứ cầm chìa khóa rồi tung tăng ở trong ngục tù. Hãy mở khóa để thoát ra chốn ngục tù ác độc, đen tối, đầy nước mắt, đầy chiến tranh, đầy thảm họa. Các chuyên gia thế giới dự báo toàn cầu có khả năng sẽ hứng chịu một trận đại dịch khủng khiếp, kinh hoàng với những biến chủng lạ, vô cùng nguy hiểm. Một tỉnh ở Trung Quốc có hàng triệu ca mắc bệnh mỗi ngày, có hôm lên đến 37 triệu ca trong cả nước.

Chính vì vậy, chúng ta hãy mở cửa để thoát ra khỏi ngục tù này càng sớm càng tốt, thoát khỏi nhà giam tăm tối, ác độc, khổ đau, tai họa, bất an với đầy rẫy những hoạn nạn, hiểm nạn, ách nạn, khổ nạn, nguy nan. Chúng ta đang bị nhốt trong đó, vậy mà còn lo tranh đấu, đánh lộn, giành giật, cự cãi, huých, hoáy, trừng trợn, liếc ngang ngó dọc lẫn nhau. Thật ngu si không còn chỗ nào để nói, không còn từ ngữ gì để diễn tả. Chúng sanh cứ hành hạ, hành tội, hành xác lẫn nhau. Vì vậy, chúng ta nhất quyết phải mở khóa.

Hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy tức là đã đoạn trừ ngã mạn.

Hạ cây cờ xuống tức là hạ cây cờ ngã mạn xuống. Bình thường cây cờ ngã mạn ấy cứ giương cao thì bây giờ phải hạ xuống. Mỗi hình ảnh ví dụ Đức Phật đưa ra là hết sức tuyệt diệu. Người tu phải bẻ cây cờ xuống, hạ cây cờ xuống, chặt gãy cây cờ kiêu mạn xuống.

Mỗi ngày, chúng ta được học, được nghe, được chỉ dạy nhưng không nhớ, không làm theo là vì chúng ta không thọ được pháp; còn nếu thọ được pháp thì chúng ta sẽ ghi nhớ mà làm theo. Cứ học vô thường, nghe vô thường hoài hoài, nghe mấy chục năm nhưng nhìn cái gì cũng là thường, đó là do không thọ được pháp, không trì pháp, không giữ pháp, không hành pháp và không sống với pháp. Cho nên, khi được học pháp, chúng ta phải thọ nhận, trì pháp, giữ pháp, hành pháp và sống với pháp đã được học. Trong kinh Tứ Niệm Xứ, Đức Phật dạy phải “sống quán thân trên thân”, “sống quán thọ trên các cảm thọ”, “sống quán tâm trên tâm”, “sống quán pháp trên các pháp”. Sống như vậy chính là sống với pháp, chữ “sống” này vô cùng sâu sắc, phải sống chết với Chánh Pháp, dù có chết cũng không từ bỏ. Thử nghĩ, trong lúc đang lâm trận đánh giặc, mà hai con mắt mở lên không nổi thì mình chiến đấu được với ai. Kẻ thù trơ trơ trước mặt như vậy mà không giết thì tu cái gì!

Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã giải thoát như vậy, thì chư Thiên ở Ðế thích Thiên giới, Phạm thiên giới, Sanh chủ giới sẽ không tìm được dấu vết của Tỷ-kheo ấy, nếu nghĩ rằng: "Y ở đây, có thức của Như Lai". Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, Ta nói ngay ở hiện tại, một Như Lai không thể tìm thấy dấu vết".

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Đức Phật nói rằng, Phạm thiên, Đế thích, vị tối cao của thiên giới không thể tìm được dấu vết của Tỳ-kheo đã chứng ngộ Niết-bàn, ra khỏi ngũ uẩn, huống hồ chi là Đức Như lai. “Chư Tỷ-kheo, Ta nói ngay ở hiện tại, một Như Lai không thể tìm thấy dấu vết”. Bởi lẽ, đối với một tâm bất động, không còn vô minh, chấp thủ, tham ái đối với năm uẩn thì không còn bất cứ dấu vết nào. Nếu còn tham một chút gì thì trong tâm sẽ vẫn còn hình ảnh, còn suy nghĩ, còn dính mắc, tơ tưởng về điều đó. Chẳng hạn, chúng ta bây giờ vẫn còn muốn gặp cha, gặp mẹ, gặp chồng, gặp con, gặp người thân, người yêu thì chúng ta còn lưu luyến về họ, những hình bóng đó sẽ hiện khởi trong tâm mỗi khi nhớ đến. Còn tất cả các hành của Đức Như Lai đã được tịnh chỉ, không còn muốn bất cứ thứ gì, tâm đã hoàn toàn tịch tịnh thì không thể có dấu vết. Dù cho thân này vẫn còn nhưng tâm đã được tịch tịnh thì không thể tìm được một dấu vết nào của Như Lai. Niết-bàn không có tung tích, không có dấu vết, bất tử, bất động, bất diệt, bất sanh.

Nguyên nhân Chánh Pháp biến mất

(Xuyên tạc Như Lai)

Chư Tỷ-kheo, Ta nói như vậy, thuyết như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn xuyên tạc Ta một cách phi chơn, hồ đồ, hư vọng, không thực: "Sa-môn Gotama chủ trương chủ nghĩa hư vô, đề cao đoạn diệt, hủy diệt, sự tiêu diệt các hữu tình". Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta không là như vậy, Ta không nói như vậy, Ta không như các Sa-môn, Bà-la-môn ấy đã xuyên tạc một cách phi chơn, hồ đồ, hư vọng, không thật: "Sa- môn Gotama chủ trương chủ nghĩa hư vô, đề cao đoạn diệt, hủy diệt, sự tiêu diệt các hữu tình".

Đây là chỗ rất sâu sắc, cũng là lí do Phật giáo biến mất hoàn toàn khỏi Ấn Độ. Truy nguyên về gốc rễ của vấn đề, ta thấy rằng, ngay tại thời Đức Phật đang thuyết pháp mà đã có rất nhiều những thành phần, tư tưởng chống đối, người ta cho rằng Đức Phật “chủ trương chủ nghĩa hư vô, đề cao đoạn diệt, hủy diệt, sự tiêu diệt các hữu tình”. Vì sao họ nghĩ như vậy? Bởi lẽ, hữu tình chúng sanh chính là năm uẩn; còn Đức Phật chỉ ra con đường nhàm chán, từ bỏ, thoát khỏi năm uẩn, không còn sắc, thọ, tưởng, hành, thức; thế nên ngoại đạo cho rằng Ngài chủ trương hư vô.

Những hệ tư tưởng sau này cũng đi theo tà kiến này, cuối cùng họ kết luận những lời dạy gốc của Đức Phật là tiểu thừa và họ tán thán sự tái sanh, trở lại để làm việc này việc khác. Do đó, đời sau gạt giáo lý chính thống của Đức Phật qua một bên, thậm chí còn mạt sát, gọi tinh thần nguyên gốc này là “tiêu nha bại chủng”, tức là xem đó là hạt giống hư và bị cháy, họ cho rằng tu theo như vậy là không còn gì hết. Sau đó họ đưa ra con đường tu đưa đến sanh tử, xem đó là con đường lớn, còn pháp này là nhỏ. Vì vậy, Phật giáo bước qua thời kỳ tượng pháp, thời kỳ Chánh Pháp dần khép lại.

Những gì chúng ta sau này đang được học tượng pháp. Thử nghĩ, tu mà cứ muốn làm cái này, cái kia, cái nọ hoài thì tham, sân, si trong tâm có chấm dứt được không? Hơn nữa, cái muốn đó chỉ là tham, là dục, thậm chí họ chẳng những muốn cho kiếp này, mà còn muốn cho nhiều thật nhiều kiếp sau, cứ như vậy thì bao giờ mới chấm dứt sanh tử, đoạn tận tham sân si. Trong khi, lời Đức Phật dạy rằng:

Chư Tỷ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ.

Sự thật của ngũ uẩn là khổ, chúng ta phải thấy rõ bản chất đó mới chấm dứt được những nguyên nhân sanh ra khổ, không tiếp tục tái tạo những hình thái của khổ, nhờ vậy mới thoát khỏi khổ. Đây chính là Thánh đạo lộ chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Học sâu vào kinh chúng ta mới thấy được sự thâm sâu của giáo pháp. Trước đây, khi mới tu, vì nghe nói tạng kinh này là “tiểu thừa”, là nhỏ nên tất nhiên mọi người đa số không ai thích; cái nào “đại” mới thích nên Minh Thành bỏ qua những bài kinh này, không muốn đọc nữa. Chính vì bị đầu độc từ trong tư tưởng nên chúng ta vô tình có ấn tượng không tốt đối với tạng kinh nguyên chất của Đức Phật. Sau đó cứ mải mê tìm những gì to lớn, trên trời, rồi cuối cùng chỉ toàn tham, sân, si, bản ngã. Cứ như vậy mà thời kỳ Chánh Pháp khép lại, đi đến chấm dứt và tượng pháp xuất hiện. Biết bao những tư tưởng ngàn hoa đua nở là sự xuất hiện của người ngu, diệu pháp này biến mất: “Này Kassapa, địa giới không làm diệu pháp biến mất, thủy giới… hỏa giới… phong giới không làm diệu pháp biến mất. Ở đây, khi nào các người ngu có mặt, chính họ làm diệu pháp biến mất” (Tương Ưng Bộ Kinh II, Chương V. Tương Ưng Kassapa, bài kinh Tượng Pháp).

Quán từ bỏ

Khi hiểu được giáo pháp này thì chúng ta ở đâu cũng cảm thấy hạnh phúc vì mình luôn hướng đến sự ly tham, từ bỏ.

Hôm qua, có một cô Phật tử cách xa hơn nửa vòng trái đất gọi về trình pháp với Minh Thành. Cô rất hoan hỷ, cảm ơn rất nhiều và chuẩn bị về đây tu học. Cô chia sẻ, khi cô mắc bệnh, con quán từ bỏ, khổ đau và cảm thấy hạnh phúc không thể tưởng tượng được. Từ thân cho đến tâm cô bị áp bức nhiều thứ nhưng nhờ quán nhàm chán, từ bỏ mà cô rất hạnh phúc, vì giống như được thoát ra khỏi thân tâm này, thoát khỏi thọ, tưởng, hành, thức này.

Đây là bí kíp sau cùng trong sự tu học. Khi nào quá rối, chúng ta quán từ bỏ, chết cũng mặc kệ, chỉ một lòng muốn thoát ra khỏi ngũ uẩn. Lưu ý, phương pháp quán chiếu này rất sâu sắc, phải hiểu tường tận, thâm sâu thì mới quán đúng cách. Khi đã thành tựu trí về ngũ uẩn, thành tựu sanh-diệt trí, hiểu duyên sanh pháp, hiểu các pháp tại sao sanh khởi, vận hành thế nào, vì sao hoại diệt… khi đã hiểu rõ ràng tất cả thì khi quán từ bỏ mới phát sanh cảm thọ, mới có sức mạnh của sự nhàm chán, yểm ly. Có như vậy thì quán từ bỏ mới có sức bật, cảm thọ về sự từ bỏ mới có đủ sức mạnh, có đủ oai lực để thoát ra. Minh Thành từng chia sẻ vài lần về sự từ bỏ này, quý vị cứ phân tích sắc, thọ, tưởng, hành, thức và quán từ bỏ sắc, từ bỏ thọ, từ bỏ tưởng, từ bỏ hành, từ bỏ thức. Đặc biệt khi nằm trên giường bệnh cứ quán bỏ hết tất cả những thứ này, dù chúng có rã rời, có tan nát, có hủy hoại thì cũng mặc kệ, vì mình đã quyết tâm từ bỏ. Hãy tập quán từ bỏ, vì không bỏ trước thì cũng phải bỏ sau, bây giờ không bỏ thì sau này cũng phải bỏ, không bỏ sớm thì cũng phải bỏ muộn, không bỏ mau thì cũng phải bỏ chậm, trước sau gì thì cũng phải từ bỏ. Cho nên, quán từ bỏ ngay từ bây giờ, đến khi có chuyện xảy đến thì ta có đủ sức mạnh để từ bỏ ngũ uẩn một cách nhẹ nhàng.

----

Chư Tỷ-kheo, nếu ở đây những người khác nhiếc mắng, phỉ báng, làm cho Như Lai tức giận, thì này các Tỷ-kheo, ở đây, Như Lai không có sân hận, không có bất mãn, tâm không phẫn nộ. Chư Tỷ-kheo, nếu ở đây, những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Như Lai, thì này các Tỷ-kheo, ở đây Như Lai không có hoan hỷ, sung sướng, Tâm không thích thú. Chư Tỷ-kheo, nếu những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Như Lai, thì này các Tỷ-kheo, ở đây Như Lai suy nghĩ: "Ðây là điều xưa kia đã từng biết rõ: ở đây là trách nhiệm Ta phải làm".

Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác nhiếc mắng, phỉ báng, làm cho các Ông tức giận, ở đây các Ông chớ có sân hận, bất mãn, tâm chớ khởi phẫn nộ. Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường các Ông, thì ở đây, các Ông chớ có hoan hỷ, sung sướng, tâm sanh thích thú. Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường các Ông, thì ở đây, các Ông hãy suy nghĩ: "Ðây là điều xưa kia đã từng biết rõ, đây là những trách nhiệm ta phải làm".

(Không sở hữu)

Do vậy, này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, các Ông hãy từ bỏ. Các Ông từ bỏ, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông? Chư Tỷ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ sắc. Các Ông từ bỏ sắc sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, thọ không phải của các Ông, hãy từ bỏ thọ. Các Ông từ bỏ thọ sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, tưởng không phải của các Ông, hãy từ bỏ tưởng. Các Ông từ bỏ tưởng sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, các hành không phải của các Ông, hãy từ bỏ các hành. Các Ông từ bỏ các hành sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ thức. Các Ông từ bỏ thức sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông.

Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Trong rừng Jetavana này, nếu có người thâu lượm cỏ, cây, nhành, lá rồi đốt hay làm với chúng tùy theo ý muốn, các Ông có nghĩ chăng? Người ấy thâu lượm chúng ta, đốt chúng ta hay làm với chúng ta tùy theo ý muốn?

-- Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì nó không phải tự ngã hay không phải sở thuộc của ngã.

-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, các Ông hãy từ bỏ. Các Ông từ bỏ sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, và cái gì không phải của các Ông? Chư Tỷ- kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ sắc. Các Ông từ bỏ sắc sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, thọ... (như trên)... Chư Tỷ-kheo tưởng... (như trên)... Chư Tỷ-kheo, hành... Chư Tỷ-kheo, thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ thức. Các Ông từ bỏ thức sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông.

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

./.