Pháp Hành Quán Chiếu Cảm Giác 1
PHÁP HÀNH QUÁN CHIẾU CẢM GIÁC 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tác ý hỷ lạc – hướng dẫn thực hành ba pháp PAGEREF _Toc74921299 \h 1
II. Cảm giác toàn thân PAGEREF _Toc74921300 \h 4
III. Trình pháp PAGEREF _Toc74921301 \h 7
IV. Lợi ích cảm giác toàn thân PAGEREF _Toc74921302 \h 8
V. Như Lý Tác Ý PAGEREF _Toc74921303 \h 13
I. Tác ý hỷ lạc – hướng dẫn thực hành ba pháp
Tất cả đại chúng thực hành ba pháp. Mắt mở ra nhìn xuống về phía trước, mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên rõ biết trước mặt, tuyệt đối không nhắm mắt. Tiếp theo trở về hơi thở, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở ở ba chỗ: chóp mũi, lồng ngực và bụng. Sau đó, quý vị mở bung cảm giác từ hơi thở, mở ra cảm nhận đỉnh đầu, hai vai, hai tay bàn tay, mình, mông, chân, bàn chân, cảm nhận cảm giác toàn thân. Thở vào làm cho thân tâm yên tịnh, thở ra làm cho thân tâm yên tịnh. Thở vào làm cho thân tâm lắng dịu, thở ra lắng dịu thân tâm. Cảm nhận cảm giác toàn thân trong nội tâm của mình. Tỉnh giác rõ biết trước mắt, trở về hơi thở, cảm nhận hơi thở, cảm giác toàn thân, sau cùng nội tâm tỉnh giác.
Thở vào thật là an tịnh, thở ra thật là nhẹ nhàng.
Thở vào lắng dịu, thở ra lắng dịu.
Thở vào thật là an tịnh, thở ra thật là nhẹ nhàng.
Thở vào lắng dịu, thở ra lắng dịu.
Thở vào cảm nhận được niềm vui, thở ra cảm nhận được niềm vui.
Thật là vui, thật là an lạc, thật là thanh tịnh trong giây phút này. Hơi thở bắt đầu nhẹ nhẹ dần, cảm giác bắt đầu nhẹ nhẹ dần, tâm bắt đầu nhẹ nhẹ dần. Toàn thân đều được an tịnh, đều được lắng dịu, đều được thấm nhuần trong cảm giác hỷ lạc ngay trong giây phút hiện tại. Mỉm cười nhẹ, cảm nhận sự hỷ lạc, cảm nhận sự an tịnh. Thở vào cảm nhận sự hỷ lạc, thở ra cảm nhận sự an tịnh. Mỉm cười lên! Hạnh phúc thay chúng ta đã trút bỏ được những thế sự. Hạnh phúc thay giờ này chúng ta đã trút bỏ được phiền toái của cuộc đời. Hạnh phúc thay giờ này chúng ta quăng bỏ hết tất cả hệ lụy.
Thật là vui sướng thay khi thân tâm an tịnh, nhẹ nhàng như thế này. Chúng ta đã lìa hết tất cả tham muốn về tài sắc dục lạc của thế gian thấp hèn, giờ này chúng ta đang có niềm hỷ lạc. Mỉm cười nhẹ lên, thở vào thở ra cảm nhận hỷ lạc. Để cho niềm hỷ lạc thấm nhuần từ đỉnh đầu, thấm xuống hai gò má, thấm xuống hai vai, lan tỏa ra. Mỉm cười lên lan tỏa xuống hai chân, xuống bàn chân, xuống lòng bàn chân. Thật là hạnh phúc thay, thật là vui sướng thay! Để cho hỷ lạc lan tỏa người gần bên cạnh mình, lan tỏa ra hết giảng đường này, lan tỏa rộng hết ra chùa Bửu Liên, lan tỏa hết phường 25, lan tỏa tới nhà mình, tới người thân mình lan tỏa tới những người thân thương của mình. Lan tỏa tới đâu mọi người đều thấm nhuần hỷ lạc tới đó, trang rãi mở rộng ra mỉm cười để hỷ lạc lan tỏa ra khắp thành phố, rồi lan tỏa khắp Đông Tây Nam Bắc trên dưới, lan tỏa hết bản đồ nước Việt Nam, lan tỏa ra rộng ra biến mảng khắp không giản. Mỉm cười lên, mỉm cười lên!
Đó là quý vị đang thực tập Hỷ vô lượng tâm, Minh Thành đưa quý vị vào quán tưởng. Đó là cái định Tứ vô lượng tâm, gọi là Hỷ vô lượng tâm. Phải nghe và làm y theo lời hướng dẫn thì quý vị mới vào cái định được. Nếu mình tác ý làm y theo là vào định của hỷ vô lượng tâm. Người tu tập thuần thục có thể trú trong định này suốt ngày, mỉm cười an lạc hoài, muốn an lạc là an lạc, muốn dừng lại là dừng lại. Trong Phật pháp không có môn “khổ vô lượng tâm”, nhưng người phàm phu không học Phật pháp chính họ làm cái khổ trở thành vô lượng. Họ cứ để cho cái khổ thấm nhuần, họ chìm sống trong đó, Phật không dạy cái đó mà mình đi theo cái đó là mình khổ.
Quý vị phải nhớ kĩ ba pháp: rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, cái này rất quan trọng. Nếu quý vị thực hành được thì quý vị mở được kho tàng châu báu của Chánh Pháp. Minh Thành sẽ nói tại sao là mở được kho tàng. Học ba cái này không phải lúc vào ngồi mình mới thực tập, mà bất cứ lúc nào: khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi nói, khi nín lúc nào cũng rõ biết trước mặt. Rõ biết trước mặt là nhìn phía trước, không bám vào một điểm nào hết, mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên để cái nhìn rất rộng, rất rõ, rất sáng tỏ. Nhớ khi trong lúc ngồi niệm Phật, ngồi thiền, tuyệt đối không nhắm mắt vì mình nhắm mắt một lúc là nó sẽ mờ mờ.
Nhắm lại là tối, tối là vô minh; lờ đờ là si; rồi vào trạng thái hôn trầm, là trạng thái chìm vào chỗ mờ tăm tối; rồi ngủ gục. Như vậy thời ngồi niệm Phật, ngồi thiền của mình là vô ích, không có giá trị, uổng công. Đó là mình đang ngồi nuôi dưỡng vô minh và si mê chứ không phải ngồi thiền, không phải niệm Phật. Ngồi rồi nhắm, thở mấy hơi, một hồi là mình không biết gì nữa hết. Một là mình hôn trầm, si mê tăm tối, hai là mình loạn tưởng, lờ mờ. Một hồi là bao nhiêu hình bóng, hết bóng này tới bóng kia, đó là vọng tưởng, hôn trầm, si mê, vô minh, chứ sao gọi là thiền, sao gọi là tĩnh tâm niệm Phật.
Cho nên tuyệt đối không nhắm mắt, nhớ kỹ, chừng nào chứng A-la-hán quả mới nhắm mắt được. Mình nói tới mức cuối cùng là thà vọng tưởng chứ không để hôn trầm. Vọng tưởng là mình biết lúc đó đang vọng tưởng thì mình vẫn còn tỉnh táo, tỉnh giác. Còn hôn trầm thì mình không biết, đó là si, là vô minh. Mình tu là tu theo trí huệ, mà mình ngồi với vô minh, cho nên tu hoài không tiến bộ là vì vậy.
Cho nên, rõ biết trước mặt rất hay, nhưng mình không trú vào một điểm, vì nếu mình trú vào một điểm, một lúc sau nhìn nền nhà là ra con mèo, con chuột, còn quạ, con rắn, đủ hết. Vì mình trú một điểm là sẽ tưởng, nên mình không trú vào một điểm. Mình nhìn chung hết, sáng tỏ trước mắt, mở rộng ra hai bên. Lúc đó nhãn thức của mình trong sáng, tỏ rõ, cái biết rõ ở nơi mắt của mình.
Cho nên nhớ pháp tu của Đức Phật là trí huệ, cái nào cũng sáng tỏ, không cái nào được mờ. Vừa lờ mờ là mình đẩy ra liền, đánh đuổi nó ra không cho nó ở trong tâm mình. Ngồi lờ mờ thì đi ngủ sướng hơn. Mình đang buôn bán hay coi tiệm vàng hoặc hạt xoàn hay bán hàng cao cấp, nói chuyện với đối tác mà lờ mờ rồi sao làm ăn buôn bán. Làm ăn, buôn bán, tính toán mà mình còn phải tỉnh táo, tập trung, sáng tỏ; cho nên tu mà mình mù mịt thì từ trước đến nay không tiến bộ là do vậy. Phải minh mẫn, phải sáng suốt, phải tinh anh trong giờ mình ngồi thiền, trong giờ mình niệm Phật. Phải sáng tỏ hơn những sáng tỏ bình thường ngoài đời mới được.
Mình kiểm toán trước giờ mình tu như thế nào? Bắt chân lên, lên trước chánh điện, trước bàn Phật, ngồi, hai gò má một hồi là xệ xuống. Lúc đầu ngồi thẳng ngon lành, sau đó sụm xuống, mặt xệ xuống, đầu gục xuống. Tướng này là tướng của khổ, si mê, vô minh chứ không phải tướng chánh niệm tỉnh giác. Tu kiểu như vậy thì một trăm năm cũng không được hiểu quả gì hết. Cho nên nhắc lại lần cuối, mình phải nhớ: rõ biết trước mặt, cảm nhận cảm giác toàn thân.
II. Cảm giác toàn thân
Đầu tiên mình phải theo hơi thở coi hơi thở ra vào ra làm sao, mình để ý một hồi nó động ở chóp mũi, nhìn kỹ thấy dao động chỗ lồng ngực, mình để ý kỹ thấy bụng mình phồng xẹp. Ba chỗ mình thấy rõ nhất khi hơi thở động chuyển vào ra: chóp mũi, lồng ngực, bụng, lúc đó mình phải nhìn cho ra sự động chuyển đó. Mình nhìn kĩ, để hơi thở vô biết hơi thở vô, hơi thở ra biết hơi thở ra một cách rõ ràng. Sau đó mình sẽ thấy hơi thở động chuyển ở ba chỗ: chóp mũi, lồng ngực và bụng. Khi mình thấy như vậy, bắt đầu mình mở bung cảm giác ở ba chỗ đó cho nó lan tỏa ra.
Lúc đầu chỉ có mũi, lồng ngực và bụng, sau đó mình mở ra lên đỉnh đầu, mở ra hết gương mặt để mình cảm nhận. Tức là mình cảm nhận cảm giác của toàn thể đầu và mặt của mình, kế đó mình cảm nhận cảm giác của hai vài, từ từ mình lan tỏa xuống hai cánh tay, dài dài ra tới hai bàn tay. Cảm nhận cảm giác ở lồng ngực mở rộng ra hết bụng, hết thân, rồi tới mông, rồi tới chân, hai bắp vế, hai ống chân, dài xuống hai bàn chân, hai gót chân, cảm giác toàn thân. Làm được như vậy tâm sẽ rất sáng tỏ ở nơi tự thân của quý vị, rõ hết trong thân thể của mình. Nếu như mình chỉ có hơi thở hoặc chỉ có câu niệm Phật thì cái biết của mình rất nhỏ. Chỉ biết hơi thở còn những cái khác không biết, hoặc biết câu niệm Phật, thì pháp đó nhỏ, không phải là pháp toàn thể. Còn pháp này đức Phật dạy cảm giác toàn thân là cái biết của mình trở thành toàn diện trong thân mình.
Minh Thành sẽ giải thích tại sao đức Phật dạy mình cảm giác toàn thân? Phải biết tại sao, mục đích của nó là cái gì, tại sao mình phải làm như vậy? Mình là Phật tử, mình tu theo Phật, mục đích của mình là nhiếp phục tham, sân, si, mình trị ba tên rắn độc tham, sân, si, mình muốn dẹp tham, sân, si. Đó là mục đích của người tu. Vậy tham, sân, si nằm ở đâu? Nếu mình không biết được chỗ ở của phiền não chỗ ở của tham sân si thì không thể nhiếp phục, trị nó được.
Bây giờ mình nói mình đi đánh giặc mà không biết giặc ở đâu sao đánh, nói chung chung không được. Ví dụ mình leo lên taxi kêu chở tôi đi đây, đi đây là đi đâu? Nói ở Quận Bình Thạnh nhưng Bình Thạnh ở chỗ nào, nói phường 25, nhưng nó lớn như vậy, số nào, nói khoảng số 200, cũng không được, phải chính xác số mấy. Cũng vậy mình đi dẹp phiền não mà không biết phiền não ở đâu thì sao dẹp. Tới bây giờ lờ mờ tham, sân, si không biết ở đâu thì phải làm sao? Tham, sân, si ở trong cảm giác.
Khi mình nổi nóng mình để ý cảm giác mình nó khác. Khi nổi nóng lên, từ lồng ngực phát ra, đây là chỗ trung ương, trung tâm, trung khu. Dễ thấy nhất là lồng ngực nóng, rồi lan tỏa đầu nóng, mặt mình nóng, hai lỗ tai mình nóng ửng đỏ, bắt đầu chạy ra toàn thân. Cảm giác nóng bức đó tùy theo giận ít hay giận nhiều hay giận dữ dội. Nếu giận ít, bực mình ít, thì chỗ lồng ngực nóng ít, ấm ấm thôi; nếu giận nhiều sẽ lên tới mặt, tới lỗ tai; nếu giận dữ dội có thể cả thân thể mình đốt cháy, lúc đó hỏa đại bốc lên. Đây là Minh Thành kết hợp với tứ đại, vì thân mình là tứ đại, mình nhìn thì không thấy, phải quán chiếu mới thấy. Minh Thành chú trọng vào cảm giác để quý vị thấy rằng tham, sân, si hay vô minh, chấp ngã v.v... đều trú trong cảm giác.
Khi tham nổi lên cảm giác mình khác, nó thay đổi. Sợ hãi nổi lên cũng thay đổi. Nhiều khi Minh Thành nằm chiêm bao thấy lúc mình giận tự nhiên nói tiếng mệt lắm, nói câu không có ra, giọng mình đổi liền. Cho nên mình nghe tiếng điện thoại mình biết người đó đang có cảm giác gì. Nếu họ giận họ đổi giọng ngay, âm giọng bị thay đổi; còn lúc vô tư thì nói chuyện bình thường. Tại sao mình biết người đó đang giận? Từ trong cảm giác người đó nung lên, đẩy lên, nó biểu hiện ra mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Mình thấy có cảm giác tham dục nổi lên, nó biến động cảm giác toàn thân liền. Cảm giác của si, vô minh là cảm giác là trì trệ, nặng xuống, co lại.
Thí dụ sắp hôn trầm, mặt và hai má xệ xuống, con người co rút lại, tâm trì trệ. Trong cảm giác nặng nề, trì trệ, co rút đó là cảm giác của vô minh, si mê, cảm giác của tiêu cực, của thụ động, cảm giác của giãi đãi, lười biếng, co rút, không muốn hoạt động. Cho nên để ý thường cảm giác, sẽ thấy rõ bộ mặt của tham, sân, si. Ví dụ bốn giờ sáng thức dậy để tụng kinh, ngồi thiền nhưng lúc đó mình có cảm co rút, trùm mền. Người ta gọi là “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Cảm giác lờ đờ, mờ mờ, trì trệ, thụ động, tiêu cực, trì trệ, không có muốn năng động, không có muốn tỉnh táo, sáng suốt đó là cảm giác của si, của vô minh. Như vậy mình đã thấy được căn cứ địa của phiền não chưa?
Cho nên mình thường nhìn lại cảm giác toàn thân, khi có một biến động, vừa manh nha khởi lên là mình thấy được liền và lúc đó mình sẽ có cách hóa giải, chứ không phải thấy được là xong. Mình nói “Tham tôi biết có tham, sân biết có sân”, nhưng rồi nhào vô luôn. Cái biết của mình không đủ sức mạnh để chặn đứng lại do tập khí thói quen quá mạnh mẽ. Cho nên cái biết yếu đuối, cái biết của sự chánh niệm, tỉnh thức còn non, không đủ sức, gọi là thắng không ăn, tuột thắng, nên chỗ này mình cần để ý, rất quan trọng trong sự tu tập của mình.
Quý vị nhớ ba cảm giác, nói theo chứ Hán là: lạc thọ, khổ thọ và bất khổ bất lạc thọ. Cảm thọ là cảm giác. Mình nói dễ hiểu là: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu không khó chịu.
Thứ nhất, mình lại ngồi lại, nhìn xuống xem thân mình có cảm giác gì? Trong ba cảm giác có cảm giác gì?
Thứ hai, xem coi tưởng uẩn của mình có hình bóng gì trong tâm? Nhắm mắt lại, lắng tâm, nhìn kĩ, xem hiện tại trong tâm mình có hình bóng gì không?
Thứ ba, song song với hình bóng là những lời nói thầm thầm, tức là hành uẩn, những suy nghĩ.
III. Trình pháp
Quý vị xem kĩ lại ba cái: cảm giác, những hình bóng, những lời nói lầm thầm. Nhắm mắt kĩ, nhận rõ, lắng tâm sâu nhìn kỹ lại nội tâm của mình.
Phật tử 1:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính thưa thầy và quý đại chúng, trong năm phút tỉnh giác của con, con nhận biết sắc thân của con là con đang ngồi ở giảng đường, con đang hít thở một cảm giác thật an lạc. Tưởng là con nhớ tới những người bạn, thỉnh thoảng chủ nhật hay đi rủ nhau đi thọ bát và đi tu niệm Phật một ngày, con nhớ những người bạn đó, con nghĩ không biết giờ này họ đang làm gì. Hành của con có một tiếng nói trong đầu nếu như mình rủ bạn mình đến đây họ nghe thầy giảng như vậy không biết họ có hiểu hay không, cảm giác như thế nào, tại vì tu như vậy chưa nghe bao giờ. Thức con biết con đang ở đây và hoan hỷ. Con thấy con gái con có dẫn theo mấy người bạn, con không biết các cháu nhỏ đó có hiểu hay không.
Phật tử 2:
Con kính bạch thầy và chư Tăng ở đây. Ở nhà con cũng hay ngồi thiền và hôm nay con được hành năm phút ngồi thiền do thầy dạy bảo. Ngồi thiền con cảm thấy an lạc, bình an được trong chùa Bửu Liên, con hít thở thì biết mình đang hít vào thở ra. Các tế bào của con cũng cũng thở theo. Có cảm giác bao tử hôm nay sao lại nóng nóng. Con cũng bảo “Sao bao tử lại nóng thế.” Và cũng nghĩ tới bao tử. Con hít vào thở, thở ra một lúc thì thấy hết, thầy cảm giác nhẹ nhõm đi. Tưởng thì con không tưởng đến ai, ngồi đây con cắt hết, tất cả thân tâm con đều ở đây.
Sư phụ: Khi mình nói hôm nay bao tử mình sao vậy, thì câu nói là hành, là lời nói thầm trong tâm của mình, hành uẩn. Nếu đã học, khi nghĩ tới bao tử, thì hình ảnh bao tử hiện lên lờ mờ, thì đó là tưởng. Tưởng là hình bóng, hành là lời nói lầm thầm, thọ là cảm giác, dễ chịu là lạc thọ – cảm giác dễ chịu.
Phật tử 3:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kinh bạch thầy, kính thưa quý Phật tử. Nãy giờ ngồi, con thấy rất mừng, rất hồi hộp. Con mừng vì lần đầu tiên được thầy dạy cho pháp hành, con rất vui sướng, thoải mái, cảm thấy rất hỷ lạc khi được ngồi ở chùa Bửu Liên. Con rất hồi hộp, suy nghĩ cố gắng thực hành tốt pháp hành của thầy. Trong tư tưởng của con đang nghĩ lúc ở nhà thường nghe pháp của thầy. Gần đây con nghe bài Ba sự thật vĩ đại, lúc đang ngồi là con nghĩ về bài pháp của thầy, con cảm thấy rất thoải mái, an lạc.
Phật tử 4:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Bạch thầy, thưa đại chúng. Hôm nay, ở đạo tràng chùa Bửu Liên, con được thầy Thích Minh Thành hướng dẫn pháp hành, lí thuyết và thực hành song song. Trong không khí của đạo tràng hôm nay con thấy rất yên lặng, chưa có buổi pháp nào mà chỉ nghe lời thầy giảng, không khí trong lành, không một tiếng động, Phật tử rất yên ắng. Con cảm thấy an lạc và bình an. Con rõ biết hơi thở từ chóp mũi đến lồng ngực, buồng phổi, đến bụng và ngược lại theo tuần hoàn. Không có buổi ngày hôm nay con có cảm tưởng ngày qua ngày, giờ qua ngày là mình cứ hít thở tự nhiên, chứ không cảm giác rõ như thế này. Con sẽ mang pháp hành này để hướng dẫn lại các con trong gia đình, con thấy hôm nay điều nay rất hay.
V. Lợi ích cảm giác toàn thân
Ngày xưa Đức Phật còn tại thế dạy cho các Tỳ-kheo phương pháp quán chiếu năm uẩn, nhưng để đi vào phải có những bước chuẩn bị. Cho nên hôm này chúng ta chỉ nắm căn bản ba pháp và cảm thọ.
Đầu tiên quý vị nhớ ba pháp mà Minh Thành nhắc đó là: rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Nội tâm tỉnh giác tức là trong tâm của mình lúc nào cũng tỉnh táo, sáng tỏ để mình thấy rõ trước mắt, thấy rõ cảm giác của mình đang như thế nào. Tức là nội tâm lúc đó nó tỉnh, nó rõ, nó sáng, nó biết. Trước hết là rõ biết trước mặt, kế đó biết được cảm giác toàn thân, kế đó là mình có tham, sân mình phải biết, như vậy gọi là nội tâm tỉnh giác. Minh Thành sẽ nói từ nhỏ đến lớn về cái giá trị của từng phần.
Khi thực tập cảm giác toàn thân này thì quý vị sẽ là tự là bác sĩ cho chính mình. Tại vì những bệnh mới bắt đầu manh nha thì mình phát giác ra liền, vì trong cảm giác mình thấy rất rõ. Cho nên có nhiều người bị đau cột sống, đau lưng, hay đau vai, thấy đau đau chút bỏ qua, tới chừng đi khám không trị được hoặc bị rất nặng. Bây giờ mình thực tập cảm giác toàn thân nó vừa biến đổi gì khác trong cảm giác là mình phát giác được liền. Lúc đó mình sẽ tự trị hoặc cần thiết mình đi tới bác sĩ hỗ trợ điều trị cho mình thì sẽ chặn đứng cái bệnh khi mới nảy mầm bệnh. Đó là nói về phẩn cơ thể ,vật chất, thể chất.
Còn tinh thần có rất nhiều lợi ích, Minh Thành điểm qua một vài điều. Nếu mình thường để ý cảm giác toàn thân, mình sẽ bảo vệ được hạnh phúc gia đình, mình sẽ giữ gìn được tình nghĩa của vợ chồng, mình sẽ có được sự gắn kết giữa bạn bè đồng nghiệp khi mình làm việc. Chẳng hạn khi mình có cảm giác khó chịu sanh khởi trong nội tâm, lúc đó ông xã ông đi làm về trễ, bình thường năm giờ về, nay tám giờ ông mới về, mà mình đang bực mình, khó chịu, mệt. Mình biết mình đang có cảm giác khó chịu. Lúc đó ông xã về lại phát ra cảm giác khó chịu, những lời nói hơi gay gắt, mà ông đi về trễ nữa.
Nếu mình không nhìn lại cảm giác thì như thế nào? Cảm giác khó chịu gặp cảm giác khó chịu mà nó không chịu khó, thì rất dễ xảy ra chuyện. Nhưng bây giờ mình thường thực tập cảm giác nên mình biết mình đang có cảm giác khó chịu phải đề phòn,g phải cẩn thận. Lúc mình đang có cảm giác khó chịu, thứ nhất mình phải có sự chánh niệm, có sự tỉnh thức, có sự làm chủ cảm xúc, làm chủ cảm giác và có sự cẩn thận, đề phòng, thận trọng. Lúc trước mình không để ý, mình không có nhìn, hễt vui thì thoải mái. Còn lúc bực mình, mà gặp người mình bực, “bực mình” và “mình bực”, hai bực gặp nhau, bình phương lên bực rồi phực. Bây giờ mình có sự làm chủ, kiểm soát, có sự quản lý, có sự nhìn rõ thì lúc đó mình có thể điều chỉnh được cảm giác, có thể quản lý cảm xúc.
Minh Thành chỉ cách chuyển hóa phiền não trong cảm giác. Trong bài kinh Đoạn tận:
“Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.
Này các Tỷ-kheo, tham tùy miên đối với lạc thọ cần phải đoạn tận. Sân tùy miên đối với khổ thọ cần phải đoạn tận. Vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ cần phải đoạn tận.”
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập IV, Chương II. Tương Ưng Thọ,
Phần I. Phẩm Có Kệ, bài kinh Đoạn tận)
Thế nào gọi là tham tùy miên đối với lạc thọ? Một khi mình có một cảm giác thích thú, khoan khoái, vui sướng, dễ chịu thì đi theo cảm giác đó là gì? Thí dụ như trưa nay nhà bếp đãi bảy, tám món ăn: canh chua bông súng, bắp cải, gà chay, cơm niêu, bánh xèo, bún riêu, phở,... Lúc đó mắt mình nhìn thấy, thì đó là thọ do nhãn xúc sanh, tức là cảm thọ, cảm giác từ khi con mắt tiếp xúc phát sanh ra. Cảm giác vui sướng, dễ chịu, khoan khoái, thích thú thì tham đi kèm theo. Đây là căn cứ địa của phiền não. Đừng nghĩ tham là chuyện tình cảm nam nữ, hay ăn cắp đồ mới là tham, đó là tham của phàm phu. Còn trí huệ của người tu là luôn luôn biết lúc nào nó có mặt và lúc nào không có mặt trong nội tâm của mình.
Cho nên khi mình ăn một món ngon, khi mình nghe một tiếng khen, khi mình đang ở ngoài trời nắng nóng 38℃ mình bước vào trong máy lạnh 23℃, tất cả cảm giác dễ chịu thích thú, khoan khoái, ngon miệng, mát mẻ đều có dục và tham đi theo. Chữ tùy miên, “tùy” là đi theo, “miên” là miên man, bất tận. Tham đi theo một cách miên man, bất tận gọi là tùy miên, Đức Phật dùng từ khiếp không? Trí huệ Phật mới thấy được. Cho nên lúc nào mình thấy có một cảm giác khoan khoái, thích thú, dễ chịu, sung sướng lúc đó mình phải nhìn kỹ liền, phát hiện ra tham trong đó. Đây là con mắt tinh vi, trí huệ, mắt pháp bắt đầu thành tựu.
Ví dụ thêm, gần đến mùa sầu riêng, sầu riêng trên Linh Quy Pháp Ấn rất đặc biệt, không thuốc, không phân, không tưới, hoàn toàn tự nhiên. Múi sầu riêng này vừa thơm, vừa béo, vừa ngọt, vừa bổ, vừa bùi. Nói thêm nữa, lâu quá mình không có ăn me, Minh Thành đi nhà hàng được người ta cho ly đá me, có đậu phồng ở trên, ở dưới khèo đường với mật ong, nước đá để lên. Trời trưa nắng 37 ℃, ực ly đá me vô, thì như thế nào? Mình thấy nãy giờ tâm của mình làm việc ra sao? Minh Thành ví dụ để quý vị nhìn thấy cảm thọ, cảm giác của mình. Thọ, tưởng, hành, thức của mình hoạt động liên tục trong lúc Minh Thành nói. Khi Minh Thành nói trái sầu riêng, quý vị thấy từng múi, nghĩ nó có gai sao, ở bên trong bao nhiêu múi.
Chẳng những vậy, còn để vô miệng nếm, nghe mùi, cảm nhận vị, mắt thấy, lỗ tai nghe. Nó liên tục bên trong, tâm mình hoạt động rất ghê gớm. Hình bóng trái sầu riêng là tưởng. Bên trong nói thầm thầm: “Kỳ này mình lên Linh Quy Pháp Ấn” đó là hành, mình thấy hình mình ăn luôn. Lúc đó thọ mình thấy thơm, béo, bổ rồi chảy nước miếng, chứ không phải tự nhiên chảy nước miếng, mà thọ, tưởng, hành, thức vận hành. Thức biết rõ biết có hình bóng trái sầu riêng đó, có cái lời nói đó, ăn có cảm giác đó, thức rõ biết hết điều đó. Nói tới me hay món ăn khác cũng vậy. Ngũ uẩn của mình luôn vận hành, mình hiện đang chú trọng vô cái thọ thì những cảm giác dễ chịu, khoan khoái đó có tham đi theo, nếu mình không có chánh niệm
Kẻ vô văn phàm phu, tức là kẻ phàm phu không nghe Chánh Pháp, mình đừng tưởng nghe lung tung lang tang đó là nghe Chánh Pháp. Chánh Pháp là mình phải nghe đúng trong kinh Nikāya. Về sau Minh Thành sẽ nói cho quý vị, nghe đúng Chánh Pháp mới phá được tham, sân, si. Còn mấy cái kia là tâm lý, xã hội, đạo đức, sống tốt là khác, còn Chánh Pháp ở đây phải đoạn tận được tham, sân, si, phá được phiền não. Đức Phật nói: “Kẻ vô văn phàm phu không nghe Chánh Pháp, khi cảm giác một cảm giác một cảm giác vui sướng thì giống như đang bị trói buộc, khi một cảm giác một cảm giác khó chịu, khổ thì giống như đang bị trói buộc, khi cảm giác một cảm giác không khó chịu không dễ chịu cũng giống như đang bị trói buộc.”
Tại sao? Ví dụ mình từng đã nếm qua món ăn đó rồi, hoặc mình đã từng có những cảm giác dễ chịu về người nào đó hoặc một sự vật sự việc nào đó. Mỗi khi trong tâm mình muốn trở lại cảm giác đó, nếu cái muốn đó không được là khổ. Như vậy là bị trói buộc vào cảm giác đó rồi. Nói đơn giản người ăn ớt, dù cho đến chỗ đó có thật nhiều món ngon, nhưng không có trái ớt thấy không ngon, đó là cảm giác mình bị trói buộc, bị trói cột.
Chuyện dễ hiểu nhất, bạn bè nam nữ yêu thương nhau, cảm giác yêu thương đó cũng bị trói cột. Trói cột tới mức nó không biết cảm giác là cảm giác. Cho nên có trường hợp hai đứa quen nhau, bạn gái không muốn qua lại với cậu này nữa, quen bạn trai khác. Khi thấy bạn gái cũ được thanh niên khác đăng hình lên facebook, thì xảy ra án mạng, ghen tuông tới mức độ như vậy. Tất cả điều đó đều là si mê ở trong cảm giác. Mình đau khổ dài dài, mình đã đau khổ về cảm giác, mình đang đau khổ về cảm giác và mình tiếp tục khổ đau vì cảm giác nếu mình không biết tu tập theo Chánh Pháp.
Mình không thấy tại vì bị tham dục trong cảm giác đó, bị bản ngã trong cảm giác đó. Muốn chiếm người đó, muốn chiếm cảm giác duy nhất đó chỉ là của nó. Nhưng không biết rằng không có gì là tôi, không có gì là của tôi, cảm giác đó là vô thường. Làm sao cảm giác đó là duy nhất, độc chiếm một mình được. Thân này là vô thường, cảm giác là vô thường, tất cả sự yêu thích, hờn giận đều là vô thường, biến đổ. Do mình không biết được biến đổi đó, mình muốn chiếm hữu, mình muốn duy nhất một mình mình có, từ đó là mình khổ đau nếu mình không biết tu tập.
Nếu mình có làm chủ cảm giác, có nhìn nhận, mình biết cảm giác khó chịu khổ như thế nào. Cho nên mình không muốn những người thân, bạn bè đồng nghiệp của mình phải chịu cảm giác đó. Một khi người khác nổi sân lên với mình, mình thấy cảm giác rất khó chịu nên mình không muốn nổi sân với người khác. Cái đó là trí huệ từ từ phát sanh. Sân tùy miên là cảm giác khó chịu sân đi theo.
Ví dụ như mình đi ngoài nắng 38℃, có cảm giác khó chịu. Cảm giác khó chịu đó là bình thường nhưng trong cảm giác đó mình cộng thêm cái bực bội, cái bực bội đó mới là cái xấu, mới là cái sân. Để ý thật kĩ chỗ này. Nếu như mình gặp trường hợp khó chịu nóng hay lạnh, cảm giác đó là bình thường. Mình biết lúc đó cảm giác khó chịu vì nắng nóng, cảm giác khó chịu vì lạnh nhưng ở phía trong cảm giác khó chịu đó có bực bội “Tại sao trời nóng dữ vậy, bực bội khó chịu quá đi.” Thì đó là từ cảm giác thân đi qua cảm giác của tâm. Có hai loại cảm giác: cảm giác của thân và cảm giác của tâm. Từ cảm giác khó chịu của thân nó đẩy qua cảm giác khó chịu của tâm, sanh ra bực bội, đó là sân. Thường thường mình không tu tập thì luôn luôn cảm giác khó chịu có sân đi theo. Cho nên Đức Phật gọi là sân tùy miên, sự bực bội sẽ đi theo miên viễn trong cảm giác khó chịu nếu mình không biết tu.
V. Như Lý Tác Ý
Bây giờ làm sao mình chuyển hóa phiền não trong cảm giác này? Ví dụ bây giờ khởi cái bực lên mình dùng Như lý tác ý. Như lý tác ý là mình suy xét đúng Chánh Pháp, xét dúng sự thật, mình dùng những lời nói đúng Chánh Pháp suy xét. Sắp sửa nổi giận, thấy cảm giác nóng, bừng bừng lên, mình nói “Bộ giận sướng lắm hả con, giận sướng lắm hả mày, giận khỏe lắm hả, giận vui lắm hả, có biết cái giận này dẫn đi tới đâu không?” Mình hỏi cơn giận, tất cả tham, sân, si chỉ là một pháp, mình phải đối thoại với nó, nó không phải mình. Cái này rất quan trọng, là phương pháp hành, phải để ý kĩ.
Mình phải đối mặt, nhìn thẳng vào mặt nó, nó nóng trong lồng ngực, mình để cái tâm vô ngay chỗ nóng nói chuyện mới nó vì nó là một pháp. Nói chuyện ngay chỗ đó một hồi “Giận sướng lắm hả, vui lắm hả, khỏe lắm hả? Giận rồi đi đến đâu?” Quán chiếu sự nguy hiểm của cơn giận, rồi mình xem cơn giận này đưa tới đâu? Đưa tới vợ chồng không nhìn mặt nhau, khó chịu với nhau, rạn nứt tình cảm, ly thân, ly dị, thậm chí đi tới chỗ giết nhau. Ngay thời Đức Phật đã có trường hợp đó. Trong tạng kinh mình thấy có một, hai trrường hợp, nhưng bây giờ trên báo ngày nào cũng có. Tất cả cái đó đều từ cảm giác sân. Nguy hiểm là cảm giác sân hận này, cái sân này đưa mình tới chỗ khổ mình, khổ người, khổ cho cả hai, khổ cho tất cả, không có lợi ích. Chấm dứt đi, đẩy cảm giác sân ra, rồi đóng của lại không cho vào nhà, trừ bỏ nó, diệt tận nó, không chấp nhận nó bứng gốc rễ nó, quăng nó đi, không cho nó sanh khởi trong nội tâm mình nữa.
Lúc đó mình đang dùng Như lý tác ý, đây là pháp lệnh Đức Phật dạy trong kinh Nikāya. Lúc mình nói như vậy là mình đối thoại nó, bắt đầu mình dùng tâm từ trị nó. Chỗ nào nóng, mình hướng tâm vô đó mình nói, nếu mình mạnh, thì nói như vậy là chỗ đó bắt đầu tan từ từ, lắng dịu. Nếu chưa lắng, mình dùng mạnh hơn nữa, mình dùng từ bi quán, nói: “Người ta không hiểu đạo mà, thôi tha thứ cho người ta đi, chấp nhất làm gì. Tu để cho dễ thương chứ, người ta sân si không hiểu đạo, giờ mình sân si với họ thì mình như vậy có khác gì người ta đâu. Thôi tha thứ đi, mở rộng tình thương đi.” Mình nói dỗ ngọt nó, nhưng tùy lúc, có lúc mình dùng đấm, có lúc mình xoa, có lúc vừa đấm vừa xoa, trong uống ngoài thoa, để trị tâm bệnh.
Quý vị hướng tâm vào chỗ đó quán chiếu thì cái sân sẽ tan, chỗ nóng tan từ từ, mát dần dần, dịu lần lần. Đó là quý vị trị tận gốc của phiền não. Vấn đề uống ly nước lạnh, hay tránh mặt chỗ khác, hay niệm câu niệm Phật, thì một hồi lại giận nữa. Còn đây là quý vị trị tận gốc phiền não, đào xong rồi mình bứng gốc, rồi đi tới đoạn tận tham, sân, si. Sâu sắc như vậy đó. Tại vì nó phát chỗ nào, mình trị ngay chỗ đó, thấy rõ nó tan luôn. Tất cả cảm thọ tham, sân, nóng giận tan ngay chỗ đó. Trị như vậy hoài thì sẽ thấy sân không có lợi ịch gì, sân rất nguy hiểm. Nếu thấy rõ là hết sân luôn. Đây là pháp của Đức Phật dạy, hiểu thì nó màu nhiệm, nhưng thực hành thì nó mới nhiệm màu.
Nói rộng ra cảm giác này rất hay, Đức Phật dạy rất rõ. Lúc nào thấy nó trì trệ, lờ đờ, mờ mờ, không tinh tấn thì tìm cánh trị liền. Mình nói: “Giờ này là giờ nghe pháp, muốn ngủ hả? Ngủ mấy chục năm chưa đã hả con? Ngủ vô lượng kiếp rồi giờ tính ngủ tiếp hả? Ngủ giấc ngủ ngàn năm không chịu nghe chân diệu pháp phải không? Tỉnh đi!” Mình phải dùng cái roi quất mạnh con trâu đen. “Tại sao mày si mê như vậy, tại sao mê muội như vậy? Đam mê cái này thì muốn làm tông đồ, đệ tử của Trư Bát Giới hả?” Mình hướng vào ngay chỗ trì trệ trong đầu, hay trên mặt, hay trong lồng ngực,… mình nói với nó, thì tự nhiên nó tan ra. Đây là trực tiếp đánh thẳng vào tổng hành dinh của phiền não, chứ không phải ngồi tưởng tượng, lạy cầu Phật độ. Nếu cứ như vậy thì mấy chục năm cũng vẫn sân si, phiền não y nguyên. Phật làm sao độ được, mình phải tu, phải thực tập pháp Phật dạy, phải nhìn ra nó như thế nào, ở chỗ nào?
Cho nên thường thường Minh Thành nói phải biết được tên tuổi, mặt mũi, tánh tình của phiền não thì mình mới trị nó được. Tên tuổi nó là cái gì? Mặt mũi nó là cái gì? Tánh tình nó là cái gì? Tác hại nó như thế nào? Vận hành ra làm sao? Phải thấy rõ hết, không cái nào mình không rõ. Như vậy mới gọi là toàn giác, như vậy mới gọi là chánh giác, như vậy mới gọi là tỉnh giác, như vậy mới gọi là trí huệ, trí giác. Giờ nghe pháp cũng vậy, giờ tụng kinh cũng vậy, giờ ngồi thiền thì gục là xong luôn, hết cuộc đời luôn. Cho nên tu hoài mà không thấy gì hết, bó tay, bó chân, bó người rồi cuối cùng là bó chiếu.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tác ý hỷ lạc – hướng dẫn thực hành ba pháp PAGEREF _Toc74921299 \h 1
II. Cảm giác toàn thân PAGEREF _Toc74921300 \h 4
III. Trình pháp PAGEREF _Toc74921301 \h 7
IV. Lợi ích cảm giác toàn thân PAGEREF _Toc74921302 \h 8
V. Như Lý Tác Ý PAGEREF _Toc74921303 \h 13
I. Tác ý hỷ lạc – hướng dẫn thực hành ba pháp
Tất cả đại chúng thực hành ba pháp. Mắt mở ra nhìn xuống về phía trước, mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên rõ biết trước mặt, tuyệt đối không nhắm mắt. Tiếp theo trở về hơi thở, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở ở ba chỗ: chóp mũi, lồng ngực và bụng. Sau đó, quý vị mở bung cảm giác từ hơi thở, mở ra cảm nhận đỉnh đầu, hai vai, hai tay bàn tay, mình, mông, chân, bàn chân, cảm nhận cảm giác toàn thân. Thở vào làm cho thân tâm yên tịnh, thở ra làm cho thân tâm yên tịnh. Thở vào làm cho thân tâm lắng dịu, thở ra lắng dịu thân tâm. Cảm nhận cảm giác toàn thân trong nội tâm của mình. Tỉnh giác rõ biết trước mắt, trở về hơi thở, cảm nhận hơi thở, cảm giác toàn thân, sau cùng nội tâm tỉnh giác.
Thở vào thật là an tịnh, thở ra thật là nhẹ nhàng.
Thở vào lắng dịu, thở ra lắng dịu.
Thở vào thật là an tịnh, thở ra thật là nhẹ nhàng.
Thở vào lắng dịu, thở ra lắng dịu.
Thở vào cảm nhận được niềm vui, thở ra cảm nhận được niềm vui.
Thật là vui, thật là an lạc, thật là thanh tịnh trong giây phút này. Hơi thở bắt đầu nhẹ nhẹ dần, cảm giác bắt đầu nhẹ nhẹ dần, tâm bắt đầu nhẹ nhẹ dần. Toàn thân đều được an tịnh, đều được lắng dịu, đều được thấm nhuần trong cảm giác hỷ lạc ngay trong giây phút hiện tại. Mỉm cười nhẹ, cảm nhận sự hỷ lạc, cảm nhận sự an tịnh. Thở vào cảm nhận sự hỷ lạc, thở ra cảm nhận sự an tịnh. Mỉm cười lên! Hạnh phúc thay chúng ta đã trút bỏ được những thế sự. Hạnh phúc thay giờ này chúng ta đã trút bỏ được phiền toái của cuộc đời. Hạnh phúc thay giờ này chúng ta quăng bỏ hết tất cả hệ lụy.
Thật là vui sướng thay khi thân tâm an tịnh, nhẹ nhàng như thế này. Chúng ta đã lìa hết tất cả tham muốn về tài sắc dục lạc của thế gian thấp hèn, giờ này chúng ta đang có niềm hỷ lạc. Mỉm cười nhẹ lên, thở vào thở ra cảm nhận hỷ lạc. Để cho niềm hỷ lạc thấm nhuần từ đỉnh đầu, thấm xuống hai gò má, thấm xuống hai vai, lan tỏa ra. Mỉm cười lên lan tỏa xuống hai chân, xuống bàn chân, xuống lòng bàn chân. Thật là hạnh phúc thay, thật là vui sướng thay! Để cho hỷ lạc lan tỏa người gần bên cạnh mình, lan tỏa ra hết giảng đường này, lan tỏa rộng hết ra chùa Bửu Liên, lan tỏa hết phường 25, lan tỏa tới nhà mình, tới người thân mình lan tỏa tới những người thân thương của mình. Lan tỏa tới đâu mọi người đều thấm nhuần hỷ lạc tới đó, trang rãi mở rộng ra mỉm cười để hỷ lạc lan tỏa ra khắp thành phố, rồi lan tỏa khắp Đông Tây Nam Bắc trên dưới, lan tỏa hết bản đồ nước Việt Nam, lan tỏa ra rộng ra biến mảng khắp không giản. Mỉm cười lên, mỉm cười lên!
Đó là quý vị đang thực tập Hỷ vô lượng tâm, Minh Thành đưa quý vị vào quán tưởng. Đó là cái định Tứ vô lượng tâm, gọi là Hỷ vô lượng tâm. Phải nghe và làm y theo lời hướng dẫn thì quý vị mới vào cái định được. Nếu mình tác ý làm y theo là vào định của hỷ vô lượng tâm. Người tu tập thuần thục có thể trú trong định này suốt ngày, mỉm cười an lạc hoài, muốn an lạc là an lạc, muốn dừng lại là dừng lại. Trong Phật pháp không có môn “khổ vô lượng tâm”, nhưng người phàm phu không học Phật pháp chính họ làm cái khổ trở thành vô lượng. Họ cứ để cho cái khổ thấm nhuần, họ chìm sống trong đó, Phật không dạy cái đó mà mình đi theo cái đó là mình khổ.
Quý vị phải nhớ kĩ ba pháp: rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, cái này rất quan trọng. Nếu quý vị thực hành được thì quý vị mở được kho tàng châu báu của Chánh Pháp. Minh Thành sẽ nói tại sao là mở được kho tàng. Học ba cái này không phải lúc vào ngồi mình mới thực tập, mà bất cứ lúc nào: khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi nói, khi nín lúc nào cũng rõ biết trước mặt. Rõ biết trước mặt là nhìn phía trước, không bám vào một điểm nào hết, mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên để cái nhìn rất rộng, rất rõ, rất sáng tỏ. Nhớ khi trong lúc ngồi niệm Phật, ngồi thiền, tuyệt đối không nhắm mắt vì mình nhắm mắt một lúc là nó sẽ mờ mờ.
Nhắm lại là tối, tối là vô minh; lờ đờ là si; rồi vào trạng thái hôn trầm, là trạng thái chìm vào chỗ mờ tăm tối; rồi ngủ gục. Như vậy thời ngồi niệm Phật, ngồi thiền của mình là vô ích, không có giá trị, uổng công. Đó là mình đang ngồi nuôi dưỡng vô minh và si mê chứ không phải ngồi thiền, không phải niệm Phật. Ngồi rồi nhắm, thở mấy hơi, một hồi là mình không biết gì nữa hết. Một là mình hôn trầm, si mê tăm tối, hai là mình loạn tưởng, lờ mờ. Một hồi là bao nhiêu hình bóng, hết bóng này tới bóng kia, đó là vọng tưởng, hôn trầm, si mê, vô minh, chứ sao gọi là thiền, sao gọi là tĩnh tâm niệm Phật.
Cho nên tuyệt đối không nhắm mắt, nhớ kỹ, chừng nào chứng A-la-hán quả mới nhắm mắt được. Mình nói tới mức cuối cùng là thà vọng tưởng chứ không để hôn trầm. Vọng tưởng là mình biết lúc đó đang vọng tưởng thì mình vẫn còn tỉnh táo, tỉnh giác. Còn hôn trầm thì mình không biết, đó là si, là vô minh. Mình tu là tu theo trí huệ, mà mình ngồi với vô minh, cho nên tu hoài không tiến bộ là vì vậy.
Cho nên, rõ biết trước mặt rất hay, nhưng mình không trú vào một điểm, vì nếu mình trú vào một điểm, một lúc sau nhìn nền nhà là ra con mèo, con chuột, còn quạ, con rắn, đủ hết. Vì mình trú một điểm là sẽ tưởng, nên mình không trú vào một điểm. Mình nhìn chung hết, sáng tỏ trước mắt, mở rộng ra hai bên. Lúc đó nhãn thức của mình trong sáng, tỏ rõ, cái biết rõ ở nơi mắt của mình.
Cho nên nhớ pháp tu của Đức Phật là trí huệ, cái nào cũng sáng tỏ, không cái nào được mờ. Vừa lờ mờ là mình đẩy ra liền, đánh đuổi nó ra không cho nó ở trong tâm mình. Ngồi lờ mờ thì đi ngủ sướng hơn. Mình đang buôn bán hay coi tiệm vàng hoặc hạt xoàn hay bán hàng cao cấp, nói chuyện với đối tác mà lờ mờ rồi sao làm ăn buôn bán. Làm ăn, buôn bán, tính toán mà mình còn phải tỉnh táo, tập trung, sáng tỏ; cho nên tu mà mình mù mịt thì từ trước đến nay không tiến bộ là do vậy. Phải minh mẫn, phải sáng suốt, phải tinh anh trong giờ mình ngồi thiền, trong giờ mình niệm Phật. Phải sáng tỏ hơn những sáng tỏ bình thường ngoài đời mới được.
Mình kiểm toán trước giờ mình tu như thế nào? Bắt chân lên, lên trước chánh điện, trước bàn Phật, ngồi, hai gò má một hồi là xệ xuống. Lúc đầu ngồi thẳng ngon lành, sau đó sụm xuống, mặt xệ xuống, đầu gục xuống. Tướng này là tướng của khổ, si mê, vô minh chứ không phải tướng chánh niệm tỉnh giác. Tu kiểu như vậy thì một trăm năm cũng không được hiểu quả gì hết. Cho nên nhắc lại lần cuối, mình phải nhớ: rõ biết trước mặt, cảm nhận cảm giác toàn thân.
II. Cảm giác toàn thân
Đầu tiên mình phải theo hơi thở coi hơi thở ra vào ra làm sao, mình để ý một hồi nó động ở chóp mũi, nhìn kỹ thấy dao động chỗ lồng ngực, mình để ý kỹ thấy bụng mình phồng xẹp. Ba chỗ mình thấy rõ nhất khi hơi thở động chuyển vào ra: chóp mũi, lồng ngực, bụng, lúc đó mình phải nhìn cho ra sự động chuyển đó. Mình nhìn kĩ, để hơi thở vô biết hơi thở vô, hơi thở ra biết hơi thở ra một cách rõ ràng. Sau đó mình sẽ thấy hơi thở động chuyển ở ba chỗ: chóp mũi, lồng ngực và bụng. Khi mình thấy như vậy, bắt đầu mình mở bung cảm giác ở ba chỗ đó cho nó lan tỏa ra.
Lúc đầu chỉ có mũi, lồng ngực và bụng, sau đó mình mở ra lên đỉnh đầu, mở ra hết gương mặt để mình cảm nhận. Tức là mình cảm nhận cảm giác của toàn thể đầu và mặt của mình, kế đó mình cảm nhận cảm giác của hai vài, từ từ mình lan tỏa xuống hai cánh tay, dài dài ra tới hai bàn tay. Cảm nhận cảm giác ở lồng ngực mở rộng ra hết bụng, hết thân, rồi tới mông, rồi tới chân, hai bắp vế, hai ống chân, dài xuống hai bàn chân, hai gót chân, cảm giác toàn thân. Làm được như vậy tâm sẽ rất sáng tỏ ở nơi tự thân của quý vị, rõ hết trong thân thể của mình. Nếu như mình chỉ có hơi thở hoặc chỉ có câu niệm Phật thì cái biết của mình rất nhỏ. Chỉ biết hơi thở còn những cái khác không biết, hoặc biết câu niệm Phật, thì pháp đó nhỏ, không phải là pháp toàn thể. Còn pháp này đức Phật dạy cảm giác toàn thân là cái biết của mình trở thành toàn diện trong thân mình.
Minh Thành sẽ giải thích tại sao đức Phật dạy mình cảm giác toàn thân? Phải biết tại sao, mục đích của nó là cái gì, tại sao mình phải làm như vậy? Mình là Phật tử, mình tu theo Phật, mục đích của mình là nhiếp phục tham, sân, si, mình trị ba tên rắn độc tham, sân, si, mình muốn dẹp tham, sân, si. Đó là mục đích của người tu. Vậy tham, sân, si nằm ở đâu? Nếu mình không biết được chỗ ở của phiền não chỗ ở của tham sân si thì không thể nhiếp phục, trị nó được.
Bây giờ mình nói mình đi đánh giặc mà không biết giặc ở đâu sao đánh, nói chung chung không được. Ví dụ mình leo lên taxi kêu chở tôi đi đây, đi đây là đi đâu? Nói ở Quận Bình Thạnh nhưng Bình Thạnh ở chỗ nào, nói phường 25, nhưng nó lớn như vậy, số nào, nói khoảng số 200, cũng không được, phải chính xác số mấy. Cũng vậy mình đi dẹp phiền não mà không biết phiền não ở đâu thì sao dẹp. Tới bây giờ lờ mờ tham, sân, si không biết ở đâu thì phải làm sao? Tham, sân, si ở trong cảm giác.
Khi mình nổi nóng mình để ý cảm giác mình nó khác. Khi nổi nóng lên, từ lồng ngực phát ra, đây là chỗ trung ương, trung tâm, trung khu. Dễ thấy nhất là lồng ngực nóng, rồi lan tỏa đầu nóng, mặt mình nóng, hai lỗ tai mình nóng ửng đỏ, bắt đầu chạy ra toàn thân. Cảm giác nóng bức đó tùy theo giận ít hay giận nhiều hay giận dữ dội. Nếu giận ít, bực mình ít, thì chỗ lồng ngực nóng ít, ấm ấm thôi; nếu giận nhiều sẽ lên tới mặt, tới lỗ tai; nếu giận dữ dội có thể cả thân thể mình đốt cháy, lúc đó hỏa đại bốc lên. Đây là Minh Thành kết hợp với tứ đại, vì thân mình là tứ đại, mình nhìn thì không thấy, phải quán chiếu mới thấy. Minh Thành chú trọng vào cảm giác để quý vị thấy rằng tham, sân, si hay vô minh, chấp ngã v.v... đều trú trong cảm giác.
Khi tham nổi lên cảm giác mình khác, nó thay đổi. Sợ hãi nổi lên cũng thay đổi. Nhiều khi Minh Thành nằm chiêm bao thấy lúc mình giận tự nhiên nói tiếng mệt lắm, nói câu không có ra, giọng mình đổi liền. Cho nên mình nghe tiếng điện thoại mình biết người đó đang có cảm giác gì. Nếu họ giận họ đổi giọng ngay, âm giọng bị thay đổi; còn lúc vô tư thì nói chuyện bình thường. Tại sao mình biết người đó đang giận? Từ trong cảm giác người đó nung lên, đẩy lên, nó biểu hiện ra mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Mình thấy có cảm giác tham dục nổi lên, nó biến động cảm giác toàn thân liền. Cảm giác của si, vô minh là cảm giác là trì trệ, nặng xuống, co lại.
Thí dụ sắp hôn trầm, mặt và hai má xệ xuống, con người co rút lại, tâm trì trệ. Trong cảm giác nặng nề, trì trệ, co rút đó là cảm giác của vô minh, si mê, cảm giác của tiêu cực, của thụ động, cảm giác của giãi đãi, lười biếng, co rút, không muốn hoạt động. Cho nên để ý thường cảm giác, sẽ thấy rõ bộ mặt của tham, sân, si. Ví dụ bốn giờ sáng thức dậy để tụng kinh, ngồi thiền nhưng lúc đó mình có cảm co rút, trùm mền. Người ta gọi là “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Cảm giác lờ đờ, mờ mờ, trì trệ, thụ động, tiêu cực, trì trệ, không có muốn năng động, không có muốn tỉnh táo, sáng suốt đó là cảm giác của si, của vô minh. Như vậy mình đã thấy được căn cứ địa của phiền não chưa?
Cho nên mình thường nhìn lại cảm giác toàn thân, khi có một biến động, vừa manh nha khởi lên là mình thấy được liền và lúc đó mình sẽ có cách hóa giải, chứ không phải thấy được là xong. Mình nói “Tham tôi biết có tham, sân biết có sân”, nhưng rồi nhào vô luôn. Cái biết của mình không đủ sức mạnh để chặn đứng lại do tập khí thói quen quá mạnh mẽ. Cho nên cái biết yếu đuối, cái biết của sự chánh niệm, tỉnh thức còn non, không đủ sức, gọi là thắng không ăn, tuột thắng, nên chỗ này mình cần để ý, rất quan trọng trong sự tu tập của mình.
Quý vị nhớ ba cảm giác, nói theo chứ Hán là: lạc thọ, khổ thọ và bất khổ bất lạc thọ. Cảm thọ là cảm giác. Mình nói dễ hiểu là: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu không khó chịu.
Thứ nhất, mình lại ngồi lại, nhìn xuống xem thân mình có cảm giác gì? Trong ba cảm giác có cảm giác gì?
Thứ hai, xem coi tưởng uẩn của mình có hình bóng gì trong tâm? Nhắm mắt lại, lắng tâm, nhìn kĩ, xem hiện tại trong tâm mình có hình bóng gì không?
Thứ ba, song song với hình bóng là những lời nói thầm thầm, tức là hành uẩn, những suy nghĩ.
III. Trình pháp
Quý vị xem kĩ lại ba cái: cảm giác, những hình bóng, những lời nói lầm thầm. Nhắm mắt kĩ, nhận rõ, lắng tâm sâu nhìn kỹ lại nội tâm của mình.
Phật tử 1:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính thưa thầy và quý đại chúng, trong năm phút tỉnh giác của con, con nhận biết sắc thân của con là con đang ngồi ở giảng đường, con đang hít thở một cảm giác thật an lạc. Tưởng là con nhớ tới những người bạn, thỉnh thoảng chủ nhật hay đi rủ nhau đi thọ bát và đi tu niệm Phật một ngày, con nhớ những người bạn đó, con nghĩ không biết giờ này họ đang làm gì. Hành của con có một tiếng nói trong đầu nếu như mình rủ bạn mình đến đây họ nghe thầy giảng như vậy không biết họ có hiểu hay không, cảm giác như thế nào, tại vì tu như vậy chưa nghe bao giờ. Thức con biết con đang ở đây và hoan hỷ. Con thấy con gái con có dẫn theo mấy người bạn, con không biết các cháu nhỏ đó có hiểu hay không.
Phật tử 2:
Con kính bạch thầy và chư Tăng ở đây. Ở nhà con cũng hay ngồi thiền và hôm nay con được hành năm phút ngồi thiền do thầy dạy bảo. Ngồi thiền con cảm thấy an lạc, bình an được trong chùa Bửu Liên, con hít thở thì biết mình đang hít vào thở ra. Các tế bào của con cũng cũng thở theo. Có cảm giác bao tử hôm nay sao lại nóng nóng. Con cũng bảo “Sao bao tử lại nóng thế.” Và cũng nghĩ tới bao tử. Con hít vào thở, thở ra một lúc thì thấy hết, thầy cảm giác nhẹ nhõm đi. Tưởng thì con không tưởng đến ai, ngồi đây con cắt hết, tất cả thân tâm con đều ở đây.
Sư phụ: Khi mình nói hôm nay bao tử mình sao vậy, thì câu nói là hành, là lời nói thầm trong tâm của mình, hành uẩn. Nếu đã học, khi nghĩ tới bao tử, thì hình ảnh bao tử hiện lên lờ mờ, thì đó là tưởng. Tưởng là hình bóng, hành là lời nói lầm thầm, thọ là cảm giác, dễ chịu là lạc thọ – cảm giác dễ chịu.
Phật tử 3:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kinh bạch thầy, kính thưa quý Phật tử. Nãy giờ ngồi, con thấy rất mừng, rất hồi hộp. Con mừng vì lần đầu tiên được thầy dạy cho pháp hành, con rất vui sướng, thoải mái, cảm thấy rất hỷ lạc khi được ngồi ở chùa Bửu Liên. Con rất hồi hộp, suy nghĩ cố gắng thực hành tốt pháp hành của thầy. Trong tư tưởng của con đang nghĩ lúc ở nhà thường nghe pháp của thầy. Gần đây con nghe bài Ba sự thật vĩ đại, lúc đang ngồi là con nghĩ về bài pháp của thầy, con cảm thấy rất thoải mái, an lạc.
Phật tử 4:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Bạch thầy, thưa đại chúng. Hôm nay, ở đạo tràng chùa Bửu Liên, con được thầy Thích Minh Thành hướng dẫn pháp hành, lí thuyết và thực hành song song. Trong không khí của đạo tràng hôm nay con thấy rất yên lặng, chưa có buổi pháp nào mà chỉ nghe lời thầy giảng, không khí trong lành, không một tiếng động, Phật tử rất yên ắng. Con cảm thấy an lạc và bình an. Con rõ biết hơi thở từ chóp mũi đến lồng ngực, buồng phổi, đến bụng và ngược lại theo tuần hoàn. Không có buổi ngày hôm nay con có cảm tưởng ngày qua ngày, giờ qua ngày là mình cứ hít thở tự nhiên, chứ không cảm giác rõ như thế này. Con sẽ mang pháp hành này để hướng dẫn lại các con trong gia đình, con thấy hôm nay điều nay rất hay.
V. Lợi ích cảm giác toàn thân
Ngày xưa Đức Phật còn tại thế dạy cho các Tỳ-kheo phương pháp quán chiếu năm uẩn, nhưng để đi vào phải có những bước chuẩn bị. Cho nên hôm này chúng ta chỉ nắm căn bản ba pháp và cảm thọ.
Đầu tiên quý vị nhớ ba pháp mà Minh Thành nhắc đó là: rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Nội tâm tỉnh giác tức là trong tâm của mình lúc nào cũng tỉnh táo, sáng tỏ để mình thấy rõ trước mắt, thấy rõ cảm giác của mình đang như thế nào. Tức là nội tâm lúc đó nó tỉnh, nó rõ, nó sáng, nó biết. Trước hết là rõ biết trước mặt, kế đó biết được cảm giác toàn thân, kế đó là mình có tham, sân mình phải biết, như vậy gọi là nội tâm tỉnh giác. Minh Thành sẽ nói từ nhỏ đến lớn về cái giá trị của từng phần.
Khi thực tập cảm giác toàn thân này thì quý vị sẽ là tự là bác sĩ cho chính mình. Tại vì những bệnh mới bắt đầu manh nha thì mình phát giác ra liền, vì trong cảm giác mình thấy rất rõ. Cho nên có nhiều người bị đau cột sống, đau lưng, hay đau vai, thấy đau đau chút bỏ qua, tới chừng đi khám không trị được hoặc bị rất nặng. Bây giờ mình thực tập cảm giác toàn thân nó vừa biến đổi gì khác trong cảm giác là mình phát giác được liền. Lúc đó mình sẽ tự trị hoặc cần thiết mình đi tới bác sĩ hỗ trợ điều trị cho mình thì sẽ chặn đứng cái bệnh khi mới nảy mầm bệnh. Đó là nói về phẩn cơ thể ,vật chất, thể chất.
Còn tinh thần có rất nhiều lợi ích, Minh Thành điểm qua một vài điều. Nếu mình thường để ý cảm giác toàn thân, mình sẽ bảo vệ được hạnh phúc gia đình, mình sẽ giữ gìn được tình nghĩa của vợ chồng, mình sẽ có được sự gắn kết giữa bạn bè đồng nghiệp khi mình làm việc. Chẳng hạn khi mình có cảm giác khó chịu sanh khởi trong nội tâm, lúc đó ông xã ông đi làm về trễ, bình thường năm giờ về, nay tám giờ ông mới về, mà mình đang bực mình, khó chịu, mệt. Mình biết mình đang có cảm giác khó chịu. Lúc đó ông xã về lại phát ra cảm giác khó chịu, những lời nói hơi gay gắt, mà ông đi về trễ nữa.
Nếu mình không nhìn lại cảm giác thì như thế nào? Cảm giác khó chịu gặp cảm giác khó chịu mà nó không chịu khó, thì rất dễ xảy ra chuyện. Nhưng bây giờ mình thường thực tập cảm giác nên mình biết mình đang có cảm giác khó chịu phải đề phòn,g phải cẩn thận. Lúc mình đang có cảm giác khó chịu, thứ nhất mình phải có sự chánh niệm, có sự tỉnh thức, có sự làm chủ cảm xúc, làm chủ cảm giác và có sự cẩn thận, đề phòng, thận trọng. Lúc trước mình không để ý, mình không có nhìn, hễt vui thì thoải mái. Còn lúc bực mình, mà gặp người mình bực, “bực mình” và “mình bực”, hai bực gặp nhau, bình phương lên bực rồi phực. Bây giờ mình có sự làm chủ, kiểm soát, có sự quản lý, có sự nhìn rõ thì lúc đó mình có thể điều chỉnh được cảm giác, có thể quản lý cảm xúc.
Minh Thành chỉ cách chuyển hóa phiền não trong cảm giác. Trong bài kinh Đoạn tận:
“Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.
Này các Tỷ-kheo, tham tùy miên đối với lạc thọ cần phải đoạn tận. Sân tùy miên đối với khổ thọ cần phải đoạn tận. Vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ cần phải đoạn tận.”
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập IV, Chương II. Tương Ưng Thọ,
Phần I. Phẩm Có Kệ, bài kinh Đoạn tận)
Thế nào gọi là tham tùy miên đối với lạc thọ? Một khi mình có một cảm giác thích thú, khoan khoái, vui sướng, dễ chịu thì đi theo cảm giác đó là gì? Thí dụ như trưa nay nhà bếp đãi bảy, tám món ăn: canh chua bông súng, bắp cải, gà chay, cơm niêu, bánh xèo, bún riêu, phở,... Lúc đó mắt mình nhìn thấy, thì đó là thọ do nhãn xúc sanh, tức là cảm thọ, cảm giác từ khi con mắt tiếp xúc phát sanh ra. Cảm giác vui sướng, dễ chịu, khoan khoái, thích thú thì tham đi kèm theo. Đây là căn cứ địa của phiền não. Đừng nghĩ tham là chuyện tình cảm nam nữ, hay ăn cắp đồ mới là tham, đó là tham của phàm phu. Còn trí huệ của người tu là luôn luôn biết lúc nào nó có mặt và lúc nào không có mặt trong nội tâm của mình.
Cho nên khi mình ăn một món ngon, khi mình nghe một tiếng khen, khi mình đang ở ngoài trời nắng nóng 38℃ mình bước vào trong máy lạnh 23℃, tất cả cảm giác dễ chịu thích thú, khoan khoái, ngon miệng, mát mẻ đều có dục và tham đi theo. Chữ tùy miên, “tùy” là đi theo, “miên” là miên man, bất tận. Tham đi theo một cách miên man, bất tận gọi là tùy miên, Đức Phật dùng từ khiếp không? Trí huệ Phật mới thấy được. Cho nên lúc nào mình thấy có một cảm giác khoan khoái, thích thú, dễ chịu, sung sướng lúc đó mình phải nhìn kỹ liền, phát hiện ra tham trong đó. Đây là con mắt tinh vi, trí huệ, mắt pháp bắt đầu thành tựu.
Ví dụ thêm, gần đến mùa sầu riêng, sầu riêng trên Linh Quy Pháp Ấn rất đặc biệt, không thuốc, không phân, không tưới, hoàn toàn tự nhiên. Múi sầu riêng này vừa thơm, vừa béo, vừa ngọt, vừa bổ, vừa bùi. Nói thêm nữa, lâu quá mình không có ăn me, Minh Thành đi nhà hàng được người ta cho ly đá me, có đậu phồng ở trên, ở dưới khèo đường với mật ong, nước đá để lên. Trời trưa nắng 37 ℃, ực ly đá me vô, thì như thế nào? Mình thấy nãy giờ tâm của mình làm việc ra sao? Minh Thành ví dụ để quý vị nhìn thấy cảm thọ, cảm giác của mình. Thọ, tưởng, hành, thức của mình hoạt động liên tục trong lúc Minh Thành nói. Khi Minh Thành nói trái sầu riêng, quý vị thấy từng múi, nghĩ nó có gai sao, ở bên trong bao nhiêu múi.
Chẳng những vậy, còn để vô miệng nếm, nghe mùi, cảm nhận vị, mắt thấy, lỗ tai nghe. Nó liên tục bên trong, tâm mình hoạt động rất ghê gớm. Hình bóng trái sầu riêng là tưởng. Bên trong nói thầm thầm: “Kỳ này mình lên Linh Quy Pháp Ấn” đó là hành, mình thấy hình mình ăn luôn. Lúc đó thọ mình thấy thơm, béo, bổ rồi chảy nước miếng, chứ không phải tự nhiên chảy nước miếng, mà thọ, tưởng, hành, thức vận hành. Thức biết rõ biết có hình bóng trái sầu riêng đó, có cái lời nói đó, ăn có cảm giác đó, thức rõ biết hết điều đó. Nói tới me hay món ăn khác cũng vậy. Ngũ uẩn của mình luôn vận hành, mình hiện đang chú trọng vô cái thọ thì những cảm giác dễ chịu, khoan khoái đó có tham đi theo, nếu mình không có chánh niệm
Kẻ vô văn phàm phu, tức là kẻ phàm phu không nghe Chánh Pháp, mình đừng tưởng nghe lung tung lang tang đó là nghe Chánh Pháp. Chánh Pháp là mình phải nghe đúng trong kinh Nikāya. Về sau Minh Thành sẽ nói cho quý vị, nghe đúng Chánh Pháp mới phá được tham, sân, si. Còn mấy cái kia là tâm lý, xã hội, đạo đức, sống tốt là khác, còn Chánh Pháp ở đây phải đoạn tận được tham, sân, si, phá được phiền não. Đức Phật nói: “Kẻ vô văn phàm phu không nghe Chánh Pháp, khi cảm giác một cảm giác một cảm giác vui sướng thì giống như đang bị trói buộc, khi một cảm giác một cảm giác khó chịu, khổ thì giống như đang bị trói buộc, khi cảm giác một cảm giác không khó chịu không dễ chịu cũng giống như đang bị trói buộc.”
Tại sao? Ví dụ mình từng đã nếm qua món ăn đó rồi, hoặc mình đã từng có những cảm giác dễ chịu về người nào đó hoặc một sự vật sự việc nào đó. Mỗi khi trong tâm mình muốn trở lại cảm giác đó, nếu cái muốn đó không được là khổ. Như vậy là bị trói buộc vào cảm giác đó rồi. Nói đơn giản người ăn ớt, dù cho đến chỗ đó có thật nhiều món ngon, nhưng không có trái ớt thấy không ngon, đó là cảm giác mình bị trói buộc, bị trói cột.
Chuyện dễ hiểu nhất, bạn bè nam nữ yêu thương nhau, cảm giác yêu thương đó cũng bị trói cột. Trói cột tới mức nó không biết cảm giác là cảm giác. Cho nên có trường hợp hai đứa quen nhau, bạn gái không muốn qua lại với cậu này nữa, quen bạn trai khác. Khi thấy bạn gái cũ được thanh niên khác đăng hình lên facebook, thì xảy ra án mạng, ghen tuông tới mức độ như vậy. Tất cả điều đó đều là si mê ở trong cảm giác. Mình đau khổ dài dài, mình đã đau khổ về cảm giác, mình đang đau khổ về cảm giác và mình tiếp tục khổ đau vì cảm giác nếu mình không biết tu tập theo Chánh Pháp.
Mình không thấy tại vì bị tham dục trong cảm giác đó, bị bản ngã trong cảm giác đó. Muốn chiếm người đó, muốn chiếm cảm giác duy nhất đó chỉ là của nó. Nhưng không biết rằng không có gì là tôi, không có gì là của tôi, cảm giác đó là vô thường. Làm sao cảm giác đó là duy nhất, độc chiếm một mình được. Thân này là vô thường, cảm giác là vô thường, tất cả sự yêu thích, hờn giận đều là vô thường, biến đổ. Do mình không biết được biến đổi đó, mình muốn chiếm hữu, mình muốn duy nhất một mình mình có, từ đó là mình khổ đau nếu mình không biết tu tập.
Nếu mình có làm chủ cảm giác, có nhìn nhận, mình biết cảm giác khó chịu khổ như thế nào. Cho nên mình không muốn những người thân, bạn bè đồng nghiệp của mình phải chịu cảm giác đó. Một khi người khác nổi sân lên với mình, mình thấy cảm giác rất khó chịu nên mình không muốn nổi sân với người khác. Cái đó là trí huệ từ từ phát sanh. Sân tùy miên là cảm giác khó chịu sân đi theo.
Ví dụ như mình đi ngoài nắng 38℃, có cảm giác khó chịu. Cảm giác khó chịu đó là bình thường nhưng trong cảm giác đó mình cộng thêm cái bực bội, cái bực bội đó mới là cái xấu, mới là cái sân. Để ý thật kĩ chỗ này. Nếu như mình gặp trường hợp khó chịu nóng hay lạnh, cảm giác đó là bình thường. Mình biết lúc đó cảm giác khó chịu vì nắng nóng, cảm giác khó chịu vì lạnh nhưng ở phía trong cảm giác khó chịu đó có bực bội “Tại sao trời nóng dữ vậy, bực bội khó chịu quá đi.” Thì đó là từ cảm giác thân đi qua cảm giác của tâm. Có hai loại cảm giác: cảm giác của thân và cảm giác của tâm. Từ cảm giác khó chịu của thân nó đẩy qua cảm giác khó chịu của tâm, sanh ra bực bội, đó là sân. Thường thường mình không tu tập thì luôn luôn cảm giác khó chịu có sân đi theo. Cho nên Đức Phật gọi là sân tùy miên, sự bực bội sẽ đi theo miên viễn trong cảm giác khó chịu nếu mình không biết tu.
V. Như Lý Tác Ý
Bây giờ làm sao mình chuyển hóa phiền não trong cảm giác này? Ví dụ bây giờ khởi cái bực lên mình dùng Như lý tác ý. Như lý tác ý là mình suy xét đúng Chánh Pháp, xét dúng sự thật, mình dùng những lời nói đúng Chánh Pháp suy xét. Sắp sửa nổi giận, thấy cảm giác nóng, bừng bừng lên, mình nói “Bộ giận sướng lắm hả con, giận sướng lắm hả mày, giận khỏe lắm hả, giận vui lắm hả, có biết cái giận này dẫn đi tới đâu không?” Mình hỏi cơn giận, tất cả tham, sân, si chỉ là một pháp, mình phải đối thoại với nó, nó không phải mình. Cái này rất quan trọng, là phương pháp hành, phải để ý kĩ.
Mình phải đối mặt, nhìn thẳng vào mặt nó, nó nóng trong lồng ngực, mình để cái tâm vô ngay chỗ nóng nói chuyện mới nó vì nó là một pháp. Nói chuyện ngay chỗ đó một hồi “Giận sướng lắm hả, vui lắm hả, khỏe lắm hả? Giận rồi đi đến đâu?” Quán chiếu sự nguy hiểm của cơn giận, rồi mình xem cơn giận này đưa tới đâu? Đưa tới vợ chồng không nhìn mặt nhau, khó chịu với nhau, rạn nứt tình cảm, ly thân, ly dị, thậm chí đi tới chỗ giết nhau. Ngay thời Đức Phật đã có trường hợp đó. Trong tạng kinh mình thấy có một, hai trrường hợp, nhưng bây giờ trên báo ngày nào cũng có. Tất cả cái đó đều từ cảm giác sân. Nguy hiểm là cảm giác sân hận này, cái sân này đưa mình tới chỗ khổ mình, khổ người, khổ cho cả hai, khổ cho tất cả, không có lợi ích. Chấm dứt đi, đẩy cảm giác sân ra, rồi đóng của lại không cho vào nhà, trừ bỏ nó, diệt tận nó, không chấp nhận nó bứng gốc rễ nó, quăng nó đi, không cho nó sanh khởi trong nội tâm mình nữa.
Lúc đó mình đang dùng Như lý tác ý, đây là pháp lệnh Đức Phật dạy trong kinh Nikāya. Lúc mình nói như vậy là mình đối thoại nó, bắt đầu mình dùng tâm từ trị nó. Chỗ nào nóng, mình hướng tâm vô đó mình nói, nếu mình mạnh, thì nói như vậy là chỗ đó bắt đầu tan từ từ, lắng dịu. Nếu chưa lắng, mình dùng mạnh hơn nữa, mình dùng từ bi quán, nói: “Người ta không hiểu đạo mà, thôi tha thứ cho người ta đi, chấp nhất làm gì. Tu để cho dễ thương chứ, người ta sân si không hiểu đạo, giờ mình sân si với họ thì mình như vậy có khác gì người ta đâu. Thôi tha thứ đi, mở rộng tình thương đi.” Mình nói dỗ ngọt nó, nhưng tùy lúc, có lúc mình dùng đấm, có lúc mình xoa, có lúc vừa đấm vừa xoa, trong uống ngoài thoa, để trị tâm bệnh.
Quý vị hướng tâm vào chỗ đó quán chiếu thì cái sân sẽ tan, chỗ nóng tan từ từ, mát dần dần, dịu lần lần. Đó là quý vị trị tận gốc của phiền não. Vấn đề uống ly nước lạnh, hay tránh mặt chỗ khác, hay niệm câu niệm Phật, thì một hồi lại giận nữa. Còn đây là quý vị trị tận gốc phiền não, đào xong rồi mình bứng gốc, rồi đi tới đoạn tận tham, sân, si. Sâu sắc như vậy đó. Tại vì nó phát chỗ nào, mình trị ngay chỗ đó, thấy rõ nó tan luôn. Tất cả cảm thọ tham, sân, nóng giận tan ngay chỗ đó. Trị như vậy hoài thì sẽ thấy sân không có lợi ịch gì, sân rất nguy hiểm. Nếu thấy rõ là hết sân luôn. Đây là pháp của Đức Phật dạy, hiểu thì nó màu nhiệm, nhưng thực hành thì nó mới nhiệm màu.
Nói rộng ra cảm giác này rất hay, Đức Phật dạy rất rõ. Lúc nào thấy nó trì trệ, lờ đờ, mờ mờ, không tinh tấn thì tìm cánh trị liền. Mình nói: “Giờ này là giờ nghe pháp, muốn ngủ hả? Ngủ mấy chục năm chưa đã hả con? Ngủ vô lượng kiếp rồi giờ tính ngủ tiếp hả? Ngủ giấc ngủ ngàn năm không chịu nghe chân diệu pháp phải không? Tỉnh đi!” Mình phải dùng cái roi quất mạnh con trâu đen. “Tại sao mày si mê như vậy, tại sao mê muội như vậy? Đam mê cái này thì muốn làm tông đồ, đệ tử của Trư Bát Giới hả?” Mình hướng vào ngay chỗ trì trệ trong đầu, hay trên mặt, hay trong lồng ngực,… mình nói với nó, thì tự nhiên nó tan ra. Đây là trực tiếp đánh thẳng vào tổng hành dinh của phiền não, chứ không phải ngồi tưởng tượng, lạy cầu Phật độ. Nếu cứ như vậy thì mấy chục năm cũng vẫn sân si, phiền não y nguyên. Phật làm sao độ được, mình phải tu, phải thực tập pháp Phật dạy, phải nhìn ra nó như thế nào, ở chỗ nào?
Cho nên thường thường Minh Thành nói phải biết được tên tuổi, mặt mũi, tánh tình của phiền não thì mình mới trị nó được. Tên tuổi nó là cái gì? Mặt mũi nó là cái gì? Tánh tình nó là cái gì? Tác hại nó như thế nào? Vận hành ra làm sao? Phải thấy rõ hết, không cái nào mình không rõ. Như vậy mới gọi là toàn giác, như vậy mới gọi là chánh giác, như vậy mới gọi là tỉnh giác, như vậy mới gọi là trí huệ, trí giác. Giờ nghe pháp cũng vậy, giờ tụng kinh cũng vậy, giờ ngồi thiền thì gục là xong luôn, hết cuộc đời luôn. Cho nên tu hoài mà không thấy gì hết, bó tay, bó chân, bó người rồi cuối cùng là bó chiếu.
./.