Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Xấu Hổ Và Sợ Hãi – Hạnh Tàm Quý

2026-03-03 00:52:27
Xấu Hổ Và Sợ Hãi – Hạnh Tàm Quý

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. An trú tàm PAGEREF _Toc112678164 \h 1

II. Hộ trì căn PAGEREF _Toc112678165 \h 5

III. An trú tàm quý PAGEREF _Toc112678166 \h 8

I. An trú tàm

Tâm càng định tĩnh thì trí mới càng sáng tỏ, trí sáng tỏ thì mới thấy rõ mọi việc. Nên thời pháp của chúng ta cũng là thời thiền quán, chứ không phải nghe pháp là khác với thiền. Ngoài giờ ngồi thiền, cũng tập thiền, đừng chỉ có thiền trong giờ ngồi thiền, cái tâm mình an tịnh rồi thì nó an lạc lắm. Tâm mà dễ dao động, dễ bị ngoại cảnh tác động, khi gặp chuyện mình sẽ rối loạn, thì đối đầu với cái chết rất là khó bình an. Vì thế, phải luôn đầu tư cho cái chết.

“Tâm lắng dịu. Tâm dễ chịu.”

Ta thấy hai câu trên đơn giản như vậy, nhưng không dễ thực tập. Minh Thành thường đặt mình vào những trường hợp nguy hiểm, nguy cấp, và đối đầu với cái chết mỗi ngày. Mình chết rồi thì ai giận, giận ai, ai buồn, buồn ai, ai tham, tham ai, tham cái gì, ái luyến cái gì? Có niệm tử như vậy thì mình mới bớt tham, bớt ái, bớt dính mắc với ngoại cảnh, với sự, với vật, với việc, tuy là làm, nhưng tâm không bị dính mắc, đủ duyên thì làm. Minh Thành thường nói với Tăng, Ni, đủ duyên nhiều thì làm nhiều, vừa thì làm vừa, ít thì làm ít, không có duyên thì khỏi làm, tu an lạc. Đức Như Lai là bậc an tịnh, trầm mặc và hướng dẫn cho chúng sanh đạt đến chỗ an tịnh, trầm mặc.

Khuya này vào giờ lạy Kinh Nikāya, Minh Thành xúc động mạnh, nhất là đối với bài kinh “Tàm quý”, Minh Thành hiểu ra được nhiều điều, hồi trước hiểu ít, bây giờ càng ngày càng sáng, càng rõ, càng đầy đủ ra. Hiện tại, con mới hiểu ra các bậc cao Tăng, Thánh nhân an trú tâm như thế nào? Trong Tăng Chi Bộ kinh tập 3, bài kinh “Xấu hổ”, Đức Phật có dạy: “Khi tàm quý không có, với người thiếu tàm quý, chế ngự các căn, đi đến hủy diệt”.

Hồi xưa mình cũng hiểu nhưng không sâu sắc, nhưng sau khi thực tập, mình thấy cái này thật là Thánh pháp tối diệu, thực nghiệm, thực chứng về thân tâm của mình. Nếu một người không có an trú tâm trong hổ thẹn và sợ hãi thì người ta không thể chế ngự được các căn. Thành ra, tại sao vậy, nếu một người có hổ thẹn và sợ hãi trong tâm, thì người này sẽ chế ngự được các căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của họ. Sau khi con nghe các thầy các cô đọc, thì trong suốt buổi ngồi thiền con lấy đề mục tàm quý để mà quán chiếu.

Thì con phát hiện được ra rằng, nếu như mình thường an trú mình là thùng phân, thân này là nhà máy sản xuất phân, công ty xuất nhập nguồn nước tiểu. Mỗi ngày nó sản xuất ra phân, mỗi một lần mà mình đi vào trong toilet, mình thấy xấu hổ, nhục nhã, thối tha, nhơ nhớp, bẩn thỉu và tanh hôi. Khi mình vào trong đó, thì pháp tàm quý được sanh khởi, mỗi khi mình tiểu, dãi, khạc nhổ, hỉ mũi, mình thấy xấu hổ, dơ bẩn. Con có làm trong bài tác ý:

“Trời ơi đất hỡi thấu cho chăng?

Xác thân nhà máy sản xuất phân

Công ty xuất nhập nguồn nước tiểu

Cớ sao lên mặt với kiêu căng?”

Thành ra cái pháp tàm quý này nó thâm sâu lắm, nó không phải khi mình đọc phớt qua mình tưởng mình hiểu rõ, vào trong nhà vệ sinh, mình đào thải, bày tiết ra những thứ hôi dơ, bẩn thỉu, mình mới thấy xấu hổ, nhàm chán. Đi tiểu mình thấy nó dơ, tanh, hôi, mình thấy xấu hổ. Quán chiếu lại thân xác này là nhà máy sản xuất phân, là thùng phân, là đống phân, là bao phân, là cái bị phân, là cái túi phân, hầm phân, hố phân. Hố phân mà kiêu căng với ai, hôi thối như vậy, xấu hổ như vậy, dơ bẩn như vậy, thì mình mới nhìn lại, quán chiếu, quản tưởng, an trú thân mình như cái nùi giẻ rách, cái nùi giẻ giậm chân, chà chân, dơ bẩn, bẩn thỉu, hôi hám, cũ rách này thì lên mặt với ai, sân hận với ai, ta đây với ai, hỡi cái nùi giẻ rách, cái đồ giậm chân, cái đồ chùi giò, cái đồ lau cầu tiêu, an trú tâm vô đó, sự quán tưởng quán chiếu cái nùi giẻ rách.

Ta an trú tâm vô cái ung nhọt, ung hạch, ung bướu, ung thư. Con nghe quý thầy đọc lúc thiền, thì ta an trú tâm mình vào cái ung nhọt chín lỗ chảy ra những thứ nhàm chán, bất tịnh, tanh hôi, xú uế, bẩn thỉu. Cái ung nhọt, ung hạch, ung bướu, ung thư chảy ra nước mũi, nước miếng. Trong thời dịch bệnh này, trên cùng một chuyến bay, người ta hắc xì, người ta ho thôi, thì những người trên máy bay phản đối, rối loạn trên chuyến bay, cuối cùng máy bay phải hạ cánh xuống vì nghi người này nhiễm bệnh. Sạch sẽ quá, thơm tho quá, say mê đắm đuối, quý giá như vậy, thì sao ho một cái liền chấn động hết.

Cái ung nhọt, ung hạch, ung bướu, ung thư này chảy máu ra, chảy mủ ra, chảy nước vàng, chảy nước miếng, nước mũi ra. Xấu hổ không, dơ dáy không, bẩn thỉu không, hèn hạ không, bất tịnh không, nhàm chán không? An trú tâm vô cái ung nhọt chín lỗ. Thân này là đồ hèn hạ, hôi thối, bẩn thỉu, nó là cơ sở, là nguyên nhân, làm cho dục tham ái sanh khởi, nó là căn cứ địa, hang ổ, sào huyệt cho tham dục, ái dục, dâm dục, dục vọng sanh khởi, tội lỗi sanh khởi, nghiệp chướng sanh khởi, ác nghiệp sanh khởi, kiết sử sanh khởi, trói buộc sanh khởi, hệ lụy sanh khởi, sầu bi khổ, ưu não sanh khởi.

Cho nên bậc Thánh khi hủy bỏ, từ bỏ thân này là xả ly một cái ung nhọt, quăng một cái nùi giẻ rách. Vì thế, cần an trú tâm mình vào trong cái quán chiếu sâu sắc, quán tưởng thường trực. Đây là thứ hèn hạ, hạ liệt, thấp kém, tôi đòi, nô lệ. Thân xác này là vô thường, vô sở hữu, vô chủ, là nô lệ cho dục ái, cho những đòi hỏi, ham muốn theo thú tánh, trong thân xác những loài thú vật như: con heo, con mèo, con chó, con gà, con vịt,.. chỉ biết ăn xong rồi quan hệ, sau đó bị người ta cân ký đi bán. Đừng nói chi tới con người, tạo ra biết bao nhiêu là ác nghiệp: giết chóc, gian xảo, mưu mô, xảo quyệt, thủ đoạn, lừa lọc, ác gian. Thậm chí đến người thân thương xúnhất: cha, mẹ, ông bà, cô bác vợ chồng anh chị em giết hết. Đúng là cơ sở, hang ổ, sào huyệt phát sanh ra nghiệp chướng, tội lỗi, hiểm họa, tai họa, hoạn nạn, tai ương, từ đây mà sanh khởi, bắt nguồn mà ra. Cho nên thân là nguồn tội, tham mê những thứ xú uế, dơ bẩn, tanh hôi, mong manh, tạm bợ, bại hoại, tan nát này cho nên mới đau khổ. Như vậy, có gì đáng để kiêu ngạo, ta đây, hách dịch, khoe khoang, phô trương, ngạo mạn, kiêu căng.

An trú tâm mình là kẻ hèn hạ, mỗi lần nó sanh khởi lên những thứ sân, si, bản ngã, dục ái, tác ý là kẻ hèn hạ, không biết nhục nhã, đốn mạc, hèn hạ, thối tha, xấu xa và bẩn thỉu, là nguồn gốc của dục vọng, sân, hận, si mê và bản ngã. An trú tâm mình vào đólàm cho nó sanh khởi lên tàm quý, sanh khởi lên hổ thẹn và sợ hãi đối với tội lỗi và ác nghiệp. Hãy quán chiếu thân này như nô lệ đang bị dục sỉ vả, hành hạ, cướp bóc, bị dục đè đầu cưỡi cổ, lôi đi, kéo đi.

Nhục ơi là nhục, xấu xa ơi là xấu xa, thối tha ơi là thối tha, tồi bại, dạy hoài không nghe, mất dạy, cứng đầu, đưa mình vào chỗ khốn khổ, hoạn nạn, khốn nạn. An trú tâm như vậy, không thôi là tâm luôn ở trong trạng thái rất nhạy bén trong ngũ trần, nhạy bén đối với sắc, nhạy bén với âm thanh, mùi vị, xúc chạm, nhạy bén lắm, đeo đuổi lắm, rong chạy lắm, khao khát lắm, hưng phấn lắm, hứng thú lắm, sung sức lắm, làm cho nó cạn kiệt, khô kiệt, khô khan.

An trú tâm mình là một con bò bị cưa hai cái sừng, không còn làm được gì nữa hết. Bò có hai cái sừng là vũ khí của nó, bây giờ bị cưa rồi, bò không có sừng, không còn húc ai, không còn cụng ai, không còn chen lấn, giành giật, xô đẩy với ai nữa hết, không còn tranh giành bất cứ cái gì với cuộc đời, thế gian này nữa. Cưa hết hai cái sừng rồi thì còn cái gì nữa.

Có câu chuyện này, có thể nhắc nhở được mình: có một đàn bò, mỗi ngày người ta thả đàn bò ra, cho nó đi ăn cỏ, và cũng mỗi ngày như vậy người ta đưa mười mấy, hai chục con vô lò mổ. Đàn bò bị giết hết nửa đàn rồi, còn lại phân nửa, mấy con bò còn lại nó đâu có biết là mỗi ngày cho nó đi ăn cỏ, rồi người ta sẽ đưa một mớ vô lò mổ. Tại vì nó vô minh, không nhận thức mai này nó sẽ vô lò mổ, lò sát sanh, nên còn hung hăng, hung hãn lắm, cứ chen chúc, chen lấn, xô đẩy, húc nhau, giành đi trước, mà đi càng nhanh thì vào lò mổ càng mau. An trú tâm mình vô con bò bị cưa hai cái sừng, nhìn lại nội tâm mình, bản ngã khởi lên, mình thấy nhục; sân hận nổi lên mình thấy thối tha; hơn thua, tranh đấu khởi lên thấy cái này hổ thẹn, sợ hãi.

Đó là tâm an trú trong tàm quý, an trú trong sự nhục nhã và sợ hãi. Mình sợ hãi những thứ này đưa mình đi đến đường khổ, đưa mình đi đến đổ vỡ, tan nát. Nhìn thấy bao nhiêu anh, em, vợ, chồng, cha, mẹ, con cái tan vỡ, cũng vì tham, sân, si, bản ngã. Mình thấy mình sợ hãi, đó là tàm quý, mỗi khi sự buông lung, phóng giật, sự buông thả nó sanh khởi trong thân, tâm mình thì mình thấy mình sợ hãi, xấu hổ. Mỗi khi mình mê, không sống theo chánh tri kiến, mà sống theo phàm phu, phàm tình, phàm tục, phàm mê, mình nhận diện năm uẩn thì mình biết cái nào tham, cái nào sân, nào si, nào bản ngã, mình thấy vậy thì mình thấy xấu hổ, nhục nhã, sợ hãi.

Đó là mình an trú cái tâm tàm quý, cái tâm xấu hổ, sợ hãi đối với ác bất thiện pháp. Một người an trú được cái tâm này thường trực thì người đó sẽ chế ngự được các căn. Cái tâm tàm quý phải đầy đủ như vậy đó, phải tròn trịa, phải sung mãn thì người này sẽ chế ngự được mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình.

II. Hộ trì căn

Hôm qua, Phật tử trong đạo tràng Nikaya hỏi con, thế nào là chế ngự? Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thì biết rồi, còn ý thì sao hộ trì, làm sao chế ngự? Khi mình ở một mình, mình nhớ lại người mình thương hay người mình giận, khi mình để tâm vào để mình nhớ lại, thì lúc đó hình bóng người đó, suy nghĩ về người đó, cảm giác nó sanh khởi lên. Mình biết đây là dục, ái sanh khởi, mình tác ý phải xả bỏ, từ bỏ, không được tiếp tục, trở về pháp hành mình đang thực hành thì đó là hộ trì các căn. Mình đang ngồi mà mình để tâm nhớ người mình giận, thì lúc đó hình bóng người mình giận sanh khởi lên, cảm giác khó chịu sanh khởi lên, những suy nghĩ khó chịu về người đó sanh khởi lên, lúc đó là ý xúc, thì cảm giác nghĩ tưởng thứ hai, thứ ba, thứ tư nó sanh tiếp tục.

Mình không dừng lại, mình không đoạn tận, mình không trừ diệt, mình không tẩy sạch, thì đó là mình không hộ trì căn. Đó là ác bất thiện pháp, mình không cho nó xâm nhập, không cho nó an trú, không cho nó áp đảo, không cho nó xâm chiếm. Giống như một người giữ gìn đồ đạc ở trong nhà, mình biết cái đó có thể là sẽ có ăn trộm, cắp, thì mình khóa chặt cửa lại, không cho những người đó có cơ hội để lấy trộm đồ trong nhà.

Cũng vậy, lúc nãy nói bên trong mình, còn bây giờ nói ở ngoài, mình thấy, người đó có thể làm cho mình sanh khởi dục, ái, tham thì phải hạn chế tiếp xúc, hạn chế các duyên xúc, đó là hộ trì mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, lúc nãy là hộ trì ý. Nếu người đó là đối tượng làm cho mình bực, tức, giận thì cũng phải hạn chế nhìn, nghe, tiếp xúc. Nếu rơi vào trường hợp phải tiếp xúc thì cần hết sức cẩn thận, phòng hộ, cảm thọ, cẩn thận ngôn ngữ, hành động đối với người đó. Đó là chế ngự các căn, nói theo chiều tương đối thô

Nói cách khác, nhờ an trú vào tâm tàm quý, tâm hổ thẹn, sợ hãi nên những hành động, cử chỉ, lời nói có sự kiểm soát, chế ngự. Khi đó, nghĩ rằng mình chẳng là gì trong cuộc đời này, chỉ là nhà máy sản xuất phân, công ty xuất nhập nguồn nước tiểu, là thùng phân, nùi giẻ rách, là đứa nô lệ, đầy tớ cho dục, ái, tham, sân, si, là con bò bị cưa hai cái sừng. Khi an trú tâm như vậy thì tự nhiên ngôn ngữ, lời nói, hành động sẽ được chế ngự, kiểm soát, phòng hộ, bảo vệ.

Lúc sáng khi thầy Pháp Từ đọc bài kinh này, Minh Thành có cảm xúc mạnh trong suốt cả thời thiền, Đến khi ra khỏi thời thiền đó, cũng tập an trú trong tâm tàm quý. Đi đâu cùng dòm dòm xuống, chứ khi xưa thì phải đi ngẩng lên, bây giờ phải nhìn xuống, mình chả là cái gì ở đây, chẳng là cái gì hết, không được vênh váo kênh kiệu với ai hết.

Cho nên, mình có chế ngự được các căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân của mình, thì giới sẽ được đầy đủ. Thật ra cái này tuyệt diệu lắm, khẩu quyết của Như Lai, mình không có dám làm những điều sai phạm. Mình có thu thúc, có chế ngự mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý như vậy, cho nên những cái học giới mình sẽ không bị khuyết phạm, hoặc không bị khuyết phạm nhiều và đi đến cái chỗ đầy đủ các giới. Chứ nếu các căn không chế ngự thì làm sao đầy đủ được các giới, mà cái gốc của nó bên trong là sự hổ thẹn, sợ hãi các tội lỗi, cái đó là cái gốc của cái giới ở ngoài, nếu mà không có cái bên trong thì không giữ được cái bên ngoài.

Cho nên, hồi đó, mình không học cái tàm quý này, mình không có chế ngự căn, nên cái giới mình không có đầy đủ. Thí dụ, như bây giờ mình ăn chiều quen rồi, thì mình ăn mình thấy bình thường, có gì đâu, nhưng người có giới ăn thì thấy như vậy là phạm giới, thì sẽ thấy rất là xấu hổ, cho nên có cái tàm quý bên trong là có cái chất ở bên trong. Chứ tự nhiên vô kêu giữ giới đi, giữ giới đi thì sao giữ nổi. Bên trong này nó vận hành, cho nên là nó có trình tự của pháp, chế ngự căn mà có mặt với người có đầy đủ chế ngự căn thì giới đi đến đầy đủ.

Cho nên mình, ăn buổi trưa thôi, tối mình tu, mình ngồi thiền thấy nhẹ, khỏe. Còn chiều mình làm một tô bự, rồi xong lên ngồi ục ịt, ngồi cho có cái thân vậy thôi, vì thể chất nặng nề, cái tâm không yên được. Nó đói đói, thiếu chút vậy đó, mà rất tốt, khỏe, trừ mấy người đi làm việc này kia ở ngoài nhiều thì mình không nói. Nhưng mà mình tu thì rất là nhẹ, khỏe, nhiều giới phải học, nhiều oai nghi phải thực tập. Khi mà mình có được giới đầy đủ, thì chánh định đi đến đầy đủ, do nó được dẫn đầu bằng chánh tri kiến, và sau đó là tàm quý.

Cho nên khi giới đủ, thì nó không có những điều kiện làm cho cái tâm mình dao động, phan nhiên nữa,dục ái nhiếp phục, bản ngã nhiếp phục, sân nhiếp phục ở trong chánh tri kiến, trong tàm quý đó rồi, trong chế ngự các căn rồi và giới nữa thì nó đưa đến định. Sở dĩ mình ngồi mà không định được, là tại vì giới mình không giữ được, có phạm một giới nào đó mình ngồi lại là trong đó nó tự trách, gọi là trạo hối, sẽ bi dao động, hối tiếc, hối hận những sai phạm của mình, tự mình thấy, tự mình biết. Khi một tâm mà dao động, hối tiếc như vậy thì làm sao đi vào định được.

Cho nên là, giới không đầy đủ, thì không thể đầy đủ chánh định. Mà tại sao giới không đầy đủ? Là tại vì không có chế ngự, kiềm chế, điều phục, điều ngự mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Mà tại sao không có chế ngự, kiềm chế, điều phục, điều ngự được mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý? Là tại vì không có tàm quý, không có trú tâm vô chỗ mình xấu hổ, nhục nhã, và sợ hãi các ác bất thiện pháp. Cho nên trình tự của Đức thế tôn tuyệt diệu lắm. Mình mà thực hành đúng như vậy là mình đi vào thôi, tối thiểu là phải nhập lưu, tối đa là lậu tận.

III. An trú tàm quý

Cho nên, nó kĩ lắm, chế ngự các căn thấy vậy đó chứ không phải chuyện đơn giản như mình hiểu đâu. Mình ngồi nghe pháp thôi, nhiều khi dáng ngồi mình có chế ngự các căn không là người ta biết, nhứt là cái máy quay, nó quay lên là cắt hoài, quay tới người đó là dao động, này nọ kia, cái tướng ngồi như sếp sòng, tướng này không phải là tướng ngồi nghe pháp. Thành ra, chế ngự cái căn này nó sâu xa lắm, do chánh niệm và tỉnh giác nó ở mức độ nào thì nó mới có cái chế ngự ở mức độ đó. Những bậc thành tựu, các bậc tôn đức bên Nam Tông mà mình gặp trên núi, không có nhận tiền, đồ ăn cũng vậy, cái này có rồi thì không xài, ở trong cái thất đơn giản, mình nói về giới hạnh, mình chưa nói tới mấy phương diện khác. Mình lại nói chuyện, nó khác với các vị lớn của bên mình, khác lắm, gần gũi, từ ái, thân thiện. Thành ra là do các ngài an trú trong tâm tàm quý.

Nhứt là các vị chia sẻ pháp cho mình, mình thấy không bao giờ tỏ ra một cái ta đây, tuy là thấu hiểu như vậy, trí huệ như vậy, đạo hạnh như vậy, công đức như vậy, đó là do người ta an trú cái tâm này. Còn mình giờ hiểu một chút rồi thì dẹp thầy qua một bên luôn, giờ con tự hiểu, tự tu được rồi. Giờ bắt đầu có nhiều rồi đó, chưa từng nghe, chưa từng hiểu, chưa từng thực tập tâm tàm quý, bảo sao không thấy xấu hổ. Sai phạm cái gì, lỗi lầm cống cao ngã mạn, sân hận, rác bẩn đầy ngập mà không thấy, mà nói tới là sân si, giận, thành ra nó khác với phàm phu vô văn là đa văn thánh đệ tử là vậy, khác xa lắm, dù cho hình thức có cạo đầu thì vẫn khác rất là xa. Dầu cạo đầu ở chùa suốt đời đi nữa mà không thực tập những pháp này thì cũng là vô văn phàm phu, cay đắng lắm, xót xa lắm, đau lòng lắm.

Người mà đã có chánh định đầy đủ thì tri kiến như thật đi đến đầy đủ. Một tâm an tịnh cộng với chánh tri kiến thành tựu chính là chánh định. Chánh định sẽ làm cho tri kiến như thật viên mãn. Như vậy, trước đó đã có chánh tri kiến rồi, chứ không có chánh tri kiến thì không có tàm quý, không biết thân này là thứ xú uế, dơ bẩn mà xấu hổ, nhục nhã. Nếu không có thấy đúng thân tâm mình thì làm sao có tàm quý. Cho nên trước đó đã thành tựu chánh tri kiến nhưng chưa được viên mãn. Khi nói chánh định đi đến đầy đủ thì chánh định có mặt, với người đầy đủ chánh định thì tri kiến như thật đầy đủ, và tri kiến như thật sau này là viên mãn, là thánh tuệ - tri kiến của bậc Thánh.

Khi nào tri kiến đầy đủ, thấu tột thì nhàm chán, ly tham đi đến đầy đủ. Khi thấy hết bản chất của thân này là đống sình thối ình, một đống phân đầy giòi thì thấy nhàm chán, không còn tham muốn. Thân này chẳng khác gì đống rác thối, nằm xuống vài bữa, quăng ra là giòi, côn trùng, vi trùng ăn. Mình ngồi đây bây giờ, chứ không biết bao nhiêu giun, sán, lãi, vi khuẩn, vi trùng ở trong thân này, không phải đợi tới chết mới có vi trùng, sán, lãi. Hiện tại dù chúng ta đang còn sống như thế này nhưng khi bác sĩ mổ trong ruột ra thì trong đó toàn là sán, lãi … nắm giữ cây nhíp kéo ra hai, ba chục con dài hai, ba tấc. Cho nên, tri kiến như thật mà đầy đủ rồi thì nhàm chán, ly tham đi đến đầy đủ. Cho nên muốn có được tâm yên định thì các Tỳ-kheo phải tu tập thiền định.

Tu tập thiền định tri kiến như thật hiển hiện; sắc vô thường như thật hiển hiện; thọ vô thường, cảm giác vô thường như thật hiển hiện; tưởng, hành, thức vô thường, khổ, vô ngã như thật hiển hiện. Mà vô thường, khổ, vô ngã, năm uẩn như thật hiển hiện thì sẽ thấy nhàm chán, không còn tham muốn. Mình còn tham là tại vì miệng vô thường, nghe vô thường, nhưng trong bụng chưa thấy vô thường, nó còn thấy đẹp, còn thấy thích, còn thấy ham, đó là tri kiến như thật chưa có đầy đủ. Tuy đã có tri kiến như thật, nhưng không đầy đủ, vẫn yếu hơn phàm phu tri kiến, si mê tri kiến, vô minh tri kiến, chấp thủ tri kiến, thế nên mình đang đi đến chỗ cho chánh tri kiến được đầy đủ.

Chánh tri kiến có mười phần, mình mới có được hai, ba phần, mà đã nói “tôi như vậy được rồi” là hủy hoại công đức, đạo hạnh tu hành của mình, đó gọi là bán đồ nhi phế - nửa đường bỏ cuộc. Trường hợp này rất nhiều, hiểu được chút, hành được chút là tự mãn, tự thấy đầy đủ. Sáng này khi Minh Thành hỏi mấy chú chuyên gia làm kiểng, bonsai là làm cây này bao lâu, mấy chú trả lời là 15 năm. Chúng ta thấy đó, cây kiểng làm chơi thôi mà đã mất 15 năm, giờ tu mới có 5-7 năm mà muốn làm thầy, làm bà hết rồi, như vậy không được, vì chóng thành dễ hoại. “Nguyên bất thâm tất lưu bất trường – Tích công bất đa, dụng xứ bất diệu”, tức là nguồn không sâu thì dòng không dài, công phu tích lũy không nhiều, thì tác dụng không vi diệu, không lớn. Ngọn lửa rơm nó cháy phừng lên thì chút xíu sẽ dập tắt, tàn lụi, bạo phát bạo tàn.

Chính vì vậy, tu hành đòi hỏi phải có sự kiên trì, nổ lực bền lâu và liên tục, liên tục cho đến khi lậu tận, chứ không phải nhập lưu nữa. Tu mà xem thường, tự mãn, cẩu thả thì làm sao thể nhập chánh tri kiến được. Thế nên, tu học phải có sự cẩn trọng, Đức Phật nói giống như không có cành lá thì các mầm non không thể sung mãn được; vỏ trong giác cây, lõi cây không đi đến đầy đủ được. Cũng vậy, người không có sự sợ hãi và hổ thẹn thì không thể chế ngự các căn, không thể đầy đủ giới, không thể thành tựu chánh định, không thể tri kiến như thật viên mãn mà sinh nhàm chán, ly tham đi đến chỗ giải thoát tri kiến được. Còn một cái cây có cành lá, các mầm non của cây sẽ tươi tốt, đầy đủ, vỏ trong, lõi cây, giác cây sẽ đi đến trọn vẹn.

Vì vậy, người tu chúng ta phải luôn luôn an trú trong tâm tàm quý, hổ thẹn, xấu hổ với những ác, bất thiện pháp. Tại sao các bậc đa văn thánh đại tử làm được, tại sao các bậc tiền bối làm được, thậm chí tại sao các vị cư sĩ làm được, mà mình cái đầu trọc, ăn hết cơm gạo nhà chùa mà không làm, mà không thấy xấu hổ, không thấy nhục nhã, mà còn cao ngạo. Phải tác ý như vậy, để an trú trong tâm hết sức là xấu hổ, hết sức là sợ hãi đối với ác bất thiện pháp. Mỗi khi pháp bất thiện sanh khởi, lập tức tác ý:“chán chường mày quá rồi, chán chê mày quá rồi, ê chề mày quá rồi, ngao ngán mày quá rồi, sợ mày quá rồi, nhàm chán mày quá rồi ,mày làm ơn tan biến, làm ơn diệt tận, làm ơn thành mây thành khói, thành hư không luôn đi, đừng sanh khởi trở lại trong tương lai nữa, ta đã bị mày hại bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp rồi chưa đủ hay sao?”

Người tu chúng ta phải quán chiếu năm uẩn mới thấy được những rác bẩn, cấu nhiễm trong tâm, bằng không, bản ngã chình ình mà mình không thấy, sân ầm ầm nhưng không thấy, vô minh dày đặc nhưng không thấy, vô minh mà cứ cho là thông minh, càng cho là thông mình thì lại càng vô minh. Cần phải có một sự soi rọi thân tâm thường xuyên, thường lưu, thường trực thì mới thấy được những tâm cấu uế, bất thiện, thấy rồi mới xấu hổ, mới sợ hãi. Sau khi xấu hổ, sợ hãi thì mới lo chế ngự thân tâm, từ đó lần lần mới thành tựu được giới. Khi giới được đầy đủ thì mình được vào tâm an định, chánh định, vào các tầng thiền định. Khi vào được các tầng thiền định thì tri kiến như thật được sáng rực lên, lúc đó nhàm chán ly tham tận cùng. Tới lúc bấy giờ giải thoát tri kiến được viên mãn, đó là bậc lậu tận, bậc tối thiểu cũng là Tu-đà-hoàn. Giải thoát tri kiến là thấy biết về giải thoát, xác lập, xác quyết thẳng tiến tới chánh giác, không còn lui sụt, đó là bậc dự lưu, không bao giờ có sự lui sụt của một bậc dự lưu, chỉ tiến thẳng tới, sớm muộn gì thôi.

Đó là cảm xúc của Minh Thành khi sáng nay lạy Phật, lạy kinh Nikāya cùng quý thầy, quý cô, hay lắm, tuyệt vời lắm.

Trước khi đại chúng về, Minh Thành xin đọc tin Phó thủ tướng gửi: Tất cả chúng ta cùng chung tay nhé, tuần sau là mốc quan trọng !!! Chúng ta có tầm 4-6 ngày để chuyển giai đoạn từ 30 ca nhiễm bệnh lên đến mức 100-500 ca. 4-6 ngày sau thôi, nó chuyển từ giai đoạn hiện tại của mình có 67 ca nhiễm rồi, liên tục, liên tục con số nhảy lên. Hiện tại người ta đang đi tìm những người đi trên 11 chuyến máy bay, 11 chuyến đó đều có người nhiễm. Hiện tại giai đoạn từ 67 ca, có thể lên đến 500 ca, Và có khoảng 8-12 ngày (sau khi thiết lập mốc 500 ca nhiễm bệnh) để lên mức 1000-5000 ca. Rất cần truyền thông để bà con ở nhà! Hạn chế đi lại 1 tuần để đợt sóng này biểu hiện lâm sàng hết và khoanh lại!!! Rất ngắn ở mức này! Việc hạn chế ra ngoài lúc này là cực kỳ cần thiết. Chúng ta sẽ làm lại từ đầu. Toàn dân, toàn đảng, toàn quân một ý chí, chúng ta sẽ làm lại từ đầu (theo PTT. Vũ Đức Đam). Rất là nguy hiểm trong khoảng thời gian tính ròng khoảng 3 tuần, là mốc quan trọng, có thể nhảy lên 500 ca cho đến 5000 ca. Cho nên là mình hạn chế tối đa đi ra ngoài./.