Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

8 Sự Vi Diệu Của Như Lai

2026-03-03 00:55:24
TÁM SỰ VI DIỆU CỦA NHƯ LAI

Thích Minh Thành

Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu bày kinh Vi Diệu trong Tăng Chi Bộ kinh, chúng ta sẽ được nghe tám điều vi diệu của Đức Thế Tôn.

Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có xuất hiện. Thế nào là bốn?

Này các Tỳ-kheo, khi Bồ-tát từ bỏ thân ở cõi trời Ðâu-suất, chánh niệm, tỉnh giác, nhập vào mẫu thai, khi ấy, một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có thế giới của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm thiên, quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến những thế giới ở chặng giữa bất hạnh, không có nền tảng, tối tăm u ám, tại đấy, mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu ánh sáng. Trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thâm diệu thắng xa uy lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh, sanh tại đấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây". Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có thứ nhất xuất hiện.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, khi Bồ-tát chánh niệm tỉnh giác, từ bụng mẹ sanh ra, khi ấy, một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có thế giới của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm thiên, quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến những thế giới ở chặng giữa bất hạnh, không có nền tảng, tối tăm u ám, tại đấy, mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu ánh sáng. Trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thâm diệu thắng xa uy lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh, sanh tại đấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây". Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có thứ hai xuất hiện.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, khi Như Lai chứng ngộ được vô thượng Chánh Ðẳng Giác, khi ấy trong thế giới chư Thiên ... (như trên) ... "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây". Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, xuất hiện, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, khi Như Lai chuyển bánh xe pháp vô thượng, khi ấy trong thế giới chư Thiên ... (như trên) ... "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây". Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, xuất hiện, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện.

Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán,Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (VII) (127) Vi Diệu (1)).

Đây là bốn lần ánh sáng thần diệu soi khắp muôn ngàn thế giới. Lần thứ nhất là Bồ tát vào thai mẹ, lần thứ hai là Bồ tát đản sanh, lần thứ ba là Bồ tát chứng ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác, lần thứ tư là lúc Như Lai chuyển đại pháp luân. Đó là bốn điều vi diệu thứ nhất.

Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện. Thế nào là bốn?

Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích chấp giữ, thích thú chấp giữ, hoan hỷ chấp giữ, khi pháp không chấp giữ được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ nhất xuất hiện.

Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích kiêu mạn, thích thú kiêu mạn, hoan hỷ kiêu mạn, khi pháp không kiêu mạn được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ hai xuất hiện.

Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỷ không an tịnh, khi pháp an tịnh được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện.

Này các Tỳ-kheo, quần chúng đi đến vô minh, trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy, khi Như Lai thuyết pháp nhiếp phục vô minh, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện.

Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (VIII) (128) Vi Diệu (2))

Nếu Như Lai không xuất hiện ở cõi đời này thì tất cả chúng sanh sẽ chìm đắm trong bóng tối, trong si ám và trong sự vô minh, chấp thủ. Không một ai có khả năng soi rọi ánh sáng để phá vỡ vô minh, chấp thủ và tham ái của chúng sanh nếu bậc Chánh Đẳng Giác không xuất hiện và không nói pháp, tất cả muôn ngàn thế giới sẽ chìm ngập trong bóng đêm, trong đêm dài không thấy lối ra. Cho nên ngày hôm nay là ngày trọng đại, là ngày để chúng ta nhớ ơn ngày đản sanh của bậc đại thánh nhân, một ngày duy nhất và độc nhất xuất hiện ở thế gian này đem lại lợi lạc, hạnh phúc cho đa số chư thiên và nhân loại. Lợi ích như thế nào? Cứu khổ như thế nào? Công đức của Phật như thế nào sẽ được chúng ta tìm hiểu qua một ví dụ sau đây: Quý vị có thể tưởng tượng một người mù sống một mình trong căn nhà đầy rẫy những rác bẩn, những sự cấu uế, hôi dơ 50 năm, từ khi sanh ra đã mù ở trong một căn nhà như thế. Một hôm người này gặp thần y, được thần y cho diệu dược nên con mắt của người này được sáng tỏ, hết bị mù. Khi đã thấy được thì đầu tiên người này thấy rác, đầy rẫy rác bẩn hôi thối trong nhà, nhìn thấy bao nhiêu rác bẩn hôi hám thì người này sẽ phải dọn rác, hốt rác, đổ rác, lau chùi. Sau khi người này làm vệ sinh quét dọn sạch sẽ, hoàn toàn không còn rác dính trên sàn nhà nên nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm. Đó là toàn bộ đạo lộ tu tập của chúng ta. Và vị thần y đó chính là Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Diệu dược, linh dược đó chính là chánh pháp ly tham vô thượng. Người y tá chăm sóc cho mọi người hết bệnh, nhắc nhở uống thuốc, điều trị đúng theo lời thần y chính là bốn đôi tám vị hiền thánh Tăng là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Đó là giá trị của Tam Bảo, qua ví dụ minh họa này Minh Thành sẽ hợp pháp giải ra để mọi người thấy chỗ thâm sâu và công đức vô tận của Đức Thế Tôn, chánh pháp và các bậc hiền thánh Tăng.

Người mù đó chính là chúng sanh, là mình đã bị vô minh che đậy nên trở thành người có mắt như mù. Từ khi sanh ra đã mù, gọi là mù bẩm sinh, từ khi sinh ra đã mù lòa thì gọi là sanh manh. Mù như thế nào? Chúng ta bị mù, bị đui, đỡ hơn là bị chột trong sự thật, chúng ta bị mù lòa đối với chân lý, mù lòa đối với bản chất thân tâm chính mình chứ không phải mù với ai. Mù ở chỗ không biết mình là cái gì, không biết cái gì cấu tạo ra cục thịt 60kg này, không biết cái gì tạo thành những cảm giác, nhận thức, nghĩ tưởng bên trong thân tâm. Mù lòa đối với năm thủ uẩn.

Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?

Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi... (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, 29.VII. Mù Lòa) 

Toàn bộ tạng kinh Nikāya gồm 5 bộ được Đức Thế Tôn trình bày thánh trí về năm uẩn, mà năm uẩn chính là thân tâm và thế giới. Một chữ sắc uẩn là bao trùm hết nhân sinh vũ trụ, người vật, núi non, sông ngòi đều được Đức Thế Tôn dùng một chữ thôi, chỉ một chữ mà tóm thâu toàn bộ vũ trụ, chính là sắc uẩn. Sắc này do tứ đại hợp thành mà mình mù, không thấy, mình cứ nghĩ sắc này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.

Con tôi, tài sản tôi,

Người ngu sanh ưu não,

Tự ta, ta không có,

Con đâu, tài sản đâu.

(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 62)

Mình không thấy được cục thịt này, đống thịt này, bong bóng da này do đất; nước; gió; lửa tạo thành. Mình chấp thủ, bám chặt vào đống thịt này rồi một ngày kia nó bỏ mình ra đi, những người thân thương nhất cuốn mình lại bằng tấm chiếu manh rồi đưa mình vào lò thiêu. Thật sự là đau lòng! Một sự mê lầm, không thấy rõ được đây chỉ là sắc uẩn vô thường, mình cứ khăng khăng bám chặt vào tấm thân này, nếu có ai đụng vào thân này là mình phựt cháy lên, bùng cháy lên. Chỉ cần có ai liếc mình một cái thôi là mình ăn không ngon, ngủ không yên. Vậy nên đây là khổ, khổ là đây. Mình chỉ vừa nói đến một sắc uẩn thôi mà đã vậy, ngoài ra còn bốn uẩn nữa vì ngũ uẩn là năm thứ, năm đống chình ình. Đi đâu cũng vác bản ngã to lớn, bám chặt vào đống này, ta là giỏi, là tài, là hơn người, khen mình chê người rồi khổ. Hôm nay chúng ta đã thấy được mặt trời trí huệ của Đức Thế Tôn, mình sẽ dùng ánh sáng soi cho thủng đống sắt vụn này, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu máu, bao nhiêu những sự ganh tỵ, mưu mô, bao nhiêu sự gian trá cũng vì đống thịt mấy chục kí lô này. Thật là đáng thương thay! Mình bị mù lòa đối với đống sắc này, mình bị mù đối với xe cộ, nhà cửa, tiền bạc, đất đai… mình chạy đi tìm từ nhỏ đến lúc già lụm khụm, đi không nổi cũng còn chạy đi tìm kiếm, đó chính là khổ thánh đế. Chỉ có trí huệ của Đức Thế Tôn trong tạng kinh Nikāya mới chỉ cho mình thấy được những dục tham ái trong thân tâm đã sai khiến mình bao năm nay.

Đống thứ hai trong ngũ uẩn chính là cảm giác, cảm thọ. Trong đống này chứa tất cả pháp.

Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).

Mình đừng nghĩ khi nói đến dục chỉ có chuyện nam nữ, đó là phàm phu pháp, không tu cũng biết. Còn trong đạo Phật khi nói đến dục là một sự thúc giục trong nội tâm, ái là cảm giác khoan khoái, thích thú, bịn rịn, tham là cảm giác muốn thêm.

Dục: sự thúc giục.

Ái: khoan khoái, thích thú

Tham: muốn thêm.

Khi đi chợ mua đồ, đến khi cân kí trả tiền thì lại bốc thêm vài trái nữa "cho thêm đi" thì đó là tham, là ham. Trong cảm giác này sai khiến mình, mình chưa thành tựu trí huệ trong năm uẩn là mình mù với cảm giác này suốt tuần, suốt tháng, suốt năm, cả đời mình đều chạy đi tìm cảm giác, mình cung phụng, làm nô lệ cho dục và tham, cuối cùng đến khi nằm xuống thì đã muộn màn. Thân này không bao lâu sẽ nằm dài trong đất, bị vứt bỏ vô thức như khúc cây vô dụng, hãy quán chiếu cho thâm sâu trong những giây phút ngồi yên tịnh để tháo gỡ ra làm sáng con mắt pháp để thanh tịnh pháp nhãn được tròn sáng. Từ rất lâu ta và các ông không thấy rõ Tứ thánh đế cho nên phải chịu bao nhiêu những sự thống khổ, ách nạn, tai nạn, bao nhiêu dòng nước mắt đã tuôn rơi rồi, bao nhiêu dòng lệ đã đổ xuống rồi, bao nhiêu sự thống khổ mà chúng ta đã từng chịu đựng, bao nhiêu sự đau khổ vì sự mất cha, mất mẹ, mất chồng, mất con, mất cháu. Dòng lệ mà các người đổ xuống tràn ngập cả bốn biển đại dương.

Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.

... các Ông chịu đựng con chết...

... các Ông chịu đựng con gái chết...

... các Ông chịu đựng tai họa về bà con...

... các Ông chịu đựng tai họa về tiền của...

Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật. Cái này là nhiều hơn, là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì mình không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải chịu đựng tai họa của bệnh tật chớ không phải nước trong bốn biển. Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt).

Từ rất lâu rồi chúng ta đã ngủ một giấc dài trong vô minh và si ái, chúng ta đã bị những cảm giác này thúc giục, sai khiến, hành hạ, suốt ngày mình cứ chạy đi tìm cảm giác, đi tìm cảm giác ăn ngon mặc đẹp, ở nhà cao cửa rộng, đi du lịch đó đây mà không biết rằng hiểm nguy và tai hạn rình rập, ở sát bên vai mình. Cái bệnh, cái tai nạn, cái hiểm nạn, khổ nạn, sự vô thường bất trắc có thể ập đến bất kì lúc nào mà mình lại quên lãng, suốt ngày chỉ suy nghĩ tốt sai, hay dở, thị phi, mập ốm, cao thấp.

Cười gì, hân hoan gì,

Khi đời mãi bị thiêu?

Bị tối tăm bao trùm,

Sao không tìm ngọn đèn?

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 146)

Hãy nhìn sâu vào để thấy chính cảm giác này sai khiến mình, trong khi mình đã mệt mỏi rồi, tóc đã pha sương rồi mà vẫn còn chạy đi tìm kiếm, đi truy tầm, cứ chạy hoài, tìm hoài rồi cứ đói khát hoài, Đức Thế Tôn gọi đó là khát ái, không dừng lại được. Cuối cùng thành tích, chiến tích trong sáu bảy chục năm tranh đấu, cạnh tranh nhau là một đống xương, là một hủ cốt trên bàn thờ.

Cay đắng cho một cuộc đời vô minh!

Xót xa cho một kiếp sống mù quáng!

Đau thương cho một nhân sinh si ám và mê muội!

Mọi người hãy biết thương nhau đi! Thương cái tấm thân mệt mỏi này, thương cái tấm thân mấy chục kí đã hành hạ mình. Đây là giai đoạn mà Minh Thành nói về sắc uẩn và thọ uẩn, nãy giờ mình nhìn thấy được là mình bắt đầu sáng con mắt. Nhìn thấy được tất cả phiền não tham sân si, bản ngã, vô minh trong tâm thì đó chính là bậc Tu-đà-hoàn, chính là thánh quả thứ nhất mới thấy được tham sân si, bản ngã, dục ái ở trong ngũ uẩn, còn người bình thường do bị mù nên làm sao thấy được rác trong nội tâm. Có một anh chàng nghe hai người nói chuyện với nhau về một người tốt hết nhưng có một điều là hay nổi nóng, anh này nhào lại túm cổ áo "tôi nổi nóng hồi nào?", đó là bị mù thì làm sao thấy mình đang nổi sân. Minh Thành đã chia sẻ bài Nhận Diện Chính Mình chính là nhìn thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức, bài hôm nay bước thêm một bước cao hơn nữa, tức là sau khi quý vị đã thấy đâu là sắc, đâu cảm thọ, đâu là tưởng trong nội tâm, những hình bóng, hành là những suy nghĩ, thức là rõ biết, quý vị thường trực nhận diện năm uẩn liên tục sẽ thấy trong năm uẩn này đầy rẫy tham sân si, vô minh, dục ái và bản ngã, khi quý vị thấy được như vậy thì thánh trí bắt đầu khởi động trong thân tâm, con mắt tuệ giác bắt đầu được khai mở. Trong ví dụ đầu tiên Minh Thành đã nói ở trên thì người đã sáng mắt chính là thánh quả thứ nhất, sáng mắt thì thấy được rác bẩn trong nội tâm chính là bậc Sơ quả Tu-đà-hoàn, thánh quả thứ nhất. Người hốt những rác thô, tất cả những các rác hốt ra đem đổ là thánh quả thứ hai, là bậc Nhất lai hay còn gọi là Nhị quả Tư-đà-hàm. Sau khi đã hốt rác thô thì còn dính những chất dơ không phải đơn sơ dùng cây lau nhà có thể lau được mà phải dùng chổi chà, bàn chải bằng sắt chà cho mạnh mẽ, thậm chí dùng xà bông, thuốc tẩy, như vậy giai đoạn lau chùi, quét dọn những cái rác vi tế này là thánh quả thứ ba, là bậc Bất lai hay còn gọi là Tam quả A-na-hàm. Khi lau sạch hết tất cả những rác bẩn thô tế, chỉ còn lại căn nhà thơm tho sạch sẽ thì đó là Tứ quả A-la-hán, là thánh quả tối cao trong Phật giáo. Như vậy tu chỉ là việc quét nhà, mọi người có làm được không? Có quyết tâm không? Nhưng nếu không thấy rác thì không thể hốt rác được, điều này là điều tiên quyết, muốn nhìn thấy rác thì phải sáng mắt, mà sáng mắt là phải thường trực nhận diện năm uẩn. Phải biết đây là sắc uẩn, những cảm giác là thọ uẩn, những hình bóng lờ mờ trong nội tâm là tưởng uẩn, đừng nghĩ nó là tâm của mình mà nó chỉ là tưởng uẩn thôi, cái tưởng sanh diệt vô thường, những suy nghĩ lầm thầm, thỏ thẻ, thủ thỉ làm mình không ngủ được là hành uẩn. Nếu mình chấp nhận những cái này là tâm mình thì mình còn đang mù lòa, mình chưa biết nó chỉ là ngũ uẩn, là pháp duyên sanh, mới khóc đây lại cười, mới suy nghĩ vậy mà lát sau lại đổi ý, lúc xưa thì nghĩ không có anh thì đời em chỉ là con số 0 mà bây giờ nếu có ông thì tôi mệt thêm, mọi người có thấy thọ; tưởng; hành; thức là đồ gian dối, đồ biến đổi, đồ giả tạo, nó lật như bánh phồng, nó tráo trở như bánh tráng, vì bản chất của nó là vô thường, là biến đổi, chính mình mà còn thay đổi liên tục thì đừng bắt người ta không được thay đổi. Vì bản chất của năm uẩn là như thế, là vô thường cho nên cảm giác thay đổi liên tục, cái tưởng cũng thay đổi, cái hành cũng đổi và cái thức cũng đổi nhưng do mình không thấy, không biết, mình chấp mê bất ngộ, mình tưởng là một bầu trời hồng tươi nhưng sau đó đổi thành tím ngắt. Tất cả năm thủ uẩn là vô thường, là biến đổi, là lừa dối vì bản chất là vậy, mới nói như vậy nhưng lát sau "cho tôi nói lại", mình phải thấy được tính chất sanh diệt vô thường, biến hoại, trống rỗng của năm thủ uẩn. Khi ngồi thiền mình phải thường trực nhìn lại cảm giác trong thân tâm, nếu có cảm giác khoan khoái, thích thú thì đó là tham, cảm giác bực bội, khó chịu là sân, cảm giác trơ trơ, ngu ngơ, đờ đẫn là si. Khi đã thấy được như vậy thì dùng chánh niệm tỉnh giác đánh đuổi nó, chuyển hóa nó thì mới gọi là tu. Còn lên bồ đoàn ngồi nhắm mắt, thở vô thở ra, cổ quẹo sang bênh rồi gục xuống là ngủ luôn. Tu như vậy thì khổ vô cùng, đi làm mệt cả ngày rồi lên ngồi thiền, nhắm mắt ngồi thở vô thở ra một lúc là ngủ gật luôn, lúc đó mình phải có trí huệ tỉnh táo, nhìn thấy lúc đó cảm giác toàn thân như thế nào. Lúc nào Minh Thành cũng nhắc nhở thực tập ba pháp: Chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Ba pháp này phải được thực hành liên tục, không gián đoạn, thực hành bất kì lúc nào chứ không phải đợi đến lúc ngồi thiền mới thực hành, vì tất cả những phiền não, cấu uế, rác bẩn nằm trong cảm giác, vì thế phải nhìn lại cảm giác để thấy rác, từ đó mình mới lau dọn, quét chùi, tẩy rửa, mà mình làm tổng vệ sinh sạch sẽ thì đó là A-la-hán, là Niết-bàn, là cứu cánh giải thoát. Vậy mà không chịu thực tập mà suốt ngày cứ cầu xin Phật độ cho con, Bồ tát độ cho con, đó chỉ là sự hướng ngoại, mê tín, còn Đức Phật chỉ cách cho mình nhìn lại chính bản thân mình để dọn rác bẩn, cấu uế trong nội tâm. Bây giờ ai là người có thể giúp mình hạ thấp bản ngã, cái tôi to lớn nếu mình không muốn quán chiếu, dùng Như lý tác ý để pháp giải, đánh đuổi nó? Cho nên giai đoạn nhìn thấy rác là cực kì quan trọng, mà muốn nhìn thấy rác thì phải sáng con mắt, mà sáng con mắt thì đó là bậc chánh tri kiến thường trực thấy được năm uẩn, đừng nhận lầm đây là tôi, đây là của tôi mà phải thấy đó là sắc uẩn, sắc pháp, là một cục thịt đang di động và cục thịt này đang làm khổ mình, cảm giác tham dục ái đang sai khiến mình và mình phải thấy được nó rồi kiểm soát nó chứ không để nó qua mặt, không để nó sai khiến mình. Vì vậy Minh Thành thường nói mình phải biết được tên tuổi, mặt mũi, tánh tình của nó thì sau đó mới trị nó được, còn đằng này mình không biết gì hết, cũng như anh chàng vừa nói khi nãy, cho rằng mình không nổi nóng mà lại túm cổ áo người ta. Có nhiều Phật tử lại nói "thưa thầy, bây giờ con hết tham sân si rồi", vậy thì người này cũng bị mù như anh chàng khi nãy. Để nhìn thấy được tham sân si chính là thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn, chỉ Sơ quả Tu-đà-hoàn mới có thể hiểu được chính xác về sự sanh khởi và vận hành của tham sân si, chấp ngã, mọi người có thấy khủng khiếp không? Cho nên bậc thánh nhân không phải lên trời trên mây có hào quang đủ màu, cái này chỉ có trong phim, mà thánh nhân là nhìn thấy được bản chất của tự thân tâm chính mình, thấy rõ được tất cả những cấu uế, ô nhiễm, những phiền não đang vận hành, sai khiến và sau đó tẩy sạch, diệt tận được nó, đó mới gọi là bậc thánh nhân.

Có một vị Tỳ-kheo đến bạch Thế Tôn rằng ngài Xá-lợi-phất (Sariputta) sau khi phạm lỗi với vị Tỳ-kheo kia đã bỏ đi mà không xin lỗi. Đức Thế Tôn cho người mời ngài Xá-lợi-phất. Ngài Anan đi từng nơi nói với các vị Tỳ-kheo khác đến chỗ của Thế Tôn để nghe tiếng gầm của sư tử, mọi người biết rằng ngài Xá-lợi-phất là một bậc A-la-hán, là tướng quân của chánh pháp mà bị một vị Tỳ-kheo bình thường vu khống cho ngài, hôm nay các vị thánh Tăng khác sẽ nghe vị tướng quân chánh pháp rống tiếng rống của sư tử trước mặt của Như Lai.

 Rồi một Tỳ-kheo, sau khi Tôn giả Sàriputta ra đi không bao lâu, bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta xâm phạm con, đã bỏ đi du hành, không có xin lỗi con.

Thế Tôn cho gọi một Tỳ-kheo:

- Này Tỳ-kheo, hãy đến nhân danh Ta, nói với Sàriputta: "Thưa Hiền giả, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả".

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỳ-kheo ấy, vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói với Tôn giả Sàriputta:

- Thưa Hiền giả Sàriputta, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.

- Thưa vâng, này Hiền giả.

Tôn giả Sàriputta vâng đáp Tỳ-kheo ấy. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahà Moggallàna và Tôn giả Ananda cầm chìa khóa, đi từ tinh xá này đến tinh xá khác nói rằng:

- Chư Tôn giả hãy đến! Chư Tôn giả hãy đến! Nay Tôn giả Sàriputta sẽ rống tiếng rống con sư tử trước mặt Thế Tôn. (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I) (11) Sau Khi An Cư)

Sau khi Thế Tôn hỏi thì ngài Xá-lợi-phất mới nói một người không tu tập niệm thân, tức là không quay lại quán chiếu tự thân tâm mình thì người đó mới phạm lỗi người ta rồi bỏ đi mà không xin lỗi. Đã từ rất lâu con an trú tâm con giống như đất, ai muốn quăng bỏ bất kì thứ gì dơ bẩn lên thì đất không bao giờ có sự khó chịu, hận sân. Tâm của con vô lượng vô biên an trú bất động giống như đất.

Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên Thế Tôn, nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:

- Ở đây, này Sàriputta, một đồng Phạm hạnh có điều bất mãn với Thầy: "Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta xâm phạm con đã bỏ đi du hành, không có xin lỗi con".

- Thật vậy, bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm trên thân, người ấy, ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, trên đất, người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ bất tịnh, quăng phẩn uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và quăng máu; tuy vậy đất không lo âu, không xấu hổ, hay không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như đất, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi. (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I) (11) Sau Khi An Cư)

Đã từ rất lâu, tâm của con yên trú bất động giống như lửa, giống như gió, nước. Mặc tình ai quăng cái gì vào thì nước cũng không bao giờ bực bội, khó chịu, sân hận.

Ví như, bạch Thế Tôn, trong nước người ta rửa đồ tịnh, rửa đồ bất tịnh, rửa sạch phẩn uế, rửa sạch nước tiểu, rửa sạch nước miếng, rửa sạch máu, rửa sạch mủ; tuy vậy nước không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như nước, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, lửa đốt các đồ tịnh, đốt các đồ bất tịnh, đốt phẩn uế, đốt nước tiểu, đốt nước miếng, đốt mủ, đốt máu; tuy vậy lửa không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như lửa, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, gió thổi các đồ tịnh, thổi các đồ bất tịnh, thổi phẩn uế, thổi nước tiểu, thổi nước miếng, thổi mủ, thổi máu; tuy vậy gió không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như gió, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi. (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I) (11) Sau Khi An Cư)

Bạch Thế Tôn, đã từ lâu ngày rồi con an trú tâm con giống như nùi giẻ để người ta lau chùi bất kì thứ gì, ai có quăng cái gì dơ bẩn, hôi hám, bất tịnh thì con cũng sẵn sàng lau chùi hết cho tất cả mọi người. Tâm con an trú bất động, không hận không sân mà rất bình thản.

Ví như, bạch Thế Tôn, một miếng vải lau chùi lau các đồ tịnh, lau các đồ bất tịnh, lau phẩn uế, lau nước tiểu, lau nước miếng, lau mủ, lau máu; tuy vậy miếng vải lau chùi không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như miếng vải lau chùi, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi. (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I) (11) Sau Khi An Cư)

Bạch Thế Tôn, đã từ lâu rồi con an trú cái tâm con giống như con bò đực bị cưa mất hai sừng. Con bò không còn sừng nữa thì có thể làm được gì ngoài việc chỉ biết gặm cỏ một cách hiền thiện.

Ví như, bạch Thế Tôn, một con bò đực, với sừng bị cưa, hiền lương, khéo điều phục, khéo huấn luyện, đi lang thang từ đường này đến đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, không hại một ai với chân hay với sừng. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như một con bò đực với sừng bị cưa, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi. (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I) (11) Sau Khi An Cư)

Bạch Thế Tôn, đã rất lâu rồi con an trú cái tâm con giống như kẻ đi ở đợi Chiên-đà-la thấp nhất trong xã hội này. Có ai khinh khi hay hủy nhục thì tâm con cũng không hận không sầu.

Ví như, bạch Thế Tôn, con trai của một người Candàla (Chiên-đà-la: hạ liệt) hay con gái của một người Candàla, với tây cầm bát ăn xin, mặc đồ rách rưới, đi vào làng hay đi vào thị trấn, với một tâm trạng hạ liệt. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như con trai của một người Candàla hay con gái của một người Candàla, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi. (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I) (11) Sau Khi An Cư)

Đã từ lâu rồi, con xấu hổ với tấm thân thủng lỗ, con mắt chảy ra những cục ghèn, với hai lỗ tai có ráy tai, lỗ mũi chảy nước mũi dơ bẩn, với cái miệng đầy nước bọt, con xấu hổ với tấm thân bất tịnh hôi dơ, không sạch sẽ này thì làm sao con có thể phạm lỗi rồi con khinh thường, không xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, có người mang một cái bát đầy mỡ, có thủng nhiều lỗ, thủng nhiều đường, bị chảy, bị rỉ. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con mang cái thân này, có thủng nhiều lỗ, có thủng nhiều đường, bị chảy, bị rỉ. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi. (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I) (11) Sau Khi An Cư)

Khi ngài Xá-lợi-phất gầm lên tiếng rống của sư tử như thế, ngài diễn đạt sự thật như vậy thì vị Tỳ-kheo đã vu khống cho ngài liền khóc lóc và quỳ lạy ngài. Đức Thế Tôn thấy vị Tỳ-kheo kia sám hối thì Thế Tôn nói rất tốt, nếu không sám hối thì đầu ông ấy sẽ bị vỡ tung ra vì phạm tội vu khống cho một bậc A-la-hán, một bậc thánh nhân.

Rồi Tỳ-kheo ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, con đã phạm một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện. Con đã xuyên tạc Tôn giả Sàriputta, không ý thức, trống không, vọng ngôn, không thật. Mong Thế Tôn chấp nhận cho con tội ấy là một tội để con ngăn đón về tương lai.

- Này Tỳ-kheo, thật là một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, Thầy đã xuyên tạc Tôn giả Sàriputta, không ý thức, trống không, vọng ngôn, không thật. Này Tỷ kheo, vì Thầy đã thấy tội ấy là một tội, đã phát lộ đúng pháp, Ta chấp nhận tội ấy cho Thầy. Ðây là một sự tiến bộ, này Tỳ-kheo, trong Pháp Luật của bậc Thánh, những ai thấy tội là tội, phát lộ đúng pháp, và ngăn đón trong tương lai.

Rồi Thế Tôn, nói với Tôn giả Sàriputta:

- Này Sàriputta, hãy tha thứ kẻ ngu si này, trước khi ở đây, đầu nó sẽ bị vỡ tan làm bảy mảnh.

- Bạch Thế Tôn, con tha thứ cho Tôn giả ấy, nếu Tôn giả ấy nói với con: "Hãy tha thứ cho", và cũng mong Tôn giả ấy tha thứ cho con. (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I) (11) Sau Khi An Cư)

Vì vậy mình tu là phải nhớ dọn rác trong nội tâm, và nếu có ai nói mình sao hung dữ quá thì mình hãy trả lời "Dạ, đúng rồi, em còn dữ, bây giờ em ráng tu để hiền lại. Em cám ơn chị". Hoặc có ai nói mình bản ngã còn cao thì "Dạ đúng, bản ngã của em còn to lớn lắm, em đang cố gắng bào mòn nó, cảm ơn chị đã nhắc nhở". Nếu làm được như vậy thì mình đã vào hướng Dự lưu, chuẩn bị bước vào cửa hiền thánh. Tu như vậy mới là Phật tử, mới là con Phật, còn đằng này người ta mới nói mình một câu mà mình trả lời đến bảy câu. Mỗi ngày đạp vào nùi giẻ thì phải quán chiếu đây là mình, mình là nùi giẻ, làm tấm lau chân, ai có chê khen, có hủy nhục, có khinh khi gì cũng đều được hết. Hủy nhục cái đống xương này, đống tro này thì có gì đâu, cứ hủy nhục để mình thấy rõ sự thật của thân thể này, từ đó mình mới bớt đam mê, bớt chấp thủ, chấp ngã. Khi mình nghĩ về mình trong nội tâm thì lúc nào cũng hiện ra hình ảnh bản thân cúi đầu thấp xuống, cái tôi cúi đầu xuống, cái ngã gục đầu xuống lạy Tam Bảo, lạy cô chú, lạy ba mẹ ông bà, lạy những người ngang hàng với mình, lạy những người thấp hơn mình. Mình phải bắt bản ngã, bắt sự cống cao ngã mạn cúi xuống mà lạy rồi mình tác ý "ta nguyện là ta sẽ diệt tận bản ngã khốn khổ này, chính bản ngã làm cho ta đau đớn, nhức nhối và bệnh hoạn, bản ngã này còn độc hơn cả bệnh ung thư". Mọi người về nhà vẽ lên tường cái đầu lâu có hai khúc xương bắt chéo nhau, trong có ghi "bản ngã nguy hiểm hơn kẻ giết người" để nhắc nhở mình hằng ngày chứ không mình bị mù rồi đi đâu cũng vác theo cái bản ngã to đùng như núi Tu Di, mà bây giờ có đến năm đống đè lên vai thì làm sao có thể chịu nổi. Năm đống đó là: Cho rằng sắc là mình, cảm giác là mình, tưởng là mình, hành là mình và thức cũng là mình, như vậy là núi Ngũ Hành Sơn đè mình. Tôn Ngộ Không bị Ngũ Hành Sơn đè 500 năm không thể thoát ra được và Ngũ Hành Sơn tượng trưng cho năm uẩn, bản ngã của năm uẩn chình ình đã đè mình trong vô lượng vô biên kiếp. Thật là thương cho cái chấp ngã của mình! Thật là khổ cho cái chấp ngã này! Cay đắng cho cái chấp ngã này, cứ suốt ngày suy nghĩ mình thua người ta, mình hơn người ta, lòng vòng suốt ngày cứ "mình", "tôi", "ta", "mi" rồi cứ bám chặt vào bong bóng này, cuối cùng nhắm mắt ra đi. Sau hai ba ngày thân thể trương phình lên, lạnh ngắt rồi xanh bầm lại, nứt nẻ rồi chảy ra máu mủ, những con giòi bò lúc nhúc. Đó là chín giai đoạn của một tử thi và mình phải quán chiếu như vậy để phá cái chấp về sắc uẩn, phá những cái nghĩ tưởng, suy nghĩ về bản thân này. Giận trong 10 năm thì có khỏe không? Ôm lấy cái giận đó có khỏe không? Mọi người muốn khỏe thì tại sao không chịu mở cái giận đó ra? Đó chỉ là cảm giác chứ có gì đâu, mình phải quán chiếu "đây là cảm giác lửa đỏ, cảm giác này đốt cháy mọi thứ, cảm giác này khổ đau và sầu bi", mình mở cảm giác này ra, không chấp nhận nó nữa, quăng nó ra khỏi tâm của mình, xả bỏ cảm giác này như xả hàng tồn kho. Cái kho tâm thức của mình chứa đầy những cảm giác mừng, giận, thương, ghét, đúng sai hay dở, phải quấy hơn thua… cái kho đã bị quá tải rồi nên bây giờ mình phải xả bỏ, dọn dẹp bớt những thứ này. Những ngày tu học như vầy là những ngày mình làm vệ sinh cái kho tâm thức của mình, dọn dẹp cho sạch sẽ, mát mẻ, tươi trẻ để sống khỏe. Những người mang chấp ngã nặng nề có khổ không? Đi đến đâu cũng không vừa lòng, ai làm gì cũng giận, "con thưa thầy, con chán hết trơn con mới vào chùa, bây giờ vào chùa con lại chán chùa, rồi con chán thầy. Con về nhà con cũng chán bản thân mình nữa". Cái bản ngã này không vừa lòng bất kì ai, bất kì điều gì.

Chúng sanh ưa bám chấp như vậy mà Đức Thế Tôn xuất hiện lại nói cái pháp không chấp mà mọi người lại chịu nghe, ưa lắng nghe và thành tựu được trí huệ chân chánh để an trú tâm. Đây là một điều vi diệu, khi Đức Như Lai xuất hiện đã phá vỡ cái chấp thủ vào trong năm uẩn, gọi là năm thủ uẩn để cho chúng sanh dọn rác, lau nhà, từ đó mới bớt khổ, giảm khổ rồi mới đi đến hết khổ, vô thượng thanh lương của Niết-bàn an lạc. Còn mình lầm là mình bị mù sống trong căn nhà đầy rác bẩn, bệnh tật truyền nhiễm, mình đang giận rồi truyền năng lượng giận ra ai cũng thấy sợ, sức nóng đó lan ra khắp nơi gây cháy. Cho nên Đức Như Lai đã phá cái chấp thủ vào trong năm uẩn, đây là thánh đạo, đạo lộ của bậc thánh, là con đường xuất ly thoát ra khỏi khổ đau.

Đức Như Lai ra đời phá cái kêu mạn, tức là cái chấp ngã, cái ngã mạn. Đại đa số chúng sanh ưa thích kêu mạn, thích thú trong kêu mạn, hoan hỷ trong kêu mạn mà bây giờ Như Lai nói cái pháp không kêu mạn mà tất cả chúng sanh lại khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm thì đây là điều chưa từng có, là điều vi diệu thứ hai xuất hiện trên cuộc đời này.

Quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỷ không an tịnh. Mọi người có nghĩ rằng mình đang ngồi đây nghe pháp là một chuyện vi diệu chưa từng có không? Ba trăm người mà không có lấy một tiếng động, ở nhà có ba người thôi là nhức đầu, chóng mặt, có khi lên huyết áp vì quậy phá, cãi nhau. Quần chúng ưa thích không an tịnh tức là thích sự ồn ào, huyên náo, thích rộn ràng, trạo cử, thích buông lung phóng dật, thích giao động, rối loạn vậy mà khi Đức Thế Tôn xuất hiện để nói cái pháp an tịnh, thuyết giảng cái pháp an tịnh mà mọi người lại khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm, đây là điều vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện trong đời này. Trong kinh Nikāya nói Đức Thế Tôn là bậc an tịnh và thuyết giảng, đưa chúng sanh đến cảnh giới an tịnh.

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Và pháp được giảng đưa đến an tịnh, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (IX) (29) Không Phải Thời).

Quý vị là nhân chứng của sự vi diệu này, của sự thù thắng, sự màu nhiệm đang diễn ra trong Tu Viện Khánh An ngay giờ phút huyền diệu an tịnh này. Hãy thưởng thức giây phút an tịnh này, hãy nếm thật kĩ, hãy tận hưởng bằng tất cả trái tim và tấm lòng của mình để chút đây khi về nhà rồi sự an tịnh này không còn nữa, thậm chí chỉ mới bước ra khỏi thiền đường là đã khác rồi. Đó là sự vi diệu mà Đức Thế Tôn đã xuất hiện để thuyết giảng mà chúng ta đang thực tập đây. Mọi người hãy cảm nhận đi, thưởng thức một cách bình an.

Này các Tỳ-kheo, quần chúng đi đến vô minh, trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy, khi Như Lai thuyết pháp nhiếp phục vô minh, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (VIII) (128) Vi Diệu (2))

Nếu mọi người không vào chùa, không vào tu viện Khánh An thực tập thì Minh Thành không thể nói quý vị vô minh được. Đức Thế Tôn, quý thầy nói mình mù trong khi mình có mắt nhưng khi mình được giải thích, được quán chiếu thì mình ngộ ra đúng là như vậy, "đã từ lâu rồi đến giờ này con mới sáng mắt ra, trước nay con nhận lầm năm uẩn, tối nào cũng tụng niệm mà không thấy được ngũ uẩn". Chiếu kiến ngũ uẩn giai không mà không chiếu kiến được, cứ lẩn quẩn hoài trong đó, vì vậy đây là sự tuyệt diệu, sự màu nhiệm, sự vi diệu mà Đức Thế Tôn xuất hiện ở cuộc đời này. Ngày hôm nay mình tưởng niệm ngày đản sanh của Đức Phật, sự thành đạo của Đức Phật, sự nhập Niết-bàn của Thế Tôn, công đức của Ngài không có gì có thể diễn tả được vì ngài trị cho chúng ta hết mù, sáng con mắt trí huệ ra để chúng ta thấy được năm thủ uẩn, thấy được sự ngộ nhận, sự nhìn nhận sai lầm. Chúng ta thấy năm uẩn rồi và nhìn sâu vào sẽ thấy đầy rác rồi mình lau chùi, quét dọn, cuối cùng nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm, chúng ta an vui hạnh phúc tuyệt vời đi đến Niết-bàn vô thượng thanh lương.

./.