Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

NGHỆ THUẬT BUÔNG BỎ full

2026-03-03 00:55:25
NGHỆ THUẬT BUÔNG BỎ

–Thích Minh Thành–

TOC \o "1-3" \h \z \u I.LỜI MỞ ĐẦU PAGEREF _Toc179795495 \h 2

II.BUÔNG BỎ CÁI GÌ PAGEREF _Toc179795496 \h 5

Buông bỏ vật chất PAGEREF _Toc179795497 \h 5

Buông bỏ tham, sân, si PAGEREF _Toc179795498 \h 12

Xả bỏ chấp thân PAGEREF _Toc179795499 \h 24

III.LỢI ÍCH CỦA TÂM BUÔNG PAGEREF _Toc179795500 \h 32

IV.LỜI KẾT PAGEREF _Toc179795501 \h 34

LỜI MỞ ĐẦU

Các vị Hiền trí thân mến! Sở dĩ trong đời sống này, chúng ta có nhiều mối lo toan, phiền muộn, bất như ý là vì tâm ta bị buộc chặt bởi quá nhiều sợi dây của thương ghét, được mất, có không, hay dở, hơn thua, danh lợi… Những sợi dây này khiến ta dính mắc cứng chắc vào gia đình, người thân, tài sản, nhà cửa, ruộng vườn, danh lợi, địa vị… Khi những người, những vật này bị thương tổn, bị thiệt hại, ví dụ người thân bị đau ốm, ngôi nhà bị hư hại, chiếc điện thoại bị mất trộm, tài sản bị thất thoát… thì ngay lập tức chúng ta phiền não, khổ sầu, thân tâm chất đầy những nỗi khổ niềm đau, lúc nào cũng nặng nề, căng thẳng.

Suốt cả cuộc đời cứ mải mê vun bồi thật nhiều cho những nhu cầu của đời sống, lại mưu cầu hạnh phúc bằng tình cảm, rồi dùng vật chất tiếp tục chăm lo sức khỏe, tô điểm thêm sắc đẹp cho tấm thân bên ngoài, để rồi dường như chúng ta lại lãng quên chăm sóc những cảm xúc trong tâm. Vì không chăm sóc nhiều cho cảm xúc nên ta cứ chất chứa ngày một nhiều hơn những cảm xúc tiêu cực, sân giận, bốc cháy, nhiệt não, thiêu đốt. Những cảm xúc thúc giục, đòi hỏi, ham muốn, tìm kiếm cứ leo thang không bao giờ biết đủ, làm cho mình phải chạy đuổi hoài, suy nghĩ mãi, lo lắng không ngừng. Những cảm xúc của cái tôi, cái ta, của sự cao thấp, hơn thua, được mất không ngừng sanh khởi và dày vò chúng ta khổ sở… Đôi lúc rất mệt mỏi nhưng ta không thể dừng lại, không biết cách buông xuống những gánh nặng trong tâm.

Nếu không biết buông, không biết bỏ thì đời sống này rất nặng nề với đầy nỗi buồn lo, oán hờn, trách móc, thù hận và đau khổ. Ngược lại, người biết buông bỏ thì tâm sẽ được nhẹ nhàng, như khi chân bị tê, được xả chân ra, ta liền thấy rất khỏe; đàm vướng ở cổ khi cho ra được, ta thấy hơi thở liền được thông; bụng đang đau mà ta thải được những thứ trong bụng ra ngoài thì nhẹ khỏe vô cùng. Buông được những vướng mắc, đau khổ trong tâm thì còn khỏe hơn gấp trăm lần. Như vậy, khi dính mắc, ôm ấp một chuyện gì không vui nếu buông bỏ được là mình hạnh phúc, nói đúng hơn, khi buông bỏ được là chúng ta bớt khổ. Vì lẽ đó, chúng ta cần biết cách buông bỏ, điêu luyện trong sự buông bỏ, thiện xảo trong sự buông bỏ, khéo léo trong sự buông bỏ.

Ai nắm được nghệ thuật buông bỏ sẽ có được một đời sống hạnh phúc tuyệt vời, giảm bớt những khổ đau. Không chỉ có được an lạc trong lúc yên ổn, mà ngay khi nghịch cảnh kéo đến vẫn giữ được tâm bình an, vì ta luôn an trú trong nghệ thuật buông bỏ tuyệt vời, tuyệt diệu, tối thượng, tự thân biết cách buông bỏ, không nắm giữ, không dính mắc. Khó khăn đến giống như nước đổ lá sen, dù có đọng lại cũng không làm ướt được mặt lá, sương là sương, lá là lá, một cơn gió nhẹ đủ làm giọt sương rơi xuống đất. Cũng vậy, người biết tu tập tâm buông xả, dù cho người khác đến trút giận, đối xử với mình bằng những lời nói, hành động, cử chỉ không dễ thương thì những ngôn ngữ, hành vi đó không đủ sức làm mình đau khổ, mà ta vẫn nhẹ nhàng trong tâm hiểu và thương, không mảy may vướng bận điều gì.

Hạnh phúc an ổn thật sự phải xuất phát từ trong tâm. Bằng không, dù cho giàu có tột cùng, tiền của chất đầy nhưng nội tâm là một ngọn lửa, là một hố than hừng, đi đến đâu cũng muốn bốc cháy thì làm sao có được hạnh phúc. Nếu cứ để những tâm bất thiện dày xéo thân tâm, khiến chúng ta lúc nào cũng cảm thấy nặng nề, căng thẳng, lo lắng thì những hạt giống bình an sao có chỗ nảy mầm. Chỉ khi biết buông bỏ bớt những vật chất bên ngoài; buông bỏ bớt những tâm tham muốn, sân giận, si mê thì sự nhẹ nhàng, thảnh thơi mới có thể mở cửa đi vào.

Chính vì những lợi ích thiết thực đó, bằng tất cả cả tấm lòng chân thành, thông qua quyển sách nhỏ với tựa đề “Nghệ Thuật Buông Bỏ”, Minh Thành xin trình bày về phương pháp thực hành tâm buông xả, giúp chúng ta phần nào tháo gỡ những nội kết trói buộc nơi tâm, xả bỏ được những tham muốn, đòi hỏi, dính mắc, si mê, những buồn phiền, oán hận, những cảm thọ tức giận, oán thù, trách hờn đã tích tụ nặng nề. Nhờ vậy gánh nặng ta mang suốt cả đời người từ từ được đặt xuống, tình thương được lan tỏa bao la, thân tâm được lắng dịu, an ổn, nhẹ nhàng. Đây chính là công năng, tác dụng của tâm xả, giá trị, mục đích, lợi ích của tâm buông bỏ.

Kính chúc chư vị Hiền trí luôn được bình an, thảnh thơi, an lạc, tự tại trong tâm buông bỏ thù thắng, vi diệu, tối thượng này!

Con trò Thích Minh Thành

Kính lễ!

BUÔNG BỎ CÁI GÌ

Các vị Hiền trí thân mến, tâm ta rất dễ rơi vào hai thái cực, một là yêu thích, hai là ghét bỏ một người, một vật, một việc nào đó; từ chỗ yêu – ghét này mà có sự nắm chặt vào đối tượng đó. Ví như sự dính mắc vào chiếc xe mà ta yêu quý, khi chiếc xe có sự cố, xây xát, ta liền cảm thấy phiền não, khổ đau. Hay đối với người mà ta ghét, lâu ngày sinh ra sự chấp thủ, nắm chặt sự ghét bỏ đối với người, cứ hễ thấy mặt là người đó là ta không vui, cảm thấy khó chịu, bực bội. Chấp thủ vào căn nhà, khi căn nhà có sự cố gì, chúng ta phải lo lắng toan tính mà sửa chữa cho nhanh chóng. Chấp thủ vào đứa con, khi đứa bé có sự tổn hại nào đến thân thể, ắt ta sẽ sầu buồn, đau khổ. Chấp thủ vào công việc, khi có bất trắc, bất ổn chúng ta sẽ mất ăn, mất ngủ mà lo lắng, toan tính đủ điều. Tóm lại, hễ có sự dính mắc, chấp thủ, trói buộc thì nhất định chúng ta phải chịu những sự đau khổ từ người đó, vật đó, việc đó.

Khi biết thực tập sự buông bỏ, chúng ta vẫn ứng xử như bình thường, nhà hỏng vẫn sửa, con bị đau vẫn tìm cách chữa trị, công việc có sự cố vẫn dốc lòng xử lý. Chỉ khác ở chỗ ta sẽ bình thản đón nhận mọi việc với tâm thái nhẹ nhàng, không quá phiền não, nặng nề, đau khổ, vì hiểu được nhân quả, nghiệp báu của mình và mọi người. Nhờ vậy tâm được định tĩnh, trí được sáng suốt, mọi việc ta làm sẽ mang đến kết quả tốt đẹp hơn.

Người biết sống buông xả lúc nào cũng được nhẹ nhàng, thanh lương, mát dịu; còn người không biết cách buông thì gặp chuyện gì cũng nắm, gặp chuyện gì cũng chấp, có chuyện gì cũng thủ, như vậy sẽ làm người khổ mình khổ, làm cho người đau mình đau, làm cho người sầu mình sầu, làm cho người buồn mình buồn, hại người và hại mình. Vậy, chúng ta cần buông những gì? Nói theo trí tuệ của Đức Phật, chúng ta cần buông ngũ uẩn, nói dễ hiểu là bao gồm buông vật chất, buông tình cảm và buông xả sự chấp thủ vào thân này.

Buông bỏ vật chất

Đầu tiên, ta cần thực tập buông bỏ bớt sự dính mắc đối với vật chất bên ngoài. Ví dụ, hôm nay chùa có nấu món bún riêu, đây là món ăn mình rất thích, trong lòng cứ hiện lên hình ảnh được ăn tô bún rất ngon nên mình hào hứng đi lấy thức ăn, nhưng vì đến sau, mọi người đã lấy hết bún, đến lượt mình chỉ có cơm trắng cùng với rau luộc. Nếu lúc đó không biết buông thì hình bóng tô bún riêu cứ hiện trong tâm, mặc dù đang ăn cơm nhưng trong lòng cứ tiếc, cứ giận, cứ trách, cứ hờn, vì ai cũng có món ngon, còn mình làm việc nhiều hơn, mà vào ăn lại không có. Như vậy thì có khổ không? Giả sử trong buổi tu học đó, mình có cơ hội đắc pháp nhãn tịnh, đạt được Nhập lưu, nhưng vì ám ảnh món ăn ngoài bếp, lúc sắp sửa Nhập lưu thì hình ảnh tô bún riêu cứ hiện lên ám ảnh, làm ta phân tâm đối với pháp; chỉ vì tô bún riêu mà quay trở lại phàm phu, như vậy thì tiếc không? Thế nên, hãy xả “tô bún riêu, tô bánh canh, tô bún mắm” đó ra khỏi tâm mình.

Cho nên, điều đầu tiên là tập buông bỏ vật chất, ăn món gì cũng, ăn ít một bữa cũng không sao, cơ thể còn được nhẹ nhàng để tu tập. Đôi khi vì ăn quá no, mình bị nặng bụng, đến giờ tu thì lại buồn ngủ nên thời khóa tu tập đó không được hiệu quả. Giờ đây, cầm bát cơm trên tay, chúng ta hãy xem đây là cơ hội thực tập những gì đã được học. Đầu tiên là biết tiết độ trong ăn uống, thứ hai là hạnh thiểu dục tri túc, ít muốn biết đủ, thứ ba là thực tập tâm buông xả. Ta nói với tâm rằng: “Hôm nay mình có cơ hội thực tập hạnh ít muốn biết đủ, mình rất vui vì được cúng dường món ăn ưa thích cho người khác. Nếu mình lấy đồ ăn sớm thì người khác sẽ không có ăn. Đây còn là dịp để mình buông xả, nuôi dưỡng tâm ly tham đối với món ăn. Hơn nữa, ăn cơm trắng rau luộc cũng đầy đủ sức khỏe nuôi thân này để tu tập rồi. Thật đúng như câu: Cơm rau đỡ dạ đói – Nhà cỏ che gió sương – Người đời nếu biết đủ – Phiền não chẳng còn vương”. Nghĩ như vậy vừa ăn vừa hoan hỷ, thấy rằng nhường được phần của mình cho người khác là một hạnh phúc, người khác vui thì mình cũng vui. Người nhìn được mọi vấn đề như vậy, lòng sẽ luôn ngọt ngào và hạnh phúc; ngược lại, nếu cứ mãi chấp nhặt những chuyện không đáng, chỉ khiến tâm ta ngày càng nhỏ hẹp, tự ôm thêm nhiều phiền não mà thôi.

Tương tự như thế, khi nghe pháp, mình thường được xếp ngồi ở hàng đầu tiên, ghế thứ nhất. Hôm nay có một vị mới đến chùa, ngồi sẵn vào chỗ trước nay mình vẫn ngồi. Lúc đó mình nghĩ rằng: “Hôm nay mình có cơ hội được cúng dường chỗ ngồi”, rồi mình nhẹ nhàng ngồi vào chỗ khác, dù có ngồi dưới hàng cuối thì lòng vẫn vui vẻ, khỏe khoắn, hoan hỷ, hạnh phúc.

Trong sinh hoạt với đại chúng, lúc đi lấy quần áo đã phơi xong thì phát hiện có người đã lấy mất. Lúc đó mình mỉm cười, nghĩ rằng: “Đây là cơ hội dâng y cho các bậc Hiền trí, thay vì tổ chức lễ dâng y, ngay bây giờ có người cần y, xem như mình được cúng dường cho vị ấy nên không có gì để sân si cả”.

Khi đi xa, mình thường chuẩn bị đầy đủ thuốc men để phòng ngừa đau ốm bất ngờ. Trên đường đi, mình gặp người nọ bị sốt, khi ấy ta không ngần ngại mà đưa thuốc cho họ. Đây chính là cơ hội để mình cúng dường, bố thí cho những vị ấy, thật quá quý báu. Hơn nữa nhiều khi để lâu không dùng, thuốc sẽ bị quá hạn sử dụng, mình may mắn khỏe mạnh, cũng không dùng hết, giờ đây có thể giúp được người khác, thật là hoan hỷ.

Xung quanh ta có nhiều niềm hạnh phúc đến từ sự cho đi mà mình không hề hay biết. Những ví dụ trên đây cho chúng ta thấy được cách thực tập nghệ thuật buông xả từ những điều rất nhỏ. Tu được như vậy, tâm ta lúc nào cũng an vui, trong mọi hoàn cảnh đều được bình an. Dù bị mất đồ nhưng vẫn có thể mỉm cười, thay vì đi chỗ này chỗ kia để cho tặng, bây giờ không cần đi đâu xa, vì người ta đang thiếu thốn, khó khổ nên họ mới mượn tạm để dùng, nếu người ta đầy đủ sung sướng thì lấy làm gì. Chúng ta không cần phải trèo đèo, lội suối mới đến nơi làm từ thiện, rồi còn phải đi phát cho từng người, từng nhà, bây giờ có người đến tận nơi “mượn” đôi dép, “mượn” bộ đồ, như vậy ta khỏe vô cùng, làm từ thiện mà không cần phải đi xa.

Có nhiều vị thắc mắc, thư viện chùa có nhiều kinh sách quý mà cửa chùa lại mở rộng, không ổ khóa, không sợ người ta vào lấy hay sao. Tuy nhiên Minh Thành nghĩ rằng, nếu có ai đến lấy sách đem về đọc để hiểu thêm về Đức Phật, học về đạo làm người, chữa lành được những vết thương trong tâm người ấy thì đây là điều rất tốt, mình cứ rộng mở cho mọi người vào đọc, không cần phải khóa cửa.

Ở nhà bếp cũng vậy, ai đến ăn được một bữa cơm chay thì rất đáng quý, rất đáng mừng, mình nhiệt tình, thật tâm đem hết đồ ăn ra thiết đãi, khuyến khích được càng nhiều người ăn chay càng tốt, đồ ăn trong kho có hết cũng không sao, hết cái này sẽ có cái khác, tâm chúng ta phải rộng mở ra như vậy. Lúc Minh Thành mới lên Linh Quy chỉ có một am tranh nhỏ nhưng với tâm buông xả, cho đi thì nơi đây nhận lại những điều lớn lao hơn, bây giờ có được cổng trời, cổng trăng, có chỗ để mọi người về tu tập. Tâm rộng cảnh rộng, tâm lớn phước lớn, không có gì phải lo âu, e ngại, trao yêu thương càng nhiều thì hạnh phúc càng nhiều!

---

Đối với những vật chất lớn hơn như chiếc xe, ngôi nhà, miếng đất… ta cũng cần tập tâm xả bỏ, không vướng mắc. Chẳng hạn, khi tham gia khóa tu 14 ngày, đến ngày 14 là mình có thể thể nhập Thánh tri kiến nhưng hôm đó biết tin ở nhà thu được món tiền lớn nên vào ngồi tu rồi mà cứ nhớ đến những tờ tiền xanh đỏ, bị ám ảnh bởi vật chất bên ngoài và vì thế ta tiếp tục ở lại phàm phu, không thành tựu được Chánh kiến. Ngược lại, nếu lúc đó đánh phá được những hình bóng ấy, chúng ta xả bỏ nó ra khỏi tâm, làm cho tâm được an tịnh lắng dịu thì ta có thể tiếp nhận, thể nhập trọn vẹn trong Chánh trí, Chánh lý, Chánh pháp, Thánh pháp, tâm mình được bước lên cao. Còn nếu cứ ngồi tưởng nhớ đến số tiền ấy thì không được gì hết, cả hai đều mất, lưỡng đồ câu thất, pháp cũng mất, mà đang ngồi tu cũng không có được những thứ ngoài kia.

Chúng ta hãy tập buông bỏ vật chất, đừng quan trọng quá nhiều. Thật ra chúng ta cũng không nắm giữ được thứ gì hết, ngay cả tấm thân này cũng vậy, đừng nói chi căn nhà, chiếc xe, miếng đất, tiền bạc, số tiết kiệm ngân hàng… Những thứ đó chỉ là vật chất được vay mượn tạm bợ, khi còn phước báu thì nó đến với mình trong một khoảng thời gian, khi hết phước báu thì theo dòng nghiệp lực mà chuyển qua tay người khác. Thế nên, chúng ta hãy luôn nhớ rằng, những vật chất bên ngoài không là của ai cả, đó chỉ là vật chất ta tạm sử dụng trong thời gian ngắn, tất cả đều là mượn tạm.

Căn nhà đó là ở tạm, chiếc xe đó là đi tạm, miếng ruộng khu vườn, quyền sử dụng đất cũng là tạm bợ, thậm chí tấm thân này cũng sử dụng tạm một thời gian, không biết lúc nào nó từ bỏ mình. Nhờ có một sự quán chiếu, chiêm nghiệm, nghiền ngẫm sâu sắc, thấm thía, thấu đáo thì tâm này mới nhả từ từ ra được. Chúng ta cần thấy sự thật về các sắc để thấy bản chất, tính chất của nó, từ đó không còn mê, không còn hiểu sai về nó, đây là phá vô minh về sắc uẩn.

Nếu không được học Thánh trí, không có trí tuệ, không có tuệ giác, không được học sự thật mà Đức Phật truyền trao thì ta sẽ nhìn sai, tưởng lầm, ngộ nhận và ảo tưởng về những thứ vật chất hư ảo, tạm bợ đó. Và như thế ta không thấy không biết bản chất của những sắc pháp ấy nên ta tham đắm nó rồi khổ đau, đó chính là vô minh và khát ái, dẫn đến chấp thủ và đau khổ. Nói cách khác, do không thấy không biết bản chất của vật chất nên ta ham muốn nó; từ sự ham muốn nên có nắm giữ và do nắm giữ nên tạo ra đau khổ. Khi thấy biết được bản chất của các sắc chất, ta không còn ham thích, nhờ không còn ham thích nên không nắm giữ, nhờ không nắm giữ nên không rơi vào hệ lụy, không phải chịu khổ đau.

Nói như vậy không có nghĩa là ta không được sử dụng gì nữa, không phải bỏ là không còn cái gì hết. Cần hiểu thật rõ rằng, chúng ta tuy vẫn sử dụng vật chất cho các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống nhưng không nên quá dính mắc để rồi phải đau khổ vì nó. Cũng như thân này làm sao bỏ được, cũng vẫn phải sử dụng làm phương tiện để tu. Nhờ sử dụng đúng nên cho chúng ta mới biết đến chùa tu tập, biết vào ngồi thiền, biết lên nghe pháp, rồi tập cho thân này ít muốn biết đủ, làm quen với những thứ tối giản. Nhờ vậy thân nhẹ tâm an như được sống trên trời, ngồi thiền ở trên mây, ly trần thoát tục.

Trong Trung Bộ Kinh II, bài số 1, Kinh Ghatikara, khi thất của Đức Thế Tôn bị dột, các thầy Tỷ-kheo vâng lời Đức Phật, đến nhà của thợ gốm Ghatikara, tháo mái nhà bằng cỏ của ông đem lợp lại thất của Đức Như Lai. Khi người thợ gốm biết sự việc thì ông hoan hỷ, vui sướng, nghĩ rằng: "Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo lợi ích cho ta đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tin tưởng ta như vậy". Sau đó người thợ gốm hỷ lạc suốt nửa tháng, cha mẹ của người thợ gốm cũng hỷ lạc trong một tuần. Rồi suốt cả ba tháng trời, ngôi nhà lấy bầu trời làm mái, nhưng không có mưa rơi vào. Đó là tấm gương của các bậc Thánh cư sĩ thành tựu lòng tin tịnh tín bất động, tâm của các vị ấy hoàn toàn buông xả vật chất. Ta thử đặt bản thân vào những trường hợp như vậy xem tâm mình có buông xả được không, hay còn chấp thủ nhiều vào vật chất, chỉ cần ai chạm tới đồ của mình một chút mà không hỏi là khó chịu, thậm chí sân giận, bản ngã.

Hàng ngày, chúng ta tập xả bỏ dần những suy nghĩ cho rằng vật dụng này là của tôi, món đồ kia là của tôi, đây chính là chánh kiến, là thấy đúng, chỉ có tâm buông bỏ mới đem đến cho mình hạnh phúc thật sự. Thông thường, chúng ta nghĩ rằng được sở hữu nhiều ngôi nhà là hạnh phúc, mua được nhiều chiếc xe là hạnh phúc, thế nhưng sự thật không phải như vậy, mà mình càng được nhiều thì càng khổ. Bởi vì có một chiếc xe thì mình chỉ lo giữ một chiếc xe; nếu có mười chiếc xe thì mình phải lo giữ cả mười chiếc, như vậy là khỏe hay mệt? Đa số mọi người “chọn mệt” là vì tâm tham, muốn chất chứa càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, người biết tu sẽ không tham đắm nhiều vào vật chất, họ vẫn sử dụng vật chất cho những nhu cầu đời sống, nhưng đồng thời hiểu rằng những gì đến với họ là phước báu mà họ đã gieo trồng, vì vậy họ dùng những vật chất đó vào việc có ý nghĩa, có lợi ích cho mình và cho người. Đó là cách bậc hiền trí sử dụng vật chất, chứ không phải là buông hết vật chất là không dùng nữa.

---

Hơn thế nữa, chúng ta thật sự không có một cái gì hết. Trong kinh Ratthapala Đức Phật có dạy “thân này là là vô sở hữu, ra đi từ bỏ tất cả”. Cuối cuộc đời, ai rồi cũng phải từ bỏ tất cả, không những vậy, ngay từ lúc chưa ra đi cũng buộc phải từ bỏ. Chẳng hạn, những người bệnh nan y, bán thân bất toại, đau đớn quằn quại, bác sĩ không chữa được nữa, mạng sống không còn bao lâu thì hủ vàng trong tủ có giúp họ khỏi bệnh không; đứa con yêu quý nhất, vợ chồng thân yêu nhất dù đứng bên cạnh nhưng có ai có thể chịu thay đau bệnh cho họ không; khi tử thần tìm đến thì có ai chết thay được hay không?! Vậy mà ta thường nói mình bận chăm sóc cho người này, lo lắng cho người kia nên đi tu không được. Trong khi tu là tu cho chính mình, chỉ có thành tựu Chánh tri kiến, đoạn diệt các lậu hoặc thì mới có thể thật sự giúp người khác. Còn khi chưa có Chánh tri kiến thì mình chỉ thương yêu, giúp đỡ trong vô minh, trong tham ái. Có khi ta nghĩ rằng ta đang giúp họ nhưng thật ra là đang hại họ; nghĩ là thương họ nhưng mình đang làm khổ cho người khác, bởi lẽ, ta chưa mở được đôi mắt trí tuệ ra nên mình vẫn còn ở trong mù lòa, trong vô minh tăm tối.

Cho nên, chúng ta cần cố gắng tu tập để loại bỏ suy nghĩ “những vật chất này là của tôi”. Thường xuyên nhắc nhở tâm ý để xả bỏ tâm chấp thủ, đánh đuổi những suy nghĩ nắm giữ vật chất: “Thân này là vô sở hữu, không có gì là của mình, không có gì là mình, không gì là tự ngã của mình”. Nhờ tu tập như vậy, đến lúc ra đi, ta không còn vương vấn ngôi nhà, không còn dính mắc những chiếc xe, không còn tiếc nuối khối tài sản ở trong két sắt…

Ngược lại, nếu tâm không nhớ buông bỏ những thứ này, khi sắp ra đi, ta sẽ lưu luyến, bịn rịn đối với những những đồ vật ấy. Lúc này có nhiều trường hợp xảy ra, nếu phước báu còn tương đối, mình sẽ đầu thai trở lại làm cháu nội, cháu ngoại, cháu cố trong gia đình đó, đây là nói còn phước được làm người; chưa nói đến người rời vào tam đồ ác đạo, có thể trở thành ngạ quỷ ở quẩn quanh ở nhà để giữ những món đồ mà tâm còn luyến tiếc.

Có những bộ phim nói về kho báu, nơi đó có nhiều rắn độc, thú dữ, trùng độc… chúng sống ở đó để bảo vệ, không cho ai vào lấy báu vật. Có thể đời trước những con vật này là chủ nhân của kho báu, nên nó tiếp tục ở đó giữ của, ai đến cũng không cho lấy. Nếu người truy tìm báu vật phát hiện ra chúng, người ta sẽ giết nó chết để vào kho báu. Những con vật này chết trong tâm sân hận: “Ngươi lấy của ta! Ngươi cướp của ta! Chính ngươi giết chết ta!”. Đời sau oan trái chất chồng, tiếp tục quay cuồng trong vòng quay của nghiệp quả, vì không buông xả được vật chất. Qua đó ta thấy rằng, những vị này nghiệp cũ chưa trả hết, lại vay thêm nghiệp mới, oán thù cứ chồng chất với nhau:

Trong xã hội hiện nay cũng vậy, con người có thể vì mấy tấc đất mà giết nhau, vì mấy nghìn tiền giữ xe mà cự cãi rồi xảy ra án mạng, vì tham vài đơn hàng mà người giao hàng rơi vào tù tội… Tóm lại, vì vật chất mà chúng sanh đảo điên, đau khổ. Thế nên, điều vô cùng cần thiết là chúng ta phải tập nhìn một cách thấu suốt bản chất của các sắc pháp là vô thường, là duyên sanh để tập tâm buông xả đối với chúng. Buông ở đây không có nghĩa là bỏ đi, không sử dụng nữa. Mà điều quan trọng là biết được bản chất của những vật chất ấy để sử dụng đúng chức năng của nó, không chấp thủ nó. Ngay cả những thứ ta phải đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt để tạo ra thì cũng phải chấp nhận từ bỏ nó bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Muốn làm được thì phải tập mỗi tuần mỗi giờ, mỗi tháng, mỗi năm, tập trong nhiều năm cho tới khi tâm này được thuần thục, điêu luyện, thiện xảo và được an trú trong tâm xả. Lúc này, ta sẽ thấy phép màu sẽ xuất hiện. Ta sẽ sống với tâm thái nhìn cuộc đời như áng mây trôi, lòng nhẹ nhàng đối với mọi sự việc, sự vật.

Buông bỏ tham, sân, si

Điều cần tu tập để buông bỏ tiếp theo sẽ vi tế hơn, đó là buông bỏ những tâm tham muốn, sân giận và si mê; nói dễ hiểu là buông bỏ những cảm giác vui, buồn, không vui không buồn trong tâm,

Con người rất khó buông được những cảm thọ, những cảm xúc, những cảm giác trong tâm, đăc biệt là những cảm giác yêu thương. Ví dụ, chúng ta đang hạnh phúc bên người thương, bỗng dưng một ngày người đó đột ngột quay lưng, bỏ rơi mình, không còn thương mình nữa, lúc này từ vui biến thành khổ, từ yêu biến thành hận, từ thương biến thành thù. Người bị bỏ rơi đắm chìm trong những cảm thọ yêu thương ngày xưa; những hình bóng từng bên nhau ngọt ngào, được người yêu quan tâm cứ hiện về; những suy nghĩ về quá khứ, về tình cảm cứ ám ảnh, chập chờn trong tâm. Nhìn lại hiện tại thì đắng cay, chua chát, phũ phàng nên người ta đau khổ, chìm đắm trong vô vàn cảm xúc, hình bóng, suy nghĩ, không thoát ra được, ngày nay được gọi là trầm cảm. “Trầm” là chìm, “cảm” là những cảm xúc, cảm giác; khi bị những cảm xúc đau đớn, buồn bã, tuyệt vọng liên tục nhấn chìm, người ta sẽ lún sâu vào đó, đi ra không được, trở thành chứng bệnh trầm cảm, đau khổ vô cùng.

Bằng Thánh trí Ngũ Uẩn, Đức Phật đã tóm thâu rằng, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành. Thọ, tưởng, hành là pháp duyên sanh, pháp vô thường, pháp đổi thay, pháp biến hoại, pháp hoại diệt; không thể thường trú, thường hằng, thường còn, không thể trường tồn vĩnh cửu mãi được. Thế nhưng người ta lại chịu đau khổ vì những thứ chắc chắn sẽ thay đổi, bởi họ không biết đó là thọ, tưởng, hành. Vì nghĩ rằng những cảm xúc, hình bóng, suy nghĩ là tôi, là của tôi nên họ nắm giữ, dính chặt vào những thứ ấy, không muốn buông ra. Và như thế, con người cứ mãi vui buồn trong những cảm giác, hình bóng, suy tư, nghĩ tưởng. Khi những gì ưa thích bị biến đổi, họ không chấp nhận được cảm giác đó bị mất đi nên đau khổ, lún sâu trong đó.

Vừa rồi, báo chí có đưa tin về một bà cụ, khi còn trẻ, bà thương sâu đậm một người đàn ông, người này hứa hẹn sẽ yêu thương và sống với bà đến suốt đời. Thế nhưng, khi nghe tin bà mang thai, người đàn ông này đã bỏ đi, không một lời từ biệt. Từ đó đến nay đã bốn mươi năm, bà đau khổ quằn quại, ngày đêm thương nhớ, tương tư tiều tụy, tóc trắng hết mái đầu. Cụ bà rơi vào trầm cảm, không tiếp xúc với ai, chỉ nằm một chỗ và được chị gái đi bán bánh tét nuôi sống qua ngày. Từ một cô gái trẻ, người này suốt hàng chục năm trời cứ chờ đợi một chàng sở khanh phụ bạc, đến nỗi hóa dại khờ cũng vì không buông xả được cảm giác, hình bóng, suy nghĩ. Thật là đau khổ vô cùng!

Hơn thế nữa, không chỉ bốn mươi năm, có những người ôm ấp hình bóng của người thương suốt cả cuộc đời, cho đến lúc chết cũng không buông bỏ được cảm thọ đó. Chính những cảm thọ này làm cho biết bao người điên loạn, thậm chí chọn cách nhảy lầu, nhảy sông tự vẫn, vì không chấp nhận được sự thật. Có khi không chỉ một đời, mà nhiều đời, nhiều kiếp sau cảm thọ đó cũng không buông được. Trong nhiều bộ truyện, bộ phim, có những nhân vật chờ đợi người mình thương đến tận một ngàn năm, ba ngàn năm, tám ngàn năm, mười ngàn năm… đây hoàn toàn có thật. Vì loài người có tuổi thọ ngắn nên chờ ít; còn các loài khác, những dạng chúng sanh khác như quỷ thần, ngạ quỷ hay chư thiên, nếu tâm các vị ấy bị dính mắc, chấp thủ vào thọ, tưởng, hành trước đó thì họ cũng không xả bỏ được.

Vì không biết ngũ uẩn, không biết thọ, tưởng, hành là gì nên bất cứ cảm giác, hình bóng, suy nghĩ nào sanh khởi, chúng sanh đều cho rằng: “Tôi đã có cảm giác như vậy hồi xưa, cảm giác của tôi bây giờ như vậy và sau này tôi muốn cảm giác như thế kia”; hay “Suy nghĩ này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi”. Khi mọi việc không như họ cảm nhận, suy nghĩ, tưởng tượng thì họ buồn đau, khổ sầu.

Còn người học Thánh Trí Ngũ Uẩn sẽ thấy được những cảm giác, nghĩ, tưởng sanh khởi chỉ là thọ, là tưởng, là hành, đó không phải tôi, không phải của tôi. Nhờ đó có khả năng đi ra khỏi nó, dù chưa thoát ra được hết nhưng ít nhất mình cũng buông bỏ được phần nào và bỏ được bao nhiêu thì đỡ khổ bấy nhiêu, khi buông xả được hết thì mình hết khổ. Đây là lí do tại sao chúng ta được được Thánh Trí Ngũ Uẩn là phước báu tối tôn, tối thượng giữa cuộc đời này.

---

Khi gặp những người, những việc khiến tâm sân sanh khởi, trước đây chưa học ngũ uẩn, ta liền nhập cuộc hoàn toàn trong những cảm giác bực bội, khó chịu, tức giận; còn bây giờ mình thấy được đó chỉ là một cảm thọ đang sân, mình không được đồng hóa với nó, mà hãy tách ra khỏi cảm thọ ấy, nếu không là tâm sân này sẽ đốt cháy tất cả.

Có một cậu thanh niên hiền lành, nhiệt tình hay giúp đỡ những người xung quanh, về sống ở rể trong gia đình nhà vợ. Một hôm, cậu đi nhậu với bạn bè gần nhà, cha vợ không hài lòng nên gọi về nhưng chàng thanh niên phớt lờ và tiếp tục vui vẻ nhậu cùng bạn khiến cho người cha vợ càng thêm bực tức và lại mắng chửi. Cậu con rể cũng cảm thấy khó chịu, không vui, mất mặt với bạn bè nhưng với bản tính là một người hiền lành, điềm tĩnh, ít nói nên cậu im lặng. Còn người cha vợ thì càng ngày càng hung hăng, chửi bới nhiều hơn, rồi lời qua tiếng lại, không dừng lại ở đó, người cha vợ trong khi tức giận đã tát chàng rể. Trong men say ngà ngà chàng rể bực tức định ra lấy xe bỏ về nhà mẹ đẻ, nhưng người cha vợ không buông tha vẫn tiếp tục đeo bám chửi bới thậm tệ, nói ra những lời thô ác, nặng nề. Lúc mở cốp xe lấy chìa khóa, người con rể thấy một con dao thái lan, cha vợ vẫn không ngừng chửi bới và chuyện gì đến cũng đến, người cha vợ bị chàng rể đâm mấy nhát, án mạng xảy ra trong bàng hoàng sửng sốt, không ai có thể thể ngờ người từ xưa đến nay vốn là người hiền lành, nhiệt tình giúp đỡ xóm làng, trong một phút chốc trở thành kẻ giết người trong tâm trí của kẻ say rượu, không còn tỉnh táo.

Trong một hoàn cảnh có quá nhiều duyên xúc xảy ra trong cùng một thời điểm: rượu, tiếng chửi bới không ngừng và hung khí gây án mạng, để cuối cùng phải thốt lên trong hối tiếc, giá như lúc đó tỉnh táo, thấy được cảm thọ sân đang áp đảo mình thì không có kết cục như vậy. Thế nhưng, lúc đó mọi cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhân thức của người này đều sân giận. Ngũ uẩn bị cảm thọ tức giận khống chế toàn bộ, thiêu đốt hoàn toàn, đây là lý do tại sao chúng ta phải tu học.

Cậu thanh niên này vốn dĩ là người hiền lành, nhiệt tình giúp đỡ mọi người, thế nhưng án mạng đã xảy ra để rồi phần đời còn lại là sống trong ân năn, hối hận và tất cả những người thân trong gia đình đều đau khổ, những người hàng xóm bàng hoàng, thảng thốt. Tất cả cũng chỉ vì một cảm giác sân hận, bồng bột nhất thời. Qua đó ta thấy được, nếu nghĩ rằng mỗi ngày trôi qua trong yên ả là đã an ổn và không cần phải tu tập là suy nghĩ vô cùng sai lầm. Sự hiện hữu của thân tâm này trên thế gian không hề an ổn và bình yên như chúng ta nghĩ, bởi lẽ những tiềm ẩn, lậu hoặc, cấu nhiễm bên trong tâm thức luôn chờ thời để ra ta, vì vậy chúng ta cần phải tu tập hơn bao giờ hết. Nếu người thanh niên đó biết nhận diện ngũ uẩn, biết nhiếp phục cảm thọ sân giận, biết tâm buông xả thì sẽ không xảy ra những chuyện đáng tiếc như vậy, cho nên được tu học là một điều rất tuyệt vời.

Vì thương chúng sanh, Đức Phật dạy chúng ta từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, từ bỏ say sưa nghiện ngập. Vừa bước vào cổng chùa, vừa được là con của Phật, Ngài đã chi rõ cho chúng ta thấy những thứ này sẽ đưa mình đến đau khổ, vì vậy hãy từ bỏ chúng, giữ được năm giới này để có được bình an và hạnh phúc, tương lai có phước báu tốt đẹp. Khi hiểu được những lời dạy của Đức Phật, chúng ta sẽ thấy không có gì quý hơn Chánh pháp, không có gì quý hơn hành pháp, không có gì quý hơn thể nhập pháp, không có gì quý hơn chứng đạt được pháp, không có gì quý hơn thấy được sự thật về khổ, nguyên nhân đưa đến khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến đoạn tận mọi khổ đau.

---

Khi sân vừa sanh khởi, ta cố gắng tác ý, tức là hướng về tâm để nhắc nhở mình đây chỉ là cảm thọ để nhiếp phục nó. Chẳng hạn huynh đệ ở chung đôi lúc mâu thuẫn, trong lúc bực tức người kia lỡ lời thốt ra những câu nặng nề, xúc phạm. Thay vì sân theo họ rồi cãi vả, bất hòa thì ta hãy thấy cảm thương vì họ đang bị cơn sân thiêu đốt, bị bản ngã sai khiến, vì vậy ta cần có sự cảm thông, có lòng từ tâm đối với huynh đệ của mình. Tập được tâm xả như vậy, lòng sẽ nhẹ nhõm hơn nhiều so với việc ghim câu nói đó vào tim như một mũi tên. Cho nên hãy chọn xả bỏ thay vì ôm vào lòng những phiền não, khổ đau.

Nếu không xả bỏ được thì phải tác ý thật mạnh; nếu vẫn còn giận thì mình có thể quỳ lạy sám hối với đối tượng làm mình giận và nói ra hết những phiền não cho cho nhẹ lòng, chất chứa làm gì cho tâm nặng nề, cất giữ làm chi cho nó hôi thối. “Dạ, em sám hối với chị, lạy dưới chân chị, em đã làm sai, chị tha lỗi cho em” – “Chị cũng sám hối em, chị thấy xấu hổ, nhục nhã vì cái bản ngã này, chị lạy em, chị em mình cùng lạy nhau cho nhẹ lòng”. Lạy sám hối xong, thân tâm ta sẽ nhẹ nhàng, thoải mái, vì lúc đó ta vừa xả bỏ được những gút mắc, buông xuống được những mâu thuẫn giữa mình và người. “Sám hối xong rồi lòng nhẹ nhõm – Ngàn xưa mây bạc vẫn thong dong”. Như vậy, sám hối là một phương pháp để thoát ra khỏi cảm thọ sân; giúp ta buông xả, vứt bỏ được những thứ làm tâm khó chịu, bực bội, bức xúc.

Ví dụ khi dọn nhà, ta thấy xác con chuột chết, ta đem vứt cái xác đó đi thì có tiếc không? Hay là muốn quăng bỏ cho mau, cho nhanh vì nó thối quá. Đức Phật ví dụ trong kinh một hình ảnh rất hay: “Ví như một người đàn bà hay người đàn ông trẻ tuổi, trong tuổi thanh xuân, tánh ưa trang sức nếu một xác rắn, hay xác chó, hay xác người được quàng vào cổ, người ấy phải lo âu, xấu hổ, ghê tởm”. (Trung Bộ Kinh I, 20. Kinh an Trú Tầm). Ngài nói rằng, một người trẻ tuổi thích làm đẹp nếu phải mang trên cổ xác rắn chết, xác chó chết, xác người chết, rất hôi thối, bẩn thỉu thì người này vô cùng ghê tởm, xấu hổ, chắc chắn chỉ muốn quăng bỏ.

Cũng vậy, những tâm tham sân si, bản ngã trong tâm ta còn thối hơn những xác chết ấy gấp vạn lần. Người cứ mãi chất chứa những cảm giác làm cho mình đau nhói là tự mình làm khổ mình. Vậy mà ta cứ ôm trong lòng những sự khó chịu, sân giận để làm tâm mình đau khổ. Tại sao ta không quàng lên cổ những thứ tốt đẹp; mà lại quàng lên đó xác con chuột chết, con chó chết, xác của người chết. Thé nên, hãy buông bỏ những giận hờn, bức xúc ra khỏi tâm mình, quăng nó đi như quăng xác chuột chết, chó chết, người chết. Hãy quàng lên cổ mình vòng hoa lài, vòng hoa xứ, vòng hoa bất tử, tỏa ngát hương thơm.

Nếu có người đến gây sự hơn thua, cho rằng họ đúng mình sai thì mình hãy nhận mình còn nhiều cái dở và nói lời xin lỗi với họ, đó là mình chọn vòng hoa thơm để đeo vào người. Nghe qua có vẻ là nhỏ nhặt nhưng đòi hỏi phải công phu thật nhiều, làm được cũng không phải là dễ. Hai huynh đệ pháp đàm về việc tu học, mặc dù là thiện pháp nhưng nói một hồi lại tranh luận với nhau bằng tâm sân, khi vừa thấy được sân là sai thì hãy lập tức xin lỗi và sám hối, như vậy thì đẹp vô cùng. Nếu có chánh niệm và tỉnh giác, có sự quán sát và từ tâm thì không có gì có thể làm cho mình đau khổ được. Dù có bị người khác gây chuyện, thù ghét cũng xem đây là cơ hội cho mình thực tập. Đây là cách lật ngược vấn đề để nhìn nhận theo Thánh trí, không bị dắt dẫn theo hướng phàm tình mà không thấy được thực pháp.

Chẳng hạn tám, chín năm nay mình tu trong yên yên ổn ổn, không ai đụng chạm gì đến, thấy tâm cũng an lạc, cũng ít tham, sân, si. Bỗng nhiên một ngày bị người khác chửi là “tu hú chứ tu cái gì” thì có khó chịu không. Ngay lập tức hãy như lý tác ý đây là bài thi kiểm tra xem lâu nay công phu mình ra sao, mình tu được đến đâu, bây giờ nghe vậy có tha thứ, có từ tâm được với người đó không, mình tu thật hay là tu hú như người ta nói, đây chính là cơ hội để quay lại nhìn tâm.

Ví dụ, thời khóa tu học bình thường đến bảy giờ rưỡi là kết thúc, hôm nay học thêm nửa giờ đồng hồ mà vẫn chưa được nghỉ, bụng thì đói, lưng thì đau, chân thì tê, trong tâm ít nhiều có sự dao động. Thay vì thỉnh thoảng nhìn đồng hồ xem đã hết giờ chưa thì ta tác ý hoan hỷ, trân quý vì có thêm thời gian tu học về Thánh trí tuệ của Đức Phật, có thêm cảm thọ về thượng nhân pháp, nuôi dưỡng từ tâm, nhiếp phục bản ngã, khai phá vô minh. Ngồi học mà lòng vui vẻ, hạnh phúc mỉm cười, trong mọi hoàn cảnh đều thực hành pháp.

Ví dụ khác, mình có cuộc hẹn lúc ba giờ mà đến ba giờ bốn mươi lăm phút mà người hẹn chưa thấy đến, trong khoản thời gian chờ đợi đó, thay vì cảm thấy bực bội, khó chịu, rồi cố gắng điện thoại, nhắn tin, tìm đủ mọi cách liên lạc để phàn nàn họ thì mình có thể tĩnh lặng ngồi thiền, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương và tiếp tục tác ý thêm “Tình thương ơi! Từ tâm ơi! Ta khơi dậy trong ta tình thương và từ tâm”. Có khi họ đang bị kẹt xe hay đang cố gắng làm cho xong công chuyện đang dang dở, hoặc chẳng may họ cũng có thể gặp sự cố nên việc đến trễ là ngoài ý muốn, vậy mình sân giận để làm gì. Ta khơi dậy trong ta sự cảm thông, từ tâm và tình thương để thấu hiểu cho họ, sau đó cầu mong cho họ được mọi chuyện đều tốt lành, chứ đừng ngồi sân giận, trách móc. Nhờ vậy, thay vì mất thời giờ nôn nao trông đợi thì mình có thêm bốn mươi lăm phút để trải tâm từ vi diệu.

Đối với những vị không có nhiều thời giờ tu học theo thời khóa mỗi ngày thì những chuyện trái ý nghịch lòng, gam go, thử thách đến với mình chính là cơ hội để chúng ta nhìn rõ hơn cuộc đời đầy đau khổ này. Nhờ vậy ta không oán hờn nghịch cảnh, mà biết nhìn lại chính mình và sanh tâm nhàm chán ngũ uẩn này. Những lúc người khác làm cho mình sân giận, quay lại nhìn xem tâm từ của mình có được bao nhiêu, những lúc tâm khởi bản ngã cũng quay lại xem mình đã nhiếp phục được nó hay không và mình có thực hành tâm khiêm cung, khiêm hạ hay chưa.

Mọi sự va chạm đều là cơ hội để mình rèn luyện, tôi luyện, tu luyện. Đừng nghĩ rằng phải đến chùa mới gọi là tu, mà ở bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào, chúng ta cũng hãy thường trực quán sát cảm thọ, nhận diện những hình bóng, suy nghĩ trong tâm để xem xét tâm độ lượng, buông xả của mình đạt tới mức độ nào để mà điều chỉnh, tu sửa. Ta hãy tập buông xả dần dần những thứ độc hại làm mình khổ đau, có như vậy thì tâm ta mớ càng ngày càng nhẹ nhàng, thanh cao, thanh tịnh, hoan hỷ, từ bi, bao dung, độ lượng.

Khi thấy cơn sân đang áp đảo tâm mình, chúng ta quay lại, hướng vào trong tâm để dạy dỗ nó: “Ngươi ngu vừa phải thôi, còn chỗ nào ngu hơn nữa không? Ngươi cứ ôm những thứ làm cho ngươi đau khổ, làm cho ngươi nặng nề, làm cho ngươi sầu bi khổ ưu não thì ngươi là kẻ ngu nhất ở trên thế gian này, không ai ngu bằng ngươi cả. Ngươi buông ra chưa? Ngươi vứt ra chưa? Ngươi liệng ra chưa? Ngươi quăng ra chưa? Ngươi mửa ra chưa? Ngươi hãy biến khỏi hoàn toàn khỏi tâm ta”. Mình cứ dạy dỗ tâm này mười lần, một trăm lần, cho đến một ngàn lần… chắc chắn tâm sân sẽ được giảm bớt, từ từ đến chỗ tan biến mất.

Để đi ra khỏi được sự áp bức cũng những cảm thọ, chúng ta cần dùng nhiều sức mạnh, dùng sư tử lực, dùng mãnh hổ lực, dùng tượng vương lực, dùng voi chúa lực, dùng những quy luật mạnh mẽ, sắc bén đánh đuổi bất thiện pháp ra khỏi tâm mình. Nếu cứ chấp thủ, nắm giữ những tình cảm làm cho mình khổ đau, bi lụy thì nắm giữ làm gì? Nắm giữ cơn giận, nắm giữ oán thù, nắm giữ những hơn thua, nắm giữ những buồn bã làm cho thân tâm nhức nhối, nóng nảy thì nắm giữ làm gì? Đau buồn mà thích nắm giữ, không chịu buông bỏ là dại hay khôn?! Đau buồn mà cứ thích ở trong đó, chết chìm ở trong đó để gặm nhấm nỗi buồn, làm cho mình khổ, làm cho cha mẹ khổ, làm cho gia đình khổ để được cái gì?!

Hãy quay vào la tâm mình, mắng tâm mình, chửi tâm mình: “Ngươi ngu vừa thôi, ngươi còn chỗ nào để cho người khác ngu nữa hay không? Tại sao ngươi cứ ôm những nỗi buồn bã, sầu bi, ưu não như vậy? Hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi. Ta muốn vui vẻ, ta muốn tươi trẻ, ta muốn tốt khỏe, ta không muốn sầu bi khổ ưu não nữa, ta muốn tâm nhẹ nhàng, thanh lương, hoan hỷ”.

Buông bỏ được nhẹ khỏe vô cùng, giận làm chi cho khổ, hơn thua làm gì cho buồn. Buông xuống được nhẹ cả trời đất vạn vật, nhẹ cả hành tinh vũ trụ. Vậy mà sao trước nay ta cứ dại khờ, cứ nắm giữ, dính mắc. Cả ngày không chịu quay trở lại nội tâm để lo nhiếp phục tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái của chính mình, cứ chạy ra ngoài đánh giá người này, đánh giá người kia rồi “đả thương nhau bằng vũ khí miệng lưỡi, sát thương nhau bằng vũ khí miệng lưỡi”. Tu không chịu lo tu, thực hành không chịu lo thực hành, không biết thương mình, cứ lo hành tội, hành hạ, khẩu chiến với nhau, làm cho nhau đau khổ.

Tại sao chúng ta không biết tự thương chính mình, mình không còn nhiều thời gian để tu nữa, đừng nghĩ mình còn sống hoài. Nhiều khi đang ngồi thiền, đang đi đứng bình thường thì có thể lên tăng xông, đứt gân máu, đột quỵ là đã qua kiếp sống khác. Ai ra đi trong lúc ngồi thiền thì còn được chết trong pháp, chết trong vinh quang, hiếm có người như vậy; còn người ra đi trong lúc ăn chơi thì chiếm phần nhiều. Vì vậy, chúng ta phải cố gắng thật nhiều, tận dụng tối đa từng giây, từng phút để tu tập, không cho tâm rời xa pháp. Thường trực quán chiếu cảm thọ, nhận diện thân tâm, làm cho tâm mình ngọt ngào, dạt dào, làm cho tâm mình nhẹ nhàng, thảnh thơi, làm cho tâm mình thoải mái, dễ chịu, làm cho tâm mình tràn đầy yêu thương bao la rộng lớn vô lượng vô biên giữa đất trời này, giữa đại ngàn này.

---

Những lúc tâm buồn chán, cứ man mác u sầu, đây là cảm thọ không khổ không vui. Ta hãy tác ý để tâm hỷ được sanh khởi, đồng thời xả bỏ được những cảm thọ không buồn không vui. Ta nên thấy mình vui vì được nghe pháp, vui vì được lên núi, vui vì được hành thiền, vui vì được quán chiếu, vui vì được tu tập tứ vô lượng tâm, vui vì trời trong mây trắng, núi cao non xanh, vui vì viễn tục ly trần. Ngồi một mình cũng cười vui, vừa bước đi vừa cười, vừa thở vừa vui, ăn cơm cũng thấy vui, ngồi thiền cũng thấy vui, nghe pháp càng vui, vào ngủ cũng mỉm cười. Vì sáng, trưa, chiều, tối ta đều được thấm nhuần Pháp bảo, thấm nhuần Thánh trí, thấm nhuần đại tuệ, nhiều niềm vui như vậy, sao lại thấy buồn? Hãy hỏi tâm mình đang buồn cái gì? Sau đó la rầy, quở trách và diệt tận cảm thọ buồn chán này. Đây là lấy tâm hỷ trị tâm si, tâm vui trị tâm buồn, tâm hoan hỷ trị tâm bất lạc, tâm hân hoan trị tâm buồn bã. Thường xuyên tác ý như vậy để tinh tấn tu học và hoan hỷ trong các thiện pháp.

Người biết tác ý làm sanh khởi tâm hỷ sẽ có nhiều niềm vui trong tu tập, đây là món ngon nhất hành tinh, giờ tu còn tuyệt vời hơn được đi dự tiệc. Lúc nào được tu cũng thấy hạnh phúc, sung sướng; dù hết giờ tu trên thiền đường vẫn muốn tiếp tục an trú vào các pháp thanh cao, cao thượng, thánh thiện, hoan hỷ, rộng lớn vô biên trong trí tuệ này. Có vị Phật tử tác ý, dù chết ở đây cũng hạnh phúc, nước mắt trào dâng, vì được ra đi trong Chánh Pháp. Cư sĩ mới tu còn biết tác ý, ở trong chùa bao nhiêu năm không biết tác ý thì rất uổng phí.

Người không tinh cần, siêng năng tác ý là tu không tiến bộ, trong kinh Cội Rễ Của Sự Vật, Đức Phật đã dạy: “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả các pháp lấy niệm làm tăng thượng”, tức là phải tác ý và thường luôn nhắc nhở tâm mình thì mới làm cho pháp đang tu tập được lớn mạnh lên. Chẳng những thiện pháp đó được sanh khởi trong tâm, mà nó còn lớn mạnh hơn nữa, đó gọi là lấy tác ý làm sanh khởi và lấy niệm làm tăng thượng..

Trong sự tu tập phải biết tác ý, đánh đuổi những cảm giác si mê, những cảm giác buồn buồn, chán chán, nản nản. Tác ý làm cho tâm được hân hoan, phấn khởi, vui sướng, thấy được tu tập là điều hy hữu hiếm có khó gặp, quý báu nhất ở trên đời. Thế nên phải quyết tâm buông xả những sự tham muốn, tức giận, hơn thua, ganh tỵ, đố kỵ, bản ngã đang hoành hành bên trong. Đây là nghệ thuật tối thượng của tâm linh, người thực hành được tâm buông xả lúc nào cũng sống vui, sống khỏe, sống trẻ, sống nhẹ, sống an lạc cả một đời, chẳng những đời này mà còn nhiều kiếp sau, càng ngày càng đi lên, đến được Tịnh Cư Thiên, hướng đến Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.

---

Như vậy, điều buông xả thứ hai cần thực tập là buông xả tình cảm, tức là buông xả thọ, tưởng, hành. Những cảm giác nào làm ta đau khổ, khó chịu, bực bội, bức bối, bức xúc, ta phải khéo léo, nhanh chóng và sắc bén để đánh đuổi, xả bỏ nó ngay lập tức, không để tồn đọng ở trong tâm. Giống như có rắn độc bò vào nhà thì phải lấy cây đuổi rắn đi ngay, không thể để cho mối nguy hiểm này ở trong nhà thêm giây phút nào, dù là một ngày, một giờ hay chỉ một phút.

Khi thấy tâm đang khó chịu, hãy lập tức nhiếp phục, xả bỏ, vứt bỏ ngay cảm thọ đó. Như ví dụ đã chia sẻ ở trên, nếu phát hiện xác chết bốc mùi hôi thối thì ta phải dọn dẹp nhà cửa, đem xác đó đi bỏ ngay lập tức, không thể để nó bên cạnh mà nằm ngủ được. Người nào cứ để yên mà ngủ là lỗ mũi người này đã hỏng, không ngửi được mùi được; hoặc người này bị mù nên không thấy để dọn. Còn mình được học nhận diện ngũ uẩn giống như người mù được chữa sáng, mình có quán chiếu cảm thọ là lỗ mũi mình còn ngửi được. Nhờ đó mình thấy rõ cái nào là phân, cái nào là hoa.

Như khi được người khác tặng một bó hoa sen thì mình vui vẻ, hoan hỷ, tươi cười và đem hoa cắm vào bình để ngắm. Còn nếu người ta cho mình nguyên một đống phân thì mình có đem vào nhà, để lên gối nằm để ngửi không?! Cũng vậy, nếu chất chứa những sân hận, bực bội với người ta cũng như mình đang ôm phân để ngủ. Làm vậy là dại hay khôn?! Người cứ nắm giữ những cảm thọ bực bội, khó chịu, sân hận, cọc cằn, cau có, ghim gút, oán thù là chẳng khác gì sống chung với một đống phân to lớn.

Thế nên dại gì ta ôm mãi những nỗi lo buồn, dại gì ta ôm mãi những khổ đau, dại gì ta ôm mãi những hơn thua, dại gì ta ôm mãi những cảm thọ sân si này: “Ngươi dại quá tâm mê ơi! Ngươi sống thông minh, trí tuệ lên có biết không?!”. Khi có chuyện buồn hay đang sân giận, đừng vội đi đây đi kia, tìm người này người nọ để than thở, tâm sự. Mà chúng ta hãy quay lại làm bạn với bạn tri kỷ với chính mình, lôi cái tâm đang buồn, đang giận ra để nói chuyện rồi xử lý nó:

“Ngươi giận cái gì? Ngươi giận ai? Có ai ở đây mà giận? Ngươi chỉ là cảm thọ mà thôi. Ai khinh thường ngươi? Ai sỉ nhục ngươi? Ngươi chỉ là tưởng, chỉ là những hình bóng hư ảo trong tâm. Hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, đi chỗ khác chơi để cho ta tu. Ta chỉ cho tưởng cúi đầu hiền thiện, tưởng khiêm cung, khiên hạ, tưởng nùi giẻ rách, tưởng ăn xin, tưởng bộ xương, tưởng đống tro sanh khởi mà thôi. Còn lại những hình bóng hất mặt, ta đây, ngã mạn, hơn thua, đấu đá hãy đi chỗ khác, ta không cho ngươi được phép ở trong tâm ta, hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta.

Ngày xưa ta không biết mi, mi đã tác oai tác quái, bây giờ ta biết ngươi là tưởng rồi, ngươi đừng hòng lên mặt với ai. Ta đã biết được mặt mũi, tên tuổi, tánh tình, bản chất của ngươi, ta sẽ trị ngươi, trị tới nơi tới chốn. Ta sẽ dạy ngươi hiền hòa, khiêm cung, khiêm hạ. Dù có chết cũng phải dạy ngươi cho bằng được. Ta phải huấn luyện được cái tâm này, phải làm chủ được cái tâm này, phải đánh gục được bản ngã này”.

Hàng ngày, hàng giờ, hàng phút, hàng giây đều phải như lý tác ý, đừng đợi tâm bất thiện sanh khởi lên rồi mới dạy dỗ là không kịp. Cần liên tục huấn luyện, nhắc nhở, dạy dỗ, giáo dục tâm, tác ý xa, tác ý gần, tác ý trong ngoài, trước sau, trên dưới, thập diện mai phục để đánh đuổi tham, sân, si, bản ngã. Nhờ luôn an trú trong pháp, mỗi khi ác bất thiện pháp nổi lên, ta chỉ cần nhìn một cái là nó tan biến hết. Giống như ta có kính chiếu yêu, có pháp nhãn, đạo nhãn, trí nhãn, tuệ nhãn, minh nhãn, nhìn tới đâu là làm xuyên thủng tới đó, nhìn tới đâu là những hình bóng hơn thua, bản ngã đều tan thành mây thành khói.

Nếu không tan thì ta cầm Thánh đao của Thánh trí tuệ đánh cho những khối vô minh tan tành, tan vỡ, tan biến. Đó chính là tinh tấn lực, là tuệ lực, là Chánh tư duy, là Thánh tư duy, là tri kiến lực, là sức mạnh của sự thấy biết. Tu học phải có pháp quy, pháp lệnh, pháp lực, sức mạnh trong tâm phải mạnh mẽ, phải uy lực. Tu mà cứ yếu đuối thì không buông xuống được những chướng ngại, phiền não; rồi mình sẽ bị những tâm xảo quyệt, xảo trá, xảo ngụy, ác độc, thâm độc lừa dối, làm cho mình khổ đau.

Như vậy, điều quan trọng cần buông bỏ tiếp theo là buông bỏ những đau khổ chất chứa trong tâm. Nếu mãi truy tầm, chạy đuổi để làm thỏa mãn những cảm giác, hay ôm ấp những điều bất như ý thì chỉ làm mình thêm đau khổ. Cho đến một ngày buông xuống được những được mất, ghét thương thì thoải mái biết bao nhiêu, đó là ly tham giải thoát. Rồi những oán hờn, gút mắc cũng được hoá giải, những cảm giác, cảm xúc, cảm thọ đau khổ không còn nữa thì tâm nhẹ khỏe vô cùng.

Cho nên, địa chỉ thường trú của người tu không phải ở Cà Mau, Rạch Giá, Kiên Giang hay Hà Nội… mà địa chỉ thường trú của người tu là an trú trong tâm xả, chánh niệm, tỉnh giác nhìn mọi thọ, tưởng, hành bằng tâm hiểu thương và buông xả. Những điều gì làm cho tâm ta bất an thì buông bỏ hết, những hình bóng ám ảnh làm cho tâm đau khổ, mệt mỏi thì đẩy nó ra ngoài, những suy nghĩ sầu bi, hờn giận thì mau mau vứt bỏ chúng. Làm được như vậy chúng ta sẽ có một thân tâm nhẹ nhàng như mây trôi nước chảy, thảnh thơi, bình an, tự tại giữa cuộc đời.

Chúng ta hãy yêu thương, chăm sóc, quan tâm và giúp đỡ mọi người xung quanh, đặc biệt là những người thân thương bằng tất cả sự tấm lòng chân thành, ngọt ngào, ấm áp, dạt dào và rộng lớn. Cứ như vậy, tất cả những gì làm mình khổ đau sẽ từ từ rơi rụng, tâm mình giờ đây chỉ còn lại sự thanh tịnh, nhẹ nhàng, tươi mát, thanh lương, hoan hỷ, hỷ lạc trong Chánh Pháp. Trong mọi sự nhìn, nghe, ngửi, nếm, mọi suy nghĩ, cảm giác, nhận thức đều bằng mắt thương nhìn cuộc đời, tâm hiểu nghe thế gian, tâm từ tỏa rộng khắp thế giới.

Xả bỏ chấp thân

Sâu sắc hơn nữa là chúng ta tập xả bỏ thân kiến – xả bỏ kiến chấp về thân, tức là xả bỏ tâm chấp thủ đối với thân này, xả bỏ suy nghĩ thân này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.

Sự chấp thủ vào tấm thân mấy chục ký lô này là sự chấp thủ to lớn nhất. Điều này, trong kinh được Đức Phật ví dụ qua hình ảnh: “Ví như, này các Tỷ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột hay cột trụ vững trắc, chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh cây cột ấy hay cột trụ ấy.” (Bài kinh Dây thằng – Tương Ưng Bộ Kinh). Như một con chó bị buộc vào sợi dây thừng, con chó này có đi, có đứng, có nằm, thức, ngủ hay chạy nhảy gì thì cũng chỉ lòng vòng xoay quanh cây cột đó mà thôi; không thể nào thoát ly ra khỏi cây cột đó được. Vì bản thân nó bị trói buộc bởi sợi dây thừng đó.

Cũng vậy, bởi vì sự chấp thủ vào tấm thân này quá to lớn nên suốt một đời người, từ trẻ đến già, từ lúc thức giấc đến khi đi ngủ, chúng ta chỉ lo lắng, suy tư, nghĩ ngợi về những điều liên quan đến thân thể này của ta. Lo phải tìm món ăn cho ngon, tìm chỗ vui chơi cho thích ý, lo kiếm tiền để phục vụ tấm thân này cho được sung sướng, lo tìm cách để mọi người yêu quý, nể trọng tấm thân này.

Do sự trói buộc quá chặt vào tấm thân này mà chúng ta không thể nào nghĩ thoát ra khỏi nó, có đi đứng, nằm ngồi, nói năng, suy nghĩ gì cũng đều xoay quanh việc phục vụ cho thân thể này, mà không thấy được bản chất của thân này chỉ là duyên sanh, vô thường, tạm bợ. Nếu không được như ý hay chịu thương tổn thì ta sầu bi, khổ não. Cho nên, đích đến cuối cùng của sự tu tập tâm xả là để tháo gỡ những sự chấp thủ, nắm chặt, dính mắc, trói buộc vào thân tâm năm uẩn.

Mặt khác, chúng ta thường nghĩ rằng bị bệnh là khổ, đó chỉ phần ngọn của vấn đề. Đức Phật vẫn nói bệnh là khổ nhưng sâu sắc hơn, Ngài chỉ ra vì có thân này nên có bệnh. Lý do có thân này là vì mình ưa thích, khát ái, nắm giữ thân này nên ta cứ trôi lăn trong sanh tử, hết gá thân này, lại vào thân khác. Và khi có thân mà không muốn thân bệnh, thân khổ là điều không thể xảy ra, vậy mà ta lại chấp chặt, si mê vào đó.

Chúng ta đã từng hiện hữu trong vô vàn những thân xác, có lúc được làm người, có lúc lại sanh vào thân con chó, con mèo, con giòi... Ở trong thân nào cũng nhận thân đó là mình, rồi yêu thích, say mê, bản ngã trong đó. Con giòi thì ngông nghênh, hống hách, ngã mạn ta đây trong đống phân, chúng giành nhau xem đống phân nào to hơn. Con chó cũng ngông nghênh, vênh váo, ở đâu lâu thì xem đó là nhà mình, rồi sủa la những con khác. Chúng ta cũng vậy, có một chút sắc đẹp, một chút tuổi thọ, một chút sức khỏe, tài sản, kiến thức là ta đây, ngã mạn, thậm chí không xem ai ra gì, mà không biết rằng tất cả những thứ đó đối với các bậc hiền Thánh không khác gì ta nhìn con giòi trong những đống phân to.

---

Muốn đi đến sự thoát khỏi đời sống trong những thân xác bệnh tật, khổ đau, bất tịnh, vô thường này, bước đầu tiên chúng ta cần thường xuyên, gỡ bỏ liên tục suy nghĩ về tôi, về của tôi và tự ngã của tôi đối với ngũ uẩn. Ví dụ, khi soi gương ta thấy khuôn mặt “của mình” cũng xinh, dáng người “của mình” cũng đẹp. Khi vừa thấy có suy nghĩ này sanh khởi, cần lập tức tác ý: “Làm gì có mình nào ở đây? Đây chỉ là tứ đại, là một đống đất, một làn gió, một đốm lửa, một vũng nước mà thôi. Tâm ơi mi hãy nhìn kỹ lại đi, ngươi sai rồi, không có cái ta nào ở đây hết”. Việc chỉnh sửa những suy nghĩ sai lầm về thân này là bước đầu tập xả bỏ thân kiến.

Mỗi sáng khi vừa thức dậy, ta hãy hà hơi ra để cảm nhận rõ “mùi hương” thoát ra từ cơ thể mà mình cho là thơm, là đẹp. Trước khi rửa mặt hãy nhìn kỹ ghèn trong mắt, nước miếng trong miệng chảy ra hôi dơ đến cỡ nào. Mỗi khi đi vệ sinh, đừng vội bấm nút nhanh, mà đứng nhìn một chút để cảm nhận “thành phẩm” được thân này tạo ra. Thậm chí bộ đồ mình chỉ mặc qua trên người, khi nhúng vào thau nước sạch cũng làm hoen ố, dơ bẩn màu nước. Chúng ta tập như vậy để thấy sự thật về thân này, từ đó giảm bớt tâm si mê, nắm chặt, yêu thích thân thể, xả bỏ bớt dần những sự dính mắc, chấp thủ vào thân. Có nhiều người không thể xem được hình ảnh cơ thể con người được giải phẫu, từng bộ phận được phơi bày ra, nào là máu, mủ, gân, da, tim, gan, thịt, xương, tất cả kết hợp lại tạo thành một con người, chứ không có cái “tôi” thật sự nào ở trong thân này cả.

Cho nên khi có bất đồng xảy ra, trước đây mình cứ nhất quyết phải giành phần đúng, phần phải, phần hơn, phần thắng cho bằng được thì giờ đây hãy quay lại tâm để nhắc nhở nó: “Có ai ở đây hỡi cái tâm vô minh kia? Cái tâm mê muội, cái tâm chấp thủ kia hãy nhìn cho kỹ, xem có ai ở đây không? Ngươi có nghe Thánh trí tuệ chưa, có nhớ Thánh trí tuệ chưa, có học Thánh trí tuệ chưa? Thân này chỉ là duyên sanh, vô thường, rỗng không. Những thứ hơn thua, đúng sai này cũng chỉ là thứ duyên sanh, vô thường, biến hoại, khổ đau, phiền não. Vậy mà tại sao ngươi lại nhận vào những thứ đau khổ, vô thường, phiền não này để rồi gánh chịu đau khổ trầm luân muôn kiếp? Ngươi hãy từ bỏ suy nghĩ này là tôi, là của tôi, tự ngã của tôi này đi. Làm gì có cái ta, cái tôi thật sự nào ở trong đây để mà sân si, bản ngã? Những thứ hơn thua, đúng sai hãy diệt tận, tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi”.

Ngay lúc đó chúng ta phải tác ý để đánh đuổi tâm chấp thủ đối với thân kiến, phá tan ảo tưởng về tự ngã ở trong ý niệm hơn thua, tôi ta, thắng bại, cao thấp, ganh tỵ, đố kỵ. Phải tập buông bỏ những ý nghĩ thân này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi; buông bỏ ý nghĩ những cảm giác này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi; buông bỏ những suy nghĩ, hình bóng, những nhận thức cho rằng đây là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Như vậy là đại buông xả, là nghệ thuật buông bỏ tối thượng thừa, tức là buông bỏ sự thấy biết cho rằng cái này là tôi, cái này là của tôi, là tự ngã của tôi. Người bỏ được những điều này là người hạnh phúc nhất hành tinh.

Cần chiêm nghiệm, quán chiếu thật nhiều mới có vốn liếng để tác ý, mới có trí tuệ hiểu biết để mà từ bỏ. Còn tự nhiên nói “tôi từ bỏ” thì chỉ là nói suông trên miệng, không hiểu được bản chất của vấn đề thì làm sao bỏ được, chưa nhìn thấy được sự thật về ngũ uẩn thì làm sao bỏ được. Nếu nhìn cái gì cũng thấy đẹp như bó hoa sen thì sao có thể từ bỏ. Phải thấy đây là một đống phân tanh hôi, bẩn thỉu thì mới buông xuống được.

Tâm này phải được nuôi dưỡng bằng trí tuệ, được tưới tẩm sự thật về bản chất cuộc đời trong mỗi thời ngồi thiền, mỗi thời nghe pháp, mỗi thời quán chiếu. Lâu ngày dài tháng trí tuệ về thân tâm sẽ thấm đẫm trong từng hơi thở, từng làn da thớ thịt, lúc đó ta thật sự thấy được thân này là vô sở hữu, thân này là vô hộ vô chủ, thật sự thân này là khao khát, là thiếu thốn, là khát ái, là vô minh, là ngu si.

Thật là si mê mới cho rằng thân này là thường còn, cho rằng thân này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, người trí hoàn toàn không nghĩ như vậy. Cho đến một lúc nào đó, ta thật sự xác quyết một trăm phần trăm rằng thọ, tưởng, hành, thức này không có gì là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, nó chỉ là duyên sanh, là vô thường, là phiền não, là khổ đau, là nước mắt, là trống rỗng là Nhập lưu Thánh quả.

Trong quá trình tu, có lúc ta chấp nhận thân này không phải là tôi, không phải của tôi, chấp nhận những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức không phải là tôi, không phải của tôi, không phải là tự ngã của tôi; nhưng cũng có lúc lại đồng hóa với nó, nghĩ rằng đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Tâm lúc này vẫn còn tranh tối tranh sáng, năm hơn năm thua, thiện ác phân tranh. Nếu còn chấp vào cái tôi nhiều hơn thì tâm còn mê nhiều hơn, như vậy là còn khổ nhiều hơn. Khi nào thấy được không có tôi, không có cái của tôi nào ở đây một cách hoàn toàn, như vậy là mười phân vẹn mười, lúc này thành tựu Sơ quả Tu-đà-hoàn. Khi thấy tâm hướng đến sự ly tham đối với ngũ uẩn một cách mạnh mẽ, xác quyết, quyết liệt, mặc dù chưa hoàn toàn một trăm phần trăm thì cũng không thể nào đi lùi được nữa, vì khi đó ta đã đi vào Hướng Dự Lưu, nghĩa là đang đi trên con đường đi vào Dự Lưu, tiến đến sự ly tham ngũ uẩn, từ bỏ tham sân si, dục, ái, vô minh, bản ngã. Chắc chắn chỉ có con đường ly tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì mới an lạc, an vui. Ngoài ra, không còn lựa chọn nào khác, không còn con đường nào khác đưa mình đến hạnh phúc, an lạc, giải thoát.

Mặc dù hiện tại chúng ta chưa thể từ bỏ hoàn toàn sự chấp thủ vào ngũ uẩn nhưng mình vẫn đang hướng tới sự từ bỏ, vì ta thấy được tham, sân, si, vô minh, bản ngã trong thân tâm này là bất thiện, là xấu xa, là nhục nhã, chỉ đưa đến khổ đau và nước mắt. Tuy nhiên, do những tập khí trong tâm còn quá mạnh nên có lúc ta đánh thắng nó, có lúc cũng phải chịu thua nó, những lúc này đừng quên nói với nó rằng: “Ta chỉ thua ngươi bây giờ thôi, ngươi hãy đợi đấy, ta tu tập xong Thánh trí Ngũ Uẩn thì nhà ngươi sẽ nát tan với ta nghe không? Ta để ngươi sang một bên rồi từ từ ta xử ngươi, để ta mài dao diệt tận ngươi”. Mỗi thời thiền quán là mài Thánh đao, mỗi thời nghe pháp là đang rèn Thánh kiếm để xử lý những chấp thủ cứng đầu. Nếu ngồi thiền mà gục lên gục xuống, vào thiền đường tu thì lờ đờ, mở mắt không nổi, ra ngoài đi ăn, đi chơi thì mặt mày hớn hở, hai mắt sáng rực thì thì mài được cái gì?

Có câu “Vọng tình dị tập, chí đạo nan văn”, vọng tình là những tình cảm giả dối của thế gian, đối với những thứ này thì tâm ta bén nhạy, rất dễ huân tập, chỉ cần nhìn, nghe, tiếp xúc một chút là tham, sân, si liền nổi dậy. Nếu đem tâm bén nhạy với tham, sân, si để mà bén nhạy với Thánh trí thì không lâu sẽ thành tựu. Cũng như câu, “Đạo niệm đồng tình niệm, tắc thành Phật đa thời”, nếu nhớ đạo giống như nhớ đời thì giác ngộ từ lâu.

Cũng vậy, nếu luôn nhớ đến vô thường, khổ, vô ngã; luôn nhớ thân này không phải là ta, thọ, tưởng, hành, thức cũng không phải là ta; luôn nhớ an trú tâm khiêm cung khiêm hạ; luôn nhớ thân này cuối cùng chỉ là một bộ xương, một đống tro tàn thì đã chứng quả hơn hai ngàn năm trước. Nhưng vì tâm này không chịu nhớ Thánh trí, mà cứ nhớ nghĩ đến những chuyện trong tham, sân, si, nhớ người này khó chịu, nhớ người kia làm sai, nhớ ông kia nói không tốt với mình, nhớ bà nọ nói xấu mình, ai nhắc nhở một chút thì khó chịu, rồi bản ngã, sân hận trỗi dậy, như vậy làm sao buông bỏ được phiền não để mà giải thoát.

---

Tâm thức chưa được tu tập thường khôn ngoan theo kiểu thế gian, khôn để làm mình khổ đau, khôn trong hơn thua, khôn trong bản ngã, không những hơn thua với người dưng mà còn hơn thua với anh em ruột, với cha mẹ, với vợ chồng. Ở trong gia đình vợ chồng sống với nhau lâu nếu không có chánh niệm, tỉnh thức, thấu hiểu, cảm thông, khi xảy vấn đề bất đồng ý kiến, bất đồng quan điểm, lời qua tiếng lại vài câu, rồi ghim gút vào một câu nói không hay của đối phương, sau đó có thể chấp nhặt, hành hạ, làm khổ cho nhau cả đời. Chúng ta thường hay đối xử với nhau như vậy mà còn vỗ ngực xưng tên, hễ ai dám đụng đến ta, ta quậy cho tới nơi, ta cho nếm mùi đau khổ, nhưng người khổ trước tiên lại chính là mình.

Cho nên nói, tâm chấp ngã là tâm ngu dại nhất, hôn mê nhất, si mê nhất, vì nhận thân này là tôi, là của tôi nên ai đụng đến thân một chút là tâm liền sừng sộ, giận hờn. Tâm chấp nhặt hơn thua từng chút một, tưởng đâu như vậy là hay, là khôn, là tài giỏi nhưng thật sự rất là ngu si, dại khờ, bị bản ngã điều khiển, hành hạ mà không hề hay biết. Tâm cứ nắm giữ, chấp nhặt, dính mắc vào cơn giận không chịu buông, có người thù hận đến chết cũng không chịu xả bỏ, thậm chí có những hành động dại khờ, thiếu trí, hối hận không kịp.

Vì vậy, bước đầu tiên để xả chấp thân là chúng ta cần đánh cho bản ngã này gục ngã, tan nát thành tro, thành bụi thì tâm mới có thể bình lặng, dễ dàng buông bỏ những điều trái ý nghịch lòng đến với mình. Đối với bất cứ một người nào, ta cũng có thể đem đỉnh đầu lạy xuống, đặt dưới chân họ để xả bỏ hoàn toàn cái tôi, cái ta lúc nào cũng hống hách, hách dịch, kiêu mạn, ngạo mạn, ngã mạn này. Chỉ như vậy ta mới có được sự an toàn, mới có được sự bình an, mới có sự bảo hộ vững vàng.

Trước tiên, bản ngã sẽ được nhiếp phục, đánh gục bằng sự tu tập năm khiêm hai khéo, phòng hộ các căn và tự xét lỗi của mình. Chúng ta đừng nên nhìn lỗi người, ai càng nhìn lỗi người thì càng dễ đi nhanh vào biển khổ, càng chìm nhanh xuống đại dương của luân hồi, không giải quyết được vấn đề gì. Vì vậy, hãy quay lại tìm lỗi nơi tự thân mình, tìm ra những cái xấu, cái dở, tập nhìn ra những cấu uế, cấu nhiễm, tập khí của bản thân để dần dần khắc phục, chế ngự, sửa đổi, tu chỉnh.

Tiếp theo, chúng ta hãy thường xuyên sám hối. Mỗi khi sám hối là mình đang xả bớt bản ngã, đánh gục bản ngã; vì lúc đó bản ngã chấp nhận ra quỳ lạy, rồi phơi bày những tội lỗi của mình. Những vị sám hối với tâm tự nguyện, tự giác rất là tốt, vì khi đó bản ngã đang được dạy dỗ. Còn những người có bản ngã cao thì không dễ mà sám hối, đôi khi người khác bằng tình thương chỉ lỗi mà họ còn sân lên.

Hơn nữa, không phải sám hối xong là pháp đó đã được thành tựu, mà ta cần tiếp tục an trú vào sự buông bỏ những pháp bất thiện vẫn còn tồn đọng trong tâm. Cũng như không phải kết thúc khóa tu là sự tu dừng lại; không phải hết thời thiền quán là hết quán chiếu. Luôn tâm niệm rằng, dù hết thời gian tu trong thiền đường, ta vẫn tiếp tục an trú vào pháp đang được thực tập, đó gọi là khéo léo thọ trì pháp. Đừng ở trong thiền đường thì tác ý tâm hỷ nên cảm thấy hạnh phúc, an lạc nhưng khi ra khỏi thiền đường thì lại quay với tâm buồn bã, giận sân, như vậy thì rất uổng phí. Do đó, sau khi sám hối lỗi lầm, ta hãy tiếp tục an trú vào trí tuệ buông xả suốt ngày, bất cứ lúc nào có thể mình luôn nhắc nhở, làm cho sanh khởi pháp đó, rồi niệm pháp đó cho nó tăng trưởng, lớn mạnh, phát triển trong tâm.

Thường xuyên nhận diện thân tâm để thấy nhàm chán, ê chề, não nề, gớm ghê, chán chê đối với thân tâm bất tịnh, ô nhiễm, cấu uế này. Lúc nào ta cũng nhìn lại chính mình, đánh gục ngã bản ngã này xuống để phơi bày tội lỗi, không cần che giấu, có như vậy mới thấy được sự bẩn thỉu, ô uế, ô nhiễm, ngu si, phiền não, phiền phức, phiền bực, phiền toái của thân này, từ đó nhàm chán, ly tham, từ bỏ. Sau đó an trú vào tứ vô lượng tâm rộng lớn, vô lượng, đây chính là Thánh trí vô ngã. Như vậy, sự thực tập nhiếp phục bản ngã sẽ giúp ta xả bớt tâm chấp thủ đối với thân này.

Như có người sáng trưa chiều tối, lúc nào bàn tay cũng nắm chặt như nắm đấm, không xòe ra được, đôi tay như vậy là đôi tay dị tật, vì không cầm nắm được bất cứ vật gì. Cũng vậy, một nội tâm luôn ôm ấp những hơn thua, đúng sai, hờn giận, hận thù, bản ngã là một nội tâm dị tật, không thể đón nhận được niềm vui. Còn tâm của người biết buông xả luôn luôn rộng mở, khi nào muốn cầm là cầm lên, khi nào muốn buông xả là bỏ xuống.

Năm ngón tay này cũng là ví dụ cho năm uẩn – sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi chưa học Thánh trí ngũ uẩn, năm uẩn dính nhau cứng chắc tạo thành một cái tôi, một cái ta, một bản ngã to lớn. Bản ngã này giống như bàn tay nắm chặt thành một nắm đấm, đầy nguy hiểm, ai nhìn vào cũng e sợ. Khi bắt đầu học trí tuệ ngũ uẩn một thời gian, lúc nào nhận diện được ngũ uẩn, nắm đấm ấy từ từ xòe ra thành năm ngón tay. Điều này đồng nghĩa sự chấp thủ vào thân tâm này cũng từ từ được xả bớt. Từ một nắm đấm lúc ban đầu, nhờ tu học tâm hiền, tâm từ mà bàn tay bắt đầu hé mở. Khi thấy được những sự chấp thủ đối với thân tâm này, những ngón tay tiếp tục được mở ra. Khi thực hành hành khiêm cung, khiêm nhã, đánh gục được bản ngã là những ngón tay xòe ra hoàn toàn. Cho đến lúc thật sự thấu triệt trí tuệ vô ngã thì bàn tay này sẽ buông thõng xuống hoàn toàn; thân nhẹ tâm an.

---

Một điều không kém phần quan trọng trong sự tu tập xả bỏ chấp thân này là ta hãy nhìn thật kỹ bản chất cuộc đời. Ví như một ngày đẹp trời như mọi ngày, một người đang chạy tập thể dục, ngắm trời mây, hít thở không khí trong lành mát mẻ, bỗng nhiên thấy trước mặt có một cọc tiền đô, bước chân tự nhiên khựng lại, tim đập mạnh, suy nghĩ mình trúng mánh to rồi, đến khi cầm lên nhìn kỹ lại thì là đô la âm phủ thì người này vội vứt lẹ, tiếp tục tập thể dục. Khi vừa nhìn thấy cọc tiền, ngũ uẩn vận hành như vũ bão chỉ trong một tích tắc hiện ra nào là nhà lầu, xe hơi, những bữa tiệc xa hoa, những khu du lịch đắt đỏ… nhưng thực tế thì chẳng có gì.

Cuộc đời ta cũng giống như ví dụ này. Ta được sanh ra do nghiệp lực thúc đẩy, mạng sống này là pháp duyên sanh, là vô thường, tạm bợ nhưng ta cứ ngỡ thân này là vững chắc, là trường tồn, rồi chấp vào nó là ta, là của ta. Khi vừa mở mắt chào đời chỉ có hai bàn tay trắng nhưng giờ ta lại cho rằng những vật chất ta có được là bền vững, là sở hữu của ta. Mãi đến khi nằm hấp hối trên giường bệnh, phải lấy từng hơi thở khó nhọc, lúc đó ta mới thấm thía rằng thân này nào có nghe lời mình, nó muốn bệnh là bệnh, muốn ra đi là ra đi, không một lời từ biệt; tất cả tiền tài, sự nghiệp chỉ là ảo mộng; tất cả những tình cảm, những mối quan hệ mình trân quý chẳng khác nào một giấc mơ, quay đầu nhìn lại, thấy mình chẳng nắm giữ được bất cứ điều gì, ngoài nghiệp và nhân quả đang chờ đợi phía trước. Lúc này ta mới ngậm ngùi tự hỏi bản thân rằng, cả cuộc đời ta ra sức tranh giành, hơn thua, đấu đá để làm chi?! Đến lúc thấy được sự thật như vậy thì cũng đã muộn màng.

Cho nên để thật xả bỏ được những sự chấp thủ vô nghĩa này, chúng ta phải tập buông xả ngay từ bây giờ. Những cái gì không phải của mình đừng dại khờ nắm giữ, càng níu kéo nhiều chỉ càng nhận lấy thêm nhiều khổ đau. Hãy xòe hai bàn tay ra và buông thõng xuống để thấy rõ ta đến cuộc đời với hai bàn tay trắng và khi chết đi cũng trắng cả hai tay, vậy mà ở đoạn giữa cuộc đời tạm bợ lại nhận cái này của tôi, cái kia của tôi, cái nào cũng của tôi, thật là vô minh và vô nghĩa. Vậy mà lúc nào ta cũng “Con tôi, tài sản tôi – Người ngu sanh ưu não”, thế nhưng “Tự ta, ta không có – Con đâu, tài sản đâu”! (Kinh Pháp cú– Phẩm Ngu). Khi thật sự thấm thía sự thật về thân tâm và đời sống này, chúng ta hãy tập buông bỏ những điều làm mình khổ đau, buông bỏ sự nắm chặt vào cái gọi là tôi, là của tôi, buông bỏ một cách cam tâm tình nguyện, cảm thấy vui sướng trong sự buông bỏ đó, miệng mỉm cười an nhiên, sống chan hòa, từ ái, yêu thương!

LỢI ÍCH CỦA TÂM BUÔNG

Chư vị Hiền trí thân mến! Sự thực tập tâm buông xả giúp ta quay về sự bình lặng, yên tĩnh của nội tâm. Bởi khi chấp thủ, dính mắc, trói buộc vào bất cứ điều gì thì tâm ta nhất định sẽ có sự dao động, dày xéo, bất an, bất ổn.

Ví như người nghiện thuốc, bị trói buộc bởi điếu thuốc lá, khi thèm mà không được hút thì họ sẽ có biểu hiện đứng ngồi không yên, ngáp ngắn ngáp dài, tay chân vô lực. Hay như người đang bị dính mắc, trói buộc bởi một chiếc điện thoại đời mới, họ sẽ luôn mơ tưởng, nhớ nghĩ về hình ảnh của chiếc điện thoại đó, không khi nào được yên, ngay cả trong giấc ngủ mơ tưởng về nó, để rồi phải vất vả lao tâm khổ tứ mưu cầu, tìm kiếm. Đối với người có lòng tự ái cao, chấp thủ sâu nặng vào tấm thân này, khi bị chỉ trích, phê bình, góp ý thì tức thì gương mặt đổi màu, hậm hực, cau có, tức giận, khó chịu. Đó là một vài ví dụ về trường hợp vì sự chấp thủ, dính mắc, trói buộc khiến thân tâm bị dao động, sầu muộn, bất an, đau khổ.

Khi tâm xả được tu tập trở nên thuần thục, mạnh mẽ, chúng ta sẽ rất dễ để buông xuống những sự yêu thích, tham ái, sân hận đối với người, với vật. Nhờ buông xuống, không nhớ nghĩ nhiều, không để chúng ám ảnh nơi tâm nên chúng ta sẽ được bình lặng, yên ổn, định tĩnh, sáng suốt.

Thường an trú trong tâm buông bỏ có khả năng giúp tâm ta trở nên quảng đại, rộng lớn, bao la như là đại dương; vững vàng như đại địa. Trái ngược với tâm rộng lớn là tâm hạn hẹp, nhỏ bé; khi tâm nhỏ hẹp, chúng ta rất dễ bị những tâm bất thiện chi phối, rất dễ bức xúc, cau có, khó chịu, bực bội, ham muốn, thù hận, ganh tỵ, ích kỷ… mang đến rất nhiều phiền não, bất an cho bản thân và mọi người. Khi được lắng dịu, yên tĩnh, sáng suốt, rộng lớn thì những tâm nhỏ hẹp, ích kỷ, giận hờn, buồn phiền, đòi hỏi, dính mắc, si mê, oán hận rất mau chóng được hóa giải, buông xả. Giống như nắm muối bỏ vào dòng sông bao la, chẳng thể nào làm cho sông trở nên mặn được.

Khi tâm buông bỏ được tu tập vững chắc thành cỗ xe, lớn mạnh thành căn cứ địa, ta sẽ cảm nhận được một sự nhẹ nhàng, thoải mái, thanh lương vi diệu đến từ sự bình yên, không dính mắc, không ràng buộc. Lúc này, tất cả những ngọn gió cuộc đời, những thị phi, vinh nhục, được mất, hơn thua sẽ không thể tác động, làm lay chuyển tâm hồn ta. Nhờ đó, chúng ta được trầm lặng, tỉnh táo, sáng suốt mà xử lý mọi việc, mọi sự một cách vẹn toàn. Nhờ sống với tâm rộng lượng, bao la mà ta sẽ dễ chấp nhận, cảm thông, tha thứ, bao dung đối với những sai lầm, bất thiện của người khác; sẽ dễ dàng nói lời cảm ơn, thể hiện lòng biết ơn với mọi người; sẽ dễ dàng cống hiến, dễ dàng cho đi… Trở thành một người hiền, người thiện, một người khả ái, dễ thương, dễ mến đối với tất cả mọi người.

Quan trọng nhất, nhờ an trú trong tâm buông bỏ được thuần thục mà ta gội rửa được những uế nhiễm nơi tâm, thân tâm trở nên thanh tịnh, nhờ đó dễ dàng tiếp thu ánh sáng nhiệm mầu của Chánh Pháp, nhanh chóng đón nhận được dòng Thánh pháp cao thượng của Thế Tôn. Từ đó thấu rõ bản chất cuộc đời, nhìn rõ sự thật về thân và tâm, từng bước đi đến nhàm chán, ly tham, xả ly, từ bỏ đối với năm uẩn. Chính điều này sẽ đưa chúng ta gần hơn với bến bờ giải thoát, đạt được mục đích tối thượng của kiếp người.

LỜI KẾT

Chư vị Hiền trí thân mến! Việc thực tập khéo léo và thuần thục, thiện xảo và sắc bén tâm buông xả sẽ mang đến cho ta đời sống bình an, nhẹ nhàng và hạnh phúc. Chúng ta cũng cần phân biệt thật rõ ràng, buông xả là buông xả những tâm tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã làm cho mình khổ đau; nắm giữ là nắm giữ và thọ trì Thiện pháp, Chánh pháp và Thánh pháp. Không phải buông bỏ là đang ngồi thiền, mỏi chân quá thì liền buông chân ra, mà cần cố gắng, chiến đấu hết mình. Hay có suy nghĩ buông bỏ là buông nghe pháp, buông đọc kinh cũng không được; vì buông những điều này là đưa mình xuống vực, buông những điều này là xuống biển khổ, xuống biển trầm luân sinh tử.

Cho nên, chúng ta cần biết nắm và biết buông, không phải học buông bỏ là cái gì cũng buông bỏ. Tâm vô minh, tâm si mê này học cái gì là chấp cái đó, nghĩ rằng cái gì cũng phải bỏ; đôi lúc còn lấy lý do này để mà buông lung, phóng dật. Tuy nhiên, cần hiểu rõ rằng, những ác, bất thiện pháp làm ta đau khổ thì phải thật xác quyết, quyết liệt, mạnh mẽ để buông, buông càng nhanh càng tốt. Còn những pháp giúp ta thanh tịnh, bình an, giúp ta thành tựu trí tuệ, giúp ta đi đến giải thoát thì cần phải nắm giữ, phải thọ trì.

Chúng ta buông là buông lửa than đang đốt cháy đôi tay nhưng đừng buông quyển kinh đưa mình đến chỗ giải thoát; buông chất độc trong tâm nhưng đừng buông thuốc bổ Thánh Pháp đang giúp mình trị bệnh tâm; buông biếng nhác, giải đãi nhưng đừng buông tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh; buông phàm tình chứ đừng buông Thánh trí. Dù có chết cũng không buông trí về khổ, trí vô thường, trí vô ngã. Chết cũng không buông Thánh Trí Ngũ Uẩn. Chết cũng không buông tâm hiền, chết cũng phải giữ tâm từ. Chết cũng không buông tâm nhàm chán, ly tham, từ bỏ, giải thoát, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn. Hãy nắm thật chặt Đức Phật, nắm chặt Giáo Pháp, nắm chặt Chúng Tăng, nắm chặt Thánh giới, dù chết một trăm cái mạng này cũng không buông. Đây là bốn Dự Lưu phần, là bốn yếu tố, bốn điều kiện để đi vào dòng chảy của từ bi, dòng chảy của Thánh trí.

Người tu không nên nhìn ra ngoài, mà lúc nào cũng phải nhìn kỹ vào bên trong, để nghe những ngấm ngầm đang hoạt động, từ đó biết cái nào nên giữ, cái nào nên buông. Cái gì làm cho mình khổ thì lập tức nhiếp phục, chế ngự và diệt tận ngay tại chỗ, không để cho nó có cơ hội sanh khởi trở lại trong tương lai. Nếu là điều thiện, là việc lành như đóa hoa sen thì phát triển cho nó thơm ngát sắc hương. Luôn thực hành theo bốn từ: nội soi, nội quán, nội chiếu, nội tĩnh – nhìn lại bên trong, xem xét bên trong, đối chiếu bên trong và tỉnh sáng ở bên trong. Đừng hôn mê, tăm tối, hướng ngoại, nhìn người kia người nọ, rồi nói những chuyện tham sân si vô ích, làm khổ mình khổ người, phiền mình phiền người, tự rước họa vào thân, tự tìm phiền não, tự ôm vào lòng những khổ đau, tự chất chứa rác bẩn vào tâm cho nặng nề. Phiền não của mình thì không lo, mà lo nhìn phiền não của người khác. Đến chùa không lo tu, cứ nhìn người khác để lu bu thì uổng phí thời giờ vàng ngọc quý báu, bỏ lỡ những khoảnh khắc thiêng liêng hiếm có khó gặp tối thượng trong kiếp người. Vì vậy, luôn hãy tự nhìn lại mình để thấy lỗi, sửa lỗi, sau đó buông bỏ cho nhẹ lòng:

Xe ơi! tội xe quá

Xả bớt hàng đi xe

Tâm ơi! Tội tâm quá

Buông hết chấp đi tâm!

Buông hết sự nắm giữ, nắm chặt, bám chấp để cho nhẹ lòng, nhẹ nhàng, nhẹ tênh, để cho mình được bình an, tịnh lạc. Đây chính là nghệ thuật buông xả tối thượng thừa, là nghệ thuật của hạnh phúc, nghệ thuật của thảnh thơi, nghệ thuật của bình an, nghệ thuật của tự tại, nghệ thuật của sự giải thoát. Chư vị Hiền trí hãy khắc ghi địa chỉ thường trú của người tu chính là tâm buông xả và luôn tâm niệm rằng tâm buông xả là tâm hạnh phúc!

Tâm buông này tỏa rộng,

Cùng khắp thế giới này,

Tâm buông này tỏa rộng,

Khắp trời đất bao la.