Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Sám Hối Diệt Ngã 2 - Những Đau Khổ Bản Ngã Đem Lại

2026-03-03 00:55:25
Tinh Hoa Nikāya

Giảng Giải Bài Sám Hối Diệt Ngã 2

Những Đau Khổ Bản Ngã Đem Lại

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cách tác ý giảm thiểu bản ngã PAGEREF _Toc174201477 \h 1

II. Dòng Thánh PAGEREF _Toc174201478 \h 6

III. Sự đau khổ của bản ngã PAGEREF _Toc174201479 \h 8

I. Cách tác ý giảm thiểu bản ngã

Lần trước chúng ta đã nói đến phần bỏ danh tướng để cầu pháp, thực ra hai chữ "danh tướng" này bao trùm cả thế giới, danh tiếng, danh lợi, hình thức, hình tướng. Nếu xem nhẹ những thứ này, không có một cái tâm tôn kính pháp một cách tuyệt đối thì mình không bỏ được những danh lợi trong đời sống này, cho nên cần chiêm nghiệm rất nhiều hai chữ này, không đơn giản chỉ đọc lướt qua là xong. Nếu một người không chân tu thật học, không thiết tha cầu đạo, không một lòng vì pháp thì không thể nào dám bỏ danh lợi, càng khó bỏ được hình tướng, hai cái này là đại chướng ngại trên bước đường cầu pháp, hành pháp của chúng ta.

Phật giáo phát triển trong kinh Kim Cang có câu:

Nhược dĩ sắc kiến ngã

Dĩ âm thanh cầu ngã

Thị nhân hành tà đạo

Bất năng kiến Như Lai

Dịch nghĩa: Nếu do sắc thấy ta

Do âm thanh cầu ta

Người ấy hành đạo tà

Không thể thấy Như Lai.

Nếu một người nhìn trên hình sắc mà cho rằng thấy Phật, đem âm thanh để đi tìm Phật thì người đó hành đạo tà, không thể thấy được Như Lai chân thật. Người nào tha thiết, chân thành, nhất hướng viễn ly nhàm chán, cầu giải thoát thì người đó phải dám buông bỏ những hình thức, hình tướng, những danh lợi trên cuộc đời này. Có những người biết đó là con đường đúng đắn, đó là con đường chánh pháp nhưng họ không dám bỏ những cái mà họ đang có. Để bỏ danh lợi, bỏ hình thức cầu chánh pháp là cả một sức mạnh, một tâm trí cầu đạo, chưa chắc gì những chỗ đông đúc, hoành tráng, rầm rộ có đạo, có khi chỉ một cái cốc đơn sơ của người ẩn tu lại là những bậc thành tựu chánh kiến, đắc đạo. Nếu mình xem trên những hình tướng thì khi thấy vậy là mình xem thường, với ảo tưởng của mình thì nghĩ người đắc đạo phải to lớn, hoành tráng, nhưng không phải vậy.

"Người bản ngã cao, tâm trọng danh, trọng tướng, không trọng pháp thì khó lòng đi vào trong Thánh pháp này. Người tìm danh thì đến với danh. Người tìm pháp thì đến với pháp". (Nghi thức tu học Nikāya)

Khi Đức Thế Tôn ở trên núi cao nhìn xuống thấy những vị Tỳ-kheo đi chung với ngài Xá-lợi-phất thì đó là những người thích tu tập về trí tuệ, những vị Tỳ-kheo thích đi chung với ngài Mục-kiền-liên là thích tu tập về thần thông, thiền định, còn nhóm đi chung với Đề-bà-đạt-da là những người thích ác dục, những tham muốn xấu ác. Đức Phật nói rằng mủ hòa chung với mủ, máu hòa chung với máu, nước tiểu hòa chung với nước tiểu, phân hòa chung với phân cho nên người tìm danh sẽ đi đến những chỗ có danh lợi, còn người cầu pháp thì đi đến chỗ có pháp.

Muốn học được pháp thì phải hạ gục bản ngã, còn không hạ bản ngã thì không có cách nào học được pháp, vào đạo tràng tu có một ngày thôi mà đủ thứ phiền não hoặc là tu bảy ngày nhưng về không nhớ pháp mà chỉ nhớ buồn người này phiền người kia, đó là đem bản ngã đi tu. Đừng nói gì cư sĩ tại gia mà ngay cả người xuất gia có bản ngã cao cũng không thấy pháp, vào tu chỉ bắt lỗi thầy, bắt lỗi sư huynh, sư đệ, thậm chí tu không được là cuốn gói đi nhưng trách hờn. Bản ngã cao là đại chướng ngại trong tâm, do mình không nhận diện ngũ uẩn nên không thấy không biết được nó.

"Người tìm đến và muốn tu học trong Thánh pháp này thì phải khéo nắm giữ những pháp đã được thấy, được nghe, được học rồi áp dụng vào trong tự thân để nhận diện tự thân, nhận diện những dục, ái, sân, si, bản ngã trong tự thân và như lý tác ý để nhiếp phục chúng, nhiếp phục bản ngã, nhiếp phục cấu uế, lậu hoặc trong tự thân. Nếu giữ cái bản ngã to cao, hoặc bản ngã ngấm ngầm để đi vào trong chánh pháp này, rồi tìm danh, tìm tướng trong chánh pháp thì khó lòng thể nhập vào chánh pháp". (Nghi thức tu học Nikāya)

Thật ra trong toàn bộ kinh Nikāya thì những chữ này là cốt lỗi, là xương tủy: Dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Thấy được những cái này là tu tiến, còn không thấy được là còn ở ngoài cửa chùa. Khi đã được học pháp nhận diện ngũ uẩn thì mình phải luôn luôn ứng dụng thường xuyên, lúc nào cũng nhìn lại đang có cảm giác, hình bóng, suy nghĩ gì trong tâm, quay lại nhìn ngó nội tâm để phát giác, phát hiện ra cấu uế. Sau khi đã thấy cấu uế, cấu nhiễm thì dùng như lý tác ý, tác động tâm ý quở trách, rầy la, chửi mắng. Có như vậy tu mới tiến, mới nhiếp phục được bản ngã.

Mình phải thường xuyên niệm "không có ai ở đây, đây chỉ là một đống dục, tham, ái, vô minh và bản ngã" để nhắc nhở bản thân. Mỗi khi nghĩ về mình, về tôi, về ta thì tác ý "không có cái ta nào ở đây cả, đây chỉ là một đống ham muốn, ưa thích, một đống những sân hận, sân si, bản ngã chứ không có người nào ở đây". Phải thường xuyên niệm câu này, nhất là những khi khởi bản ngã thì càng phải niệm liên tục "không có ai ở đây, không có người nào ở đây, không có ta, tôi nào ở đây, chỉ có một đống dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã đang ngày đêm hoạt động".

Đây là câu khẩu quyết bí truyền, nếu thường xuyên nhắc nhở, thường xuyên niệm như vậy thì tu sẽ tiến bộ vượt bậc, tiến bộ không ngờ. Còn nếu gặp chuyện mà cứ phân đúng sai, phải quấy thì không bao giờ tu tiến được vì có cái tôi trong đó, có sự hơn thua, nhân ngã trong đó, đó là phàm phu pháp chứ không phải thượng nhân pháp, không phải là Thánh pháp, hễ có cái tôi trong đó là pháp hạ liệt, pháp thấp kém, pháp của phàm phu ở trong vô minh, tham ái, chấp thủ.

Còn pháp thượng nhân, nghĩa là người bậc trên tức là chỉ cho các bậc Thánh là cái pháp không thấy có tôi, không thấy có ta trong đó. Phải thấy như vậy thì tu mới tiến, còn cái gì cũng đưa bản thân mình vô "tôi làm người kia không làm", "tôi làm nhiều người kia làm ít", "tôi tu nhiều người kia tu ít", "tôi im lặng người kia ồn ào", khi những cái này khởi lên là tâm bị dao động. Ở trong chúng cứ phiền não người này người kia, ngay khi nó sanh khởi là thấy rồi nhiếp phục, tác ý, chính cái tu đó là tiếng trả lời vô thanh vô ngôn cho người hay nói đó, họ thấy mình im lặng là tự nhiên họ xấu hổ, không cần nói nhiều chỉ cần làm thôi.

Phải sống trong tâm khiêm hạ, sống trong tâm "không ta", vô ngã như vậy thì mới nhiếp phục được các cấu uế, lậu hoặc, còn giữ bản ngã to cao, bản ngã ngấm ngầm thì khó lòng thể nhập chánh pháp. Bản ngã to cao là lúc nào cũng vỗ ngực, ưỡn ngực, hất mặt, vênh váo, biểu lộ những cái đó một cách thô kệch, thô tháo ra bên ngoài.

Còn loại thứ hai là bản ngã ngấm ngầm nghĩa là nhìn bên ngoài hiền lành, im lặng, không nói ra nhưng ghim trong lòng, không nói ra nhưng trong bụng khinh thường người ta, nói chuyện có khi không hở răng nhưng không xem ai ra gì, bên trong là một bản ngã ngấm ngầm hoạt động. Người này không thấy được nó do không nhận diện ngũ uẩn nên không bao giờ thể nhập được Thánh pháp, Thánh trí tuệ. Một cái là to cao, một cái là ngấm ngầm nhưng cái nào cũng là bản ngã cho nên đều phải nhiếp phục chứ không chừa cái nào, một cái thô, một cái tế, một cái ẩn và một cái hiện, nó đều là bản ngã và đều đưa đến đau khổ, đưa đến tranh giành, đưa đến hơn thua, đưa đến sự dao động của tâm.

"Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải hiểu:

-'Tôi là', này các Tỳ-kheo, là một động chuyển (injitam).

-'Cái này là tôi', là một động chuyển.

-'Tôi sẽ là', là một động chuyển.

-'Tôi sẽ không là', là một động chuyển.

-'Tôi sẽ có sắc', là một động chuyển.

-'Tôi sẽ có tưởng', là một động chuyển.

-'Tôi sẽ không có tưởng', là một động chuyển.

-'Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng', là một động chuyển.

Ðộng chuyển, này các Tỳ-kheo, là tham. Ðộng chuyển là mụt nhọt. Ðộng chuyển là mũi tên. Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập: 'Tôi sẽ sống với tâm không có động chuyển'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Ðộc, XI. Bó Lúa)

Ý niệm "tôi là" là một sự động chuyển của tâm cho nên nếu căn cứ vào hình thức, ngôn ngữ, hành động bên ngoài thì có khả năng không đúng, có khi nhìn bên ngoài là sân nhưng lại là tâm từ giúp đỡ cho mình, có khi nhìn bên ngoài là tâm từ thương mến nhưng bên trong lại có mưu tính, lợi dụng, cho nên nhìn bên ngoài mà kết luận là sai động cơ ở bên trong. Đối với bản ngã cũng vậy, thô kệch thì biểu hiện ra ngoài, còn cái tế là có khi khinh thường người ta rồi không nói chứ không phải là nhịn hoặc là có sự an tịnh, ngoài miệng không nói nhưng ý hành bên trong lại nói, cảm thọ khởi lên và tưởng sanh ra. Do người này không thực hành nhận diện ngũ uẩn, không thực hành diệt ngã cho nên người này ngấm ngầm nuôi dưỡng những thọ; tưởng; hành của bản ngã mà người này không biết.

"Bản ngã chính là chấp danh. Bản ngã chính là chấp tướng. Người bị bản ngã chi phối thì tìm danh, tìm tướng, tu danh, tu tướng, khó lòng tu tập chánh pháp chân thật của Đức Thế Tôn. Vì vậy, để có thể bước vào trong Chánh pháp, hành giả cần phải thấy rõ cái bản ngã hư ảo do danh tướng của những ngũ uẩn này ám ảnh trong nội tâm mà thành lập". (Nghi thức tu học Nikāya)

Phải thấy rõ bản ngã hư ảo, cái ý niệm về tôi, hình bóng lờ mờ của tôi, những cảm thọ cho rằng đây là tôi, nhận thức, rõ biết cho rằng ta, tôi chỉ là hư ảo, chỉ là hư tưởng, ảo tưởng, không có thật, ảo giác. Hư tưởng nghĩa là phá tưởng uẩn về tự ngã, ảo tưởng là không có thật, vọng tưởng cũng là không có thật, chỉ do ảo tưởng mà có, sự ảo tưởng đó là từ vô minh, từ sự không thấy không biết về ngũ uẩn cho nên có ra hình bóng về tự ngã trong tâm.

Mỗi khi nói về mình thì có hình bóng mờ của gương mặt, vóc dáng của mình trong cái tưởng, đó chính là thân kiến, đó là vọng tưởng, hư tưởng, ảo tưởng, huyễn tưởng về bản ngã. Những cảm giác, suy nghĩ, nhận thức cũng phải biết nó là hư ảo, giả dối, thường xuyên nhận thức, quán chiếu như vậy để loại bỏ từ từ những suy nghĩ cho là tôi, cảm giác, hình bóng, nhận thức cho là tôi. Những cảm thọ, tư tưởng, nhận thức này đã trở thành một thứ thâm căn cố đế trong tâm mình, nó trở nên cứng chắc nên để im tự nó thành vô ngã thì làm sao được, ngược lại phải đào bới gốc rễ bằng cách như lý tác ý và quán chiếu, nhắc nhở, huấn luyện.

Trước khi suy nghĩ, trong khi suy nghĩ và sau khi suy nghĩ về tôi đều tác ý đánh đuổi, trước khi khởi bản ngã, trong khi đang khởi bản ngã và sau khi khởi bản ngã cũng tác ý, quán chiếu đánh đuổi nó, "đây là ý nghĩ ngu, đây là cảm giác vô minh, đây là hình bóng của ảo tưởng, đây là nhận thức của phàm phu hạ liệt, thấp hèn. Tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo. Tan biết ảo ảnh này đi, chấm dứt suy nghĩ này đi, từ bỏ nhận thức này đi". Tác ý như vậy thường xuyên để đánh đuổi nó thì từ từ sẽ bớt, cuối cùng phá thân kiến là Nhập Lưu, không có chuyện tự nhiên phá được thân kiến để Nhập Lưu bất thình lình, không bao giờ có được chuyện đó mà phải ngày đêm thấy nó rồi đánh đuổi, diệt tận thì mới thoát khỏi nó.

II. Dòng Thánh

Có những trường hợp tu đến mức thành thần tiên, vào vô sắc giới nhưng vẫn không phá được bản ngã, tu đến cửu thứ đệ định là chín tầng thiền định mà vẫn là phàm phu, vào được phi tưởng và phi tưởng xứ vẫn là phàm phu, cái đó là phàm phu định vì cái ảo tưởng về tự ngã chưa phá. Cái đầu tiên của chánh kiến chính là phá thân kiến, phá bản ngã, qua được cửa này là Nhập Lưu, sư tử con vừa được sanh ra đã là sư tử, còn con cáo có sống tới già thành cửu vĩ hồ là cáo thành tinh chín đuôi vẫn là cáo chứ không thể sống tới già rồi trở thành sư tử được, đó là sự thù thắng, sự khác biệt giữa vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử.

Sự khởi đầu của sự tu của đệ tử bậc Thánh là chánh kiến, nhìn thấy ra năm uẩn không có tôi trong đó, từ chỗ đó mới tu lên tiếp thì cái đó tu mới gọi là tu Thánh đạo, đó là chỗ thù thắng, đặc thù, đặc biệt, bất cộng với phàm phu tức là không chung cùng. Tu như vậy mới trở thành bậc hiền trí, càng tu càng hiền, càng tu càng trở nên trí tuệ, ngược lại tu riết không ai dám lại gần vì sợ, bản ngã lại càng cao, đó là do khởi đầu sự tu không bắt đầu ở chỗ phá thân kiến, phá bản ngã.

Chúng ta phải thấy được chỗ thù thắng đó để cố gắng đi vào sám hối diệt ngã. Mỗi ngày phải lạy sám hối diệt ngã, trên thời khóa tu không có thì ra bụi tre lạy, ở trong phòng lạy, không tiện lạy thì quán chiếu hình ảnh mình quỳ lạy dưới chân người ta, an trú trong hình ảnh đó thường xuyên. Mình phải chà đạp chấp ngã, phải bẻ gãy cặp sừng của con bò hung dữ, hung hăng này, phải nhiếp phục kiêu mạn làm cho nó trở thành người thấp nhấp trong xã hội. Ngài Xá-lợi-phất an trú tâm như kẻ nghèo đói, nghèo cùng, thấp nhất trong xã hội.

"Ví như, bạch Thế Tôn, con trai của một người Candàla (Chiên-đà-la: hạ liệt) hay con gái của một người Candàla, với tây cầm bát ăn xin, mặc đồ rách rưới, đi vào làng hay đi vào thị trấn, với một tâm trạng hạ liệt. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như con trai của một người Candàla hay con gái của một người Candàla, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân". (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)

Mình là kẻ ăn xin thì mình thấp hèn nhất là đúng rồi, có gì để cao ngạo. Mỗi khi muốn hơn thua, ta đây thì tác ý nhắc nhở "mày là kẻ ăn xin", mỗi ngày chúng ta đều nhìn thấy sư ở trên rừng xuống ôm bát đi khất thực, đó là hình bóng của Đức Phật, hình bóng của Thánh chúng, hình bóng của những bậc chân tu, mỗi ngày đầu trần chân đất ôm bình bát đi khất thực. Minh Thành bắt gặp hình ảnh rất xúc động, sư đang đứng ở cây cột, một chú chạy xe chở đồ vào mà không biết chào thưa, sư ôm bình bát phải đứng lùi lại, đó là hình ảnh phá diệt cái tôi, bản ngã, hình ảnh đầu trọc chân đất ôm bình bát đi ăn xin, đó mới đúng là hình ảnh của người xuất gia chúng ta.

Hãy an trú vào hình ảnh đó rồi nhắc nhở bản thân mình là kẻ ăn xin "hỡi này kẻ ăn xin thì kiêu ngạo với ai, vênh váo, ta đây với ai", mỗi lần vênh váo lên rồi vào nhìn gương chỉ thấy nhục nhã, xấu hổ, thấy bản thân thật thấp hèn, hạ liệt, phàm phu, thấy mình đáng bị sỉ vả, phỉ nhổ, la rầy bản thân "tại sao mày tồi bại quá vậy? Mày có thấy nhục nhã không khi mà suốt ngày cứ hơn thua với bạn đồng tu, với huynh đệ". Tác ý liên tục như vậy để ngấm vào xương tủy, sau này mỗi khi muốn hất mặt lên là thấy nhục liền, này xưa khởi bản ngã là điêu luyện còn giờ khởi lên chỉ thấy ngượng ngùng, e dè, xấu hổ. Phải tu vào tới trong cảm thọ chứ không phải chỉ ở ngoài hình tướng, suy nghĩ, an trú trong cảm thọ, cảm giác khiêm tốn, khiêm cung, khiêm hòa an trú vững chắc trong cảm thọ, muốn được vậy phải tác ý, quán chiếu, nhắc nhở, huấn luyện tâm lạy sám hối diệt ngã. Ngày nào cũng la rầy bản ngã, tự động như lý tác ý chứ không đợi khởi bản ngã mới tác ý vì sẽ không kịp với nó.

III. Sự đau khổ của bản ngã

"Hành giả cần phải thấy rõ những khổ đau, phiền não mà bản ngã đã mang lại cho mình trong hiện đời và nhiều đời sống trước". (Nghi thức tu học Nikāya)

Phải thấy rõ được những đau khổ, cay đắng, thương đau, khổ sầu, những dòng nước mắt, máu, bao nhiêu phiền phức mà bản ngã đem lại cho mình ngay trong hiện tại và trong những đời sống trước. Bản ngã là thứ ác độc nhất và chính nó hại mình chứ không ai ở ngoài hại mình, phải thấy được những khổ đau, phiền não mà bản ngã mang lại cho mình trong hiện tại và nhiều đời sống trước.

Trong gia đình, huynh đệ, thầy trò, anh chị em nói chuyện qua lại một chút là cãi nhau, không nhìn mặt nhau rồi hành hạ, hành tội nhau, chỉ có bản ngã khởi lên chút xíu mà làm ra to chuyện, mang lại cảm giác khó chịu, bức xúc, bực bội, thiêu đốt. Hành hạ nhau không chỉ một ngày hay vài ngày mà kéo dài một tháng, hoặc vài tháng, thậm chí có khi vài chục năm, phải chịu những cảm giác khổ sở như vậy cũng vì một chút cảm giác tôi, ta, hơn thua đó. Mình có thấy mình ngu không? Mình có thấy thương cho mình thương, cho chúng sanh hữu tình không?

Ở ngoài đời vợ chồng yêu thương nhau nhưng khi bản ngã khởi lên là chia tay, khóc lóc khổ sở. Cha con cũng vậy, nói chuyện một hồi rồi cãi nhau, đuổi con ra khỏi nhà đến khi nó đi thật thì đau khổ, dằn vặt bản thân. Thầy trò, huynh đệ cũng vậy, bản ngã khởi lên là không còn tình nghĩa gì nữa, sau đó là hối tiếc, ray rứt. Những sự bức rứt, đau khổ giày xéo tâm can, hành hạ nội tâm suốt cuộc đời chỉ vì một chút cảm giác của bản ngã khởi lên. Có đáng thương cho mình không? Có tội nghiệp cho mình không? Có thấy bản ngã ác độc không? Nó làm chia rẽ, chia ly, phân ly, làm cho tan nát, đổ vỡ, nó hủy hoại tất cả tình thương, tình thân, ân đức, công ơn sanh thành dưỡng dục.

Không ai ngụy biện bằng bản ngã,

Không ai xảo trá bằng cái ta,

Không ai xấu xa bằng cái ngã,

Không ai tố mình bằng tự ta.

Không ai độc ác bằng bản ngã,

Không ai tị hiềm bằng cái tôi,

Không ai dối lừa bằng cái ngã,

Không ai hại mình bằng cái ta.

Phải đọc những câu này cho ngấm vào da vào thịt, đi vào xương và ngấm vào tủy, đưa vào não và an trú vào trong cảm thọ của mình. Phải thuộc lòng những câu này, để nó đi vào tim chứ không phải thuộc ngoài miệng. Bản ngã làm gia đình bất an, anh em bất hòa, đạo tràng bất ổn, cha con, mẹ con không nhìn mặt nhau cho nên trong thời gian nhập thất Minh Thành viết rất nhiều bài tác ý về bản ngã ác độc này.

Mọi người cứ nghĩ rằng thuốc độc là độc nhưng không phải vậy, bản thân thuốc độc không biết gì cả nhưng bản ngã ác độc mới sử dụng thuốc độc để giết người, nếu để yên thuốc độc một chỗ thì nó không giết ai cả nhưng vì bản ngã muốn hại người nên mới sử dụng thuốc độc để giết người cho nên thuốc độc chưa phải là độc mà cái độc nhất chính là bản ngã và phải thường xuyên tác ý mỗi khi bản ngã sanh khởi "mày là đồ ác độc, mày là kẻ giết người, mày là kẻ thâm độc".

Tất cả những cái mưu hại, hãm hại, lừa lọc trên cuộc đời này để từ bản ngã này gây ra, nó suy nghĩ đủ thứ cách để hại người. Nếu nhìn ra được những điều này thì cuộc sống mình sẽ được an ổn, mình được giải độc, được trừ độc, trong người mình không còn chất chứa độc tố nữa, còn ngày nào bản ngã chưa diệt tận thì ngày đó ta chưa được an toàn, còn bất an, còn nguy hiểm, tai họa. Cho nên phải tác ý thường xuyên để rầy la những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng về tự ngã, về hơn thua, phải quấy, giành giật trong cuộc đời này.

Bậc hiền trí là thẳng tay hạ gục bản ngã chứ không phải hiền trí là không làm gì cả, đây là hiền nhưng có trí chứ không phải hiền rồi khù khờ, không có trí. Phải nhìn thấy trong từng cảm thọ, hình bóng, nhận thức để đánh đuổi tư tưởng "tôi là" ra khỏi thân tâm, phải quán chiếu sự đau khổ của bản ngã ác độc đem đến cho mình, dùng những từ mạnh nhất để tác ý đánh thẳng vào nó vì nó đã trở thành cây cổ thụ ngàn năm trong nội tâm mình, nó sẽ chống đối, nó thỏ thẻ "nếu mình hiền là nó nói mình ngu nên đừng nhịn gì cả", đó là bản ngã đang biện luận cho nên mới nói "Không ai ngụy biện bằng bản ngã". Đó là sự ác độc, sự thâm độc của bản ngã, phải mình nghe được những tiếng nói thỏ thẻ, thì thầm của nó, nó xúi mình làm ác bất thiện pháp, nó xúi mình tạo nghiệp, nó xúi mình đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Có một cậu con rể hiền lành, tánh tình nhân hậu, ít nói, trầm tĩnh. Cha vợ cũng rất thương nhưng có một buổi chiều anh này đang nhậu với mấy người bạn thì cha vợ la vì trời tối mà không về với gia đình. Anh chàng này sĩ diện nên sân lên cự lại cha vợ, khi anh chàng này về đến nhà thì cha vợ mắng thêm lần nữa, tát cho một bạt tai.

Anh con rể tính dẫn xe về nhà cha mẹ mình ngủ, vô tình anh mở cốp xe có con dao Thái trong đó, trong nhà thì cha vợ chửi xối xả thế là anh sanh khởi bản ngã, sân hận lên nên anh lấy dao đâm chết cha vợ. Ai nghe tin cũng bàng hoàng, bất ngờ, ngày thường rất hiền lành, dễ thương nhưng giờ có chút men cộng với sự mắng chửi, bị đánh bạt tai thì thọ; tưởng; hành sanh khởi lên với bản ngã, sân hận là giết người. Bản ngã sanh khởi lên là chung thân, là tử hình, là đại nghịch bất đạo, là giết cha giết mẹ, là huynh đệ tương tàn, vợ chồng phân ly, chị em thành kẻ thù, đời tu sụp đổ. Tất cả tội lỗi nằm trong cái tôi, trong cái ta.

"Hành giả cần phải thấy rõ bản tánh duyên sanh, vô thường, tạm bợ của danh, của tướng, của bản ngã. Nay mặt người, mai mặt thú, mặt súc vật súc sanh hay mặt ma, mặt quỷ, hay những gương mặt thống khổ trong địa ngục… Thật khó biết được những gương mặt ngày mai của mình! Thật là vô thường, biến đổi và đa dạng là những gương mặt ngày mai của tâm vô minh này!" (Nghi thức tu học Nikāya)

Phải thấy rõ bản tánh vô thường, duyên sanh, tạm bợ của hình dáng này, của tên gọi này, của những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức cho rằng tôi này. Phải thấy được những tính chất này để xả ly, buông bỏ những cái nhìn ảo tưởng sai lầm về tôi. Mình thấy có người chỉ trỏ, chê bai thì mình bực mình, sân hận, người đứng sau lưng mình không thấy mà bắn mình là chết không kịp sân giận lên, do duyên xúc không đủ nên không khởi lên cái thức cho nên khởi lên bản ngã, khởi lên sân hận là do duyên sanh, đứng trước mặt mình liếc là mình sân hận, khó chịu, nhưng đứng sau lưng mình không thấy là không sân hận vì nó không ở trong tầm nhận thức của con mắt.

Tất cả tên gọi đều là giả danh, không có tên nào là tên thật của mình cả, có biết bao nhiêu người mang pháp danh là Thích Minh Thành, đó chỉ là hư danh mà thôi, hình tướng này cũng vậy, tạm ngồi đây thôi chứ thời gian sau là trở thành đống tro cho nên người ta có gọi đích danh mình chửi thì mình cứ bình tĩnh tác ý "đó chỉ là hư danh, không có mình trong này thì ai chửi mình", thường tác ý như vậy thì sau này có ai chửi thì tâm vẫn lắng dịu được, quán chiếu được, còn không thực tập thì khi nghe chửi là sôi sùng sục lên, cháy bừng lên.

Hằng ngày ngồi thiền dưới bụi tre, khóm trúc, tán cây thì đọc tên mình ra rồi tự hỏi bản thân "tên này là gì, đó chỉ là hư danh mà thôi, không có ai trong đây. Đây là tên trống không, tạm gọi như vậy để phân biệt người này người kia". Phải quán chiếu ngay chỗ mình ngồi có thể sau này là ngôi mộ của mình, có thể cái hòm sẽ nằm ngay đây, không có cái danh, cái tướng nào là tôi. Chàng con rể hiền lành như vậy nhưng ra tay giết chết cha vợ thì khi anh này chết sẽ đi về đâu, giết người như vậy thì ngay trong đời sống đã là tù tội chung thân hoặc tử hình, sau khi chết trở thành mặt thú nhưng cũng chưa chắc được mặt thú. Trong kinh ghi lại mới hôm trước là đệ nhất phu nhân, hôm sau đã trở thành cô hồn vì khi còn là hoàng hậu thì ghen tuông rồi lấy than đỏ đổ lên người tình địch.

"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.

Người đàn bà ấy, này các Tỳ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng LakkhanaII. Phẩm Thứ Hai, V. Người Ðàn Bà Khô Héo Ðã Rải Than Ðỏ trên Một Người Ðàn Bà)

Ngay khi đệ nhất phu nhân chết là trở thành cô hồn, trở thành một bộ xương đi lơ lửng trên hư không bị than nóng đổ lên người, đau đớn, giãy giụa trong hư không. Mới hôm trước da dẻ mịn màng, lược vắt trâm cài, mang hoàng bào, tiền hô hậu ủng, là bậc mẫu nghi thiên hạ nhưng ngày hôm sau vừa chết đi đã trở thành một hình hài kinh hãi, nếu con người thấy được hình hài này chắc chắn sẽ hoảng sợ. Đó là sự giả danh, giả tướng của bản ngã, nay mặt người mai mặt thú.

Thật là xót xa cho dòng luân hồi này!

Thật là xót xa cho cuộc sống chết này!

Thật là xót xa cho đường dài sanh tử này!

Nếu từ giờ không cố gắng nhiếp phục bản ngã, nhiếp phục tham, sân, si này thì bất thình lình chết sẽ thành mặt gì làm sao mình biết được. Thật khó để biết được gương mặt ngày mai của mình, thật khó để biết được những gương mặt ngày mai của chúng ta. Ở trong thất Minh Thành có nhiều lần xúc động, con tắc kè đang kêu nhưng khi thấy mình là nó trốn đi mất, con chuột, gián thấy mình cũng trốn mất, những con đó phải sống trong hốc, trong xó, trong kẹt, trong ống cống, trong đường mương, rắn rết cũng vậy, đời trước có bản ngã thâm độc nên bây giờ phải sống đời sống trườn uốn, mặt người đổi thành mặt rắn, mặt người đổi thành mặt chuột.

Thật là đáng xót xa cho vô lượng ngũ uẩn!

Chỉ một chút cảm thọ, cảm giác, một chút suy nghĩ sai lầm hung ác, bất thiện pháp là đưa vào vô lượng vô biên kiếp trong tam đồ ác đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Thật là sợ hãi cho những ác bất thiện pháp, thật là lo lắng cho những bản ngã hơn thua, đấu đá, tranh giành, thật là đau lòng, thật là khó biết được gương mặt ngày mai của mình, thật là đa dạng với những gương mặt ngày mai của tâm vô minh này, tâm si mê này, tâm mê muội này, tâm dại khờ, ngu ngốc này, tâm đáng tội nghiệp, đáng thương xót này, tâm cuồng si điên đảo này. Cứ bám chặt vào trong này rồi ta đây, hơn thua, đấu đá, đấu khẩu, dùng binh khí của miệng lưỡi để chiến đấu với nhau, hành hạ nhau. Cái bản ngã ngu si, hư ảo này đã hành hạ thân xác này trong vô lượng vô kiên kiếp rồi.

Chúng ta hãy để những cảm thọ này ngấm sâu, an trú trong thân, luôn luôn được hiện hữu bên trong. Phải tích cóp, chất chứa, tích lũy những cảm thọ hiền thiện, trí tuệ này để nhiếp phục và diệt tận bản ngã ngu si, dại khờ, tội lỗi, tội ác này.

"Vì vậy, đừng chấp thủ, đừng bám chặt vào gương mặt tạm bợ của ngày hôm nay rồi nhận nó là mình, là của mình, rồi ta đây, ngã mạn, tự đắc, tự cao, sân si, hóng hách, phách lối, hơn thua, tạo nhiều ác nghiệp… Hãy luôn cẩn thận và luôn nhắc nhở mình sự vô thường của thân mạng này, của gương mặt này, của đời sống này… Một cơn gió độc thổi qua… Một tai nạn xe cộ… Một mạch máu bị đứt vỡ… Tất cả ở hiện tại này sẽ dừng lại, sẽ chấm dứt…" (Nghi thức tu học Nikāya)

Hãy luôn nhắc nhở sự vô thường của thân mạng này, sự vô thường của gương mặt này, sự vô thường của đời sống này. Chỉ cần một cơn gió độc thổi qua, một tiếng rầm của tai nạn giao thông, một mạch máu bị đứt vỡ ra là tai biến, đột quỵ thì tất cả những gì đang có trong hiện tại sẽ dừng lại và chấm dứt.

"Để rồi một gương mặt mới lại xuất hiện, gương mặt của một con ma, hay gương mặt của một con quỷ, hay gương mặt của một con chó, con bò, con heo, con rắn, con trùng, hay những gương mặt con người nhưng dị dạng với những cái đầu to gấp đôi đầu của những đứa bé bình thường với những cặp mắt vô tri, vô giác… Gương mặt nào ở ngày mai sẽ là gương mặt của ta… Vì vậy, hãy coi chừng, có thể chiều nay hoặc sáng mai đã là đời sau của mình, là kiếp sống tiếp theo của mình và mình lại tiếp tục thọ lãnh những gương mặt mới phù hợp với duyên nghiệp mà mình đã làm, đã tạo với gương mặt hôm nay… Như vậy, bản ngã hay sự chấp danh, chấp tướng trước gương mặt này và những gương mặt xung quanh mà không nắm bắt Thánh pháp mà Đức Phật đã truyền trao, đó là một thiệt thòi to lớn, một tai hại to lớn cho người muốn tu học trong Thánh pháp này". (Nghi thức tu học Nikāya)

Bản ngã ở nơi gương mặt này hay là đối với những gương mặt xung quanh vì sĩ diện, vì ta tôi mà không nắm bắt Thánh pháp của Đức Phật truyền trao là một thiệt thòi to lớn, là một tai hại to lớn trong Thánh pháp này. Vì bản ngã mà mình không học, vì bản ngã mà mình không tu, vì bản ngã mà mình tránh né, xa lánh, vì bản ngã mà mình không cầu pháp, không hành pháp để thành tựu pháp thì đó là một thiệt thòi lớn lao không gì so sánh được, một tai hại to lớn không gì so sánh được. Trong vô lượng kiếp vừa qua không gặp được chánh pháp, nay được gặp nhưng vì cái tôi, cái ta, vì danh tướng mà mình bỏ qua, để một bên, không nỗ lực tinh cần, tinh tấn, tập trung tâm ý, tận lực tác động ước muốn để thực hành thì đó là một thiệt thòi lớn nhất, một tai hại lớn nhất trong dòng sanh tử vô lượng kiếp vừa qua.

./.