Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TU SAO ĐỂ RA KHỎI THAM SÂN SI

2026-03-03 00:55:25
Nikāya Pháp Đàm

TU SAO ĐỂ RA KHỎI THAM SÂN SI

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Khai mở tâm thương PAGEREF _Toc127376627 \h 1

II.Nhận diện cảm thọ1

1.Nhận diện cảm thọ lạc2

2.Nhận diện cảm thọ khổ3

3.Nhận diện cảm thọ không khổ không lạc4

III. Nghệ thuật tu tâm4

Khai mở tâm thương

Chúng ta hãy tập an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, từ trong lồng ngực lan tỏa một cảm giác yêu thương khắp châu thân của mình, cảm giác yêu thương lan tỏa từ đảnh tóc cho đến gót chân và thương mình thật nhiều. Chúng ta mở mắt ra cảm nhận bầu không gian rộng lớn ở trước mặt. Tình thương trong tâm từ lồng ngực lan tỏa ra không gian, vùng đất này, trời biển này, lan tỏa ra khắp chúng sanh đang đau khổ, những người đang đuôi điếc câm ngọng, tật nguyền, những trẻ mồ côi, những người điên loạn tâm thần, những người nghèo khổ. Tình thương lan tỏa cùng khắp bầu trời không gian này, nguyện cho tất cả hữu tình chúng sanh trong tâm thương rộng lớn này, trong tình thương bao la này. Mong tất cả chư vị hữu hình, vô hình, chư thiên ở vùng đất này đều sống trong tâm từ vô lượng, bình an, an lạc.

Mong tất cả thân an

Mong tất cả tâm lạc

Thân an và tâm lạc

Tâm chân thành cầu mong.

(Cửa vào bất tử)

Nhận diện cảm thọ

Phật tử hỏi

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Hôm qua con được nghe pháp thoại của Thầy chia sẻ về “ Ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”, cần nhận diện thân tâm của mình, biết được cảm giác dễ chịu thì sanh ra tham, cảm giác khó chịu thì sanh ra sân, cảm giác không dễ chịu không khó chịu thì sanh ra si. Nhưng con thường nghe quý Thầy dạy rằng, khi có người khen chê mình thì cần giữ trạng thái tâm không vui, không buồn, bởi vì buồn vui đó chính là do cái bản ngã, tự ngã mình sanh ra. Như vậy, chúng con phải giữ trạng thái tâm như thế nào thì mới đúng Pháp?

Nhận diện cảm thọ lạc

Sư Phụ đáp:

Theo tinh thần của Phật Pháp nguyên chất trong kinh Nikāya, vấn đề quan trọng nhất là thường xuyên nhận diện cảm xúc, cảm thọ. Cảm xúc có ba loại: vui, buồn và không vui không buồn hoặc là dễ chịu, khó chịu và không dễ chịu không khó chịu. Cả cuộc đời con người không đi ra ngoài ba cảm thọ này. Việc nắm vững ba loại cảm thọ là điều rất quan trọng, là pháp hành căn bản cho người tu tập khi đối nhân xúc cảnh. Ví dụ, chúng ta đang có cảm giác dễ chịu và trong cảm giác này có tham, tham này là tham học pháp, tham học thiền, tham tu, thì tham này là tốt, cần tăng trưởng; ngược lại, tham hưởng thụ, ăn chơi thì tham này là không tốt, không nên, cần ngăn chặn. Những khi có cảm giác vui, dễ chịu thì chúng ta thích thú, tham đắm trong đó và vô hình chung bị cảm giác dễ chịu đó trói cột mình. Mai mốt chúng ta thiếu cái đó thì nhớ, ghiền, thèm, muốn, làm điên đảo lòng, do chúng ta bị cảm giác dễ chịu đó trói cột, không có nó là mình khổ, chịu không được. Trước khi chưa có cảm giác đó thì mình không khổ nhưng sau khi nếm cảm giác vui thích này, không có nó thì lại khổ. Giống như người nghiện game, khi đã chơi là ghiền, bởi vì sanh ra cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú nên bị tham đắm, chìm đắm, trói cột trong đó. Trong Tương Ưng Bộ Kinh, tập III, Kinh Trói Buộc, Đức Thế Tôn có dạy: “Kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc bởi các trói buộc của thọ, bị trói buộc bởi các trói buộc nội ngoại, kẻ không thấy bờ bên này, kẻ không thấy bờ bên kia, khi sanh bị trói buộc, khi chết bị trói buộc, khi đi từ đời này qua đời khác bị trói buộc”. Chúng ta nhìn lại sâu sắc, trong từng ly nước, điếu thuốc, điện thoại, nam nữ, chúng ta đều bị trói cột. Người nào nhè nhẹ thì đỡ, còn người nào trầm trọng thì đắm chìm luôn trong đó. Ví dụ như đã có gia đình rồi nhưng lại còn thích cảm giác mới lạ nữa thì tan vỡ, đổ vỡ hết. Vì vậy, cái tham rất nguy hại mà tham lại nằm trong cảm giác dễ chịu, thích thú, khoan khoái, sung sướng. Chúng ta bị trói cột trong cảm giác dễ chịu là do không nhìn thấy được cảm giác, chỉ thấy tôi đang sướng, đang thích, đã, khoái, không biết được cảm giác đó là do duyên tiếp xúc. Như khi ăn, lưỡi chạm vào đồ ăn, hay khi chơi game mắt tiếp xúc với màn hình, hay nhục dục nam nữ cũng do tiếp xúc. Chính do tiếp xúc sinh ra cảm giác, từ cảm giác sinh ra ái, thích, tham, trói cột và không thoát khỏi được. Đấy là lý do tại sao Đức Phật lại nói trong cảm giác dễ chịu chúng sanh bị cột trói và đau khổ. Song đó, cũng tham, thích, khoái nhưng là tham bố thí, cúng dường, nghe pháp, làm từ thiện, đem lại cảm giác dễ chịu, hạnh phúc nhưng không làm chúng ta khổ. Tu không phải là không tham nhưng là tham thiện pháp, giảm và chặn bớt những tham bất thiện pháp.

Nhận diện cảm thọ khổ

Tiếp theo, cảm giác khó chịu luôn có sân trong đó. Chẳng hạn chúng ta bước ra ngoài nắng một chút là khó chịu nhưng vì không nhận diện cảm thọ, không tu tập Tứ Niệm Xứ, không được hướng dẫn nhận diện Ngũ uẩn nên khi có sân không biết là mình đang sân. Do vậy, khi có cảm giác khó chịu là có sân vi tế trong đó. Hoặc khi chúng ta đi vào trong nhà có máy lạnh thì khởi lên cảm giác dễ chịu, có tham vi tế trong đó mà mình không thấy. Một vị đa văn Thánh đệ tử là những người nghe nhiều thắng pháp Nikāya mới nhận diện được tâm dễ chịu, khó chịu. Trong đó có những việc đưa đến cảm giác khó chịu nhưng là thiện pháp. Ví dụ, chúng ta vượt đường xá xa xôi, đèo dốc, công chuyện nhà cửa, con cháu để đến đây tu, tuy có khởi lên cảm giác khó chịu nhưng đây là thiện pháp, pháp lành, pháp trí tuệ, pháp của hiền Thánh. Ngược lại, có những việc mang cảm giác khó chịu đưa đến sân hận, đỗ vỡ, tan nát. Như hai vợ chồng nói qua lại cự nhau thì sanh ra cảm giác khó chịu có sân trong đó, nhưng không nhận ra cảm giác khó chịu để nó phát tán ra. Nếu như lúc đó chúng ta nhận diện được đây là cảm giác khó chịu thì sẽ dằn lại, hóa giải và làm cảm giác này tan biến, an tịnh, lặng dịu. Chúng ta cần có sự nhìn lại, phát giác, phát hiện, giáo dục, dạy dỗ và chuyển hóa tâm. Giống như tài xế phát hiện ra mình sắp đi vào con đường nguy hiểm thì lập tức bẻ lái nên được an toàn. Chúng ta chính là tài xế tự lái chiếc xe của mình, là kiến trúc sư xây dựng nên đời sống của mình, là kĩ sư tâm hồn tạo nên những tâm hồn phong phú.

Nhận diện cảm thọ không khổ không lạc

Cuối cùng là cảm giác không dễ chịu, không khó chịu, tức là cảm giác trơ trơ, đơ đơ, nghe mà như không nghe, nhìn mà như không nhìn. Chính vì không có chú tâm, tỉnh giác, sáng suốt, minh mẫn nên chúng ta thường đưa ra những quyết định sai lầm hoặc bỏ qua những điều rất quan trọng. Ví dụ, đôi khi đứa con cần chúng ta khuyên bảo, an ủi, vỗ về nhưng mình lại làm lơ, không quan tâm, để sau này khi xảy ra việc thì lúc đó mình lại trách mình hoặc đứa con sẽ trách mình; hoặc những lúc chúng ta bị tâm si mê che mờ gây ra hậu quả “bút sa gà chết”. Vì vậy chúng ta cần phải cẩn thận ba cảm giác này và thường xuyên nhận diện, phát giác và bẻ lái, hướng tâm đến con đường chân chánh, lành thiện.

Nghệ thuật tu tâm

Chúng ta luôn bị cảm giác thúc giục chi phối, khiến mình thường ở trong trạng thái tất bật, vội vã, lăng xăng, gấp rút, hay gọi là dục lậu, cho nên chúng ta cần phải luôn niệm an tịnh, lắng dịu. Việc chúng ta ngồi thiền là cũng để trở về sự an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, một cảm giác hiền thiện, trong sạch, thanh tịnh. Đó là giây phút chúng ta cho tim mình uống thuốc bổ dưỡng tâm linh. Tâm chúng ta đang bị suy dinh dưỡng bởi vì lúc nào cũng suy nghĩ, toan tính, lo lắng, chạy theo được mất hơn thua, tham sân si, cái tôi; làm cho những cảm thọ ung dung, tự tại, thảnh thơi, nhẹ nhàng, thanh thoát, bình an bị hao mòn, tiêu mất. Chính vì vậy chúng ta cần làm sanh khởi cảm giác an tịnh, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương. Khi nhìn thấy cái cây chúng ta cảm thấy thương nó, không nở bẻ cành bởi cây cho ta không khí trong lành. Chúng ta luôn muốn mọi thứ ngọt ngào như uống nước chanh, nước cam thì cần chút mật ong. Chúng ta đã chịu nhiều đắng cay và xung quanh có nhiều người cũng chịu cay đắng, có tâm hồn đang bị suy nhược như mình. Vì vậy, để có một tinh thần khỏe khoắn, phong phú, nội tâm bình an, dễ chịu, ngọt ngào, hạnh phúc, chúng ta cần phải tu tập, liên tục tác ý. Trong Tăng Chi Bộ Kinh, tập 4, Chương 8, Phẩm Niệm, kinh Cội Rễ Của Sự Vật, Đức Phật dạy: “Tất cả các pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, cho nên cần thường xuyên tác ý làm sanh khởi sự an tịnh, ngọt ngào, dễ thương, dễ chịu, hiền hòa trong tâm. Giống như việc trồng cây, nếu mình không quan tâm, chăm sóc, tưới nước thì nó không thể tươi tốt; ngược lại, mỗi ngày mình đều ngắm nhìn, tưới nước, bón phân thì cây đó chắc chắn tươi tốt. Cũng vậy, chúng ta cần phải quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển cảm thọ của mình bằng tâm từ bi hỷ xả, tâm biết xót thương với mọi loài kể cả con kiến. Chúng ta cần thương đúng cách bằng tâm hiểu và thương, bằng trí tuệ để hiểu rõ hoàn cảnh, điều người thương đang cần. Đặc biệt, chúng ta cần nuôi dưỡng tâm hỷ, tâm vui, bởi tâm chúng ta bị tiều tụy, khô héo, khô cằn, chỉ vui những dục lạc của thế gian chớ chưa biết vui với những pháp thanh cao, cao thượng, thánh thiện. Ví dụ, khi chúng ta làm một việc thiện thì cần phải tác ý tâm vui, tâm hạnh phúc nhiều lên, thậm chí ghi lại trong nhật ký để tưới tẩm, nuôi dưỡng tâm hỷ ấy. Hay khi ngồi thiền, chúng ta thường cảm thấy mệt mỏi, buồn ngủ, tê chân, đau nhức là do không tu tâm hỷ, không thưởng thức cảm giác an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, không cảm nhận hỷ lạc, hân hoan, sung sướng, an lạc tối thượng của thiền định, gọi là hỷ không liên hệ đến vật chất, hỷ lạc siêu thế, là niềm vui thanh cao, cao thượng, thánh thiện của bậc Thánh. Ngược lại, hỷ lạc thế gian là hỷ lạc thuộc vật chất như việc ăn ngon, mặc đẹp, đi chơi. Ví dụ việc nhắn tin, thăm hỏi người này người kia, đi chơi đây đó, ăn uống đủ nhà hàng làm chúng ta mệt mỏi nhưng hôm nay lên Tuệ Giác Viên- lưng tựa núi, mặt ngắm biển, ngồi thiền định một mình dưới gốc cây, trên cỏ xanh cảm thấy đầy an lạc và hạnh phúc. Niềm hỷ lạc này không phải là vui buông lung, phóng dật trong ngũ dục mà là vui từ sự tu tập trong thiện pháp. Nếu như đời sống xuất gia mà không có những hương vị, pháp vị, thiền vị, đạo vị, an lạc vị, giải thoát vị, Niết Bàn vị thì khó có sự thăng tiến trong tu tập. Chính vì vậy, việc tu tâm hỷ và tác ý tâm hỷ là rất quan trọng. Chúng ta muốn thoát khỏi tham, sân, si thì cần tu tập tâm từ, bi, hỷ, xả, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Để làm được điều này, trước tiên bằng một bài tập đơn giản, ngay trong từng bước chân thảnh thơi, nhẹ nhàng, chúng ta tập trải tâm thương rộng khắp đất trời và niệm an tịnh, lắng dịu. Chúng ta tập đi một mình, ngồi một mình, ở một mình để thưởng thức hương vị độc cư vì mai mốt cũng phải đi xa một mình. Theo tinh thần kinh Nikāya, hễ nhìn thấy gốc cây là nhớ đến Đức Phật bởi vì Ngài sanh ở gốc cây, tu dưới gốc cây, thành đạo, thuyết pháp, nhập Niết Bàn đều dưới gốc cây. Giống như vua Ba Tư Nặc trong một lần đang đi dạo trong vườn Thượng Uyển nhìn thấy gốc cây lớn màu xanh tươi mát mẻ thì chợt nhớ đến Đức Thế Tôn và lập tức lên đường đến đảnh lễ Ngài. Ở các nước Phật giáo Nguyên Thủy như Miến Điện, Thái Lan, Sri Lanka, họ thường trồng những cây bồ đề với bờ thành bao quanh rất trang nghiêm, kiên cố, trang trọng, là Pháp Bảo để tưởng nhớ Đức Phật và các vị Hoà Thượng thường đến đó tụng kinh. Vì vậy, mỗi khi gặp cái cây, chúng ta cần nhớ đến Đức Phật, nhớ đến cuộc đời của Ngài và thiền quán bày tỏ lòng thương kính Ngài, nhờ Ngài mà con trở thành Phật tử, được giữ gìn năm giới, biết bố thí, cúng dường, xây chùa, cất thất và giúp đỡ nhiều người với lòng từ bi, đó là thiền biết ơn đối với Đức Phật. Ngay cả lúc ăn cơm, nói chuyện, làm việc, v.v. chúng ta cũng quay về nhận diện ngũ uẩn của mình, xem tưởng, hành khởi lên những hình bóng, ý nghĩ gì; xem thức nhận thức theo phàm tình, vô minh hay theo Chánh Pháp, Thánh trí tuệ; xem sắc buông lung, phóng dật hay trang nghiêm, thanh tịnh. Vì vậy, trong tu học Nikāya này, công việc làm rất nhiều, chúng ta không bao giờ thất nghiệp. Chúng ta liên tục nhìn lại ngũ uẩn để thấy rác, hốt rác, lau chùi, tẩy sạch, quét dọn. Tu học như vậy sẽ đem lại cho tự thân chúng ta niềm vui, hạnh phúc, an lạc lớn mà không lệ thuộc các vật chất bên ngoài. Còn chúng sanh, phàm phu không học được Chánh Pháp thì cái vui ấy là cái vui phụ thuộc, dựa vào điều kiện bên ngoài. Mọi thứ trong cuộc đời này là trống rỗng, vô thường, không có gì để chúng ta lo lắng, suy tính, buồn phiền nên cần tu Tứ Vô Lượng Tâm, từ, bi, hỷ, xả để dẹp bỏ, loại trừ tham, sân, si. Thường niệm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương là pháp tu quan trọng cần thực hành trong từng giờ, từng khắc. Khi thân tâm luôn niệm như vậy sẽ làm cho mặt mày chúng ta luôn được tươi trẻ, khỏe đẹp, đó là chúng ta đang vào trong thẩm mỹ viện tâm linh tối thượng của Đức Phật. Ngoài ra, pháp tu thâm sâu hơn là quán chiếu ngũ uẩn, chiêm nghiệm, thẩm thấu khổ, vô thường, vô ngã để đoạn dần những lòng ưa thích, mong muốn, đòi hỏi, khao khát, không còn chạy đuổi và có được cảm giác bình an, hạnh phúc tuyệt diệu tối thượng./.