Đường Lối Hành Trì Kinh Nikāya
ĐƯỜNG LỐI HÀNH TRÌ KINH NIKĀYA
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đại căn cứ địa thứ nhất PAGEREF _Toc71623065 \h 1
II. Đại căn cứ địa thứ hai PAGEREF _Toc71623066 \h 5
III. Đại căn cứ địa thứ ba, thứ tư PAGEREF _Toc71623067 \h 6
IV. Thực hành ba pháp – nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc71623068 \h 7
I. Đại căn cứ địa thứ nhất
Kính thưa đại chúng, hôm nay là buổi học cuối về môn của Minh Thành, sau đó chúng ta sẽ bước vào ba tháng An Cư. Hôm nay Minh Thành muốn gửi một món quà tinh thần đến các huynh đệ và đại chúng một đạo lộ hành trì, để sau ba tháng An Cư thì tất cả những vị ngồi đây đều là những vị hướng Dự lưu và Nhập lưu.
Hôm nay có đủ duyên thì Minh Thành sẽ chia sẻ cho quý huynh đệ bốn đại căn cứ địa của giáo pháp trong Tăng Chi Bộ kinh, tập 2.
“Một thời, Thế Tôn trú ở Bhoganagara, tại điện Ànanda. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:
- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về bốn đại căn cứ địa này. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:
- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bốn đại căn cứ địa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: "Này Hiền giả, đối diện với Thế Tôn, tôi nghe như vậy, đối diện với Thế Tôn, tôi lãnh thọ như vậy: « Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời của bậc Đạo Sư » ". Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương xứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm". Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 2, bài kinh Căn Cứ Địa)
Có một Tỳ-kheo nói rằng tôi đối diện với Đức Thế Tôn được dạy như vầy nhưng Đức Phật khuyên rằng tuy là nghe từ Thế Tôn nhưng các thầy nghe không nên tán thán, không nên hủy báng mà mỗi mỗi câu, mỗi mỗi chữ học hỏi kĩ lưỡng, phải "đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật", so sánh với bốn bộ kinh Nikāya và đối chiếu với luật Tỳ-kheo ở trong Nam truyền đã được truyền thừa ba ngàn năm nay.
Nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương xứng với luật thời các thầy có thể kết luận các lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác và các Tỳ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm, cho nên Minh Thành cũng nhắc các huynh đệ, bốn bộ kinh Nikāya là thánh kinh, là thánh điển của Phật giáo thế giới. Cả Phật giáo toàn cầu đều công nhận được truyền thừa từ Đức Thế Tôn mà hiện này các vị Tam Tạng pháp sư ở Myanmar đều thuộc lòng hết ba tạng.
Nhưng ở đây mình nói hai tạng thôi là tạng kinh và tạng luật, tạng luận thì rất là nhiều, được bổ túc thêm sau này. Vì vậy mình phải lấy hai bộ đó làm chuẩn tắc trong sự tu học, đây là kinh nghiệm sau ba chục năm đi khắp thế giới cầu học phát hiện ra. Nếu như chúng phù hợp với kinh, tương xứng với luật thì các thầy có thể kết luận "chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác và các Tỳ-kheo ấy thọ giáo tốt đẹp, này các Tỳ-kheo đây là đại căn cứ địa thứ nhất mà các vị cần phải thọ trì".
Sau khi đối chiếu mình thấy đúng vậy, đúng là giáo pháp ly tham, đúng là giáo pháp đoạ tận tham, sân, si, bản ngã, vô minh, chấp thủ thì các thầy biết rằng chắc chắn đây là những lời dạy của Đức Thế Tôn, đây là đại căn cứ địa thứ nhất mà các thầy, các cô cần phải thọ trì.
Phải đối chiếu chứ không phải nghe nói là tin liền, quý vị thấy đó ngay cả người đó ở tại thời Đức Phật còn mà Phật phải dặn dò như vậy. Bây giờ mạnh ai nấy nói theo kiểu "có câu, trong kinh có câu, Đức Phật có câu…" rồi lấy trong kinh bên nho, bên Lào cho là Phật nói. Cái này hết sức nguy hiểm, cái này là loạn pháp.
Quý huynh đệ có biết rằng một cái định lí hoặc một cái công thức dù chỉ sai một chút là sai hết tất cả, bây giờ hãng máy bay mấy hôm nay xảy ra tai nạn thì người ta phát hiện ra cái lỗi cực nhỏ mà mấy cái người ở phía dưới cho rằng đây là cái lỗi nhỏ không đáng phải báo cáo cho nên xảy ra tai nạn mấy trăm người chết, mà mấy chiếc như vậy.
Cho nên phải cẩn thận khi học pháp, nếu mình sai một chút xíu thôi thì toàn bộ công trình đi xuống biển. Đó là thời Đức Phật mà Đức Phật nhắc nhở như vậy, mà có một vị Tỳ-kheo nói được gặp Thế Tôn, Thế Tôn nói như vầy, dạy như vậy nhưng phải đối chiếu lại, đừng có vội hủy báng cũng đừng có vội khen ngợi, phải đối chiếu lại. Cho nên mình học mà không có vi tế, không có sự miên mật sâu sắc, lệch chút xíu thôi là rồi xong.
Cho nên thời kì các huynh đệ ở đây là thời kì cuối của tượng pháp, năm trăm năm đầu là thời kì của chánh pháp, chúng ta ở đây là thời kì của tượng pháp nhưng là thời kì cuối, sắp sửa qua mạt, mà tượng là mường tượng, giống giống, chúng ta ở đây là thời kì tưởng pháp.
Cho nên mình để ý, nhìn thấy một người ở trong chùa làm việc với nhau, một người có tánh ẩu, cái tánh làm việc qua loa thôi thì mình có dám giao công việc quan trọng cho không? Người này đụng đâu rớt đó, đụng bình bể bình, bưng tô là đập tô, rót trà là rớt chung, như vậy có dám giao nhiệm vụ đón tiếp các vị tôn đức lớn trong những ngày lễ lớn không? Mình nói cái nhỏ nhất thôi mà như vậy, huống chi việc truyền thừa chánh pháp suốt ba ngàn năm phải là những bậc thánh giả, những bậc chứng ngộ, phải là những bậc Tam Tạng pháp sư phải học thuộc lòng không sai một chữ.
Bây giờ mình học thì "đạo nào cũng được, đạo nào cũng tốt con thưa thầy", sao cũng được hết là mình thuộc dạng ba phải thì làm sao quý vị đi đến được thánh đạo, thánh quả. Quý huynh đệ nhớ rằng nếu không đi trên thánh đạo, nếu không ở chính xác trên thánh đạo thì không đến thánh quả, phải đúng chánh đạo thì mới đến chánh quả, giống như trong bộ kinh Đức Phật có ví dụ về con gà ấp trứng nhưng con gà đó ấp không đúng cách, mà nó mong muốn trứng này nở ra trở thành con gà con.
Nó cứ mong muốn như vậy hoài nhưng nó ấp sai cách thì có ra con gà con không? Nếu nó ấp đúng cách mà nó không cầu nguyện, không van xin, không có hi vọng, không có mong chờ, chỉ ấp đúng cách thì có ra con gà con không? Đó là bài kinh rất quan trọng, là bài kinh "Cán Búa". Tức là khi làm một việc gì mình phải nắm vững lí thuyết như Bát Chánh Đạo thì chánh tri kiến là phải thấy đúng trước, làm đúng theo y như vậy thì mới có kết quả, bây giờ quý huynh đệ là vai chánh trong bếp chùa của mình, làm bánh bông lan, nấu phở, bún riêu…nấu xong không biết kêu bằng chè hay kêu bằng cháo.
Tại sao như vậy? Vì không đúng quy cách, phải biết làm bột như thế nào, nấu phải làm sao, phải đến mức độ nào để thành một nồi chè chứ không phải để cho nó nở ra nhiều nhiều cho đỡ hao. Mình nấu cơm mà thành cháo, mà không phải cháo bình thường, cháo cho ai ăn vậy đó, đó là không đúng cách. Tại sao như vậy? Vì mình không bám sát theo cách thức người đi trước chỉ cho mình, mình muốn sao thì làm như vậy, tôi muốn làm theo ý mình và cuối cùng nó như vậy và sự tu cũng vậy, cũng cần đi theo đúng đường để thành thánh quả, mà bây giờ ngoài đời nhiều loại thánh lắm, nhiều khi thánh chửi cũng có.
II. Đại căn cứ địa thứ hai
“Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: "Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng tọa, với vị thủ chúng. Đối diện với Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối diện với Tăng chúng, tôi lãnh thọ như vậy: "Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời của bậc Đạo Sư"". Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, môi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương xứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc Ala-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm". Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 2, bài kinh Căn Cứ Địa)
Khi mình nghe như vậy cũng giống như trên, Đức Phật nói không khen ngợi tán thán cũng như không phê phán chỉ trích, so sánh đối chiếu với kinh, so sánh với luật, nếu không đúng "Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỳ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm. Và này các Tỳ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng". Vị thượng toạ thủ chúng nói rằng "đối diện với Tăng chúng tôi nghe như vậy, đối với pháp tôi lãnh thọ như vậy, đây là pháp, đây là luật, đây là lời của Đức Phật" vị đó nói đây là lời của Phật nhưng mình phải lấy đó mình đối chiếu với kinh và luật.
Khi nãy là một Tỳ- kheo nói lời trực tiếp với Phật còn đây là một vị Thượng Toạ, những bậc trưởng lão, bậc tu hành lâu năm đứng đầu ở trong đại chúng. Khi nghe mình phải đối chiếu, nếu như đối chiếu mình thấy phù hợp, tương ưng thì đây "chắc chắn là những lời dạy của Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, các Tỳ-kheo ấy đã thọ giáo chân chánh, này các Tỳ-kheo đây là đại căn thứ hai các thầy cần phải thọ trì", đó là vị thượng toạ thủ chúng.
III. Đại căn cứ địa thứ ba, thứ tư
Thứ ba: “Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷkheo nói như sau: "Tại trú xứ kia có nhiều Tỷkheo trưởng lão ở, những vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Đối diện với các trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với các trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: "Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời của bậc Đạo Sư"”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 2, bài kinh Căn Cứ Địa)
Các vị này nghe nhiều, học nhiều, chẳng hạn như tiến sĩ phật học, hay là pháp sư. Các vị này được nghe, được học được trì pháp, trì luật nhưng khi nghe pháp của những vị này mình phải đối chiếu nếu đúng vậy là mình học, mình không vội tán thán thán khen ngợi hay chỉ trích mình cứ nghe, học rồi mình về đối chiếu. Nếu mình đối chiếu là đúng thì mình tiếp nhận và thọ trì. Đây là đại căn cứ địa thứ ba, đó là những bậc trưởng lão, pháp sư.
Các huynh đệ nghĩ rằng vị đó nổi tiếng, là tôn túc lớn thì nói đúng hết chánh pháp? Chưa chắc, nếu như người đó không Nhập lưu thánh quả của bậc Tu-đà-hoàn và không bám sát vào kinh luật thì khi nói sẽ lẫn lộn qua ngũ uẩn, lẫn lộn qua những cái thấy biết cá nhân, mỗi lần lẫn lộn một chút, cứ như vậy người trước truyền cho người sau lẫn lộn một chút, cuối cùng không phải một chút nữa và chánh pháp bị diệt vong. Điều này hết sức sâu sắc, không phải dễ. Mà mình thì cả tin và dễ nghe, cái gì êm tai, hợp ý thì đó là ái, hợp với sở thích mình là đi theo. Cho nên giáo pháp đi ngược lại, nghịch lưu vì tất cả chúng sanh đều tham mà nói ly tham, người nào nghe được cái nghịch nhĩ này thì sẽ thể nhập thánh trí.
Đại căn cứ địa thứ tư: Những vị trưởng lão là những bậc được nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, thứ bậc càng ngày càng tăng lớn lên. Những bậc trưởng lão, những bậc tôn túc nói thì cũng phải đối chiếu. Sau khi Minh Thành nói xong bốn căn cứ địa sẽ đến đạo lộ hành trì của sự tu học, đây là điều quan trọng theo suốt cuộc đời tu của mình.
IV. Thực hành ba pháp – nhận diện năm uẩn
Thực hành ba pháp: Chánh niệm trước mặt; trở về hơi thở, cảm giác toàn thân; nội tâm tỉnh giác. Điều này cực kì quan trọng, đây là bước thứ nhất thực hành ba pháp. Luôn luôn trú trên cái tưởng chết, lợi ích của thực hành ba pháp như thế nào thì Minh Thành có chia sẻ ở chùa Liên Trì (Củ Chi) bài pháp "Lợi ích của quán chiếu cảm thọ", hoặc là "pháp hành quán chiếu cảm giác" hoặc "cảm giác toàn thân", những bài này đều nói về ba pháp.
Ba bước này là ba bước căn bản quan trọng để giúp mình đi vào, giúp mình nhìn lại thân tâm của mình để mình có chỗ trú, nếu không khi mắt tiếp xúc với sắc, tai tiếp xúc với tiếng, mũi với mùi, lưỡi với vị, thân xúc chạm thì mình sẽ quên hết, mình sẽ hướng ngoại nếu không thực hành ba pháp, cảm giác toàn thân, mình sẽ không có chỗ trú, tâm của mình sẽ là tâm mông lung, không có trụ, mà tâm không có chỗ trụ thì cũng giống như bông gòn gặp gió sẽ tung mình lãng du tít tận trên không. Tâm có chỗ trú thì như cột trụ bằng đá.
Thực hành ba pháp là không phải khi ngồi thiền mà bất cứ đi, đứng, ngồi, nằm…tất cả động tịnh đều chánh niệm trước mặt, trở về hơi thở, cảm nhận ba chỗ chuyển động của hơi thở: Chóp mũi; lồng ngực và bụng từ ba chỗ đó mở rộng ra toàn thân để cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể từ đỉnh đầu đến gót chân, đó là định tâm trên thân vững chắc, kiên định. Khi những cái khác đến với mình sẽ không dễ dàng thâm nhập, không dễ dàng xâm chiếm được thân tâm mình vì mình có chỗ trú vững chắc, nội tâm bên trong là nội tâm tỉnh giác.
Bước cực kì quan trọng là nhận diện năm uẩn mỗi lúc mỗi nơi. Xin thưa nếu mình tu mà không nhận diện được năm uẩn thì tất cả sự tu là ở ngoài da. Vì chính thân tâm mình, mình còn chưa biết thì làm sao mình tu. Đức Phật bằng trí huệ thánh trí đã nhìn thấy tất cả vũ trụ vạn vật đều trong năm uẩn. Con người là phần sắc uẩn và cảm thọ, những cái tưởng về suy nghĩ nhận thức, đó là năm yếu tố cấu thành thân tâm của chúng sanh. Mình không thấy không biết năm yếu tố cấu tạo thành mình thì làm sao mình tu sửa, làm sao mình nhiếp phục.
Tham, sân, si, phiền não, tham, ái, chấp thủ nằm lẫn lộn trong năm uẩn, nó trà trộn trong đó, nếu không nhìn thấy được thì mình không biết được căn cứ địa của nó. Căn cứ địa của tham, sân, si bản ngã là nằm trong cảm giác, nằm trong nghĩ tưởng, nếu mình không thấy không biết thì sao mình nhiếp phục chuyển hoá. Mình học mấy chục năm nay có biết tham sân si nằm trong cảm giác không? Nếu mình không học tạng kinh Nikāya làm sao mình biết? Việc nhận diện năm uẩn này không phải bình thường, thấy năm uẩn là thấy Phật, thấy năm uẩn là thấy pháp, thấy năm uẩn là thấy được thánh trí. Đức Phật giác ngộ khi thành tựu thánh trí của năm uẩn, bốn thánh trí về năm uẩn.
Thánh trí thứ nhất về năm uẩn: Sự vô minh tham ái, chấp thủ đối với năm uẩn là phiền não khổ đau, đã được Đức Phật chứng ngộ. Từ đâu có năm uẩn này? Từ sự vô minh tham ái chấp thủ.
Thứ nhất là khổ trí, thứ hai là tập trí, sự tập khởi của năm uẩn là do vô minh tham ái chấp thủ đối với năm uẩn, và làm thế nào để chấp dứt cái sự vô minh, tham ái, chấp thủ với năm uẩn? Chính là Bát Thánh Đạo, đó là con đường chấp dứt toàn bộ vô minh, tham ái, chấp thủ đối với năm uẩn, đó là bốn thánh trí về năm uẩn: Khổ trí; tập trí; diệt trí và đạo trí đối với năm uẩn. Do vô minh, tham ái, chấp thủ đối với năm uẩn cho nên khổ hình thành, toàn bộ khổ uẩn này được tập khởi từ sự vô minh tham ái chấp thủ.
Con đường đi đến chấm dứt hết khổ là con đường đoạn tận vô minh, tham ái và chấp thủ đối với năm uẩn, mà con đường đó thực hiện bằng Bát Thánh Đạo. Quan trọng nhất là chánh tri kiến, là thấy được năm uẩn là năm uẩn, không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là tự ngã của tôi. Muốn thấy được năm uẩn không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là tự ngã của tôi thì bằng cách luôn luôn nhìn để thấu hiểu bản chất thực sự của năm uẩn, cho nên luôn luôn nhìn lại mình thấy cảm giác này là cảm giác vô thường, trống rỗng, một cảm giác thúc giục đòi hỏi, truy tầm, tiềm kiếm và khát ái, nó luôn luôn xúi giục mình hưởng thụ, đi kiếm, đi ăn, đi ngủ, đi chơi, đi tìm cái này nọ kia để cung phụng cho nó, khi mình thường lại năm uẩn sẽ phát hiện ra dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.
Nếu mình không thường trực nhìn năm uẩn, mình không thấy được năm uẩn, không thể nhập thánh trí năm uẩn thì có hai điều xảy ra: Thứ nhất mình không bao giờ phá được cái chấp ngã vô minh và tham ái đối với năm uẩn, nếu mình không thấy biết được năm uẩn thì mình cho đây là tôi, cái thân mấy chục kí này là tôi, những cảm giác này là tôi, những nghĩ tưởng này là tôi, nhận thức này là tôi, luôn luôn là như vậy cho nên khi mình nhìn lại thì đâu phải là tôi, là năm cục, năm đống, năm nhóm, nhìn thấy rất rõ một cái nhóm về sắc đòi hỏi, tối ngày đi kiếm ăn, là dục đang nằm trong sắc uẩn đòi mặc đẹp, phải ở chỗ sang, nó đòi cái chùa cho rộng lớn, ở trong đó là cảm giác yêu thích ham muốn thêm.
Khi mình nhìn lại năm uẩn mình sẽ thấy tuyệt diệu cái trí huệ của mình sẽ xuyên thấu vào lớp thâm sâu vào cảm giác, cảm thọ, cảm xúc. Đó là một cảm xúc thúc giục, nó đòi hỏi, khao khát, truy tầm và tìm kiếm nó làm cho mình mệt mỏi, mình chạy hoài, chạy từ lúc bé đến thiếu niên giờ trung niên mà vẫn còn chạy, vẫn còn khổ vì bản chất của dục là không bao giờ thoả mãn mà bản chất của dục là trống rỗng nhưng mình không thấy được nó, các huynh đệ về đọc thêm bài kinh "Khổ pháp".
Nếu mình không thấy được dục, mình không hiểu về nó, mình không biết tính chất, cấu trúc, cấu tạo, những sự tập khởi của dục, đoạn tận của dục, sự nguy hiểm của dục và sự xuất ly của dục thì mình không thể nào nhiếp phục và đoạn tận được dục. Mà mình không nhiếp phục và đoạn tận dục, ái tham, thì sầu bi, khổ, ưu, não, nước mắt vẫn còn đầm đìa, đau khổ vẫn tiếp diễn dài dài không có cùng tận. Chúng ta ngồi đây là nạn nhân của dục tham và ái, là nạn nhân của sân hận, si mê, vô minh, chấp thủ, chúng ta sống trong mù mờ tăm tối trong vô minh không thấy được năm uẩn, đi đâu cũng vác một cái ngã chình ình, ai chạm vào cũng phựt lửa, sư phụ cũng phựt lửa như thường chứ đừng nói tới sư đệ. Chạm vào cái tôi là bừng lửa, làm tan hết tất cả tình nghĩa cha con, thầy trò, huynh đệ, tình tỉ muội tương tàn.
Cho nên mình nhìn vào năm uẩn này hay tuyệt diệu lắm, những cái cảm giác, những cái nghĩ tưởng, nó suy nghĩ toàn những cái mình là giỏi, mình là hay, là hơn, khen mình chê người, ta đây, cống cao ngã mạn...Trên Linh Quy Pháp Ấn có phương pháp xám hối, diệt ngã, học cái hạnh của ngài Xá-lợi-phất. Mấy chục bài kệ lạy diệt ngã, quán chiếu để diệt bản ngã, có một chú xuất gia lạy bài này khóc ràn rụa, vì nó chạm tới cảm giác thâm sâu, đánh thức được trí tuệ vô ngã bên trong.
Thành ra rất hay, mình phải luôn luôn nhìn lại thân thể, cảm giác này, nhìn lại những cái nội tâm, thọ, tưởng hành, thức của mình, nhìn lại các pháp đang diễn ra bên trong như thế nào, mình phải thấy phải biết trong nội tâm của mình, vì các cái lậu hoặc, những cái tham, sân, si, bản ngã, vô minh, chấp thủ trà trộn trong năm uẩn, chỗ nào cũng có nó, giống như mình lựa đậu trong Tấm Cám, nó trà trộn, lẫn lộn hết trong năm uẩn nếu mình không có thánh trí năm uẩn làm sao mình thấy được.
Tại vì mình đã cho rằng những cái đó là mình, sắc là tôi, sắc là của tôi, thọ là tôi, hành là tôi thì làm sao mình thấy ra được. Bởi vậy bước đầu tiên nhận diện năm uẩn là cực kì quan trọng mà nhất là lúc mình giận, mình tham thì mình nhìn lại liền rồi mình coi cảm giác trong đó sao mà nhàm chán, hừng hực, nó lùng bùng hai con mắt, miệng giựt lên mà mình không biết, không thấy, nó xâm chiếm mình hết rồi thì mình bung ra miệng lưỡi, dao mác mình bung ra, vũ khí đạn dược quăng ra cho đã, cho hã dạ. Cái cảm giác sân hận đó là ma.
Có một vị Tỳ-kheo bạch Đức Thế Tôn như thế nào là ma, Đức Phật nói sắc là ma, thọ là ma, tưởng là ma, hành là ma, thức là ma. Chính những cái đó làm cho mình khổ, nó che lấp hết trí huệ của mình vì mình không thấy nó và một sự đau đớn nhất trong cuộc đời của người tu là không thấy được năm uẩn, là vĩnh viễn không bao giờ mình thể nhập được trí huệ của Đức Phật.
Cho nên Minh Thành tha thiết kêu gọi tất cả các huynh đệ để tâm vào bốn bộ kinh Nikāya, thực hành ba pháp luôn luôn liên tục nhận diện năm uẩn. Bình thường mình không nhận diện thì lúc mình tham lên, lúc mình sân lên thì mình không thể nhận diện nổi, bình thường mình không thực tập nhìn nhận thì đến lúc đó mình sẽ bị nó nhấn chìm chứ không thể nhận diện được nó.
Phải nhìn vào trong cảm giác, nhìn vào trong nghĩ tưởng của nội tâm, coi đó là cái gì, tại sao lại suy nghĩ như vậy, tại sao có những hình bóng như vậy, tạo sao lại có cảm giác rạo rực như vậy. Mình nhìn thấy được các cảm giác đó là do cảm thọ phía dưới nung lên, làm cho các cái tưởng sanh khởi, làm các ý hành nói lầm thầm, làm cho cái cảm giác của mình không có lắng dịu, nó rạo rực nó muốn thúc dục nó không an tịnh. Cho nên sự tu tập là sự phản tỉnh, nội soi, soi chiếu, chiếu kiến ngũ uẩn để mình thâm sâu vô những lớp dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu phía dưới. Những cái tham sân si mà thô thì không cần học người ta cũng biết, gọi là rác thô, rác vừa vừa là ăn, uống, ngủ, nghỉ...
Mình nhìn kĩ là thấy hết dục tham sân si bản ngã. Mình nói một câu mà mình để ý lại thì "ôi cha, trong đây có cái bản ngã, muốn thể hiện" mình sẽ hối hận, còn không để ý, không nhìn thấy cứ nói ào ào, người ta thấy tùm lum mà mình không có thấy. Khổ! Và cái rác tế là một trạng thái tâm mê bị tiêm nhiễm lậu hoặc lâu ngày, lâu đời. Nó suy nghĩ theo chiều mê của nó, luôn luôn tìm cầu dục, ái, tham, nó ngấm ngầm hoạt động chỉ huy, vì nó âm thầm nên mình không thấy không biết cho nên gọi là lậu. Lậu ở đây là lậu hoặc, một sự mê rất vi tế, nhỏ nhiệm. Mình không thấy biết được, phải trí huệ của bậc thánh mới biết được, khi mình tẩy đi những rác vi tế thì mình mới thể nhập thánh trí viên mãn.
Cho nên khi nhận diện năm uẩn thì mình sẽ phát hiện ra rác thô vừa và vi tế. Minh Thành ví dụ này cho quý vị thấy, có một người từ khi sinh ra đã mù loà bốn mươi lăm năm, người này ở trong một căn nhà đầy rác bẩn, cấu uế và người này không thấy không biết. Một hôm người này gặp một thầy thuốc cực kì giỏi, là thần y. Vị thầy thuốc đó cho người này thuốc điều trị để sáng mắt lên và điều đầu tiên người này thấy là rác bẩn, sự dơ bẩn suốt bốn mươi mấy năm trời ở trong hóc, từ trên xuống dưới toàn rác bẩn cấu uế.
Người này thấy rác rồi dọn, hốt tuỳ theo loại rác, có loại rác thì hốt, có loại chùi rửa tẩy, thậm chí dùng bàn chải chì sắt, tuỳ theo loại rác mà sử dụng những phương tiện để tẩy rửa lau chùi khác nhau để xử lí đống rác đó, và cuối cùng căn nhà sạch sẽ thơm tho. Xin thưa với các huynh đệ đó là toàn bộ hành trình tu tập của chúng ta, không có nhiều. Người mù đó là chúng sanh, là vô văn phàm phu, là chính bản thân mình. Khi mắt mình sáng ra, được trị liệu cho con mắt sáng ra là mình nhìn thấy rác ở trong năm thủ uẩn, nhìn thấy được tham dục, ái, vô minh, chấp thủ, đầy rẫy trong năm uẩn thì người này đã mở được con mắt trí huệ. Cái này là quan trọng lắm, đây gọi là đắc pháp nhãn tịnh, đây là Nhập lưu, đây gọi là người thành tựu thánh trí về năm uẩn, trí về lậu hoặc.
Bốn thánh trí về lậu hoặc mà Đức Phật chứng ngộ dưới cội bồ đề là gì? Là phải thấy biết các lậu hoặc, thấy biết được sự tập khởi, nguyên nhân sanh khởi các lậu hoặc, thấy biết được sự chấm dứt của lậu hoặc và con đường đưa đến sự đoạn tận, chấm dứt các lậu hoặc đó. Đó là thành tựu bốn thánh trí về lậu quặc và bốn thánh trí về năm uẩn. Tám thánh trí này đưa bồ tát Tất-đạt-đa thành tựu quả vị vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Từ đó giờ mình học chưa từng nghe, chưa từng nghiền ngẫm suy tư quán chiếu cho nên mình chưa chánh giác, mà mình thấy cái gì ngộ ngộ, lạ lạ thì mình giác.
Khi mình mở mắt ra thấy được năm uẩn, mình thấy rác trong năm uẩn là mình đắc pháp nhãn tịnh, con mắt trí huệ bắt đầu mở ra, pháp nhãn của mình bắt đầu sáng ra, trí huệ của mình bắt đầu thành tựu là trí huệ của thánh pháp bắt đầu khởi động trong nội tâm của mình, sau khi mình thấy rồi thì hốt rác, dọn rác là thánh quả thứ hai, hốt hết rác thô còn những rác dính lại lâu ngày phải chà, tẩy rửa là thánh quả thứ ba, dọn dẹp rác vi tế của lậu hoặc mà dính rất cứng, bám rất chặt trong những hóc xó đó là thánh quả thứ ba.
Khi mình làm sạch sẽ mát mẻ rồi đó là vô thượng cứu cánh phạm hạnh, vượt các khổ ách, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã xong, đây là đời sống cuối cùng. Đó là toàn bộ đạo lộ tu tập thánh quả của Đức Thế Tôn truyền trao trong kinh tạng Nikāya, phải nắm kĩ điều này. Những người toàn nói cái tốt cái đẹp của mình thì người này còn nguy hiểm lắm, đó là bản ngã nói, cái tôi đang thể hiện đó mà một người dám phơi bày cái tật cái dở cái vô minh tham ái chấp thủ là người này thánh trí bắt đầu toả sáng, trí huệ bắt đầu thành tựu.
Cho nên quý vị đừng nghĩ thánh nhân là bậc cao siêu huyền diệu ở đâu, hào quang gì đó. Thánh giả thánh trí, những bậc thánh nhân là những người nhìn thấy chính xác, thấu suốt tất cả mọi khía cạnh thân và tâm của họ, thấy rõ tất cả các ô nhiễm, phiền não vô minh, tham ái, lậu hoặc của họ đó là bậc thánh nhân, là bậc thượng nhân. Vì mình không nhìn bên trong mình, chỉ nhìn vào người khác thì đó là phàm phu, đó là thị phi, đó là hướng ngoại, đó là còn mù chưa có thấy.
Cho nên Minh Thành mong rằng sau ba tháng An Cư trở vào đây thì không còn ai mang mắt kiếng nữa, con mắt trí tuệ được rực sáng để thấy được những cái tanh hôi, dơ bẩn nhất, một đống thịt này, bao nhiêu những cái ngã mạn tham, sân, si đều thấy hết, bắt bản ngã cúi đầu.
Cho nên Minh Thành sắp ra bộ sách "Xuất gia bảo tạng", là kho báu của người xuất gia, trong mùa An Cư Kiết Hạ này ít nhất ra cuốn một. Minh Thành mong muốn mọi người có một thái độ cầu học với một cái tâm thoáng, đừng có khăng khăng giữ chặt thấy biết cá nhân của mình thì mới tiến bộ, mới đi đến những nơi rộng lớn, đừng vội phản ứng nhanh với bất cứ một cái nào với cái suy nghĩ sở thích thấy biết của mình, hãy suy tư cho sâu sắc, quán chiếu và tiếp theo là bốn đại căn cứ địa của giáo pháp đối chiếu với kinh tạng Nikāya và tạng luật, lấy đó làm lời dạy thánh kinh, thánh điển để hành trì.
Thứ 3 là đạo lộ của tạng kinh Nikāya là thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn, phát hiện rác bẩn thô, vừa và tế, và có những phương pháp thiện xảo tẩy sạch, đoạn diệt chấm dứt những rác bẩn đó, giống như mình mở con mắt ra lau dọn. Như vậy sự tu hành nói nhiều nhưng không có nhiều, đó là toàn bộ đạo lộ, tổng cương lĩnh của tạng kinh Nikāya, mà nắm được cái này rồi là mở kinh ra đọc dễ dàng.
Chúc cho các huynh đệ thành tựu./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đại căn cứ địa thứ nhất PAGEREF _Toc71623065 \h 1
II. Đại căn cứ địa thứ hai PAGEREF _Toc71623066 \h 5
III. Đại căn cứ địa thứ ba, thứ tư PAGEREF _Toc71623067 \h 6
IV. Thực hành ba pháp – nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc71623068 \h 7
I. Đại căn cứ địa thứ nhất
Kính thưa đại chúng, hôm nay là buổi học cuối về môn của Minh Thành, sau đó chúng ta sẽ bước vào ba tháng An Cư. Hôm nay Minh Thành muốn gửi một món quà tinh thần đến các huynh đệ và đại chúng một đạo lộ hành trì, để sau ba tháng An Cư thì tất cả những vị ngồi đây đều là những vị hướng Dự lưu và Nhập lưu.
Hôm nay có đủ duyên thì Minh Thành sẽ chia sẻ cho quý huynh đệ bốn đại căn cứ địa của giáo pháp trong Tăng Chi Bộ kinh, tập 2.
“Một thời, Thế Tôn trú ở Bhoganagara, tại điện Ànanda. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:
- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về bốn đại căn cứ địa này. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:
- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bốn đại căn cứ địa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: "Này Hiền giả, đối diện với Thế Tôn, tôi nghe như vậy, đối diện với Thế Tôn, tôi lãnh thọ như vậy: « Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời của bậc Đạo Sư » ". Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương xứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm". Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 2, bài kinh Căn Cứ Địa)
Có một Tỳ-kheo nói rằng tôi đối diện với Đức Thế Tôn được dạy như vầy nhưng Đức Phật khuyên rằng tuy là nghe từ Thế Tôn nhưng các thầy nghe không nên tán thán, không nên hủy báng mà mỗi mỗi câu, mỗi mỗi chữ học hỏi kĩ lưỡng, phải "đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật", so sánh với bốn bộ kinh Nikāya và đối chiếu với luật Tỳ-kheo ở trong Nam truyền đã được truyền thừa ba ngàn năm nay.
Nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương xứng với luật thời các thầy có thể kết luận các lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác và các Tỳ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm, cho nên Minh Thành cũng nhắc các huynh đệ, bốn bộ kinh Nikāya là thánh kinh, là thánh điển của Phật giáo thế giới. Cả Phật giáo toàn cầu đều công nhận được truyền thừa từ Đức Thế Tôn mà hiện này các vị Tam Tạng pháp sư ở Myanmar đều thuộc lòng hết ba tạng.
Nhưng ở đây mình nói hai tạng thôi là tạng kinh và tạng luật, tạng luận thì rất là nhiều, được bổ túc thêm sau này. Vì vậy mình phải lấy hai bộ đó làm chuẩn tắc trong sự tu học, đây là kinh nghiệm sau ba chục năm đi khắp thế giới cầu học phát hiện ra. Nếu như chúng phù hợp với kinh, tương xứng với luật thì các thầy có thể kết luận "chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác và các Tỳ-kheo ấy thọ giáo tốt đẹp, này các Tỳ-kheo đây là đại căn cứ địa thứ nhất mà các vị cần phải thọ trì".
Sau khi đối chiếu mình thấy đúng vậy, đúng là giáo pháp ly tham, đúng là giáo pháp đoạ tận tham, sân, si, bản ngã, vô minh, chấp thủ thì các thầy biết rằng chắc chắn đây là những lời dạy của Đức Thế Tôn, đây là đại căn cứ địa thứ nhất mà các thầy, các cô cần phải thọ trì.
Phải đối chiếu chứ không phải nghe nói là tin liền, quý vị thấy đó ngay cả người đó ở tại thời Đức Phật còn mà Phật phải dặn dò như vậy. Bây giờ mạnh ai nấy nói theo kiểu "có câu, trong kinh có câu, Đức Phật có câu…" rồi lấy trong kinh bên nho, bên Lào cho là Phật nói. Cái này hết sức nguy hiểm, cái này là loạn pháp.
Quý huynh đệ có biết rằng một cái định lí hoặc một cái công thức dù chỉ sai một chút là sai hết tất cả, bây giờ hãng máy bay mấy hôm nay xảy ra tai nạn thì người ta phát hiện ra cái lỗi cực nhỏ mà mấy cái người ở phía dưới cho rằng đây là cái lỗi nhỏ không đáng phải báo cáo cho nên xảy ra tai nạn mấy trăm người chết, mà mấy chiếc như vậy.
Cho nên phải cẩn thận khi học pháp, nếu mình sai một chút xíu thôi thì toàn bộ công trình đi xuống biển. Đó là thời Đức Phật mà Đức Phật nhắc nhở như vậy, mà có một vị Tỳ-kheo nói được gặp Thế Tôn, Thế Tôn nói như vầy, dạy như vậy nhưng phải đối chiếu lại, đừng có vội hủy báng cũng đừng có vội khen ngợi, phải đối chiếu lại. Cho nên mình học mà không có vi tế, không có sự miên mật sâu sắc, lệch chút xíu thôi là rồi xong.
Cho nên thời kì các huynh đệ ở đây là thời kì cuối của tượng pháp, năm trăm năm đầu là thời kì của chánh pháp, chúng ta ở đây là thời kì của tượng pháp nhưng là thời kì cuối, sắp sửa qua mạt, mà tượng là mường tượng, giống giống, chúng ta ở đây là thời kì tưởng pháp.
Cho nên mình để ý, nhìn thấy một người ở trong chùa làm việc với nhau, một người có tánh ẩu, cái tánh làm việc qua loa thôi thì mình có dám giao công việc quan trọng cho không? Người này đụng đâu rớt đó, đụng bình bể bình, bưng tô là đập tô, rót trà là rớt chung, như vậy có dám giao nhiệm vụ đón tiếp các vị tôn đức lớn trong những ngày lễ lớn không? Mình nói cái nhỏ nhất thôi mà như vậy, huống chi việc truyền thừa chánh pháp suốt ba ngàn năm phải là những bậc thánh giả, những bậc chứng ngộ, phải là những bậc Tam Tạng pháp sư phải học thuộc lòng không sai một chữ.
Bây giờ mình học thì "đạo nào cũng được, đạo nào cũng tốt con thưa thầy", sao cũng được hết là mình thuộc dạng ba phải thì làm sao quý vị đi đến được thánh đạo, thánh quả. Quý huynh đệ nhớ rằng nếu không đi trên thánh đạo, nếu không ở chính xác trên thánh đạo thì không đến thánh quả, phải đúng chánh đạo thì mới đến chánh quả, giống như trong bộ kinh Đức Phật có ví dụ về con gà ấp trứng nhưng con gà đó ấp không đúng cách, mà nó mong muốn trứng này nở ra trở thành con gà con.
Nó cứ mong muốn như vậy hoài nhưng nó ấp sai cách thì có ra con gà con không? Nếu nó ấp đúng cách mà nó không cầu nguyện, không van xin, không có hi vọng, không có mong chờ, chỉ ấp đúng cách thì có ra con gà con không? Đó là bài kinh rất quan trọng, là bài kinh "Cán Búa". Tức là khi làm một việc gì mình phải nắm vững lí thuyết như Bát Chánh Đạo thì chánh tri kiến là phải thấy đúng trước, làm đúng theo y như vậy thì mới có kết quả, bây giờ quý huynh đệ là vai chánh trong bếp chùa của mình, làm bánh bông lan, nấu phở, bún riêu…nấu xong không biết kêu bằng chè hay kêu bằng cháo.
Tại sao như vậy? Vì không đúng quy cách, phải biết làm bột như thế nào, nấu phải làm sao, phải đến mức độ nào để thành một nồi chè chứ không phải để cho nó nở ra nhiều nhiều cho đỡ hao. Mình nấu cơm mà thành cháo, mà không phải cháo bình thường, cháo cho ai ăn vậy đó, đó là không đúng cách. Tại sao như vậy? Vì mình không bám sát theo cách thức người đi trước chỉ cho mình, mình muốn sao thì làm như vậy, tôi muốn làm theo ý mình và cuối cùng nó như vậy và sự tu cũng vậy, cũng cần đi theo đúng đường để thành thánh quả, mà bây giờ ngoài đời nhiều loại thánh lắm, nhiều khi thánh chửi cũng có.
II. Đại căn cứ địa thứ hai
“Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: "Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng tọa, với vị thủ chúng. Đối diện với Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối diện với Tăng chúng, tôi lãnh thọ như vậy: "Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời của bậc Đạo Sư"". Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, môi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương xứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc Ala-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm". Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 2, bài kinh Căn Cứ Địa)
Khi mình nghe như vậy cũng giống như trên, Đức Phật nói không khen ngợi tán thán cũng như không phê phán chỉ trích, so sánh đối chiếu với kinh, so sánh với luật, nếu không đúng "Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỳ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm. Và này các Tỳ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng". Vị thượng toạ thủ chúng nói rằng "đối diện với Tăng chúng tôi nghe như vậy, đối với pháp tôi lãnh thọ như vậy, đây là pháp, đây là luật, đây là lời của Đức Phật" vị đó nói đây là lời của Phật nhưng mình phải lấy đó mình đối chiếu với kinh và luật.
Khi nãy là một Tỳ- kheo nói lời trực tiếp với Phật còn đây là một vị Thượng Toạ, những bậc trưởng lão, bậc tu hành lâu năm đứng đầu ở trong đại chúng. Khi nghe mình phải đối chiếu, nếu như đối chiếu mình thấy phù hợp, tương ưng thì đây "chắc chắn là những lời dạy của Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, các Tỳ-kheo ấy đã thọ giáo chân chánh, này các Tỳ-kheo đây là đại căn thứ hai các thầy cần phải thọ trì", đó là vị thượng toạ thủ chúng.
III. Đại căn cứ địa thứ ba, thứ tư
Thứ ba: “Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷkheo nói như sau: "Tại trú xứ kia có nhiều Tỷkheo trưởng lão ở, những vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Đối diện với các trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với các trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: "Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời của bậc Đạo Sư"”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 2, bài kinh Căn Cứ Địa)
Các vị này nghe nhiều, học nhiều, chẳng hạn như tiến sĩ phật học, hay là pháp sư. Các vị này được nghe, được học được trì pháp, trì luật nhưng khi nghe pháp của những vị này mình phải đối chiếu nếu đúng vậy là mình học, mình không vội tán thán thán khen ngợi hay chỉ trích mình cứ nghe, học rồi mình về đối chiếu. Nếu mình đối chiếu là đúng thì mình tiếp nhận và thọ trì. Đây là đại căn cứ địa thứ ba, đó là những bậc trưởng lão, pháp sư.
Các huynh đệ nghĩ rằng vị đó nổi tiếng, là tôn túc lớn thì nói đúng hết chánh pháp? Chưa chắc, nếu như người đó không Nhập lưu thánh quả của bậc Tu-đà-hoàn và không bám sát vào kinh luật thì khi nói sẽ lẫn lộn qua ngũ uẩn, lẫn lộn qua những cái thấy biết cá nhân, mỗi lần lẫn lộn một chút, cứ như vậy người trước truyền cho người sau lẫn lộn một chút, cuối cùng không phải một chút nữa và chánh pháp bị diệt vong. Điều này hết sức sâu sắc, không phải dễ. Mà mình thì cả tin và dễ nghe, cái gì êm tai, hợp ý thì đó là ái, hợp với sở thích mình là đi theo. Cho nên giáo pháp đi ngược lại, nghịch lưu vì tất cả chúng sanh đều tham mà nói ly tham, người nào nghe được cái nghịch nhĩ này thì sẽ thể nhập thánh trí.
Đại căn cứ địa thứ tư: Những vị trưởng lão là những bậc được nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, thứ bậc càng ngày càng tăng lớn lên. Những bậc trưởng lão, những bậc tôn túc nói thì cũng phải đối chiếu. Sau khi Minh Thành nói xong bốn căn cứ địa sẽ đến đạo lộ hành trì của sự tu học, đây là điều quan trọng theo suốt cuộc đời tu của mình.
IV. Thực hành ba pháp – nhận diện năm uẩn
Thực hành ba pháp: Chánh niệm trước mặt; trở về hơi thở, cảm giác toàn thân; nội tâm tỉnh giác. Điều này cực kì quan trọng, đây là bước thứ nhất thực hành ba pháp. Luôn luôn trú trên cái tưởng chết, lợi ích của thực hành ba pháp như thế nào thì Minh Thành có chia sẻ ở chùa Liên Trì (Củ Chi) bài pháp "Lợi ích của quán chiếu cảm thọ", hoặc là "pháp hành quán chiếu cảm giác" hoặc "cảm giác toàn thân", những bài này đều nói về ba pháp.
Ba bước này là ba bước căn bản quan trọng để giúp mình đi vào, giúp mình nhìn lại thân tâm của mình để mình có chỗ trú, nếu không khi mắt tiếp xúc với sắc, tai tiếp xúc với tiếng, mũi với mùi, lưỡi với vị, thân xúc chạm thì mình sẽ quên hết, mình sẽ hướng ngoại nếu không thực hành ba pháp, cảm giác toàn thân, mình sẽ không có chỗ trú, tâm của mình sẽ là tâm mông lung, không có trụ, mà tâm không có chỗ trụ thì cũng giống như bông gòn gặp gió sẽ tung mình lãng du tít tận trên không. Tâm có chỗ trú thì như cột trụ bằng đá.
Thực hành ba pháp là không phải khi ngồi thiền mà bất cứ đi, đứng, ngồi, nằm…tất cả động tịnh đều chánh niệm trước mặt, trở về hơi thở, cảm nhận ba chỗ chuyển động của hơi thở: Chóp mũi; lồng ngực và bụng từ ba chỗ đó mở rộng ra toàn thân để cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể từ đỉnh đầu đến gót chân, đó là định tâm trên thân vững chắc, kiên định. Khi những cái khác đến với mình sẽ không dễ dàng thâm nhập, không dễ dàng xâm chiếm được thân tâm mình vì mình có chỗ trú vững chắc, nội tâm bên trong là nội tâm tỉnh giác.
Bước cực kì quan trọng là nhận diện năm uẩn mỗi lúc mỗi nơi. Xin thưa nếu mình tu mà không nhận diện được năm uẩn thì tất cả sự tu là ở ngoài da. Vì chính thân tâm mình, mình còn chưa biết thì làm sao mình tu. Đức Phật bằng trí huệ thánh trí đã nhìn thấy tất cả vũ trụ vạn vật đều trong năm uẩn. Con người là phần sắc uẩn và cảm thọ, những cái tưởng về suy nghĩ nhận thức, đó là năm yếu tố cấu thành thân tâm của chúng sanh. Mình không thấy không biết năm yếu tố cấu tạo thành mình thì làm sao mình tu sửa, làm sao mình nhiếp phục.
Tham, sân, si, phiền não, tham, ái, chấp thủ nằm lẫn lộn trong năm uẩn, nó trà trộn trong đó, nếu không nhìn thấy được thì mình không biết được căn cứ địa của nó. Căn cứ địa của tham, sân, si bản ngã là nằm trong cảm giác, nằm trong nghĩ tưởng, nếu mình không thấy không biết thì sao mình nhiếp phục chuyển hoá. Mình học mấy chục năm nay có biết tham sân si nằm trong cảm giác không? Nếu mình không học tạng kinh Nikāya làm sao mình biết? Việc nhận diện năm uẩn này không phải bình thường, thấy năm uẩn là thấy Phật, thấy năm uẩn là thấy pháp, thấy năm uẩn là thấy được thánh trí. Đức Phật giác ngộ khi thành tựu thánh trí của năm uẩn, bốn thánh trí về năm uẩn.
Thánh trí thứ nhất về năm uẩn: Sự vô minh tham ái, chấp thủ đối với năm uẩn là phiền não khổ đau, đã được Đức Phật chứng ngộ. Từ đâu có năm uẩn này? Từ sự vô minh tham ái chấp thủ.
Thứ nhất là khổ trí, thứ hai là tập trí, sự tập khởi của năm uẩn là do vô minh tham ái chấp thủ đối với năm uẩn, và làm thế nào để chấp dứt cái sự vô minh, tham ái, chấp thủ với năm uẩn? Chính là Bát Thánh Đạo, đó là con đường chấp dứt toàn bộ vô minh, tham ái, chấp thủ đối với năm uẩn, đó là bốn thánh trí về năm uẩn: Khổ trí; tập trí; diệt trí và đạo trí đối với năm uẩn. Do vô minh, tham ái, chấp thủ đối với năm uẩn cho nên khổ hình thành, toàn bộ khổ uẩn này được tập khởi từ sự vô minh tham ái chấp thủ.
Con đường đi đến chấm dứt hết khổ là con đường đoạn tận vô minh, tham ái và chấp thủ đối với năm uẩn, mà con đường đó thực hiện bằng Bát Thánh Đạo. Quan trọng nhất là chánh tri kiến, là thấy được năm uẩn là năm uẩn, không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là tự ngã của tôi. Muốn thấy được năm uẩn không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là tự ngã của tôi thì bằng cách luôn luôn nhìn để thấu hiểu bản chất thực sự của năm uẩn, cho nên luôn luôn nhìn lại mình thấy cảm giác này là cảm giác vô thường, trống rỗng, một cảm giác thúc giục đòi hỏi, truy tầm, tiềm kiếm và khát ái, nó luôn luôn xúi giục mình hưởng thụ, đi kiếm, đi ăn, đi ngủ, đi chơi, đi tìm cái này nọ kia để cung phụng cho nó, khi mình thường lại năm uẩn sẽ phát hiện ra dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.
Nếu mình không thường trực nhìn năm uẩn, mình không thấy được năm uẩn, không thể nhập thánh trí năm uẩn thì có hai điều xảy ra: Thứ nhất mình không bao giờ phá được cái chấp ngã vô minh và tham ái đối với năm uẩn, nếu mình không thấy biết được năm uẩn thì mình cho đây là tôi, cái thân mấy chục kí này là tôi, những cảm giác này là tôi, những nghĩ tưởng này là tôi, nhận thức này là tôi, luôn luôn là như vậy cho nên khi mình nhìn lại thì đâu phải là tôi, là năm cục, năm đống, năm nhóm, nhìn thấy rất rõ một cái nhóm về sắc đòi hỏi, tối ngày đi kiếm ăn, là dục đang nằm trong sắc uẩn đòi mặc đẹp, phải ở chỗ sang, nó đòi cái chùa cho rộng lớn, ở trong đó là cảm giác yêu thích ham muốn thêm.
Khi mình nhìn lại năm uẩn mình sẽ thấy tuyệt diệu cái trí huệ của mình sẽ xuyên thấu vào lớp thâm sâu vào cảm giác, cảm thọ, cảm xúc. Đó là một cảm xúc thúc giục, nó đòi hỏi, khao khát, truy tầm và tìm kiếm nó làm cho mình mệt mỏi, mình chạy hoài, chạy từ lúc bé đến thiếu niên giờ trung niên mà vẫn còn chạy, vẫn còn khổ vì bản chất của dục là không bao giờ thoả mãn mà bản chất của dục là trống rỗng nhưng mình không thấy được nó, các huynh đệ về đọc thêm bài kinh "Khổ pháp".
Nếu mình không thấy được dục, mình không hiểu về nó, mình không biết tính chất, cấu trúc, cấu tạo, những sự tập khởi của dục, đoạn tận của dục, sự nguy hiểm của dục và sự xuất ly của dục thì mình không thể nào nhiếp phục và đoạn tận được dục. Mà mình không nhiếp phục và đoạn tận dục, ái tham, thì sầu bi, khổ, ưu, não, nước mắt vẫn còn đầm đìa, đau khổ vẫn tiếp diễn dài dài không có cùng tận. Chúng ta ngồi đây là nạn nhân của dục tham và ái, là nạn nhân của sân hận, si mê, vô minh, chấp thủ, chúng ta sống trong mù mờ tăm tối trong vô minh không thấy được năm uẩn, đi đâu cũng vác một cái ngã chình ình, ai chạm vào cũng phựt lửa, sư phụ cũng phựt lửa như thường chứ đừng nói tới sư đệ. Chạm vào cái tôi là bừng lửa, làm tan hết tất cả tình nghĩa cha con, thầy trò, huynh đệ, tình tỉ muội tương tàn.
Cho nên mình nhìn vào năm uẩn này hay tuyệt diệu lắm, những cái cảm giác, những cái nghĩ tưởng, nó suy nghĩ toàn những cái mình là giỏi, mình là hay, là hơn, khen mình chê người, ta đây, cống cao ngã mạn...Trên Linh Quy Pháp Ấn có phương pháp xám hối, diệt ngã, học cái hạnh của ngài Xá-lợi-phất. Mấy chục bài kệ lạy diệt ngã, quán chiếu để diệt bản ngã, có một chú xuất gia lạy bài này khóc ràn rụa, vì nó chạm tới cảm giác thâm sâu, đánh thức được trí tuệ vô ngã bên trong.
Thành ra rất hay, mình phải luôn luôn nhìn lại thân thể, cảm giác này, nhìn lại những cái nội tâm, thọ, tưởng hành, thức của mình, nhìn lại các pháp đang diễn ra bên trong như thế nào, mình phải thấy phải biết trong nội tâm của mình, vì các cái lậu hoặc, những cái tham, sân, si, bản ngã, vô minh, chấp thủ trà trộn trong năm uẩn, chỗ nào cũng có nó, giống như mình lựa đậu trong Tấm Cám, nó trà trộn, lẫn lộn hết trong năm uẩn nếu mình không có thánh trí năm uẩn làm sao mình thấy được.
Tại vì mình đã cho rằng những cái đó là mình, sắc là tôi, sắc là của tôi, thọ là tôi, hành là tôi thì làm sao mình thấy ra được. Bởi vậy bước đầu tiên nhận diện năm uẩn là cực kì quan trọng mà nhất là lúc mình giận, mình tham thì mình nhìn lại liền rồi mình coi cảm giác trong đó sao mà nhàm chán, hừng hực, nó lùng bùng hai con mắt, miệng giựt lên mà mình không biết, không thấy, nó xâm chiếm mình hết rồi thì mình bung ra miệng lưỡi, dao mác mình bung ra, vũ khí đạn dược quăng ra cho đã, cho hã dạ. Cái cảm giác sân hận đó là ma.
Có một vị Tỳ-kheo bạch Đức Thế Tôn như thế nào là ma, Đức Phật nói sắc là ma, thọ là ma, tưởng là ma, hành là ma, thức là ma. Chính những cái đó làm cho mình khổ, nó che lấp hết trí huệ của mình vì mình không thấy nó và một sự đau đớn nhất trong cuộc đời của người tu là không thấy được năm uẩn, là vĩnh viễn không bao giờ mình thể nhập được trí huệ của Đức Phật.
Cho nên Minh Thành tha thiết kêu gọi tất cả các huynh đệ để tâm vào bốn bộ kinh Nikāya, thực hành ba pháp luôn luôn liên tục nhận diện năm uẩn. Bình thường mình không nhận diện thì lúc mình tham lên, lúc mình sân lên thì mình không thể nhận diện nổi, bình thường mình không thực tập nhìn nhận thì đến lúc đó mình sẽ bị nó nhấn chìm chứ không thể nhận diện được nó.
Phải nhìn vào trong cảm giác, nhìn vào trong nghĩ tưởng của nội tâm, coi đó là cái gì, tại sao lại suy nghĩ như vậy, tại sao có những hình bóng như vậy, tạo sao lại có cảm giác rạo rực như vậy. Mình nhìn thấy được các cảm giác đó là do cảm thọ phía dưới nung lên, làm cho các cái tưởng sanh khởi, làm các ý hành nói lầm thầm, làm cho cái cảm giác của mình không có lắng dịu, nó rạo rực nó muốn thúc dục nó không an tịnh. Cho nên sự tu tập là sự phản tỉnh, nội soi, soi chiếu, chiếu kiến ngũ uẩn để mình thâm sâu vô những lớp dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu phía dưới. Những cái tham sân si mà thô thì không cần học người ta cũng biết, gọi là rác thô, rác vừa vừa là ăn, uống, ngủ, nghỉ...
Mình nhìn kĩ là thấy hết dục tham sân si bản ngã. Mình nói một câu mà mình để ý lại thì "ôi cha, trong đây có cái bản ngã, muốn thể hiện" mình sẽ hối hận, còn không để ý, không nhìn thấy cứ nói ào ào, người ta thấy tùm lum mà mình không có thấy. Khổ! Và cái rác tế là một trạng thái tâm mê bị tiêm nhiễm lậu hoặc lâu ngày, lâu đời. Nó suy nghĩ theo chiều mê của nó, luôn luôn tìm cầu dục, ái, tham, nó ngấm ngầm hoạt động chỉ huy, vì nó âm thầm nên mình không thấy không biết cho nên gọi là lậu. Lậu ở đây là lậu hoặc, một sự mê rất vi tế, nhỏ nhiệm. Mình không thấy biết được, phải trí huệ của bậc thánh mới biết được, khi mình tẩy đi những rác vi tế thì mình mới thể nhập thánh trí viên mãn.
Cho nên khi nhận diện năm uẩn thì mình sẽ phát hiện ra rác thô vừa và vi tế. Minh Thành ví dụ này cho quý vị thấy, có một người từ khi sinh ra đã mù loà bốn mươi lăm năm, người này ở trong một căn nhà đầy rác bẩn, cấu uế và người này không thấy không biết. Một hôm người này gặp một thầy thuốc cực kì giỏi, là thần y. Vị thầy thuốc đó cho người này thuốc điều trị để sáng mắt lên và điều đầu tiên người này thấy là rác bẩn, sự dơ bẩn suốt bốn mươi mấy năm trời ở trong hóc, từ trên xuống dưới toàn rác bẩn cấu uế.
Người này thấy rác rồi dọn, hốt tuỳ theo loại rác, có loại rác thì hốt, có loại chùi rửa tẩy, thậm chí dùng bàn chải chì sắt, tuỳ theo loại rác mà sử dụng những phương tiện để tẩy rửa lau chùi khác nhau để xử lí đống rác đó, và cuối cùng căn nhà sạch sẽ thơm tho. Xin thưa với các huynh đệ đó là toàn bộ hành trình tu tập của chúng ta, không có nhiều. Người mù đó là chúng sanh, là vô văn phàm phu, là chính bản thân mình. Khi mắt mình sáng ra, được trị liệu cho con mắt sáng ra là mình nhìn thấy rác ở trong năm thủ uẩn, nhìn thấy được tham dục, ái, vô minh, chấp thủ, đầy rẫy trong năm uẩn thì người này đã mở được con mắt trí huệ. Cái này là quan trọng lắm, đây gọi là đắc pháp nhãn tịnh, đây là Nhập lưu, đây gọi là người thành tựu thánh trí về năm uẩn, trí về lậu hoặc.
Bốn thánh trí về lậu hoặc mà Đức Phật chứng ngộ dưới cội bồ đề là gì? Là phải thấy biết các lậu hoặc, thấy biết được sự tập khởi, nguyên nhân sanh khởi các lậu hoặc, thấy biết được sự chấm dứt của lậu hoặc và con đường đưa đến sự đoạn tận, chấm dứt các lậu hoặc đó. Đó là thành tựu bốn thánh trí về lậu quặc và bốn thánh trí về năm uẩn. Tám thánh trí này đưa bồ tát Tất-đạt-đa thành tựu quả vị vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Từ đó giờ mình học chưa từng nghe, chưa từng nghiền ngẫm suy tư quán chiếu cho nên mình chưa chánh giác, mà mình thấy cái gì ngộ ngộ, lạ lạ thì mình giác.
Khi mình mở mắt ra thấy được năm uẩn, mình thấy rác trong năm uẩn là mình đắc pháp nhãn tịnh, con mắt trí huệ bắt đầu mở ra, pháp nhãn của mình bắt đầu sáng ra, trí huệ của mình bắt đầu thành tựu là trí huệ của thánh pháp bắt đầu khởi động trong nội tâm của mình, sau khi mình thấy rồi thì hốt rác, dọn rác là thánh quả thứ hai, hốt hết rác thô còn những rác dính lại lâu ngày phải chà, tẩy rửa là thánh quả thứ ba, dọn dẹp rác vi tế của lậu hoặc mà dính rất cứng, bám rất chặt trong những hóc xó đó là thánh quả thứ ba.
Khi mình làm sạch sẽ mát mẻ rồi đó là vô thượng cứu cánh phạm hạnh, vượt các khổ ách, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã xong, đây là đời sống cuối cùng. Đó là toàn bộ đạo lộ tu tập thánh quả của Đức Thế Tôn truyền trao trong kinh tạng Nikāya, phải nắm kĩ điều này. Những người toàn nói cái tốt cái đẹp của mình thì người này còn nguy hiểm lắm, đó là bản ngã nói, cái tôi đang thể hiện đó mà một người dám phơi bày cái tật cái dở cái vô minh tham ái chấp thủ là người này thánh trí bắt đầu toả sáng, trí huệ bắt đầu thành tựu.
Cho nên quý vị đừng nghĩ thánh nhân là bậc cao siêu huyền diệu ở đâu, hào quang gì đó. Thánh giả thánh trí, những bậc thánh nhân là những người nhìn thấy chính xác, thấu suốt tất cả mọi khía cạnh thân và tâm của họ, thấy rõ tất cả các ô nhiễm, phiền não vô minh, tham ái, lậu hoặc của họ đó là bậc thánh nhân, là bậc thượng nhân. Vì mình không nhìn bên trong mình, chỉ nhìn vào người khác thì đó là phàm phu, đó là thị phi, đó là hướng ngoại, đó là còn mù chưa có thấy.
Cho nên Minh Thành mong rằng sau ba tháng An Cư trở vào đây thì không còn ai mang mắt kiếng nữa, con mắt trí tuệ được rực sáng để thấy được những cái tanh hôi, dơ bẩn nhất, một đống thịt này, bao nhiêu những cái ngã mạn tham, sân, si đều thấy hết, bắt bản ngã cúi đầu.
Cho nên Minh Thành sắp ra bộ sách "Xuất gia bảo tạng", là kho báu của người xuất gia, trong mùa An Cư Kiết Hạ này ít nhất ra cuốn một. Minh Thành mong muốn mọi người có một thái độ cầu học với một cái tâm thoáng, đừng có khăng khăng giữ chặt thấy biết cá nhân của mình thì mới tiến bộ, mới đi đến những nơi rộng lớn, đừng vội phản ứng nhanh với bất cứ một cái nào với cái suy nghĩ sở thích thấy biết của mình, hãy suy tư cho sâu sắc, quán chiếu và tiếp theo là bốn đại căn cứ địa của giáo pháp đối chiếu với kinh tạng Nikāya và tạng luật, lấy đó làm lời dạy thánh kinh, thánh điển để hành trì.
Thứ 3 là đạo lộ của tạng kinh Nikāya là thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn, phát hiện rác bẩn thô, vừa và tế, và có những phương pháp thiện xảo tẩy sạch, đoạn diệt chấm dứt những rác bẩn đó, giống như mình mở con mắt ra lau dọn. Như vậy sự tu hành nói nhiều nhưng không có nhiều, đó là toàn bộ đạo lộ, tổng cương lĩnh của tạng kinh Nikāya, mà nắm được cái này rồi là mở kinh ra đọc dễ dàng.
Chúc cho các huynh đệ thành tựu./.