Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tham Dục Là Mắc Nợ - Kinh Nghèo Khổ - Tăng Chi Bộ

2026-03-03 00:55:26
Kinh Nikāya Giảng Giải

THAM DỤC LÀ MẮC NỢ

KINH NGHÈO KHỔ - TĂNG CHI BỘ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khổ vì lòng dục PAGEREF _Toc114155073 \h 1

II. Thất Thánh Tài PAGEREF _Toc114155074 \h 8

I. Khổ vì lòng dục

“Sự nghèo khổ, này các Tỳ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

- Khi một người khổ không có sở hữu, sống túng thiếu, phải mắc nợ, mắc nợ ấy, này các Tỳ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

- Khi một người nghèo khổ, này các Tỳ-kheo, không có sở hữu, sống túng thiếu, bị theo sát gót, bị truy tìm, không trả nợ được, người ta bắt trói người ấy. Sự bắt trói, này các Tỳ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (III) Nghèo Khổ)

Chúng ta thấy có từng cấp độ:

Thứ nhất là nghèo khổ.

Thứ hai là mắc nợ.

Thứ ba là phải trả tiền lời.

Thứ tư khi không trả tiền lời sẽ bị hối thúc.

Thứ năm bị truy tìm sát gót.

Thứ sáu là bị bắt lại, bị trói lại.

Đây là ví dụ cho người có tham dục. Người mà trong lòng chất chứa những tham muốn, tham dục, tham ái, tham đắm, khao khát, thèm thuồng, truy tìm, đuổi bắt thì đó là kẻ nghèo khổ trong giáo pháp. Người này sống rất đau khổ vì trong tâm là sự nghèo đói với dục, lúc nào cũng tìm tòi, ước mơ, mong muốn, đó là một người tu nghèo khổ trong giáo pháp, không tìm thấy được pháp lạc, thiền lạc, không tìm thấy sự an lạc của thiền định và người này sống trong sự nghèo khổ.

Những dục tầm, dục tưởng, dục tư, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, sự hướng tâm về dục, lúc nào cũng có cảm giác nghèo đói, túng thiếu, đó là một nội tâm nghèo khổ, không học thì suốt đời không biết mình đang nghèo dù cho đang ở trong một ngôi chùa khang trang, đầy đủ tiện nghi vật chất nhưng lại đang có nội tâm nghèo khổ. Đức Phật đang nói cho những chúng sanh thế gian nhưng người tu mà vậy thì cũng tính là đang nghèo đói trong nội tâm. Nếu chúng ta không nhiếp phục dục tham, không có sự hướng tâm ly dục thì chúng ta sống trong sự nghèo túng cho nên khi học những bài kinh này phải có sự chiêm nghiệm, đây cũng là chủ đề để thiền quán, thiền tư.

Thế nào là mắc nợ? Món nợ của dục, lúc nào cũng thấy túng thiếu, bất cứ chỗ nào, trong nội tâm mình vẫn là sự thiếu thốn, đau khổ. Món nợ của dục làm cho mình không thiền định, không độc cư, không ở yên được vì mình mắc nợ dục. Sau khi mắc nợ phải chấp nhận tiền lời, nghĩa là càng hưởng dục thì dục càng tăng, không bao giờ thỏa mãn vì lòng dục càng tăng trưởng, phát triển, đó là tiền lời. Nó không thỏa mãn, không chấp nhận vì càng tăng trưởng bành chướng, xâm chiếm thân tâm, lúc nào cũng muốn những cảm giác mãnh liệt nhiều hơn nữa, đó là tiền lời cũng là sự đau khổ của người tu.

Một nội tâm nghèo khổ, một nội tâm mắc nợ, một nội tâm phải chịu tiền lời càng ngày càng tăng. Khi thời hạn đến mà không trả được tiền lời thì người ta hối thúc, đốc thúc người ấy, cảm giác của dục bên trong hối thúc, nó kêu mình phải trả nợ cho nó, phải hoạt động, thực hiện để làm cho dục được thỏa mãn. Đức Phật thấy hết tất cả nội tâm, những diễn biến của dục lậu vận hành trong tâm, bên trong là một sự thúc giục, đốc thúc phải làm để thỏa mãn cái dục đó, đó là sự hối thúc của chủ nợ.

Người bị tham dục rất khổ sở vì bên trong là lời lãi càng tăng, lại bị đốc thúc, cũng giống như ngoài đời, thiếu nợ không trả thì tiền lời càng tăng, chủ nợ đòi liên tục, la mắng, thậm chí đập phá đồ đạc trong nhà, đánh chém. Một người đã mang nội tâm tham dục, tham ái thì dù cho có lên rừng xuống biển dục vẫn ám ảnh sát gót người đó, những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ áp đảo, ám ảnh, xâm chiếm trong nội tâm, gọi là bị theo sát gót, bị truy tìm, này các Tỳ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?

Một đời sống không có tự do dù cho ở đâu đi nữa nên họ đau khổ, dục theo bén gót như hình với bóng, nó ám ảnh nội tâm. Mình không đủ trí tuệ, năng lực để giải phóng khỏi những thọ; tưởng; hành đó. Niệm – định – tuệ của mình không có sự tuệ quán, quán chiếu về tứ đại, 32 thể trược, 9 giai đoạn tử thi, không có những phương pháp thiện xảo về Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc để phá vỡ, nhiếp phục và đoạn tận những dục tham ái, không có đường lối, không có phương pháp thì một người có tham dục như vậy có phải bị đau khổ không?

Vì thế sự tu của chúng ta rất vi tế, không phải tu ở ngoài mà là thọ; tưởng; hành quậy mình, dù cho có đi đến đâu nó cũng theo sát gót, dù cho có vào rừng sâu thanh vắng hoặc lên trời xuống biển mà không có đủ phương pháp để giải phá những cái thọ; tưởng; hành đó thì đi đâu cũng vậy, lắng dịu cái này thì qua cái kia, bỏ cái cũ bắt qua cái mới. Trong giới luật có nói vị Tỳ-kheo thực hiện việc đôi lứa với con khỉ cái, sau sự việc này Đức Phật đã đặt ra giới luật, thật ra nội tâm mình không hề đơn giản như mình nghĩ, tránh được duyên cảnh chỉ là một phần thôi, ngoài ra cần có những phương pháp, những chánh kiến để giải phá những thọ dục, tưởng dục và hành dục, nếu không nó sẽ theo mình bén gót. Đi đâu chăng nữa thì những hình ảnh, suy nghĩ, cảm giác đó cũng xâm chiếm, chế ngự thân tâm, đó là sự nghèo túng, đau khổ của người tu.

Sau khi không trả nợ được thì bị truy tìm, bắt trói người đó. Đối tượng dục tham đó bắt trói mình, dù cho là đối tượng nào, là nam nữ hoặc chính tự thân mình thì mình cũng bị trói cột trong cảm giác dục đó, không thoát ra được, như vậy là sự đau khổ. Mình bị đối tượng ưa thích bắt mình làm mình không đi ra được. Tham dục trong kinh Nikāya rất rộng, không chỉ là chuyện nam nữ mà ngôi chùa, tịnh thất, món đồ, những cái mà mình cho là tôi, là của tôi, tâm tham đắm, yêu thích, dính mắc trong đó thì vẫn gọi là tham dục.

Ví dụ một người không có xe máy, người đó mong muốn được chiếc xe mà không được thì người đó sống thiếu thốn, mong chờ, khao khát. Còn khi đã được chiếc xe rồi thì lại bị tiền lời là muốn chiếc xe khác tốt hơn chiếc đang có. Không có xe thì khổ, mong muốn cho có, đến khi có rồi thì lại so sánh chiếc kia tốt hơn, không hài lòng với xe đang có thì người này đang sống mong muốn, khao khát, bị lòng tham muốn tăng lên, muốn xe mới hơn, đẹp hơn thì đó là tiền lời, trong tâm có sự hối thúc.

Người này đi đến đâu thì suy nghĩ, hình bóng về chiếc xe đều hiện ra, cảm giác mong muốn có chiếc xe đi theo họ tới đó trong bất cứ chỗ nào, như vậy là bị theo sát gót. Người này bị chiếc xe bắt trói nghĩa là tư tưởng bị trói cột trong đó, những cảm giác, suy nghĩ bị trói cột, dù cho có hay không có thì vẫn bị trói cột, đó là sự đau khổ của một người có tham dục ở đời. Từ chiếc xe mở rộng ra những thứ vật chất khác sẽ thấy rất rõ một nội tâm nghèo khổ, bị mắc nợ, tiền lời, bị đốc thúc, theo sát gót và bị bắt trói.

Người có tham dục lúc nào cũng sống trong sự nghèo khổ vì dân gian có câu "lòng tham không đáy", nó đã không đáy thì làm sao đầy túi cho nên lúc nào cũng sống trong sự túng thiếu, nghèo khổ, lúc nào cũng cần kiếm thêm. Họ bị tâm tham muốn làm thành món nợ, món nợ này lời lãi không ngừng tăng thêm vì nó cứ muốn thêm chứ không muốn bớt. Sau đó là sự hối thúc, đi đến đâu thì tham dục cũng theo sau trói buộc họ. Trong Tây Du Kí, Đường Tăng tự xưng mình là bần Tăng.

Học đạo trước cần phải học nghèo

Nghèo rồi đạo thể mới được thân

Từ xưa Cổ đức xưng: “Bần đạo”

Đạo dụng lại đồng với kẻ nghèo.

(Thiền sư Long Nha)

Con xin hỏi quý thầy, người xuất gia là "xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo", bỏ nhà đi tu, sống đời sống không nhà. Nếu chúng ta tu theo tinh thần như vậy rất nhẹ nhàng, không có chuyện thầy giàu tôi nghèo, nếu nói như vậy thì người đó hoàn toàn không hiểu về pháp, còn tâm tham dục thì người này còn ở trong sự nghèo khổ. Con xin hỏi quý thầy trong tâm mình còn muốn thêm gì nữa không? Nếu còn muốn thì còn nghèo khổ, túng thiếu, còn mắc nợ, còn dính vào sự hối thúc, bị theo sát gót và bị bắt trói cho nên người tu chân chánh phải hướng tới ly tham, ly dục, cái muốn của chúng ta là Tứ Như Ý Túc:

Dục Như Ý Túc.

Tinh Tấn Như Ý Túc.

Tâm Như Ý Túc.

Tư Duy Như Ý Túc.

Dục Như Ý Túc khác với cái dục của người thế gian, tức một cái là sự mong muốn đưa đến đoạn tận tham dục, một cái là mong muốn phát triển tham dục, khác nhau hoàn toàn, Dục Như Ý Túc là mong muốn đưa đến nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham còn cái kia là mong muốn thỏa mãn, tăng trưởng, phát triển cái dục, cho nên không trạch pháp nhãn, không thành tựu chánh trí sẽ đi ngược lại với con đường đã chọn vì không có trạch pháp giác chi cái nào đưa đến dục tham, đưa đến sự khát ái, cái nào cần phải đoạn tận.

“Con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỳ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái, hãy tu tập con đường ấy, đạo lộ ấy.

Và con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỳ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi... xả giác chi.”

(Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), III. Phẩm Udàyi, VI. Đoạn Tận)

Mình lấy điều này làm cái chuẩn mực trong pháp ấn của Đức Phật, tất cả giáo pháp của Đức Phật đều đưa đến sự ly tham, cái nào đưa đến ly tham thì cái đó chính là giáo pháp của Đức Thế Tôn, như vậy mong muốn rồi khỏi tham chính là ly tham, là Dục Như Ý Túc. Nhưng mong muốn chưa đủ mà cần phải nỗ lực để thực hiện điều đó gọi là Tinh Tấn Như Ý Túc, sau khi nỗ lực thực hiện thì phải dồn hết tâm ý vào đó trọn vẹn gọi là Tâm Như Ý Túc, tiếp theo là suy nghĩ tìm mọi cách để thực hiện cho được thành quả đó gọi là Tư Duy Như Ý Túc. Tất cả thế và xuất thế gian trong bất kì lãnh vực nào muốn thành công đều phải có đầy đủ Tứ Như Ý Túc, đó là chìa khóa vàng để mở cánh cửa thành công, vì thế nếu không khéo mình sẽ đi lạc đường của Đức Phật, hướng dẫn sai cho thế hệ đi sau, nếu từ đầu không có định hướng đúng đắn thì cả một cuộc đời sau này sẽ đi sai theo đó, sống trong sự nghèo khổ, lúc nào cũng mong cái này muốn cái kia, kế hoạch này, dự định kia nhưng không dự định ly tham, không toan tính từ bỏ, giải thoát. Cách tu học của chúng ta hiện nay rất cần sự nghiền ngẫm, quán xét sâu sắc trở về nguồn cội của Đức Phật, còn không chúng ta sẽ phát triển lòng tham muốn.

“Này các Tỳ-kheo, như vậy, nghèo khổ là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; mắc nợ cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; tiền lời cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; bị hối thúc, đốc thúc cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; bị theo sát gót, bị truy tìm cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; bị bắt trói cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời.”

(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (III) Nghèo Khổ)

Chúng ta có bị mắc nợ với cái thân này không? Chúng ta có trả tiền lời với cái thân này không? Phải suy xét cho kĩ, làm sao không có được, ăn hoài vẫn muốn ăn nữa, mặc hoài, ở hoài… lòng tham phục vụ cho thân này vẫn tăng thêm gọi là tiền lời, trong tâm là sự đốc thúc, thúc giục, sau đó là bị theo sát gót, sự ám ảnh tham dục để cung phụng cho thân xác này lúc nào cũng ám ảnh trong suy nghĩ "không biết tương lai mình ra sao?", "không biết bây giờ chọn ngành nào?", "phải lấy bằng cấp không thì thua người ta".

Tất cả suy nghĩ đó đều là phi Như lý tác ý, làm gì có ai thua, ai hơn trong này cho nên phải y cứ vào pháp mới thấy được chân lý, còn y cứ ra ngoài sẽ chạy theo thế tục. Nếu thể nhập chánh tri kiến, thành tựu trí huệ vô ngã thì tuyệt luân vô thượng, vô đối, không có hơn thua, không có siêu việt, còn mình cứ thích so sánh, phân biệt cao thấp, ngang bằng, hơn thua để làm gì? Cái tối tôn, siêu việt thì lại không muốn mà lại thích những cái vụn vặt, nhỏ nhặt. Ăn thua từng tiếng nói, hành động để làm gì? Sau này nằm xuống cái hố rộng bao nhiêu mà lại so đo từng diện tích đất để làm gì? Việc cần làm lại không chịu làm, việc không cần làm thì lại nhảy vào, đó chưa phải là bậc trí huệ.

II. Thất Thánh Tài

“Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ai không có lòng tin trong các thiện pháp, không có lòng hổ thẹn trong các thiện pháp, không có lòng sợ hãi trong các thiện pháp, không có tinh tấn trong các thiện pháp, không có trí tuệ trong các thiện pháp; người này, này các Tỳ-kheo, được gọi là người nghèo khổ, không có sở hữu, sống túng thiếu trong Luật của bậc Thánh.”

(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (III) Nghèo Khổ)

Đây là thất thánh tài.

“Này các Tỳ-kheo, có bảy tài sản này. Thế nào là bảy?

Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài. Này các Tỳ-kheo, đây là bảy tài sản.

Tín tài và giới tài,

Tàm tài và quý tài,

Văn tài và quý tài,

Và tuệ là tài thứ bảy;

Ai có những tài này,

Nữ nhân hay nam nhân,

Được gọi không nghèo khổ,

Mạng sống không trống rỗng,

Do vậy tín và giới,

Tịnh tín và thấy pháp,

Bậc trí chuyên chú tâm,

Ức niệm lời Phật dạy.”

(Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, I. Phẩm Tài Sản, (V) (5) Các Tài Sản Tóm Tắt)

Không có lòng tin trong các thiện pháp tức là không có lòng tin với Khổ Thánh Đế, miệng thì nói vậy chứ trong tâm chưa tịnh tính bất động thì đó cũng là nghèo khổ. Không có lòng hổ thẹn, không có lòng sợ hãi tức là không có tàm quý, khi sai quấy, khi có tội lỗi không thấy xấu hổ thì đó là những người nghèo khổ, bị mắc nợ, tiền lời, sự hối thúc, bị theo sát gót và bị trói buộc. Không có tinh tấn trong các thiện pháp tức là nghèo nàn, không có tín – tàm – quý, không có tấn – tuệ, nói đầy đủ có văn – thí nữa là thất thánh tài (thánh sản), bảy gia tài của bậc thánh. Lòng tin đối với Đức Phật phải tuyệt đối, lòng tin đối với pháp phải tuyệt đối, lòng tin đối với chúng Tăng (bốn đôi tám chúng) phải tuyệt đối, lòng tin đối với thánh giới phải tuyệt đối, đây là bốn Dự lưu phần để Nhập lưu. Nếu không có lòng tin thì đó là người nghèo khổ trong giáo pháp, phải có sự tinh tấn, nỗ lực, còn không có tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm, dũng mãnh giới thì mình là người nghèo nàn, đói rách, thấp hèn trong Phật pháp, phải tác ý như vậy để nỗ lực tu tập. Nếu như mình không thấy xấu hổ và sợ hãi trong những tội lỗi ác bất thiện pháp, không sợ nghiệp quả thì mình sẽ ực kì nghèo khổ.

“Này các Tỳ-kheo, có tấm vải bằng vỏ cây hoàn toàn mới, sắc xấu, cảm xúc khó chịu, và không có giá trị. Này các Tỳ-kheo, có tấm vải bằng vỏ cây bậc trung, sắc xấu, cảm xúc khó chịu, và không có giá trị. Này các Tỳ-kheo, có tấm vải bằng vỏ cây cũ kỹ, để lau chùi nồi niêu, hay đáng được quăng trên đống rác.

 Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo mới tu hành, ác giới, theo ác pháp, Ta nói rằng vị Tỳ-kheo ấy có sắc xấu. Này các Tỳ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây sắc xấu ấy, này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.

Còn những ai theo vị ấy, thân cận, hầu hạ, chấp nhận, thuận theo trí kiến của vị ấy, họ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài; đấy, Ta nói rằng vị ấy có cảm xúc khó chịu. Này các Tỳ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây có cảm xúc khó chịu ấy, này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.

Còn những ai, vị này nhận các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, các dược phẩm trị bệnh, sẽ không có quả lớn, không có lợi ích lớn; đây, Ta nói rằng, không có giá trị. Này các Tỳ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây không có giá trị ấy, này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.”

(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, X. Phẩm Hạt Muối, 97.- Vải Thô Bằng Vỏ Cây)

Ác giới là không giữ giới, hoặc là ác hạnh trong các phạm hạnh. Ở đoạn trên thì Đức Phật nói người nào thân cận với người ác giới sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài vì người đó không có giới đức, ở dưới thì Đức Phật nói người nào cung cấp Tứ sự cho người không giữ giới thì người đó không có quả báo lớn, lợi ích lớn.

“Như vậy, này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo trưởng lão này nói lên ở giữa chúng Tăng, các Tỳ-kheo nói như sau: "Sao Thầy nghĩ rằng Thầy có thể tuyên bố, một người ngu si, không thông minh? "Vị ấy phẫn nộ, bất mãn, sẽ nói lên những lời này, chúng Tăng đuổi vị ấy ra khỏi, như người ta quăng bỏ tấm vải bằng vỏ cây ấy trên đống rác.”

(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, X. Phẩm Hạt Muối, 97.- Vải Thô Bằng Vỏ Cây)

Những điều này có liên hệ đến giới luật, thành ra chúng ta đừng nghĩ trong tạng kinh Nikāya là tạng kinh và tạng luật riêng biệt. Trong tạng kinh có rất nhiều phần ghi về giới luật và từ tạng luật được trích dẫn qua.

Có một vị thiên tử, tức là thái tử của cõi trời đi tới Đức Thế Tôn đọc bài kệ này để cảnh sách, nhắc nhở người tu.

“Rồi Thiên tử Tàyana, trước kia thuộc ngoại đạo sư, sau khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Tàyana nói lên bài kệ này trước Thế Tôn:

Ôi này Bà-la-môn,

Tinh tấn, cắt dòng nước,

Ðoạn trừ và tiêu diệt,

Mọi tham đắm dục vọng.

Ẩn sĩ không đoạn dục,

Không chứng được nhứt tâm.

Nếu làm việc phải làm,

Cần kiên trì, tinh tấn.

Xuất gia, nếu biếng nhác,

Càng tung vãi bụi trần.

Không làm, hơn làm dở,

Làm dở sau khổ đau.

Ðã làm nên làm tốt,

Làm tốt không khổ đau.

Như nắm vụng lá cỏ,

Có thể bị đứt tay.

Sa-môn hạnh vụng tu,

Kéo đến cõi địa ngục.

Mọi sở hành biếng nhác,

Mọi hạnh tu ô nhiễm,

Ác hạnh trong Phạm hạnh,

Không đưa đến quả lớn.”

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, I. Phẩm Thứ Nhất, VIII. Tàyana)

Vị thái tử cõi trời muốn nhắc nhở chư Tỳ-kheo thời Đức Phật còn tại thế rằng người tu phải nỗ lực, tinh tấn để đoạn trừ và diêu diệt mọi dục vọng. Tu hành là một việc làm cực kì khó khăn cho nên phải kiên trì, tinh tấn. Xuất gia nếu biếng nhác thì càng tung vải bụi đời.

“Cần phải làm, nên làm

Làm cùng tận khả năng

Xuất gia sống phóng đãng,

Chỉ tăng loạn bụi đời.”

(Kinh Pháp Cú 22 – Phẩm Địa Ngục, kệ 313)

Vị thiên tử nói "không làm, hơn làm dở" nghĩa là thà đừng đi tu còn hơn đi tu mà không giữ gìn giới luật, không sống đời sống chân chánh của người xuất gia. Thà ở nhà làm tu sĩ, nếu đi tu mà không làm tròn trách nhiệm của một người xuất gia thì "làm dở sau khổ đau", đọa địa ngục, ngạ quả, súc sanh. Nghe những câu kinh này bản thân phải thấy thao thức, trăn trở nhưng càng ưu tư, ray rứt chừng nào thì đó chính là tài sản của bậc thánh, còn nghe mà trơ ra thì đó là túng thiếu, nghèo nàn trong pháp và luật.

Nghe mà thấy nhức nhối, xấu hổ, sợ hãi, lo lắng để nỗ lực đi ra khỏi những cấu nhiễm, cấu uế thì cái nghe đó sẽ giúp mình lớn mạnh trong giới luật của bậc thánh. Xin thưa đại chúng, không có ngày nào con không thấy lo lắng và sợ hãi trong tàm quý, khi chưa tẩy sạch hết tham sân si, hết dục tham ái thì ngày đó còn thao thức, trăn trở. Cho đến khi nào thật sự ly dục, ly ác bất thiện pháp, thành tựu giới – định – tuệ thì lúc đó mới hết tàm quý. Hiện tại còn cấu nhiễm, còn lậu hoặc, còn dục tham ái thì còn thao thức, băn khoăn, xấu hổ, lo lắng, ray rứt, thậm chí nửa đêm thức dậy phải tác ý nhắc nhở mình như kinh Tăng Thượng đã nói.

Này các Tỳ-kheo, có ba tăng thượng này. Thế nào là ba? Ngã tăng thượng, thế giới tăng thượng, pháp tăng thượng. (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 40.- Tăng Thượng)

Phải có sự trăn trở, ray rứt, thao thức và sợ hãi đối với giới – định – tuệ, cho nên không làm còn hơn làm dở, làm dở rồi sau khổ đau, đã đi tu thì phải tu cho tròn trách nhiệm của người xuất gia, "đã làm nên làm tốt, làm tốt không khổ đau". Khi nắm ngược chiều cỏ lau, cỏ sậy làm đứt tay và chảy máu, "Sa-môn hạnh vụng tu,
kéo đến cõi địa ngục", phải nhắc nhở bản thân mọi ngày, mỗi khi thiền tập, còn đi đến chỗ vô tàm vô quý thì chắc chắn trong tương lai sẽ đau khổ lâu dài. "Mọi sở hành biếng nhác, mọi hạnh tu ô nhiễm, ác hạnh trong Phạm hạnh" sẽ kéo mình đi vào địa ngục.

./.

Bottom of Form