Kinh Nikāya Thiền Quán - Sắc Thọ Tưởng Hành Thức Là Than Đỏ
Kinh Nikāya Thiền Quán
Sắc - Thọ - Tưởng – Hành - Thức Là Than Đỏ
Thích Minh Thành
Ngày 23 tháng 08 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sắc là than đỏ PAGEREF _Toc114156738 \h 1
II. Tâm này là than đỏ PAGEREF _Toc114156739 \h 2
III. Tất cả đều đau khổ PAGEREF _Toc114156740 \h 7
IV. Vô thường PAGEREF _Toc114156741 \h 9
I. Sắc là than đỏ
Hôm nay có nhân duyên Quý sư cô và quý Phật tử ở Hà Nội về Linh Quy Pháp Ấn, xin mời Đoàn quý sư cô và quý Phật tử chia sẻ tâm nguyện và mục đích khi đến đây. Vậy thì quý thầy, quý cô sẽ giúp đỡ chúng ta để học những pháp căn bản. Đoàn chúng ta còn rất là mới phải đi từ cái căn bản. Hôm nay chúng ta nghe Tương Ưng Uẩn, phẩm Than Đỏ, tập 3. Đầu tiên là bài kinh “Than Đỏ Hực”
“Nhân duyên ở Sāvatthi …
—Sắc là than đỏ, này các Tỷ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!
Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức.
Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
(Tương Ưng Bộ kinh tập III-bài kinh Than Đỏ Hực)
Con thưa thiệt với các thầy, các cô, chỉ cần nghe câu kinh này thôi, cũng phước đức vô lượng, vô biên. Không thể có một người thứ hai trong tam thiên, đại thiên, thế giới này nói lên những câu như vậy. Câu này chúng ta chiêm nghiệm đến suốt cuộc đời mình, có khi mình cũng không có hiểu được, tại vì khi mình hiểu hết, thì tối thiểu là dự lưu, tối cao là A-la-hán. “Sắc là than đỏ”, những hình sắc đối trước con mắt mình đó, là than đỏ.
Chúng ta có thấy cái hình cổng trời trên Linh Quy Pháp Ấn sau lưng con không ạ? Nhìn thấy dễ chịu không ạ? Nó là ảo đó. Giả sử cho quý vị lên đến cổng trời đó, mở đèn để được cái cảnh cũng y như vậy, thì đó cũng là ảo. Cái ảo đó là than đỏ, là lửa than đối với những người cho rằng cái đó là thiệt, là bền, là chắc, là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Bây giờ nếu không cho cái đó là của con, thì có ai đi ngang phá phách cái gì trong đó, thì con có khổ, sầu, bi, ưu não không ạ? Chúng ta thấy không? Đó là than đỏ.
Bởi lời của Đức Phật, bậc Chánh Đẳng, Chánh giác nói ra, không phải dễ dàng chúng ta hiểu như chúng ta đọc báo được, phải dùng tất cả tâm tư, tất cả sự hiểu biết, tất cả sự chiêm nghiệm sâu sắc. Đức Phật nói có bốn chữ thôi “sắc là than đỏ”, nhưng những chữ này là sự chứng ngộ, là định lý, là Thánh trí. Vì bốn chữ này mà đổ máu vô lượng, vô biên kiếp Ngài mới tìm được sự thật này. Bởi chúng ta không hiểu được bốn chữ này, nên chúng ta mới đầy rẫy những tham, sân, si, dục vọng, sự tranh giành thiêu đốt, đốt cháy. Chúng ta hãy tập nhìn tất cả những đối tượng của con mắt là than đỏ “coi chừng nó đốt, coi chừng bị phỏng, coi chừng nó cháy”.
Hàng ngày, chúng ta thấy cái lò than đỏ này đốt bao nhiêu chúng sanh? Hồi nãy chúng ta nghe địa cầu rực lửa này, nó thiêu rụi bao nhiêu hữu tình? Mở mắt ra là nghe cướp giật, tranh giành, tham, sân, si, đó chính là sắc, là than đỏ. Mà chúng ta không nghe, không chiêm nghiệm, không quán chiếu, cho nên không khéo, mình lấy than đỏ làm sự nghiệp của đời tu, mình dành cả cuộc đời của mình để đi tìm than đỏ, mà mình tưởng là tu thành tựu.
II. Tâm này là than đỏ
Chúng ta khổ về tâm thân này bao nhiêu lần nữa? Nãy giờ là nói than đỏ ở phía ngoài, bây giờ là nói đến than đỏ phía con người của mình. Trong chúng hôm rày là bị cảm sốt nhiều đúng không? Có thấy lửa nó đốt không? Sốt đó là than đỏ, hoả đại đó. “Tâm Yến có thấy đúng không mà hoan hỉ quá vậy?”. Chúng ta có thấy trong cơ thể mình bị sốt, đó là hoả đại nó đốt không ạ? Là lời Đức Phật nói lửa ở ngoài, lửa ở trong “nội hoả giới, ngoại hỏa giới”, chúng ta thấy sự thật này nó tràn ngập khắp nơi, khắp chốn, mọi thời gian. Khi chúng ta bệnh, chúng ta nói: “Nè, cái này là than đỏ, lửa than đang đốt chúng ta, hoả đại đang thiêu, lửa bên trong, lửa bên ngoài”. Chúng ta kết hợp bài “Than đỏ” này với bài kinh “Bốc cháy”, chúng ta còn nhớ bài kinh “Bốc cháy” không ạ? “Con mắt này đang bốc cháy, lỗ tai này đang bốc cháy, lỗ mũi này đang bốc cháy, cái miệng, cái lưỡi, cái thân này đang bốc cháy. Bên trong những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức đang bốc cháy” Thọ, tưởng, hành, thức đó đang bốc cháy.
Đúng ra trong khi bệnh là mình tu tiến bộ lắm. Con thưa thiệt với các bậc hiền trí, Tăng Ni và quý Phật tử, mỗi lần con bệnh là con tiến tu lên một bậc. Cho nên, hễ mỗi lần Tôn giả bệnh, là Tôn giả thành tựu Thánh trí tuệ. Đó là đối với những người có sức mạnh, còn đối với những người yếu là buông luôn, chìm xuồng luôn. Đối với người mạnh, thì bệnh chính là cơ hội để mình thấy than đỏ bốc cháy, thấy được sự bại hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, để cho mình thấy được “cái đồ dởm, cái đồ giả, cái hàng dễ vỡ, cái thứ hư, cái thứ bệnh chết”.
“Này các Tỳ-kheo, bất an là các hành. Này các Tỳ-kheo, không kiên cố như vậy, là các hành vô thường” chính là sự vận hành của các thọ, tưởng, hành, thức. “Đến đây là vừa đủ cho các ông nhàm chán, vừa đủ để cho các Ông từ bỏ, vừa đủ cho các Ông thoát ra khỏi các hành, sự vận hành của năm uẩn này.” Chúng ta phải tập cái nhìn này thành cái nhìn thấu thị, thâm sâu vào trong bản chất của những thứ sắc, pháp, vô thường. Tấm thân này, cục than đỏ này bốc cháy ngày đêm, chúng ta thấy mỗi khi đốt lửa không? (Hổm rày lâu quá chưa có đốt lửa, bữa nào xin thầy Pháp Nghĩa cho đại chúng ra ngoài đốt lửa). Chúng ta thấy lúc đầu là một khúc củi, đốt một hồi ra than đỏ, sau than đỏ sẽ thành tro tàn. Cái thân này là cục than đỏ đang bốc cháy, bốc cháy rồi từ củi trở thành tro. Bây giờ cái thân này đang là khúc củi, khi cái già, cái bệnh đến là bắt đầu nhen nhóm ngọn lửa lên, rồi bại hoại, tử vong tức là trở thành một nắm tro tàn.
Chúng ta phải tập tất cả các hình sắc, sắc tưởng, sắc uẩn, sắc pháp đều là những thứ than đỏ, lửa than đang bốc cháy, đi đến chỗ biến hoại, hoại diệt, tan nát. Phải thường xuyên như lý tác ý như vậy “này các Tỳ-kheo, các Ông hãy tác ý con mắt của mình, cái thân này là ung nhọt, bệnh hoạn, bất an”. Hãy thường xuyên tác ý, thường xuyên nhắc nhở tâm mình, mình quên tác ý là mình trở về trong vô minh, an trú trong ngu si, trở về sống trong cái nghiệp như một thói quen, buông lung, phóng dật, thả lỏng các căn. Quên tác ý, nhắc nhở, là mình tham, sân, si, vô minh, bản ngã, hơn thua, ghanh tỵ, đố kỵ. Nó sống trong sự dại khờ, thiển cận, ấu trĩ của trẻ con. Nó sống trong bóng đêm, mù lòa, sự thiêu đốt, nhiệt não, nóng bức. Cho nên, mình phải thường xuyên tác ý, toàn bộ đại tạng kinh Nikāya này, Đức Thế Tôn dạy mình cách tác ý.
“Này các Tỳ-kheo, sắc này là than đỏ”, từ một chữ “sắc” đó mình phải diễn nó ra, để cho ngấm vô “cái quả thận này là than đỏ nè, cái bao tử này là than đỏ nè” nó chỉ khó chịu một chút xíu thôi, là mình khổ sở, khốn đốn với nó,“trái tim này, cái túi mật, cái hệ tiêu hóa này là than đỏ nè”, phải đại phẩu, banh cái lồng ngực ra. Nó đang bốc cháy trong sự sanh diệt, biến hoại, bệnh hoạn, già nua, diệt tận, tử vong. Càng ngày mình càng xụn xuống, cụp xuống, như xương sống mình cụp xuống vậy. Càng ngày mình đi gần đến lò thiêu, nghĩa địa, nghĩa trang, chỗ hỏa táng. Vậy mà đau thương một chút là chúng ta cứ lãng quên, không có nhớ là than đỏ. Khi mình đưa vô lò thiêu thì cái gì nó đốt ạ? Có phải than đỏ nó đốt không? Nó đốt để đi đến tro tàn. Ông bà, cha, mẹ, cô bác, người hàng xóm bên cạnh cũng từng bị đốt như vậy, chúng ta quên rồi sao? Con, cháu mình bị tai nạn giao thông đã từng bị than đỏ này đốt thành tro tàn như vậy, chúng ta quên rồi sao? Rồi cũng đến lượt mình.
“Hoa nở đầy cây thông,
Hoa rụng muôn cành thông,
Chỉ còn lưu một đóa,
Ngày mai theo gió đông.”
Đó là mình đó, mình tưởng đâu ông, bà cha, mẹ, cô, dì, chú, bác mình chết còn mình thì không có chết, chuyện đó chuyện của người ta, chứ mình đâu có biết rằng “Chỉ còn lưu một đóa, ngày mai theo gió đông.”, tất cả đều bị than đỏ này đốt cháy hết. Cảnh sắc bên ngoài, tấm thân chúng ta, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là lửa than, là than đỏ. Sự thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, sáu sự nhận thức này là than đỏ. Bởi vì nhận thức trong vô minh, tham, dục, ái, nghiệp, bản ngã, nó được huân tập từ vô lượng, vô biên kiếp.
Chúng ta thấy không? Mới nhìn một cái thôi là cảm giác sừng sộ, phẩn nộ lên, thì sự thấy, nghe là than đỏ. Mới một cuộc điện thoại là sân si lên. Như vậy cái tiếng đó, cái lỗ tai, sự rõ biết, sự tiếp xúc cái tiếng là than đỏ. Sanh khởi lên những cảm giác sân hận, tức giận đó là than đỏ. Tất cả những cái này cần một sự dập tắt, mà dập tắt đó chính là đạo đế, là pháp hành, là dùng tất cả những công phu mà chúng ta tu tập để dập tắt được ngọn lửa đó. Cho nên Niết-bàn chính là dập tắt cái than đỏ này một cách hoàn toàn, không còn sót một chút lửa nào nằm dưới nắm tro tàn đó mà nhen nhóm. Khi không còn than đỏ nào, ta mới đi đến chỗ hoàn toàn thanh lương, tịch tịnh, mát mẻ.
Chúng ta thấy ở trong ba cái cảm thọ của mình là lửa than không? Thấy một chút, nghe một chút, tiếp xúc một chút thôi là hơn thua, ganh đua, đúng sai, cao thấp, giai cấp. Cho nên đi tu vô đạo tràng có chuyện hoài, hết phiền não tới huynh đệ, rồi phiền não với thầy, xong phiền não với Phật tử, tại vì đi đâu cũng đem theo lửa than để đốt hết. Chúng ta thấy khổ không? Khổ chưa? Suy nghĩ, cảm giác, những cái tưởng, những cái dục, yêu thích, say đắm, thèm khát, khao khát, ái khát nó thiêu đốt, thúc giục, đốt cháy, nóng bỏng, nhiệt não trong này. Cho nên ở đâu có yên, ngồi không có ngồi yên
“Đi, đứng, nằm, ngồi chẳng được yên,
Nhớ, ghiền, thèm, muốn làm điên đảo lòng”
Ngọn lửa của dục, sự thúc giục, ham muốn, tưởng tượng, hi vọng, trông chờ, nhớ nhung, thèm thuồng, thèm muốn, thèm khát, đó là lửa than. Ở trong các cảm thọ đâu phải một ngọn đâu, còn ngọn lửa dục, tham, ái, sân hận, ghanh tỵ, hơn thua, ghen ghét, tật đố, bấy nhiêu ngọn lửa, bấy nhiêu cục than, thì nó thiêu đốt thân tâm tiều tụy. Mình ngồi trên đống vàng vẫn khao khát, đói khát, bởi vì những cảm giác thèm muốn, thèm khát, khát ái bên trong chưa có dừng, nên làm sao nó thỏa mãn được những cảm giác, cảm thọ, cảm xúc này. Trong tâm là một sự dục tầm, sân tầm, hại tầm, đến một sự ham muốn, sân hận, thù ghét, làm hại người khác, tâm đó là cái tâm của than lò bốc cháy.
Tại sao chúng ta học cảm giác an tịnh, lắng dịu rất quan trọng. Vì an tịnh, lắng dịu là chúng ta đem nước để tưới cho lửa than đó, mỗi khi chúng ta ngồi thiền là an tịnh, lắng dịu. Mỗi khi chúng ta nghe pháp là chúng ta đang thực tập an tịnh, lắng dịu, nhìn sâu, nhìn kỹ. Mỗi khi chúng ta thiền quán là chúng ta đang thực tập an tịnh, lắng dịu, nhẫn chịu, thấu thị, xuyên thấu, xuyên thủng. Vậy chứ mình tìm cái tu ở đâu nữa, mình tìm cái trí tuệ ở đâu nữa? Làm sao để trong cái suy nghĩ, nhận thức, cảm giác, của mình xóa sạch tư tưởng, nhận thức cho rằng “cái sắc này là vui sướng, bền chặt, là ta và của ta” phải xóa sạch cái tư duy, suy nghĩ, nhận thức đó, xóa đến chừng nào không còn một tí gì nữa hết.
Đức Thế Tôn một hôm Ngài đang ngồi, Ngài lấy ngón tay khơi một chút phân bò đưa lên, Ngài hỏi: “Này các Tỳ-kheo, phân bò trong móng tay này có hôi, có dơ, có bẩn không?” Các vị Tỳ-kheo trả lời: “Dạ dù cho một chút cũng hôi, dơ”. Đức Thế Tôn nói: “Cũng vậy, các ông thấy có một chút xíu hành nào, chút xíu sanh nào, chút xíu dục nào, mà không phải là bất tịnh, hôi dơ với một chút máu, một chút phân người hay một chút nước tiểu. Này các Tỳ-kheo, đều là tanh tưởi, hôi thối, bất tịnh, bẩn thỉu. Cũng vậy các sắc đều là bất tịnh, vô thường, bẩn thỉu, dơ bẩn, cấu uế.” Bây giờ mình còn chấp nhận cái suy nghĩ cho rằng “cái này là tôi, là của tôi” thì mãi mãi còn vô minh, chấp mê, chấp thủ, không đi đến thành tựu được thấy biết tròn đầy về sự thật, đó là tri kiến của bậc Thánh. Mình phải loại bỏ dần dần những suy nghĩ, cảm xúc, tư tưởng, nhận thức cho rằng “tôi, là của tôi, là thường còn, vui sướng, sắc đẹp”. Phải loại bỏ cho đến khi nào không còn cái suy nghĩ đó nữa, thì mình mới thật sự thể nhập vào dòng trí huệ của Đức Phật. Cho đến khi nào mà nhìn cả địa cầu chỉ là cục than lửa to lớn, tất cả chúng sanh trong tam giới đều bị thiêu đốt ở trong quả cầu lửa, không có một chút nào mát mẻ, thanh lương trong cuộc đời này hết.
Cho dù mình đang ở Bảo Lộc, Đà Lạt là chỗ khí hậu mát nhất mà người ta ước mơ, nhưng mình cũng không có đắm chước, tham đắm vô cái không khí, không gian đó, mà mình cũng nhận thấy “ở trong cái không gian này là có lửa than nè, có than đỏ trong này, có sợ bốc cháy trong này”. Nếu chúng ta còn chất chứa những cảm thọ tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục, ái, mình phải nhìn thấy toàn thể địa cầu này là một quả cầu lửa vĩ đại, tất cả chúng sanh là những con thiêu thân, dù cho ở dạng thức nào, giàu có, đại gia, tỷ phú hay nghèo hèn, đi ăn xin, bán vé số, ở đợ cũng vậy, tất cả đều bị thiêu đốt đốt cháy. Chúng ta phải nhìn được thấu suốt cái bản chất, thực tướng của các pháp này.
“Nghèo thèm muốn, giàu hả hê,
Giàu nghèo gì cũng ê chề tham sân.
Nghèo thì khóc, giàu thì cười
Khóc cười gì cũng đều là mê.”
III. Tất cả đều đau khổ
Không phải nghèo, người bệnh, người hết tiền đi ăn xin mới khổ, còn người giàu, người khỏe, người ở địa vị cao sang thì không khổ, không phải vậy “khóc cười đều mê”. Tất cả giàu nghèo đều bị ngọn lửa của tham, sân, si, bất toại nguyện, sự thèm khát, khao khát, tham muốn, khát ái thiêu đốt hết. Chỉ có người đi ra khỏi quả cầu lửa vĩ đại đó, thì người đó mới là người hạnh phúc. Các bậc Thánh mà thành tựu đến Thánh quả thứ ba là bất lai, là chào luôn “không có trở lại nữa, khỏe rồi”. Các bậc Thánh người ta từ bỏ, cái này là đống lửa mà ai thèm ở đây, chỉ có mấy con thiêu thân nó không biết nhào vô là chết, nên nó mới nhào vô. Cho nên mình tu là để mình đi ra, chứ không phải mình tu để mình đi vô, mình tu để mình nhàm chán, ly tham, từ bỏ, giải thoát, rồi mình thoát ly. Chứ không phải mình tu để mình tạo cho nó bự, cho nó nguy nga, tráng lệ, mình lấy cái đó làm thành công ở trên cái sắc pháp, trên cái lửa than, cái than đỏ, những thứ vô thường, bại hoại này.
Hôm bữa con ngồi trên xe đi chung với các sư ở trong chúng, không biết nhân duyên lúc đó nói chuyện gì mà con nói với mấy thầy “cái cục phân, cục phân chó hay là cục phân người, kiến, ruồi nó còn bu, huống chi cục vàng”. Chúng ta thấy không? Đống phân người, đống phân bò, phân chó, phân trâu, phân mèo nó hôi, nó dơ, thúi, bẩn thỉu như vậy mà ruồi, nhạn bu, giòi tửa ra lúc nhúc, huống chi nữa đống vàng, cục vàng, chém giết, đổ máu với nhau. Thế gian này là như vậy, sự thật phũ phàng như vậy đó. Tất cả nó đang bị thiêu đốt, mà nó thiêu đốt bởi lòng dục, lòng tham, nó đang giành giật. Chúng ta thấy Đức Thế Tôn nói chiến tranh, đó có phải là than đỏ không? Có phải giành đất, giành biển, giành tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, dầu mỏ với nhau không? Chúng ta chiêm nghiệm toàn cầu với bốn chữ của Đức Phật “sắc là than đỏ”. Chúng ta nhìn thấy trí tuệ của bậc Chánh đẳng giác khủng khiếp, mà chúng ta không thể tưởng tượng nổi không? Chúng ta đâu phải đọc kinh mà hời hợt như vậy được.
Mình nhìn có bao nhiêu than ở trong người của mình, mỗi ngày bốc cháy bao nhiêu lần? Trong những cảm giác của dục, tham, ái, khi ăn, uống, nói, làm, ngủ, ngồi thiền, sinh hoạt, bệnh khổ, mình coi nó đốt ở trong người mình. Phải nhìn nó để mà nhàm chán, ly tham, từ bỏ, thoát ra cái đống lửa này, thoát ra cái hố than hừng, những cục than cháy đỏ, những thứ ác độc, tai họa, khổ đau, bất an, thiêu đốt này. Có cái gì ở trong nắm tro tàn, trong lò thiêu, trong cái hòm, trong cái nguyệt, trong lò hỏa táng, trong nắm tro sau khi được đốt ở trong lò hỏa táng đẩy ra này? Trống rỗng, trống không, vô ngã. “Này các Tỳ-kheo, tưởng, hành, thức là than đỏ. Thấy vậy, này các Tỳ-kheo, bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc” Thấy giống như nãy giờ nói như vậy, suy tư, nhận thức, thấu thị, minh tường, minh kiến như vậy đó. Bậc Đa văn Thánh đệ tử, đệ tử của bậc Thánh nghe nhiều Chánh pháp Nikāya, nhàm chán đối với sắc nhàm chán đối với con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, cái miệng, cái lưỡi, thân hành (bệnh tật, bệnh hoạn), thọ, tưởng, hành bên trong. Nhàm chán đối với cái thức này, bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, những cảm giác, những hình bóng trong tâm, mọi sự suy nghĩ. Nhàm chán đối với thức, với sự rõ biết, không có tin tưởng vào cái thấy, nghe, ngửi, xúc, tiếp này.
Liên cứ vào Thánh trí tuệ, không có dựa vào phàm tình, không có tin tưởng vào thức uẩn, mà lưu ý chỉ Thánh tuệ, dựa vào Thánh nhớ, dựa vào Thánh định, dựa vào Thánh trí tuệ, không có dựa vào phàm tình, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, nhận thức, do duyên sanh, vô thường, giới hạn, nhỏ hẹp, ngu si, mê muội này. Không có y cứ vào thức này, nhàm chán đối với thức, do nhàm chán cho nên vị ấy ly tham, rời tham. Do rời tham cho nên được thoát ra địa cầu rực lửa, cái thân rực cháy, cái tâm than đỏ, cái cảnh hỏa hoạn, cái địa cầu bốc lửa đầy rẫy những lửa tham, lửa sân, lửa si, để dễ nhận ngọn lửa vô minh, bản ngã rình rập, tranh đấu, đâm chém, giết hại, mưu mô, mưu sĩ, ác độc, thoát ra khỏi những ngọn lửa đó. “Trong sự giải thoát, trí khởi ra “ta đã được giải thoát””, thoát ra, ta không còn ham thích than đỏ nữa, tao không còn yêu thích lửa than nữa, ta không còn ở trong hố than hừng, ta đã được thoát ra, ta đã được chạy xa nó, ta đã vĩnh biệt luân hồi. Vị ấy khởi lên biết rằng “ta đã thoát ra”, vị ấy biết rõ sự sanh đến đây đã cùng tận. Đức hạnh cao thượng, thanh tịnh đã viên thành, những chuyện cần làm đã làm xong, không còn trả lui lại đời này nữa.
IV. Vô thường
Tiếp theo là bài Kinh “Vô Thường”
Thân xác, tài sản này, những thứ mà mình cho rằng thuộc về mình, là sở hữu của mình, chấm dứt lòng tham muốn đối với chúng. Cảnh sắc mà mình gọi là quê hương, mình phải chấm dứt lòng ham muốn, lòng yêu thích đối với chúng. Lòng dính mắc, trói buộc, mình chỉ đi tìm cầu sự thật của chân lý thôi. Chỗ nào là chỗ thật sự thường trú của mình? Cái chỗ lâu nhất là nghĩa địa, có khi vài bữa người ta cũng móc cốt lên. Chỗ nào thực sự là nơi thường trú của chúng ta?
“Nhân duyên ở Sāvatthi.
—Cái gì vô thường, này các Tỷ-kheo, ở đây các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Này các Tỷ-kheo, cái gì là vô thường?
Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường.
… Thọ … Tưởng … Các hành …
Thức là vô thường, ở đây, các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.
Cái gì vô thường, này các Tỷ-kheo, ở đây các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập III-bài kinh Vô Thường)
Vừa rồi con mới đem một đoàn lên trên Thủ Đức, cô bé gái này mới có 15 tuổi mà làm đám giỗ cho 5 người trong vòng một tháng, cha chết, mẹ chết, ông ngoại, bà ngoại, bà cô chết. Làm 5 cái đám giỗ chưa đầy một tháng, 5 người chết trong tai nạn trên Thủ Đức. Đời sống này thật sự ngắn ngủi, nhỏ hẹp, nhiều ưu não, lo lắng, bất an, mình phải thức tỉnh, làm điều lành, tu hành phạm hạnh. Cái bọt nước đang nổi lên, những đống bọt mụt nát, tan vỡ này.
Nãy giờ là nói là một loạt bài kinh gom lại. Kinh “Vô Thường 1,2,3”, kinh “Khổ 1,2,3”, “Vô ngã 1,2,3”. Tiếp theo là bài kinh nói về sự nhàm chán.
“Nhân duyên ở Sāvatthī…
—Ðối với vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, này các Tỷ-kheo, đây là thuận pháp (anudhammaṁ): Hãy sống nhàm chán nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, hãy sống nhàm chán nhiều đối với thức.
Ai sống nhàm chán nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, ai sống nhàm chán nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc… thọ… tưởng… các hành, biến tri thức.
Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập III-bài kinh Thiện Nam Tử Khổ)
Đối với một người con trai hay là người con gái tốt lành, lòng tin tưởng Tam bảo, từ bỏ mẹ cha đi tu, đây là thuận pháp, là sự thuận dòng, xuôi dòng, phù hợp. Hãy sống nhàm chán nhiều đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Cho nên những cái này là định lý giải thoát, không phải đọc như vậy mà hiểu được, chúng ta phải tác ý như vậy liên tục, suốt 8 tháng, 10 năm những bài kinh này thôi. Từ trong đó mà mình chiêm nghiệm, thiền quán, khai triển ra các phương diện, khía cạnh, góc độ. “Ai sống nhàm chán nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, ai sống nhàm chán nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc… thọ… tưởng… các hành, biến tri thức.” Thế nào là biến tri? Là biết cùng khắp tất cả các góc độ, phương diện, khía cạnh. Sẽ có những cái nhìn viên mãn, trọn vẹn sự đau khổ, bất an, vô thường, người nào nhàm chán đó, người đó mới biến tri trong đó. Mình yêu thích nó thì mình không có biết được nó đâu, nó sẽ gạt gẫm, lừa đảo mình.
Hôm đó chú mới đi về dưới nhà 8 tháng, quay lên khóc bù lu bù loa. Chú nói: “Con bị lừa gạt”, đúng như vậy. Câu nói đó là đúng với Thánh trí của Đức Phật. Tất cả chúng ta là nạn nhân của sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nó lừa chúng ta một cú lừa rất ngoạn mục, nó lừa rất đau đớn, cay đắng nhưng cách lừa rất là ngọt ngào, đủ thứ phương diện. Phải biết được vị ngọt, sự nguy hại, tác hại, hiểm họa của nó, và phải biết cách thoát ra khỏi nó. Chúng ta phải có được trí tuệ thoát ra khỏi ngũ uẩn. “Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ.”
Đây là đoạn cuối của Tương Ưng Uẩn.
“Nhân duyên ở Sāvatthī…
—Ðối với vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, này các Tỷ-kheo, đây là thuận pháp (anudhammaṁ): Hãy sống quán vô thường nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, hãy quán vô thường nhiều đối với thức.
Ai quán vô thường nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, ai quán vô thường nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc… thọ… tưởng… các hành, biến tri thức.
Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập III-bài kinh Thấy Vô Thường)
Hãy sống quán khổ ở trong thân xác, tâm thức, cảm giác, suy tư, nghĩ ngợi này. Phải sống quán khổ, phải quán cái khổ cho đến lúc nào ta nhìn cả thế giới này đây chỉ là một đống khổ to lớn. Lúc đó chúng ta mới đủ sức mạnh để nhàm chán, từ bỏ, thoát ra, để mình đạp đổ tất cả bước qua, lìa xa. Phải sống quán khổ, điều đó là lời của Đức Thế Tôn.
“Nhân duyên ở Sāvatthī…
—Ðối với vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, này các Tỷ-kheo, đây là thuận pháp (anudhammaṁ): Hãy sống quán khổ nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, hãy quán khổ nhiều đối với thức.
Ai quán khổ nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, ai quán khổ nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc… thọ… tưởng… các hành, biến tri thức.
Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập III-bài kinh Thấy Khổ)
Hãy sống quán vô thường, quán phổ, quán vô ngã, quán nhàm chán thật nhiều, đối với năm cái đống khổ này, năm cái đống vô thường, trống rỗng, năm cái thứ bại hoại này. Đừng có để cho nó lừa gạt chúng ta, năm cái cục than, cục lửa than này, hãy nhìn cho kỹ nó, còn không nó sẽ đốt mình phỏng tay, phỏng mặt, phỏng thân, phỏng tim của mình. Thân trống rỗng không ai trong đó, chỉ có tim, gan, máu, thịt, xương.
“Ngày đêm thiêu đốt tim, gan, máu,
Đốt cháy tâm can trong giận sận”
Tâm trống rỗng, không có ai, chỉ có tâm sân, hận trong đây. Đốt cháy tâm can trong dục, tham, si ám, bản ngã, hèn hạ, ác độc. Nhìn ra được sự thật này, chúng ta sẽ được hạnh phúc, lợi ích, an lạc dài lâu. Chúng ta dập tắt hết tất cả những lửa than đỏ này, chúng ta sẽ đạt được đến chỗ tịch tịnh, thanh lương, mát mẻ hoàn toàn. Còn hạnh phúc nào bằng, còn niềm an lạc nào bằng, còn cái sự hi hữu, hiếm có, thù thắng, công đức nào bằng đối với một hành giả Nikāya. Nỗ lực lên, dập tắt tất cả những ngọn lửa, mạnh mẽ, quyết tâm, quyết chí ngày đêm, thân tâm Niệm đạo. Vận dụng hết tất cả những gì mình học, để thực tập, thực hành, thực chứng, thực thấy, thực biết về khổ Thánh trí. Thực thấy, thực biết, mình sẽ dập tắt tất cả những ngọn lửa phiền não. Thực thấy, thực biết, thực chứng, thực ngộ cảnh giới thanh lương, mát lạnh, tuyệt diệu của Niết-bàn. Như vậy là hôm nay chúng ta quán các bài kinh trong “Phẩm Than Đỏ” - Tương Ưng Bộ kinh.
Sắc - Thọ - Tưởng – Hành - Thức Là Than Đỏ
Thích Minh Thành
Ngày 23 tháng 08 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sắc là than đỏ PAGEREF _Toc114156738 \h 1
II. Tâm này là than đỏ PAGEREF _Toc114156739 \h 2
III. Tất cả đều đau khổ PAGEREF _Toc114156740 \h 7
IV. Vô thường PAGEREF _Toc114156741 \h 9
I. Sắc là than đỏ
Hôm nay có nhân duyên Quý sư cô và quý Phật tử ở Hà Nội về Linh Quy Pháp Ấn, xin mời Đoàn quý sư cô và quý Phật tử chia sẻ tâm nguyện và mục đích khi đến đây. Vậy thì quý thầy, quý cô sẽ giúp đỡ chúng ta để học những pháp căn bản. Đoàn chúng ta còn rất là mới phải đi từ cái căn bản. Hôm nay chúng ta nghe Tương Ưng Uẩn, phẩm Than Đỏ, tập 3. Đầu tiên là bài kinh “Than Đỏ Hực”
“Nhân duyên ở Sāvatthi …
—Sắc là than đỏ, này các Tỷ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!
Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức.
Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
(Tương Ưng Bộ kinh tập III-bài kinh Than Đỏ Hực)
Con thưa thiệt với các thầy, các cô, chỉ cần nghe câu kinh này thôi, cũng phước đức vô lượng, vô biên. Không thể có một người thứ hai trong tam thiên, đại thiên, thế giới này nói lên những câu như vậy. Câu này chúng ta chiêm nghiệm đến suốt cuộc đời mình, có khi mình cũng không có hiểu được, tại vì khi mình hiểu hết, thì tối thiểu là dự lưu, tối cao là A-la-hán. “Sắc là than đỏ”, những hình sắc đối trước con mắt mình đó, là than đỏ.
Chúng ta có thấy cái hình cổng trời trên Linh Quy Pháp Ấn sau lưng con không ạ? Nhìn thấy dễ chịu không ạ? Nó là ảo đó. Giả sử cho quý vị lên đến cổng trời đó, mở đèn để được cái cảnh cũng y như vậy, thì đó cũng là ảo. Cái ảo đó là than đỏ, là lửa than đối với những người cho rằng cái đó là thiệt, là bền, là chắc, là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Bây giờ nếu không cho cái đó là của con, thì có ai đi ngang phá phách cái gì trong đó, thì con có khổ, sầu, bi, ưu não không ạ? Chúng ta thấy không? Đó là than đỏ.
Bởi lời của Đức Phật, bậc Chánh Đẳng, Chánh giác nói ra, không phải dễ dàng chúng ta hiểu như chúng ta đọc báo được, phải dùng tất cả tâm tư, tất cả sự hiểu biết, tất cả sự chiêm nghiệm sâu sắc. Đức Phật nói có bốn chữ thôi “sắc là than đỏ”, nhưng những chữ này là sự chứng ngộ, là định lý, là Thánh trí. Vì bốn chữ này mà đổ máu vô lượng, vô biên kiếp Ngài mới tìm được sự thật này. Bởi chúng ta không hiểu được bốn chữ này, nên chúng ta mới đầy rẫy những tham, sân, si, dục vọng, sự tranh giành thiêu đốt, đốt cháy. Chúng ta hãy tập nhìn tất cả những đối tượng của con mắt là than đỏ “coi chừng nó đốt, coi chừng bị phỏng, coi chừng nó cháy”.
Hàng ngày, chúng ta thấy cái lò than đỏ này đốt bao nhiêu chúng sanh? Hồi nãy chúng ta nghe địa cầu rực lửa này, nó thiêu rụi bao nhiêu hữu tình? Mở mắt ra là nghe cướp giật, tranh giành, tham, sân, si, đó chính là sắc, là than đỏ. Mà chúng ta không nghe, không chiêm nghiệm, không quán chiếu, cho nên không khéo, mình lấy than đỏ làm sự nghiệp của đời tu, mình dành cả cuộc đời của mình để đi tìm than đỏ, mà mình tưởng là tu thành tựu.
II. Tâm này là than đỏ
Chúng ta khổ về tâm thân này bao nhiêu lần nữa? Nãy giờ là nói than đỏ ở phía ngoài, bây giờ là nói đến than đỏ phía con người của mình. Trong chúng hôm rày là bị cảm sốt nhiều đúng không? Có thấy lửa nó đốt không? Sốt đó là than đỏ, hoả đại đó. “Tâm Yến có thấy đúng không mà hoan hỉ quá vậy?”. Chúng ta có thấy trong cơ thể mình bị sốt, đó là hoả đại nó đốt không ạ? Là lời Đức Phật nói lửa ở ngoài, lửa ở trong “nội hoả giới, ngoại hỏa giới”, chúng ta thấy sự thật này nó tràn ngập khắp nơi, khắp chốn, mọi thời gian. Khi chúng ta bệnh, chúng ta nói: “Nè, cái này là than đỏ, lửa than đang đốt chúng ta, hoả đại đang thiêu, lửa bên trong, lửa bên ngoài”. Chúng ta kết hợp bài “Than đỏ” này với bài kinh “Bốc cháy”, chúng ta còn nhớ bài kinh “Bốc cháy” không ạ? “Con mắt này đang bốc cháy, lỗ tai này đang bốc cháy, lỗ mũi này đang bốc cháy, cái miệng, cái lưỡi, cái thân này đang bốc cháy. Bên trong những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức đang bốc cháy” Thọ, tưởng, hành, thức đó đang bốc cháy.
Đúng ra trong khi bệnh là mình tu tiến bộ lắm. Con thưa thiệt với các bậc hiền trí, Tăng Ni và quý Phật tử, mỗi lần con bệnh là con tiến tu lên một bậc. Cho nên, hễ mỗi lần Tôn giả bệnh, là Tôn giả thành tựu Thánh trí tuệ. Đó là đối với những người có sức mạnh, còn đối với những người yếu là buông luôn, chìm xuồng luôn. Đối với người mạnh, thì bệnh chính là cơ hội để mình thấy than đỏ bốc cháy, thấy được sự bại hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, để cho mình thấy được “cái đồ dởm, cái đồ giả, cái hàng dễ vỡ, cái thứ hư, cái thứ bệnh chết”.
“Này các Tỳ-kheo, bất an là các hành. Này các Tỳ-kheo, không kiên cố như vậy, là các hành vô thường” chính là sự vận hành của các thọ, tưởng, hành, thức. “Đến đây là vừa đủ cho các ông nhàm chán, vừa đủ để cho các Ông từ bỏ, vừa đủ cho các Ông thoát ra khỏi các hành, sự vận hành của năm uẩn này.” Chúng ta phải tập cái nhìn này thành cái nhìn thấu thị, thâm sâu vào trong bản chất của những thứ sắc, pháp, vô thường. Tấm thân này, cục than đỏ này bốc cháy ngày đêm, chúng ta thấy mỗi khi đốt lửa không? (Hổm rày lâu quá chưa có đốt lửa, bữa nào xin thầy Pháp Nghĩa cho đại chúng ra ngoài đốt lửa). Chúng ta thấy lúc đầu là một khúc củi, đốt một hồi ra than đỏ, sau than đỏ sẽ thành tro tàn. Cái thân này là cục than đỏ đang bốc cháy, bốc cháy rồi từ củi trở thành tro. Bây giờ cái thân này đang là khúc củi, khi cái già, cái bệnh đến là bắt đầu nhen nhóm ngọn lửa lên, rồi bại hoại, tử vong tức là trở thành một nắm tro tàn.
Chúng ta phải tập tất cả các hình sắc, sắc tưởng, sắc uẩn, sắc pháp đều là những thứ than đỏ, lửa than đang bốc cháy, đi đến chỗ biến hoại, hoại diệt, tan nát. Phải thường xuyên như lý tác ý như vậy “này các Tỳ-kheo, các Ông hãy tác ý con mắt của mình, cái thân này là ung nhọt, bệnh hoạn, bất an”. Hãy thường xuyên tác ý, thường xuyên nhắc nhở tâm mình, mình quên tác ý là mình trở về trong vô minh, an trú trong ngu si, trở về sống trong cái nghiệp như một thói quen, buông lung, phóng dật, thả lỏng các căn. Quên tác ý, nhắc nhở, là mình tham, sân, si, vô minh, bản ngã, hơn thua, ghanh tỵ, đố kỵ. Nó sống trong sự dại khờ, thiển cận, ấu trĩ của trẻ con. Nó sống trong bóng đêm, mù lòa, sự thiêu đốt, nhiệt não, nóng bức. Cho nên, mình phải thường xuyên tác ý, toàn bộ đại tạng kinh Nikāya này, Đức Thế Tôn dạy mình cách tác ý.
“Này các Tỳ-kheo, sắc này là than đỏ”, từ một chữ “sắc” đó mình phải diễn nó ra, để cho ngấm vô “cái quả thận này là than đỏ nè, cái bao tử này là than đỏ nè” nó chỉ khó chịu một chút xíu thôi, là mình khổ sở, khốn đốn với nó,“trái tim này, cái túi mật, cái hệ tiêu hóa này là than đỏ nè”, phải đại phẩu, banh cái lồng ngực ra. Nó đang bốc cháy trong sự sanh diệt, biến hoại, bệnh hoạn, già nua, diệt tận, tử vong. Càng ngày mình càng xụn xuống, cụp xuống, như xương sống mình cụp xuống vậy. Càng ngày mình đi gần đến lò thiêu, nghĩa địa, nghĩa trang, chỗ hỏa táng. Vậy mà đau thương một chút là chúng ta cứ lãng quên, không có nhớ là than đỏ. Khi mình đưa vô lò thiêu thì cái gì nó đốt ạ? Có phải than đỏ nó đốt không? Nó đốt để đi đến tro tàn. Ông bà, cha, mẹ, cô bác, người hàng xóm bên cạnh cũng từng bị đốt như vậy, chúng ta quên rồi sao? Con, cháu mình bị tai nạn giao thông đã từng bị than đỏ này đốt thành tro tàn như vậy, chúng ta quên rồi sao? Rồi cũng đến lượt mình.
“Hoa nở đầy cây thông,
Hoa rụng muôn cành thông,
Chỉ còn lưu một đóa,
Ngày mai theo gió đông.”
Đó là mình đó, mình tưởng đâu ông, bà cha, mẹ, cô, dì, chú, bác mình chết còn mình thì không có chết, chuyện đó chuyện của người ta, chứ mình đâu có biết rằng “Chỉ còn lưu một đóa, ngày mai theo gió đông.”, tất cả đều bị than đỏ này đốt cháy hết. Cảnh sắc bên ngoài, tấm thân chúng ta, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là lửa than, là than đỏ. Sự thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, sáu sự nhận thức này là than đỏ. Bởi vì nhận thức trong vô minh, tham, dục, ái, nghiệp, bản ngã, nó được huân tập từ vô lượng, vô biên kiếp.
Chúng ta thấy không? Mới nhìn một cái thôi là cảm giác sừng sộ, phẩn nộ lên, thì sự thấy, nghe là than đỏ. Mới một cuộc điện thoại là sân si lên. Như vậy cái tiếng đó, cái lỗ tai, sự rõ biết, sự tiếp xúc cái tiếng là than đỏ. Sanh khởi lên những cảm giác sân hận, tức giận đó là than đỏ. Tất cả những cái này cần một sự dập tắt, mà dập tắt đó chính là đạo đế, là pháp hành, là dùng tất cả những công phu mà chúng ta tu tập để dập tắt được ngọn lửa đó. Cho nên Niết-bàn chính là dập tắt cái than đỏ này một cách hoàn toàn, không còn sót một chút lửa nào nằm dưới nắm tro tàn đó mà nhen nhóm. Khi không còn than đỏ nào, ta mới đi đến chỗ hoàn toàn thanh lương, tịch tịnh, mát mẻ.
Chúng ta thấy ở trong ba cái cảm thọ của mình là lửa than không? Thấy một chút, nghe một chút, tiếp xúc một chút thôi là hơn thua, ganh đua, đúng sai, cao thấp, giai cấp. Cho nên đi tu vô đạo tràng có chuyện hoài, hết phiền não tới huynh đệ, rồi phiền não với thầy, xong phiền não với Phật tử, tại vì đi đâu cũng đem theo lửa than để đốt hết. Chúng ta thấy khổ không? Khổ chưa? Suy nghĩ, cảm giác, những cái tưởng, những cái dục, yêu thích, say đắm, thèm khát, khao khát, ái khát nó thiêu đốt, thúc giục, đốt cháy, nóng bỏng, nhiệt não trong này. Cho nên ở đâu có yên, ngồi không có ngồi yên
“Đi, đứng, nằm, ngồi chẳng được yên,
Nhớ, ghiền, thèm, muốn làm điên đảo lòng”
Ngọn lửa của dục, sự thúc giục, ham muốn, tưởng tượng, hi vọng, trông chờ, nhớ nhung, thèm thuồng, thèm muốn, thèm khát, đó là lửa than. Ở trong các cảm thọ đâu phải một ngọn đâu, còn ngọn lửa dục, tham, ái, sân hận, ghanh tỵ, hơn thua, ghen ghét, tật đố, bấy nhiêu ngọn lửa, bấy nhiêu cục than, thì nó thiêu đốt thân tâm tiều tụy. Mình ngồi trên đống vàng vẫn khao khát, đói khát, bởi vì những cảm giác thèm muốn, thèm khát, khát ái bên trong chưa có dừng, nên làm sao nó thỏa mãn được những cảm giác, cảm thọ, cảm xúc này. Trong tâm là một sự dục tầm, sân tầm, hại tầm, đến một sự ham muốn, sân hận, thù ghét, làm hại người khác, tâm đó là cái tâm của than lò bốc cháy.
Tại sao chúng ta học cảm giác an tịnh, lắng dịu rất quan trọng. Vì an tịnh, lắng dịu là chúng ta đem nước để tưới cho lửa than đó, mỗi khi chúng ta ngồi thiền là an tịnh, lắng dịu. Mỗi khi chúng ta nghe pháp là chúng ta đang thực tập an tịnh, lắng dịu, nhìn sâu, nhìn kỹ. Mỗi khi chúng ta thiền quán là chúng ta đang thực tập an tịnh, lắng dịu, nhẫn chịu, thấu thị, xuyên thấu, xuyên thủng. Vậy chứ mình tìm cái tu ở đâu nữa, mình tìm cái trí tuệ ở đâu nữa? Làm sao để trong cái suy nghĩ, nhận thức, cảm giác, của mình xóa sạch tư tưởng, nhận thức cho rằng “cái sắc này là vui sướng, bền chặt, là ta và của ta” phải xóa sạch cái tư duy, suy nghĩ, nhận thức đó, xóa đến chừng nào không còn một tí gì nữa hết.
Đức Thế Tôn một hôm Ngài đang ngồi, Ngài lấy ngón tay khơi một chút phân bò đưa lên, Ngài hỏi: “Này các Tỳ-kheo, phân bò trong móng tay này có hôi, có dơ, có bẩn không?” Các vị Tỳ-kheo trả lời: “Dạ dù cho một chút cũng hôi, dơ”. Đức Thế Tôn nói: “Cũng vậy, các ông thấy có một chút xíu hành nào, chút xíu sanh nào, chút xíu dục nào, mà không phải là bất tịnh, hôi dơ với một chút máu, một chút phân người hay một chút nước tiểu. Này các Tỳ-kheo, đều là tanh tưởi, hôi thối, bất tịnh, bẩn thỉu. Cũng vậy các sắc đều là bất tịnh, vô thường, bẩn thỉu, dơ bẩn, cấu uế.” Bây giờ mình còn chấp nhận cái suy nghĩ cho rằng “cái này là tôi, là của tôi” thì mãi mãi còn vô minh, chấp mê, chấp thủ, không đi đến thành tựu được thấy biết tròn đầy về sự thật, đó là tri kiến của bậc Thánh. Mình phải loại bỏ dần dần những suy nghĩ, cảm xúc, tư tưởng, nhận thức cho rằng “tôi, là của tôi, là thường còn, vui sướng, sắc đẹp”. Phải loại bỏ cho đến khi nào không còn cái suy nghĩ đó nữa, thì mình mới thật sự thể nhập vào dòng trí huệ của Đức Phật. Cho đến khi nào mà nhìn cả địa cầu chỉ là cục than lửa to lớn, tất cả chúng sanh trong tam giới đều bị thiêu đốt ở trong quả cầu lửa, không có một chút nào mát mẻ, thanh lương trong cuộc đời này hết.
Cho dù mình đang ở Bảo Lộc, Đà Lạt là chỗ khí hậu mát nhất mà người ta ước mơ, nhưng mình cũng không có đắm chước, tham đắm vô cái không khí, không gian đó, mà mình cũng nhận thấy “ở trong cái không gian này là có lửa than nè, có than đỏ trong này, có sợ bốc cháy trong này”. Nếu chúng ta còn chất chứa những cảm thọ tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục, ái, mình phải nhìn thấy toàn thể địa cầu này là một quả cầu lửa vĩ đại, tất cả chúng sanh là những con thiêu thân, dù cho ở dạng thức nào, giàu có, đại gia, tỷ phú hay nghèo hèn, đi ăn xin, bán vé số, ở đợ cũng vậy, tất cả đều bị thiêu đốt đốt cháy. Chúng ta phải nhìn được thấu suốt cái bản chất, thực tướng của các pháp này.
“Nghèo thèm muốn, giàu hả hê,
Giàu nghèo gì cũng ê chề tham sân.
Nghèo thì khóc, giàu thì cười
Khóc cười gì cũng đều là mê.”
III. Tất cả đều đau khổ
Không phải nghèo, người bệnh, người hết tiền đi ăn xin mới khổ, còn người giàu, người khỏe, người ở địa vị cao sang thì không khổ, không phải vậy “khóc cười đều mê”. Tất cả giàu nghèo đều bị ngọn lửa của tham, sân, si, bất toại nguyện, sự thèm khát, khao khát, tham muốn, khát ái thiêu đốt hết. Chỉ có người đi ra khỏi quả cầu lửa vĩ đại đó, thì người đó mới là người hạnh phúc. Các bậc Thánh mà thành tựu đến Thánh quả thứ ba là bất lai, là chào luôn “không có trở lại nữa, khỏe rồi”. Các bậc Thánh người ta từ bỏ, cái này là đống lửa mà ai thèm ở đây, chỉ có mấy con thiêu thân nó không biết nhào vô là chết, nên nó mới nhào vô. Cho nên mình tu là để mình đi ra, chứ không phải mình tu để mình đi vô, mình tu để mình nhàm chán, ly tham, từ bỏ, giải thoát, rồi mình thoát ly. Chứ không phải mình tu để mình tạo cho nó bự, cho nó nguy nga, tráng lệ, mình lấy cái đó làm thành công ở trên cái sắc pháp, trên cái lửa than, cái than đỏ, những thứ vô thường, bại hoại này.
Hôm bữa con ngồi trên xe đi chung với các sư ở trong chúng, không biết nhân duyên lúc đó nói chuyện gì mà con nói với mấy thầy “cái cục phân, cục phân chó hay là cục phân người, kiến, ruồi nó còn bu, huống chi cục vàng”. Chúng ta thấy không? Đống phân người, đống phân bò, phân chó, phân trâu, phân mèo nó hôi, nó dơ, thúi, bẩn thỉu như vậy mà ruồi, nhạn bu, giòi tửa ra lúc nhúc, huống chi nữa đống vàng, cục vàng, chém giết, đổ máu với nhau. Thế gian này là như vậy, sự thật phũ phàng như vậy đó. Tất cả nó đang bị thiêu đốt, mà nó thiêu đốt bởi lòng dục, lòng tham, nó đang giành giật. Chúng ta thấy Đức Thế Tôn nói chiến tranh, đó có phải là than đỏ không? Có phải giành đất, giành biển, giành tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, dầu mỏ với nhau không? Chúng ta chiêm nghiệm toàn cầu với bốn chữ của Đức Phật “sắc là than đỏ”. Chúng ta nhìn thấy trí tuệ của bậc Chánh đẳng giác khủng khiếp, mà chúng ta không thể tưởng tượng nổi không? Chúng ta đâu phải đọc kinh mà hời hợt như vậy được.
Mình nhìn có bao nhiêu than ở trong người của mình, mỗi ngày bốc cháy bao nhiêu lần? Trong những cảm giác của dục, tham, ái, khi ăn, uống, nói, làm, ngủ, ngồi thiền, sinh hoạt, bệnh khổ, mình coi nó đốt ở trong người mình. Phải nhìn nó để mà nhàm chán, ly tham, từ bỏ, thoát ra cái đống lửa này, thoát ra cái hố than hừng, những cục than cháy đỏ, những thứ ác độc, tai họa, khổ đau, bất an, thiêu đốt này. Có cái gì ở trong nắm tro tàn, trong lò thiêu, trong cái hòm, trong cái nguyệt, trong lò hỏa táng, trong nắm tro sau khi được đốt ở trong lò hỏa táng đẩy ra này? Trống rỗng, trống không, vô ngã. “Này các Tỳ-kheo, tưởng, hành, thức là than đỏ. Thấy vậy, này các Tỳ-kheo, bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc” Thấy giống như nãy giờ nói như vậy, suy tư, nhận thức, thấu thị, minh tường, minh kiến như vậy đó. Bậc Đa văn Thánh đệ tử, đệ tử của bậc Thánh nghe nhiều Chánh pháp Nikāya, nhàm chán đối với sắc nhàm chán đối với con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, cái miệng, cái lưỡi, thân hành (bệnh tật, bệnh hoạn), thọ, tưởng, hành bên trong. Nhàm chán đối với cái thức này, bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, những cảm giác, những hình bóng trong tâm, mọi sự suy nghĩ. Nhàm chán đối với thức, với sự rõ biết, không có tin tưởng vào cái thấy, nghe, ngửi, xúc, tiếp này.
Liên cứ vào Thánh trí tuệ, không có dựa vào phàm tình, không có tin tưởng vào thức uẩn, mà lưu ý chỉ Thánh tuệ, dựa vào Thánh nhớ, dựa vào Thánh định, dựa vào Thánh trí tuệ, không có dựa vào phàm tình, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, nhận thức, do duyên sanh, vô thường, giới hạn, nhỏ hẹp, ngu si, mê muội này. Không có y cứ vào thức này, nhàm chán đối với thức, do nhàm chán cho nên vị ấy ly tham, rời tham. Do rời tham cho nên được thoát ra địa cầu rực lửa, cái thân rực cháy, cái tâm than đỏ, cái cảnh hỏa hoạn, cái địa cầu bốc lửa đầy rẫy những lửa tham, lửa sân, lửa si, để dễ nhận ngọn lửa vô minh, bản ngã rình rập, tranh đấu, đâm chém, giết hại, mưu mô, mưu sĩ, ác độc, thoát ra khỏi những ngọn lửa đó. “Trong sự giải thoát, trí khởi ra “ta đã được giải thoát””, thoát ra, ta không còn ham thích than đỏ nữa, tao không còn yêu thích lửa than nữa, ta không còn ở trong hố than hừng, ta đã được thoát ra, ta đã được chạy xa nó, ta đã vĩnh biệt luân hồi. Vị ấy khởi lên biết rằng “ta đã thoát ra”, vị ấy biết rõ sự sanh đến đây đã cùng tận. Đức hạnh cao thượng, thanh tịnh đã viên thành, những chuyện cần làm đã làm xong, không còn trả lui lại đời này nữa.
IV. Vô thường
Tiếp theo là bài Kinh “Vô Thường”
Thân xác, tài sản này, những thứ mà mình cho rằng thuộc về mình, là sở hữu của mình, chấm dứt lòng tham muốn đối với chúng. Cảnh sắc mà mình gọi là quê hương, mình phải chấm dứt lòng ham muốn, lòng yêu thích đối với chúng. Lòng dính mắc, trói buộc, mình chỉ đi tìm cầu sự thật của chân lý thôi. Chỗ nào là chỗ thật sự thường trú của mình? Cái chỗ lâu nhất là nghĩa địa, có khi vài bữa người ta cũng móc cốt lên. Chỗ nào thực sự là nơi thường trú của chúng ta?
“Nhân duyên ở Sāvatthi.
—Cái gì vô thường, này các Tỷ-kheo, ở đây các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Này các Tỷ-kheo, cái gì là vô thường?
Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường.
… Thọ … Tưởng … Các hành …
Thức là vô thường, ở đây, các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.
Cái gì vô thường, này các Tỷ-kheo, ở đây các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập III-bài kinh Vô Thường)
Vừa rồi con mới đem một đoàn lên trên Thủ Đức, cô bé gái này mới có 15 tuổi mà làm đám giỗ cho 5 người trong vòng một tháng, cha chết, mẹ chết, ông ngoại, bà ngoại, bà cô chết. Làm 5 cái đám giỗ chưa đầy một tháng, 5 người chết trong tai nạn trên Thủ Đức. Đời sống này thật sự ngắn ngủi, nhỏ hẹp, nhiều ưu não, lo lắng, bất an, mình phải thức tỉnh, làm điều lành, tu hành phạm hạnh. Cái bọt nước đang nổi lên, những đống bọt mụt nát, tan vỡ này.
Nãy giờ là nói là một loạt bài kinh gom lại. Kinh “Vô Thường 1,2,3”, kinh “Khổ 1,2,3”, “Vô ngã 1,2,3”. Tiếp theo là bài kinh nói về sự nhàm chán.
“Nhân duyên ở Sāvatthī…
—Ðối với vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, này các Tỷ-kheo, đây là thuận pháp (anudhammaṁ): Hãy sống nhàm chán nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, hãy sống nhàm chán nhiều đối với thức.
Ai sống nhàm chán nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, ai sống nhàm chán nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc… thọ… tưởng… các hành, biến tri thức.
Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập III-bài kinh Thiện Nam Tử Khổ)
Đối với một người con trai hay là người con gái tốt lành, lòng tin tưởng Tam bảo, từ bỏ mẹ cha đi tu, đây là thuận pháp, là sự thuận dòng, xuôi dòng, phù hợp. Hãy sống nhàm chán nhiều đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Cho nên những cái này là định lý giải thoát, không phải đọc như vậy mà hiểu được, chúng ta phải tác ý như vậy liên tục, suốt 8 tháng, 10 năm những bài kinh này thôi. Từ trong đó mà mình chiêm nghiệm, thiền quán, khai triển ra các phương diện, khía cạnh, góc độ. “Ai sống nhàm chán nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, ai sống nhàm chán nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc… thọ… tưởng… các hành, biến tri thức.” Thế nào là biến tri? Là biết cùng khắp tất cả các góc độ, phương diện, khía cạnh. Sẽ có những cái nhìn viên mãn, trọn vẹn sự đau khổ, bất an, vô thường, người nào nhàm chán đó, người đó mới biến tri trong đó. Mình yêu thích nó thì mình không có biết được nó đâu, nó sẽ gạt gẫm, lừa đảo mình.
Hôm đó chú mới đi về dưới nhà 8 tháng, quay lên khóc bù lu bù loa. Chú nói: “Con bị lừa gạt”, đúng như vậy. Câu nói đó là đúng với Thánh trí của Đức Phật. Tất cả chúng ta là nạn nhân của sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nó lừa chúng ta một cú lừa rất ngoạn mục, nó lừa rất đau đớn, cay đắng nhưng cách lừa rất là ngọt ngào, đủ thứ phương diện. Phải biết được vị ngọt, sự nguy hại, tác hại, hiểm họa của nó, và phải biết cách thoát ra khỏi nó. Chúng ta phải có được trí tuệ thoát ra khỏi ngũ uẩn. “Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ.”
Đây là đoạn cuối của Tương Ưng Uẩn.
“Nhân duyên ở Sāvatthī…
—Ðối với vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, này các Tỷ-kheo, đây là thuận pháp (anudhammaṁ): Hãy sống quán vô thường nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, hãy quán vô thường nhiều đối với thức.
Ai quán vô thường nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, ai quán vô thường nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc… thọ… tưởng… các hành, biến tri thức.
Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập III-bài kinh Thấy Vô Thường)
Hãy sống quán khổ ở trong thân xác, tâm thức, cảm giác, suy tư, nghĩ ngợi này. Phải sống quán khổ, phải quán cái khổ cho đến lúc nào ta nhìn cả thế giới này đây chỉ là một đống khổ to lớn. Lúc đó chúng ta mới đủ sức mạnh để nhàm chán, từ bỏ, thoát ra, để mình đạp đổ tất cả bước qua, lìa xa. Phải sống quán khổ, điều đó là lời của Đức Thế Tôn.
“Nhân duyên ở Sāvatthī…
—Ðối với vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, này các Tỷ-kheo, đây là thuận pháp (anudhammaṁ): Hãy sống quán khổ nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, hãy quán khổ nhiều đối với thức.
Ai quán khổ nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, ai quán khổ nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc… thọ… tưởng… các hành, biến tri thức.
Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập III-bài kinh Thấy Khổ)
Hãy sống quán vô thường, quán phổ, quán vô ngã, quán nhàm chán thật nhiều, đối với năm cái đống khổ này, năm cái đống vô thường, trống rỗng, năm cái thứ bại hoại này. Đừng có để cho nó lừa gạt chúng ta, năm cái cục than, cục lửa than này, hãy nhìn cho kỹ nó, còn không nó sẽ đốt mình phỏng tay, phỏng mặt, phỏng thân, phỏng tim của mình. Thân trống rỗng không ai trong đó, chỉ có tim, gan, máu, thịt, xương.
“Ngày đêm thiêu đốt tim, gan, máu,
Đốt cháy tâm can trong giận sận”
Tâm trống rỗng, không có ai, chỉ có tâm sân, hận trong đây. Đốt cháy tâm can trong dục, tham, si ám, bản ngã, hèn hạ, ác độc. Nhìn ra được sự thật này, chúng ta sẽ được hạnh phúc, lợi ích, an lạc dài lâu. Chúng ta dập tắt hết tất cả những lửa than đỏ này, chúng ta sẽ đạt được đến chỗ tịch tịnh, thanh lương, mát mẻ hoàn toàn. Còn hạnh phúc nào bằng, còn niềm an lạc nào bằng, còn cái sự hi hữu, hiếm có, thù thắng, công đức nào bằng đối với một hành giả Nikāya. Nỗ lực lên, dập tắt tất cả những ngọn lửa, mạnh mẽ, quyết tâm, quyết chí ngày đêm, thân tâm Niệm đạo. Vận dụng hết tất cả những gì mình học, để thực tập, thực hành, thực chứng, thực thấy, thực biết về khổ Thánh trí. Thực thấy, thực biết, mình sẽ dập tắt tất cả những ngọn lửa phiền não. Thực thấy, thực biết, thực chứng, thực ngộ cảnh giới thanh lương, mát lạnh, tuyệt diệu của Niết-bàn. Như vậy là hôm nay chúng ta quán các bài kinh trong “Phẩm Than Đỏ” - Tương Ưng Bộ kinh.