Cội rễ sự vật 1
KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI
KINH CỘI RỄ CỦA SỰ VẬT I
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tất cả pháp lấy dục làm căn bản: PAGEREF _Toc54342912 \h 3
II. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi: PAGEREF _Toc54342913 \h 6
Pháp Từ đọc bài kinh “Cội rễ của sự vật”
Pháp Từ: con xin được đọc những lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikaya – bài kinh “Cội rễ của sự vật” nằm trong Tăng Chi Bộ Kinh tập IV:
“Này các Tỳ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo có đến hỏi các ông như sau: Thưa Hiền giả, tất cả Pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khởi? Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ tụ hội? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ? Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng? Tất cả pháp lấy gì làm lõi cây?" Ðược hỏi như vậy, này các Tỳ-kheo, các ông trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như thế nào?
Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm chỗ quy hướng. Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy nói lên ý nghĩa lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỳ-kheo sẽ thọ trì.
- Vậy này các Tỳ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
- Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo có đến hỏi các ông như sau: "Thưa Hiền giả, tất cả pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khởi? Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ tụ hội? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ? Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng? Tất cả pháp lấy gì làm lõi cây?" Ðược hỏi vậy, này các Tỳ-kheo, các ông hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: "Thưa chư Hiền, tất cả pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây". Ðược hỏi như vậy, này các Tỳ-kheo, các ông hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.
Sáng nay ngồi thiền chúng ta có một niềm phúc lạc vô biên, một sự hạnh phúc nhiệm màu, bình an, tuyệt vời, nhuần thấm thân tâm. Thế là không còn gì hạnh phúc bằng được tìm ra Chánh Pháp, sống trong Chánh Pháp, được thực tập trong Chánh Pháp với một không gian thanh tịnh, viễn ly như thế này. Vui lắm, làm cho mình phát sanh một cảm thọ hỷ lạc trong sự tu học, hân hoan, hoan hỉ, tinh tấn ngày đêm tu học trong các thiện pháp. Không có niềm vui nào trên thế gian này có thể sánh nổi. Mình phải biết nuôi dưỡng, tác ý, tưới tẩm, chăm sóc cho hỷ lạc trong pháp được thấm nhuần, lớn mạnh, tuyệt vời, kỳ diệu và thiêng liêng. Một cảm xúc thứ hai là trí huệ của Như Lai thâm sâu vô lượng, không cùng tận, Phật trí quảng đại vô biên, vô cực, hạnh phúc vô vàn mà chúng ta đang tắm mình trong biển cả trí huệ đó.
Mình phải nhớ rằng giờ mình nghe pháp và thảo luận Phật Pháp là giờ tu, đừng nghĩ rằng ngồi thiền trên bồ đoàn và giờ tụng kinh mới là tu, còn giờ nghe pháp là không phải giờ tu, không được suy nghĩ vậy. Chúng ta sẽ học những bài kinh về lợi ích của nghe pháp, sẽ khủng khiếp và bất ngờ lắm, có thể chứng quả bất lai trong khi đang nghe pháp. Vào sơ thiền, thành tựu Chánh Tri Kiến, nên điều thứ hai là điều tiếp theo: phải xem giờ nghe pháp và thảo luận pháp là giờ tu học. Nói giống như Trí Hòa, giờ nó đang chạy rần rần, trong này ấm lên hết toàn thân, hỷ lạc hãy cho nó nhuần thấm. Giây phút chúng ta đang ngồi đây là giây phút thánh thiện, cao thượng, trọn lành, thiêng liêng, vi diệu chứ không phải tìm cầu một sự chứng ngộ ở chỗ khác. Tất cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình thấm đượm trong sự thật, trong thánh trí, trong niềm tôn kính sâu xa đối với Phật, Pháp, Tăng, Giới, trong dòng chảy của Thánh Pháp. Đừng nghĩ mình ráng đợi 10 năm sau chứng quả, còn bây giờ ngồi đây là không phải, tác ý như vậy là Phi Như Lý Tác Ý, là hành, tưởng, vị lai. Nếu giờ này không ngồi đây thì chúng ta đang làm gì? Thấy có sự khác biệt không? Trí huệ của Như Lai thâm sâu vô lượng, khó dò, không cùng tận.
Sáng nay ngồi thiền, Minh Thành có cảm xúc với bài kinh hôm qua bên ở đại học nên mình sẽ tìm hiểu một cách rộng rãi kinh “Cội rễ của sự vật” Tăng Chi Bộ Kinh tập IV. Cội rễ là gì? Là nguồn cội của tất cả sự vật, hiện tượng, nhân sinh, vũ trụ, gốc gác, nguyên lý sanh khởi tất cả toàn bộ thế giới. Mà đây chú trọng về hữu tình chúng sanh, nhiều hơn tất cả mọi thi vi vận hành đời sống của hữu tình đều bắt nguồn căn nguyên này, cho đến nhân quả của thánh – phàm, mê ngộ nên gọi là cội rễ, gốc rễ, căn nguyên, nguồn cội của tất cả thánh – phàm. Mọi sự thi vi, vận hành, hoạt động đời sống sinh hoạt của chúng sanh bắt nguồn từ đâu trong bài kinh này sẽ nói hết.
I. Tất cả pháp lấy dục làm căn bản:
Đầu tiên là “Tất cả Pháp lấy dục làm căn bản”. “Dục” này hiểu theo nhiều khía cạnh, muốn, thúc giục, dục lạc hay dục như ý túc. Dục lạc và dục như ý túc cũng là 2 dục nhưng là dục thánh – phàm, dục đưa đến mê và ngộ, tham và ly tham. Ly tham cũng là từ dục này, từ từ chúng ta sẽ tìm hiểu.
Nếu không muốn ly tham thì làm sao mình ly tham? Mình không muốn tu thì sao lại ngồi đây? Nên lấy “dục” làm căn bản. Hôm qua chúng ta đã học là một ý muốn rất nhanh, rất nhẹ mà mình không thấy, là một cái gốc rễ thâm sâu, Phật trí mới nhìn thấy được mọi cái thi vi động tác vận chuyển của mình. Muốn đánh chuông thì phải thò tay cầm dùi chuông, phải có muốn trước.
Vậy nguồn cội, gốc rễ sâu xa của sự phát ra được tiếng chuông là từ sự muốn, sau đó mới đưa quai lên, kéo qua, rồi từ từ cầm xuống dùi chuông. Còn nếu như cầm dùi chuông rồi mà đổi ý thì để xuống, không nắm. Tiếng chuông phát khởi lên được là phải có gốc rễ từ sự muốn. Nếu không có cái muốn thì tiếng chuông đó không phát khởi lên. Nên muốn lên nói pháp, chia sẻ bài kinh này hay bài kinh khác thì sao? Như vậy cái gốc rễ, cội nguồn, chỗ phát khởi ra gốc của nó là muốn, muốn ăn, muốn ngủ sớm, muốn đi tắm, đi chơi, muốn hôm nay làm gì đó như nhổ mấy cây trúc để trồng… thì đó là gốc rễ mà mình không thấy, chỉ thấy nó bình thường.
Như vậy tất cả các thi vi, động tác, đi đứng, ngồi nằm, nói nín động tịnh, tới lui qua lại, nói năng im lặng, làm việc này kia là từ gốc rễ của muốn, khi không muốn nói nữa thì ngồi im luôn, không muốn nói nhưng lại muốn im nên có sự im. Im lặng cũng là một pháp, muốn ngồi yên không muốn nói nên nó sanh khởi. Đó mới là những cái tế, giờ mình nói những cái thô hơn, lớn hơn.
Sau khi muốn nó có sự thúc giục, nên mình thấy có những người đi lẹ lẹ, nhanh nhanh, nhất là lúc xuống núi đi về, chạy lẹ đi lấy đồ rồi về, đó là thúc giục. Khi mình ăn nhanh, bên trong có cảm giác thúc giục, khi mình thấy người đó đi mà đi chậm không được – do bên trong thúc giục, sửa không được. Sự thúc giục đó đã được nuôi dưỡng quen, như người nói nhanh hay làm nhanh cũng vậy, là do dục đó được nuôi dưỡng, trở thành một thói quen thúc giục ở trong. Mà cái thúc giục này là phải trí huệ, phải nhận diện năm uẩn mới thấy, quán thọ mới thấy thọ, tưởng, hành bên trong nó thúc giục. Thấy được cái thúc giục đó không?
Ví dụ như mình ngồi thiền mà đau chân, mình muốn ông đánh kẻng đánh lẹ lẹ, sao bữa nay lâu quá, trông hoài không thấy, cứ dòm đồng hồ hoài, đó là thúc giục. Hành động dòm đồng hồ chỉ là thể hiện của cái dục, chứ thực sự là cái cảm thọ ở dưới nó nung lên, nôn nao, thúc giục. Mình dòm đồng hồ hoài, thấy sao lâu, sao chậm quá, tới giờ rồi. Bình thường thì không thấy chậm nhưng gặp bữa có công chuyện gì cần hay đau bụng, hay cần thiết chuyện gì đó thì dù thời gian vẫn trôi bình thường nhưng cái thúc giục bên trong làm cho mình thấy chậm, thấy lâu rồi thấy bực. Từ những cái đó mà mình nhìn thấy cái thúc giục, từ những cái ác bất thiện pháp nó thúc giục.
Bước thêm bước nữa là tham dục, dục lạc. Có phải từ dục mà sanh ra mình không? Sự dâm dục là cội gốc, gốc rễ của thân này nên ngài A-nan nói với một tỳ- kheo ni là: “Này chị, thân này là thức ăn, là tham ái, kiêu mạn, dâm dục tác thành, Đức Thế Tôn dạy như vậy. Người tu y cứ vào thức ăn, vào tham ái, vào kiêu mạn, vào dâm dục mà hình thành nhưng đi tới bước cuối cùng là đánh sập bốn cái đó. Dù từ bốn cái đó mà sanh ra nhưng sau đó đánh sập chúng, đó là sức mạnh của người tu. Mình từ thức ăn, từ ái, từ ngã mạn, chấp ngã sanh ra phải không, từ dâm dục mà có ra thân này. Nhưng giờ mình tu học để đánh sập bốn cái đó, lấy gậy ông đập lưng ông, ở trong nó để đánh sập nó. Như vậy gốc rễ của thân thể ngồi đây là từ dục, từ ái, từ cha mẹ sanh, nên “Tất cả pháp lấy dục làm căn bản”.
Trong khi thế giới này là dục giới và từ dục sanh ra thân này thì đi tìm dục, do dục mà sống và do dục mà chết. Thế nào gọi là do dục mà sống? Thế nào gọi là do dục mà chết? Sống phải có tình yêu, vì không có tình yêu làm sao mà sống cho nên phải đi tìm dục. Và khi tìm không được thì sẵn sàng chết, như vậy từ dục mà sanh cũng từ dục mà tử.
Bây giờ đã hiểu câu: “Sanh tử căn bản, dục vi đệ nhất” mình hay học chưa? Gốc rễ của sanh tử, dục là số một. Tấm thân này sanh ra từ dục, rồi sanh ra nó đi tìm dục, tìm để thỏa mãn những cái dục, mà dục thì không bao giờ thỏa mãn nên nó khổ đau hoài, mà nếu không được thỏa mãn thì có thể nó sẽ hủy hoại thân này, quyên sinh, tự vẫn. Dục hủy hoại tấm thân từ chỗ mê muội xì ke ma túy, heroin, cỏ Mỹ, bao nhiêu những chất ngáo đá. Do dục mà sẵn sàng hủy hoại thân thể này và sẵn sàng giết nhau chết, bôi nhọ, chỉ trích nhau, chậm chọc, ganh tỵ, tật đố với nhau vì cái dục.
Như vậy, đời sống này nếu mình nhìn thâm sâu bằng tuệ nhãn là toàn bộ đều bị dục chi phối, dục hình thành, dục nuôi lớn và làm cho bại hoại, suy tàn và đi đến chỗ hoại diệt. Mình quán như vậy để nhàm chán các dục, từ bỏ các dục, sợ hãi các dục. Mình nhìn thử đời sống mà con người nếu không học Phật Pháp, không biết tu hành thì có phải toàn bộ đi chạy tìm, phục vụ, cung phụng cho dục không? Muốn ăn ngon không? Tìm thức ăn ngon, đồ mặc đẹp, nhà ở cho sang, phải có sự muốn trước.
Có khi một căn nhà xây lên rồi là thiếu nợ suốt đời, chưa kể những thú vui bệnh hoạn hủy hoại cuộc đời, thân tàn ma dại, vào tù ra khám, đến chết cũng không biết tại sao mình chết. Đâu có trí huệ để nhìn thấy được dục lậu, một trạng thái ngấm ngầm, âm thầm điều khiển và thúc đẩy, chi phối và xâm chiếm toàn bộ thân tâm của mình và chúng sanh trên toàn bộ thế giới, đó là dục lậu. Và chính nó hình thành nên dục giới này nên tất cả pháp, tất cả sự vật, nhân sinh lấy dục làm cội gốc, từ thầm ý muốn, từ thúc giục, dục lạc…
Bây giờ tới dục nhân quả của thánh – phàm, dục để đi ra khỏi dục thì trở thành thánh mà dục để đi vào dục thì thành phàm. Thấy rõ vấn đề không? Nếu muốn để đi ra khỏi tất cả sự tham muốn khổ đau này thì đi đến giác ngộ, còn muốn để đi tìm những cái nó muốn thì đi đến vô minh, ma ám. Có phải dục làm căn bản không? Căn bản của phàm – thánh, của vô minh và trí huệ, của sự trói chăng và sự giải thoát tháo gỡ là từ cái muốn này.
Nhưng một điều rất khổ đau là không có đạo lộ giải thoát, không biết, không nghe, không thấy thì làm sao gặp, dù muốn ra khỏi cũng làm sao ra khỏi được vì không thấy đường, không biết cách. Biết bao nhiêu người muốn tu nhưng đó chỉ là muốn thôi, không biết cách thì làm sao ra? Không biết cách thì bị cái dục này trá hình, nó dị dạng dị hình, thiên biến vạn hóa cái dục. Và cuối cùng người này sa vô những cái bẫy của các tư tưởng của chính người đó tạo ra, người đó tưởng mình ly dục nhưng không phải.
Do cái dục thiên hình vạn trạng, nếu không thành tựu Chánh Tri Kiến thì người này vướng vô cái dục mà lại tưởng đâu mình đang đi ra khỏi dục. Đây là đau đớn lắm. Người đó tưởng đâu đang tu pháp ly dục nhưng lại đi từ cái dục này qua cái dục khác chứ không có đường thoát ra khỏi dục, ly dục, không xuất ly đạo lộ, không thấy được con đường đi ra khỏi, con đường đó chỉ có Chánh Đẳng Chánh Giác mới chỉ ra được, độc đạo. Ngoài con đường Chánh Đẳng Chánh Giác không ai chỉ ra được, cao nhất là phi tưởng phi tưởng xứ trong Tam giới thôi. Ngoài Chánh Đẳng Chánh Giác không một người nào có thể chỉ ra con đường đi ra dục.
Từ nay về sau trước khi nghe pháp mình phải đọc kinh lại: “Tất cả Pháp lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm chỗ quy hướng”. Ngoài Đức Thế Tôn không một người nào chỉ cho mình nổi, mấy người chỉ họ đã đi chưa? Họ còn không biết đường thì chỉ mình đi đâu? Trừ Đức Chánh Đẳng Chánh Giác và các bậc A-la-hán mới chỉ chính xác nên cái này thâm sâu lắm. Nếu không có tròng mắt lửa, tròng vàng của Tôn Ngộ Không, không thể nào biết được cái đó là yêu tinh biến hình ra. Tức không có con mắt tuệ, thanh tịnh pháp nhãn của bậc Dự Lưu Chánh Tri Kiến thì mình tưởng đâu mình đang tu Chánh Pháp nhưng đó là trá hình của dục, tham, ái.
Khi chưa thành tựu Chánh Tri Kiến, mình không nhìn ra được, mình tưởng và tin theo những cái tưởng, cái nghĩ của mình. Tin theo cảm giác của mình là chết hết, xuống núi hết, đó là cái dục trá hình. Và người đó nói là tôi tu, khủng khiếp chưa? Tu cái gì trong khi mình đã đi theo cái dục muốn của mình rồi? Thánh đạo ở trước mắt mình còn không thấy, bị tà đạo dụ hoặc, Bát Chánh không tu mà đi theo bát tà, bát quái, bát nháo. Thâm sâu vô lượng không thể xem thường, trong sự tu học này không thể xem thường.
Mới hiểu một chút đã nói tôi có Chánh Tri Kiến, về nhà tu với má, ở đây có người vậy mà. Hiểu rồi, thấy được năm uẩn rồi về nhà tu, chết không? Phải hết sức cẩn thận, “Tất cả Pháp lấy dục làm căn bản”, nếu lấy dục làm căn bản mà cái dục của mình, bước qua Dục Như Ý Túc, dục ham muốn giải thoát, chứng ngộ của mình nó mãnh liệt thì tự động sự ham muốn mãnh liệt thúc đẩy đó nó thúc giục bên trong, nó khởi lên ý muốn rồi nó thúc giục, nỗ lực, tìm đủ mọi cách.
II. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi:
Bắt đầu bước qua tác ý, qua phần Định làm thượng thủ, thành ra trong này thấy vậy chứ Tứ Như Ý Túc này kia nọ các pháp trong đây có hết chứ không phải cái này khác với 37 Phẩm Trợ Đạo, nó trùm hết nên nó thúc giục mạnh mẽ để mình đi ra khỏi, mình sẽ chứng ngộ, mà cái muốn của mình yếu quá, không đủ. Giống như khi nãy thò tay qua tính đánh chuông mà đổi ý thôi khỏi đánh.
Cũng giống như vậy, mình cũng muốn, cũng cạo đầu vô tu, tinh tấn được chừng 1 năm, năm rưỡi thì nghĩ chắc không nổi, tu vừa vừa thôi, tu vầy cũng tạm ổn rồi, đừng làm quá chịu không nổi. Đó là cái dục không đủ sức, đẩy Tấn Như Ý Túc nên cái này quyết định. Thánh – phàm mê ngộ, nhân quả của Thánh – phàm. Đi ăn đi chơi, đi hưởng thụ, đi hại người, giết người, đi trộm cắp cũng là dục, mà cái muốn đi làm từ thiện, đi xuất gia gieo duyên, đi xuất gia, đi thành tựu Chánh Tri Kiến, muốn chứng ngộ, diệt tận tất cả các lậu hoặc là cũng từ cái muốn.
Không có cái muốn đó thì sao có những cái diệt này, nên “Tất cả Pháp lấy muốn làm cội gốc”, “Tất cả Pháp lấy tác ý là sanh khởi”, tác động tâm ý. Tất cả sự vật hiện tượng trên thế gia này là do tác động tâm ý làm nó sanh khởi. Nếu mình không có tác động tâm ý thì không có gì hết.
Nãy giờ mình ngồi đây nghe pháp không có chú ý lồng đèn trên đầu mình, nhìn lên thử xem, đó là đèn treo, mình tác động tâm ý cho nó sanh khởi, còn không tác động tâm ý thì nó có đó cũng như không, tác ý của mình nó mới sanh khởi. Mình đang ngồi nghe pháp bình yên thế này tự nhiên nghĩ: “chà, sáng nay có người hẹn mình”, lúc 9h là có điện thoại công việc, lúc đó nó sanh khởi trong nội tâm mình. Còn nếu nó không nghĩ về cái đó, không tác ý vô vấn đề đó thì lúc đó ý hành đó có khởi lên không, cảm giác lo lắng có khởi lên không, có tưởng lên không?
Có tưởng người ta điện mình không bắt máy, thấy tác ý làm sanh khởi lên không? Lúc đó có cảm giác lo, rồi tưởng hình bóng của điện thoại rung lên 3, 4, 5 lần mà mình không bắt máy, nghĩ chuyện gì quan trọng lắm, làm các pháp sanh khởi là do mình tác ý. Nên chữ hành nghĩa rất thâm sâu, thế nào gọi là hành? Làm cho hiện hành các pháp hữu vi, làm cho hiện hành sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, hành với hành tánh, thức với thức tánh, này các Tỳ- kheo, nên gọi là hành.
Khi mình suy nghĩ, tác động tâm ý của mình lên, thì các pháp sẽ hiển lộ ra, biểu hiện, hiện rõ ra. Đó gọi là làm cho nó hiện hành, lộ rõ. Mình đi vô một vòng phớt ngang, không để ý gì, đi ra rồi thì đi và ngắm vậy thôi, nhưng lại thì nghĩ: “Ôi cây tùng này thấy lạ vậy ta, tùng này nào giờ không gặp, tên là tùng gì há?”. Giờ mình biết cây tùng bồng lai, bắt đầu nó hiện rõ ra. Như vậy trước khi mình nói ra thì ý hành nó khởi trước, nó là cây tùng.
Những suy nghĩ của mình làm cho hiện rõ ra, lộ ra các pháp, đó là sự tác động của tâm ý. “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, nó sanh khởi ra. Tự nhiên đang ngồi đây lại nghĩ: “Không biết bữa nay có sầu riêng rụng không ta”, nó tác ý như vậy thì lúc đó có pháp trong tâm không? Có hình bóng sầu riêng không? Có cây sầu riêng không? Nếu cái tưởng có khi nó rớt xuống cái bịch, nằm xuống gốc cây chỗ nào đó, ở dưới thất sư phụ hay ở đâu đâu đó thì lúc đó các pháp sanh khởi, thọ sanh khởi, tưởng sanh khởi, hành sanh khởi, thức sanh khởi.
Nếu suy nghĩ nhiều chút nữa có khi nước miếng chảy, tươm tươm nước miếng, nó sanh khởi đó, cái pháp đó thâm sâu không? Khủng khiếp luôn, làm sao phàm phu bình thường có thể biết nổi những cái này, đó là các pháp. Quán pháp là cái này. Khi nhìn lại nội tâm mình, mình thấy các pháp hiện rõ ra, làm cho hiện hành các pháp hữu vi. Một ý hành sanh khởi lên là mình nhìn thấy được những cái tưởng, hình bóng đi theo, và cảm giác kèm theo rồi cái thức nó biết và nó tác động tới sắc uẩn của mình.
Khi một tư tưởng về dục khởi lên thì lúc đó có hình bóng đối tượng đó, có cảm giác đó. Và cái thức biết được có cái hình bóng đó, cảm giác đó, suy nghĩ đó và sắc uẩn của mình có thể khởi dục, có chỗ phát dục, động chuyển. Nó khởi lên sân cũng vậy thôi, “tôi bực bội ông đó quá…” rồi bắt đầu cảm giác sanh, tưởng sanh, thức biết được. Rồi từ cảm giác của tâm đi qua cảm giác của thân, mặt mình nhìn không tươi tắn vì bị tưởng, thọ, hành, thức của sân, bốn cái cùng ập vô sắc uẩn làm sao sắc uẩn thoải mái được, 4 quả núi kia đè lên, nhìn mặt mình không thoải mái, có vẻ bực khó chịu.
Vì trong tâm mình đang có cảm thọ sân, tưởng sân, suy nghĩ về sân, tác ý làm cho tất cả pháp sanh khởi. Nên cái này mình tu tập Hỷ vô lượng tâm, Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm, Xả vô lượng tâm hay lắm, mình phải làm. Cho nên mấy huynh đệ thấy thầy ngồi nói đây là giây phút thiêng liêng an lạc, mình được xả ly tất cả những cái trần tục của thế gian, mình ngồi đây bình an. Đó là tác ý sanh, làm cho các pháp sanh khởi, chứ mình muốn hỷ, tự nhiên nó không hỷ đâu. Mình phải tác ý cho nó sanh khởi, mình tập tác ý quen rồi, mai mốt mình muốn là tự động sanh khởi, automatic, cực nhanh. Vì tâm của mình được huấn luyện, điêu luyện, mềm mại, dễ sử dụng. Mình muốn nó vô từ là vô từ, muốn bi là vô bi, muốn vô hỷ là vô hỷ, muốn vô xả vô lượng tâm là tác ý lên cho nó xả.
Ví dụ mình muốn trú vô một cảm thọ vô lượng cái tưởng, vô lượng là mình trú vô, tác ý vô là sanh khởi, cho thọ sanh khởi, tưởng sanh khởi, hành sanh khởi là mình trú vô tâm vô lượng không hận không sân. Mình ngồi có chút xíu 60kg thôi mà tâm của mình trùm hết núi đồi, làm cho cảm thọ của mình quảng đại vô biên, không hận, không sân, vô cùng, vô cực, vô lượng, vô biên, đông, tây, nam, bắc, trên, dưới, bề dọc, bề ngang, cùng khắp câu hữu dưới từ, biến mảng một phương, hai phương, bốn phương, năm phương, mười phương.
Mình phải tác ý, không tác ý làm sao nó sanh khởi, nên kêu cười mà ngồi im re không thèm cười. Nhiều khi lại các chúng hội, mình kêu mỉm cười mà mỉm không nổi. Có nhiều người cười khà khà là không phải. Cười nhẹ, làm cho hiện hạnh, tức mình phải nói những lời nói mà khi mình nói xong, hạnh khởi lên cảm giác đi theo, tưởng đi theo, như vậy các pháp sanh khởi. “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”. Tác động tâm ý này khiếp lắm, mình muốn nó sanh khởi lên lòng tin, mình phải tác ý; muốn sanh khởi lên sự tinh tấn, phải tác ý; muốn phát khởi lên sự hổ thẹn là phải tác ý mạnh; muốn sanh khởi lên sự sợ hãi là phải tác ý; muốn sanh khởi lên tuệ, Thánh Thể Nhập, tri kiến của bậc Thánh là phải tác ý. Đây là khổ, những nguyên nhân của khổ. Mình tác ý hoài, tác ý khổ riết rồi nó chán, khổ quá, thấy khổ gì đâu riết mình nhàm chán. Mà đừng tác ý lạc, đừng tác ý sướng, vì nó đi theo, nó sanh khởi dục, sanh khởi ái, sanh khởi tham. Mình tác ý khổ, mà tác ý đó là đúng, đúng là Thánh Trí, còn kia là tác ý theo phàm tâm.
Nó bưng đồ ăn lên nhiều như vậy mà khổ, ăn vô hết ngồi thiền, ăn vô khó tiêu, mệt, ăn một chút thôi. Đó là tác ý. Đam mê cái này (điện thoại) nên sanh ra những dục, ái, tham, tại thứ này, tối ngày tưởng nhớ cái này. Sáng thức dậy rồi ăn, trưa ăn, tối ăn, chiều ăn, khuya ăn, quán nhàm chán các thức ăn đi rồi từ từ mình sẽ nhàm chán. Hay lắm, mình tác ý mình quán rồi từ từ nó nhàm chán chứ không tự động mà nhàm chán. Nên đa số tu mà không thành tựu là ta nghĩ rằng nói vậy, nghe vậy rồi làm vậy được, không phải. Tác ý liên tục hoài, tác ý đó là quán, là Chánh Tư Duy. Tác ý nhàm chán đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức, đối với những cảnh vinh nhục, được mất, khen chê, giàu nghèo, thành bại của cuộc đời. Tác ý nhàm chán đối với những trò gian dối, xảo ngụy, tuồng kịch, sân khấu của cuộc đời, nhìn thấy những cái giả dối nhan nhản trước mặt mà tác ý nhàm chán.
Tác ý từ vị mới bắt đầu tu cho đến Thánh Quả A-la-hán đều là tác ý năm uẩn, là mũi tên, là ung nhọt, là hố than hừng, là kẻ giết người, là thứ bại hoại. Cứ tác ý như vậy hoài thì sớm muộn gì cũng nhập lưu. Khi sân khởi lên mình tác ý, nói đây là con thú, là ngọn lửa đốt mình, là thứ khốn nạn, sát nhân… Không chấp nhận, đánh đuổi ra. Tham khởi lên cũng tác ý vậy, là quái vật, yêu tinh, bản ngã khởi lên cũng vậy, không biết xấu hổ, nhục nhã, mặt dày, đội quần đi. Bản ngã với ai? Cạo đầu trọc lóc rồi lấy tay rờ lên đầu đi, đồ thứ không biết nhục, biết nhục không? Bỏ cha bỏ mẹ, bỏ hết tất cả vô đây ngã mạn, ta đây, cống cao, mình chửi nó, dùng những tác ý mạnh tác ý riết rồi tham, sân, si chạy mất dép. Phải tác ý, tác ý thật mạnh, thật nhiều, liên tục. Nếu mình không tác ý thì những thứ đó sanh khởi, đây là mình nói tác ý ngược lại, còn nếu mình không tác ý thì những tác ý tham, sân, si, bản ngã kia sẽ sanh khởi. Tác ý kia là tác ý của phàm, của nghiệp, của vô minh, chấp thủ, tham ái, mà cái kia thì khỏi cần tác ý vì nó đã đầy rẫy, tác cho nó đi ra, tác cho hết thì được, còn tác theo nó là mình chết, là nó tác mình, tác qua tác lại.
Dùng tác ý của Chánh Pháp, Chánh Tri Kiến, của tuệ, tinh tấn niệm định tuệ để tác ý thật mạnh. Rồi tác ý từ, bi, hỷ, xả vô lượng tâm, tác ý những trí huệ, Thánh Trí, tác ý bốn Thánh Đế, tác ý Thất Giác Chi, tác ý Tứ Nhi Ý Túc, Tứ Chánh Cần, Ngũ Căn, Ngũ Lục tác ý những tác ý Thánh Pháp, Thánh Trí, Thánh Tuệ, Thánh Thể Nhập, tác ý hoài cho nó sanh khởi chứ đâu phải tự nhiên [50;05]kinh sách thầy ra giảng vậy. Không phải, thầy tác ý liên tục, gặp gì cũng tác ý theo pháp. Tác ý riết quen rồi giờ chỗ nào nhìn vô cũng thành pháp được, chứ đâu phải học cho giỏi để lên nói, thuộc lòng kinh lên nói không chưa đủ, phải dùng tác ý, “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”. Muốn sanh khởi Thánh Pháp thì tác ý Thánh Pháp, muốn sanh khởi sự viễn ly thì tác ý cho nó viễn ly, muốn sanh khởi sự ly tham thì tác ý ly tham, tác động tâm ý.
KINH CỘI RỄ CỦA SỰ VẬT I
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tất cả pháp lấy dục làm căn bản: PAGEREF _Toc54342912 \h 3
II. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi: PAGEREF _Toc54342913 \h 6
Pháp Từ đọc bài kinh “Cội rễ của sự vật”
Pháp Từ: con xin được đọc những lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikaya – bài kinh “Cội rễ của sự vật” nằm trong Tăng Chi Bộ Kinh tập IV:
“Này các Tỳ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo có đến hỏi các ông như sau: Thưa Hiền giả, tất cả Pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khởi? Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ tụ hội? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ? Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng? Tất cả pháp lấy gì làm lõi cây?" Ðược hỏi như vậy, này các Tỳ-kheo, các ông trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như thế nào?
Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm chỗ quy hướng. Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy nói lên ý nghĩa lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỳ-kheo sẽ thọ trì.
- Vậy này các Tỳ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
- Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo có đến hỏi các ông như sau: "Thưa Hiền giả, tất cả pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khởi? Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ tụ hội? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ? Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng? Tất cả pháp lấy gì làm lõi cây?" Ðược hỏi vậy, này các Tỳ-kheo, các ông hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: "Thưa chư Hiền, tất cả pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây". Ðược hỏi như vậy, này các Tỳ-kheo, các ông hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.
Sáng nay ngồi thiền chúng ta có một niềm phúc lạc vô biên, một sự hạnh phúc nhiệm màu, bình an, tuyệt vời, nhuần thấm thân tâm. Thế là không còn gì hạnh phúc bằng được tìm ra Chánh Pháp, sống trong Chánh Pháp, được thực tập trong Chánh Pháp với một không gian thanh tịnh, viễn ly như thế này. Vui lắm, làm cho mình phát sanh một cảm thọ hỷ lạc trong sự tu học, hân hoan, hoan hỉ, tinh tấn ngày đêm tu học trong các thiện pháp. Không có niềm vui nào trên thế gian này có thể sánh nổi. Mình phải biết nuôi dưỡng, tác ý, tưới tẩm, chăm sóc cho hỷ lạc trong pháp được thấm nhuần, lớn mạnh, tuyệt vời, kỳ diệu và thiêng liêng. Một cảm xúc thứ hai là trí huệ của Như Lai thâm sâu vô lượng, không cùng tận, Phật trí quảng đại vô biên, vô cực, hạnh phúc vô vàn mà chúng ta đang tắm mình trong biển cả trí huệ đó.
Mình phải nhớ rằng giờ mình nghe pháp và thảo luận Phật Pháp là giờ tu, đừng nghĩ rằng ngồi thiền trên bồ đoàn và giờ tụng kinh mới là tu, còn giờ nghe pháp là không phải giờ tu, không được suy nghĩ vậy. Chúng ta sẽ học những bài kinh về lợi ích của nghe pháp, sẽ khủng khiếp và bất ngờ lắm, có thể chứng quả bất lai trong khi đang nghe pháp. Vào sơ thiền, thành tựu Chánh Tri Kiến, nên điều thứ hai là điều tiếp theo: phải xem giờ nghe pháp và thảo luận pháp là giờ tu học. Nói giống như Trí Hòa, giờ nó đang chạy rần rần, trong này ấm lên hết toàn thân, hỷ lạc hãy cho nó nhuần thấm. Giây phút chúng ta đang ngồi đây là giây phút thánh thiện, cao thượng, trọn lành, thiêng liêng, vi diệu chứ không phải tìm cầu một sự chứng ngộ ở chỗ khác. Tất cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình thấm đượm trong sự thật, trong thánh trí, trong niềm tôn kính sâu xa đối với Phật, Pháp, Tăng, Giới, trong dòng chảy của Thánh Pháp. Đừng nghĩ mình ráng đợi 10 năm sau chứng quả, còn bây giờ ngồi đây là không phải, tác ý như vậy là Phi Như Lý Tác Ý, là hành, tưởng, vị lai. Nếu giờ này không ngồi đây thì chúng ta đang làm gì? Thấy có sự khác biệt không? Trí huệ của Như Lai thâm sâu vô lượng, khó dò, không cùng tận.
Sáng nay ngồi thiền, Minh Thành có cảm xúc với bài kinh hôm qua bên ở đại học nên mình sẽ tìm hiểu một cách rộng rãi kinh “Cội rễ của sự vật” Tăng Chi Bộ Kinh tập IV. Cội rễ là gì? Là nguồn cội của tất cả sự vật, hiện tượng, nhân sinh, vũ trụ, gốc gác, nguyên lý sanh khởi tất cả toàn bộ thế giới. Mà đây chú trọng về hữu tình chúng sanh, nhiều hơn tất cả mọi thi vi vận hành đời sống của hữu tình đều bắt nguồn căn nguyên này, cho đến nhân quả của thánh – phàm, mê ngộ nên gọi là cội rễ, gốc rễ, căn nguyên, nguồn cội của tất cả thánh – phàm. Mọi sự thi vi, vận hành, hoạt động đời sống sinh hoạt của chúng sanh bắt nguồn từ đâu trong bài kinh này sẽ nói hết.
I. Tất cả pháp lấy dục làm căn bản:
Đầu tiên là “Tất cả Pháp lấy dục làm căn bản”. “Dục” này hiểu theo nhiều khía cạnh, muốn, thúc giục, dục lạc hay dục như ý túc. Dục lạc và dục như ý túc cũng là 2 dục nhưng là dục thánh – phàm, dục đưa đến mê và ngộ, tham và ly tham. Ly tham cũng là từ dục này, từ từ chúng ta sẽ tìm hiểu.
Nếu không muốn ly tham thì làm sao mình ly tham? Mình không muốn tu thì sao lại ngồi đây? Nên lấy “dục” làm căn bản. Hôm qua chúng ta đã học là một ý muốn rất nhanh, rất nhẹ mà mình không thấy, là một cái gốc rễ thâm sâu, Phật trí mới nhìn thấy được mọi cái thi vi động tác vận chuyển của mình. Muốn đánh chuông thì phải thò tay cầm dùi chuông, phải có muốn trước.
Vậy nguồn cội, gốc rễ sâu xa của sự phát ra được tiếng chuông là từ sự muốn, sau đó mới đưa quai lên, kéo qua, rồi từ từ cầm xuống dùi chuông. Còn nếu như cầm dùi chuông rồi mà đổi ý thì để xuống, không nắm. Tiếng chuông phát khởi lên được là phải có gốc rễ từ sự muốn. Nếu không có cái muốn thì tiếng chuông đó không phát khởi lên. Nên muốn lên nói pháp, chia sẻ bài kinh này hay bài kinh khác thì sao? Như vậy cái gốc rễ, cội nguồn, chỗ phát khởi ra gốc của nó là muốn, muốn ăn, muốn ngủ sớm, muốn đi tắm, đi chơi, muốn hôm nay làm gì đó như nhổ mấy cây trúc để trồng… thì đó là gốc rễ mà mình không thấy, chỉ thấy nó bình thường.
Như vậy tất cả các thi vi, động tác, đi đứng, ngồi nằm, nói nín động tịnh, tới lui qua lại, nói năng im lặng, làm việc này kia là từ gốc rễ của muốn, khi không muốn nói nữa thì ngồi im luôn, không muốn nói nhưng lại muốn im nên có sự im. Im lặng cũng là một pháp, muốn ngồi yên không muốn nói nên nó sanh khởi. Đó mới là những cái tế, giờ mình nói những cái thô hơn, lớn hơn.
Sau khi muốn nó có sự thúc giục, nên mình thấy có những người đi lẹ lẹ, nhanh nhanh, nhất là lúc xuống núi đi về, chạy lẹ đi lấy đồ rồi về, đó là thúc giục. Khi mình ăn nhanh, bên trong có cảm giác thúc giục, khi mình thấy người đó đi mà đi chậm không được – do bên trong thúc giục, sửa không được. Sự thúc giục đó đã được nuôi dưỡng quen, như người nói nhanh hay làm nhanh cũng vậy, là do dục đó được nuôi dưỡng, trở thành một thói quen thúc giục ở trong. Mà cái thúc giục này là phải trí huệ, phải nhận diện năm uẩn mới thấy, quán thọ mới thấy thọ, tưởng, hành bên trong nó thúc giục. Thấy được cái thúc giục đó không?
Ví dụ như mình ngồi thiền mà đau chân, mình muốn ông đánh kẻng đánh lẹ lẹ, sao bữa nay lâu quá, trông hoài không thấy, cứ dòm đồng hồ hoài, đó là thúc giục. Hành động dòm đồng hồ chỉ là thể hiện của cái dục, chứ thực sự là cái cảm thọ ở dưới nó nung lên, nôn nao, thúc giục. Mình dòm đồng hồ hoài, thấy sao lâu, sao chậm quá, tới giờ rồi. Bình thường thì không thấy chậm nhưng gặp bữa có công chuyện gì cần hay đau bụng, hay cần thiết chuyện gì đó thì dù thời gian vẫn trôi bình thường nhưng cái thúc giục bên trong làm cho mình thấy chậm, thấy lâu rồi thấy bực. Từ những cái đó mà mình nhìn thấy cái thúc giục, từ những cái ác bất thiện pháp nó thúc giục.
Bước thêm bước nữa là tham dục, dục lạc. Có phải từ dục mà sanh ra mình không? Sự dâm dục là cội gốc, gốc rễ của thân này nên ngài A-nan nói với một tỳ- kheo ni là: “Này chị, thân này là thức ăn, là tham ái, kiêu mạn, dâm dục tác thành, Đức Thế Tôn dạy như vậy. Người tu y cứ vào thức ăn, vào tham ái, vào kiêu mạn, vào dâm dục mà hình thành nhưng đi tới bước cuối cùng là đánh sập bốn cái đó. Dù từ bốn cái đó mà sanh ra nhưng sau đó đánh sập chúng, đó là sức mạnh của người tu. Mình từ thức ăn, từ ái, từ ngã mạn, chấp ngã sanh ra phải không, từ dâm dục mà có ra thân này. Nhưng giờ mình tu học để đánh sập bốn cái đó, lấy gậy ông đập lưng ông, ở trong nó để đánh sập nó. Như vậy gốc rễ của thân thể ngồi đây là từ dục, từ ái, từ cha mẹ sanh, nên “Tất cả pháp lấy dục làm căn bản”.
Trong khi thế giới này là dục giới và từ dục sanh ra thân này thì đi tìm dục, do dục mà sống và do dục mà chết. Thế nào gọi là do dục mà sống? Thế nào gọi là do dục mà chết? Sống phải có tình yêu, vì không có tình yêu làm sao mà sống cho nên phải đi tìm dục. Và khi tìm không được thì sẵn sàng chết, như vậy từ dục mà sanh cũng từ dục mà tử.
Bây giờ đã hiểu câu: “Sanh tử căn bản, dục vi đệ nhất” mình hay học chưa? Gốc rễ của sanh tử, dục là số một. Tấm thân này sanh ra từ dục, rồi sanh ra nó đi tìm dục, tìm để thỏa mãn những cái dục, mà dục thì không bao giờ thỏa mãn nên nó khổ đau hoài, mà nếu không được thỏa mãn thì có thể nó sẽ hủy hoại thân này, quyên sinh, tự vẫn. Dục hủy hoại tấm thân từ chỗ mê muội xì ke ma túy, heroin, cỏ Mỹ, bao nhiêu những chất ngáo đá. Do dục mà sẵn sàng hủy hoại thân thể này và sẵn sàng giết nhau chết, bôi nhọ, chỉ trích nhau, chậm chọc, ganh tỵ, tật đố với nhau vì cái dục.
Như vậy, đời sống này nếu mình nhìn thâm sâu bằng tuệ nhãn là toàn bộ đều bị dục chi phối, dục hình thành, dục nuôi lớn và làm cho bại hoại, suy tàn và đi đến chỗ hoại diệt. Mình quán như vậy để nhàm chán các dục, từ bỏ các dục, sợ hãi các dục. Mình nhìn thử đời sống mà con người nếu không học Phật Pháp, không biết tu hành thì có phải toàn bộ đi chạy tìm, phục vụ, cung phụng cho dục không? Muốn ăn ngon không? Tìm thức ăn ngon, đồ mặc đẹp, nhà ở cho sang, phải có sự muốn trước.
Có khi một căn nhà xây lên rồi là thiếu nợ suốt đời, chưa kể những thú vui bệnh hoạn hủy hoại cuộc đời, thân tàn ma dại, vào tù ra khám, đến chết cũng không biết tại sao mình chết. Đâu có trí huệ để nhìn thấy được dục lậu, một trạng thái ngấm ngầm, âm thầm điều khiển và thúc đẩy, chi phối và xâm chiếm toàn bộ thân tâm của mình và chúng sanh trên toàn bộ thế giới, đó là dục lậu. Và chính nó hình thành nên dục giới này nên tất cả pháp, tất cả sự vật, nhân sinh lấy dục làm cội gốc, từ thầm ý muốn, từ thúc giục, dục lạc…
Bây giờ tới dục nhân quả của thánh – phàm, dục để đi ra khỏi dục thì trở thành thánh mà dục để đi vào dục thì thành phàm. Thấy rõ vấn đề không? Nếu muốn để đi ra khỏi tất cả sự tham muốn khổ đau này thì đi đến giác ngộ, còn muốn để đi tìm những cái nó muốn thì đi đến vô minh, ma ám. Có phải dục làm căn bản không? Căn bản của phàm – thánh, của vô minh và trí huệ, của sự trói chăng và sự giải thoát tháo gỡ là từ cái muốn này.
Nhưng một điều rất khổ đau là không có đạo lộ giải thoát, không biết, không nghe, không thấy thì làm sao gặp, dù muốn ra khỏi cũng làm sao ra khỏi được vì không thấy đường, không biết cách. Biết bao nhiêu người muốn tu nhưng đó chỉ là muốn thôi, không biết cách thì làm sao ra? Không biết cách thì bị cái dục này trá hình, nó dị dạng dị hình, thiên biến vạn hóa cái dục. Và cuối cùng người này sa vô những cái bẫy của các tư tưởng của chính người đó tạo ra, người đó tưởng mình ly dục nhưng không phải.
Do cái dục thiên hình vạn trạng, nếu không thành tựu Chánh Tri Kiến thì người này vướng vô cái dục mà lại tưởng đâu mình đang đi ra khỏi dục. Đây là đau đớn lắm. Người đó tưởng đâu đang tu pháp ly dục nhưng lại đi từ cái dục này qua cái dục khác chứ không có đường thoát ra khỏi dục, ly dục, không xuất ly đạo lộ, không thấy được con đường đi ra khỏi, con đường đó chỉ có Chánh Đẳng Chánh Giác mới chỉ ra được, độc đạo. Ngoài con đường Chánh Đẳng Chánh Giác không ai chỉ ra được, cao nhất là phi tưởng phi tưởng xứ trong Tam giới thôi. Ngoài Chánh Đẳng Chánh Giác không một người nào có thể chỉ ra con đường đi ra dục.
Từ nay về sau trước khi nghe pháp mình phải đọc kinh lại: “Tất cả Pháp lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm chỗ quy hướng”. Ngoài Đức Thế Tôn không một người nào chỉ cho mình nổi, mấy người chỉ họ đã đi chưa? Họ còn không biết đường thì chỉ mình đi đâu? Trừ Đức Chánh Đẳng Chánh Giác và các bậc A-la-hán mới chỉ chính xác nên cái này thâm sâu lắm. Nếu không có tròng mắt lửa, tròng vàng của Tôn Ngộ Không, không thể nào biết được cái đó là yêu tinh biến hình ra. Tức không có con mắt tuệ, thanh tịnh pháp nhãn của bậc Dự Lưu Chánh Tri Kiến thì mình tưởng đâu mình đang tu Chánh Pháp nhưng đó là trá hình của dục, tham, ái.
Khi chưa thành tựu Chánh Tri Kiến, mình không nhìn ra được, mình tưởng và tin theo những cái tưởng, cái nghĩ của mình. Tin theo cảm giác của mình là chết hết, xuống núi hết, đó là cái dục trá hình. Và người đó nói là tôi tu, khủng khiếp chưa? Tu cái gì trong khi mình đã đi theo cái dục muốn của mình rồi? Thánh đạo ở trước mắt mình còn không thấy, bị tà đạo dụ hoặc, Bát Chánh không tu mà đi theo bát tà, bát quái, bát nháo. Thâm sâu vô lượng không thể xem thường, trong sự tu học này không thể xem thường.
Mới hiểu một chút đã nói tôi có Chánh Tri Kiến, về nhà tu với má, ở đây có người vậy mà. Hiểu rồi, thấy được năm uẩn rồi về nhà tu, chết không? Phải hết sức cẩn thận, “Tất cả Pháp lấy dục làm căn bản”, nếu lấy dục làm căn bản mà cái dục của mình, bước qua Dục Như Ý Túc, dục ham muốn giải thoát, chứng ngộ của mình nó mãnh liệt thì tự động sự ham muốn mãnh liệt thúc đẩy đó nó thúc giục bên trong, nó khởi lên ý muốn rồi nó thúc giục, nỗ lực, tìm đủ mọi cách.
II. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi:
Bắt đầu bước qua tác ý, qua phần Định làm thượng thủ, thành ra trong này thấy vậy chứ Tứ Như Ý Túc này kia nọ các pháp trong đây có hết chứ không phải cái này khác với 37 Phẩm Trợ Đạo, nó trùm hết nên nó thúc giục mạnh mẽ để mình đi ra khỏi, mình sẽ chứng ngộ, mà cái muốn của mình yếu quá, không đủ. Giống như khi nãy thò tay qua tính đánh chuông mà đổi ý thôi khỏi đánh.
Cũng giống như vậy, mình cũng muốn, cũng cạo đầu vô tu, tinh tấn được chừng 1 năm, năm rưỡi thì nghĩ chắc không nổi, tu vừa vừa thôi, tu vầy cũng tạm ổn rồi, đừng làm quá chịu không nổi. Đó là cái dục không đủ sức, đẩy Tấn Như Ý Túc nên cái này quyết định. Thánh – phàm mê ngộ, nhân quả của Thánh – phàm. Đi ăn đi chơi, đi hưởng thụ, đi hại người, giết người, đi trộm cắp cũng là dục, mà cái muốn đi làm từ thiện, đi xuất gia gieo duyên, đi xuất gia, đi thành tựu Chánh Tri Kiến, muốn chứng ngộ, diệt tận tất cả các lậu hoặc là cũng từ cái muốn.
Không có cái muốn đó thì sao có những cái diệt này, nên “Tất cả Pháp lấy muốn làm cội gốc”, “Tất cả Pháp lấy tác ý là sanh khởi”, tác động tâm ý. Tất cả sự vật hiện tượng trên thế gia này là do tác động tâm ý làm nó sanh khởi. Nếu mình không có tác động tâm ý thì không có gì hết.
Nãy giờ mình ngồi đây nghe pháp không có chú ý lồng đèn trên đầu mình, nhìn lên thử xem, đó là đèn treo, mình tác động tâm ý cho nó sanh khởi, còn không tác động tâm ý thì nó có đó cũng như không, tác ý của mình nó mới sanh khởi. Mình đang ngồi nghe pháp bình yên thế này tự nhiên nghĩ: “chà, sáng nay có người hẹn mình”, lúc 9h là có điện thoại công việc, lúc đó nó sanh khởi trong nội tâm mình. Còn nếu nó không nghĩ về cái đó, không tác ý vô vấn đề đó thì lúc đó ý hành đó có khởi lên không, cảm giác lo lắng có khởi lên không, có tưởng lên không?
Có tưởng người ta điện mình không bắt máy, thấy tác ý làm sanh khởi lên không? Lúc đó có cảm giác lo, rồi tưởng hình bóng của điện thoại rung lên 3, 4, 5 lần mà mình không bắt máy, nghĩ chuyện gì quan trọng lắm, làm các pháp sanh khởi là do mình tác ý. Nên chữ hành nghĩa rất thâm sâu, thế nào gọi là hành? Làm cho hiện hành các pháp hữu vi, làm cho hiện hành sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, hành với hành tánh, thức với thức tánh, này các Tỳ- kheo, nên gọi là hành.
Khi mình suy nghĩ, tác động tâm ý của mình lên, thì các pháp sẽ hiển lộ ra, biểu hiện, hiện rõ ra. Đó gọi là làm cho nó hiện hành, lộ rõ. Mình đi vô một vòng phớt ngang, không để ý gì, đi ra rồi thì đi và ngắm vậy thôi, nhưng lại thì nghĩ: “Ôi cây tùng này thấy lạ vậy ta, tùng này nào giờ không gặp, tên là tùng gì há?”. Giờ mình biết cây tùng bồng lai, bắt đầu nó hiện rõ ra. Như vậy trước khi mình nói ra thì ý hành nó khởi trước, nó là cây tùng.
Những suy nghĩ của mình làm cho hiện rõ ra, lộ ra các pháp, đó là sự tác động của tâm ý. “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, nó sanh khởi ra. Tự nhiên đang ngồi đây lại nghĩ: “Không biết bữa nay có sầu riêng rụng không ta”, nó tác ý như vậy thì lúc đó có pháp trong tâm không? Có hình bóng sầu riêng không? Có cây sầu riêng không? Nếu cái tưởng có khi nó rớt xuống cái bịch, nằm xuống gốc cây chỗ nào đó, ở dưới thất sư phụ hay ở đâu đâu đó thì lúc đó các pháp sanh khởi, thọ sanh khởi, tưởng sanh khởi, hành sanh khởi, thức sanh khởi.
Nếu suy nghĩ nhiều chút nữa có khi nước miếng chảy, tươm tươm nước miếng, nó sanh khởi đó, cái pháp đó thâm sâu không? Khủng khiếp luôn, làm sao phàm phu bình thường có thể biết nổi những cái này, đó là các pháp. Quán pháp là cái này. Khi nhìn lại nội tâm mình, mình thấy các pháp hiện rõ ra, làm cho hiện hành các pháp hữu vi. Một ý hành sanh khởi lên là mình nhìn thấy được những cái tưởng, hình bóng đi theo, và cảm giác kèm theo rồi cái thức nó biết và nó tác động tới sắc uẩn của mình.
Khi một tư tưởng về dục khởi lên thì lúc đó có hình bóng đối tượng đó, có cảm giác đó. Và cái thức biết được có cái hình bóng đó, cảm giác đó, suy nghĩ đó và sắc uẩn của mình có thể khởi dục, có chỗ phát dục, động chuyển. Nó khởi lên sân cũng vậy thôi, “tôi bực bội ông đó quá…” rồi bắt đầu cảm giác sanh, tưởng sanh, thức biết được. Rồi từ cảm giác của tâm đi qua cảm giác của thân, mặt mình nhìn không tươi tắn vì bị tưởng, thọ, hành, thức của sân, bốn cái cùng ập vô sắc uẩn làm sao sắc uẩn thoải mái được, 4 quả núi kia đè lên, nhìn mặt mình không thoải mái, có vẻ bực khó chịu.
Vì trong tâm mình đang có cảm thọ sân, tưởng sân, suy nghĩ về sân, tác ý làm cho tất cả pháp sanh khởi. Nên cái này mình tu tập Hỷ vô lượng tâm, Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm, Xả vô lượng tâm hay lắm, mình phải làm. Cho nên mấy huynh đệ thấy thầy ngồi nói đây là giây phút thiêng liêng an lạc, mình được xả ly tất cả những cái trần tục của thế gian, mình ngồi đây bình an. Đó là tác ý sanh, làm cho các pháp sanh khởi, chứ mình muốn hỷ, tự nhiên nó không hỷ đâu. Mình phải tác ý cho nó sanh khởi, mình tập tác ý quen rồi, mai mốt mình muốn là tự động sanh khởi, automatic, cực nhanh. Vì tâm của mình được huấn luyện, điêu luyện, mềm mại, dễ sử dụng. Mình muốn nó vô từ là vô từ, muốn bi là vô bi, muốn vô hỷ là vô hỷ, muốn vô xả vô lượng tâm là tác ý lên cho nó xả.
Ví dụ mình muốn trú vô một cảm thọ vô lượng cái tưởng, vô lượng là mình trú vô, tác ý vô là sanh khởi, cho thọ sanh khởi, tưởng sanh khởi, hành sanh khởi là mình trú vô tâm vô lượng không hận không sân. Mình ngồi có chút xíu 60kg thôi mà tâm của mình trùm hết núi đồi, làm cho cảm thọ của mình quảng đại vô biên, không hận, không sân, vô cùng, vô cực, vô lượng, vô biên, đông, tây, nam, bắc, trên, dưới, bề dọc, bề ngang, cùng khắp câu hữu dưới từ, biến mảng một phương, hai phương, bốn phương, năm phương, mười phương.
Mình phải tác ý, không tác ý làm sao nó sanh khởi, nên kêu cười mà ngồi im re không thèm cười. Nhiều khi lại các chúng hội, mình kêu mỉm cười mà mỉm không nổi. Có nhiều người cười khà khà là không phải. Cười nhẹ, làm cho hiện hạnh, tức mình phải nói những lời nói mà khi mình nói xong, hạnh khởi lên cảm giác đi theo, tưởng đi theo, như vậy các pháp sanh khởi. “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”. Tác động tâm ý này khiếp lắm, mình muốn nó sanh khởi lên lòng tin, mình phải tác ý; muốn sanh khởi lên sự tinh tấn, phải tác ý; muốn phát khởi lên sự hổ thẹn là phải tác ý mạnh; muốn sanh khởi lên sự sợ hãi là phải tác ý; muốn sanh khởi lên tuệ, Thánh Thể Nhập, tri kiến của bậc Thánh là phải tác ý. Đây là khổ, những nguyên nhân của khổ. Mình tác ý hoài, tác ý khổ riết rồi nó chán, khổ quá, thấy khổ gì đâu riết mình nhàm chán. Mà đừng tác ý lạc, đừng tác ý sướng, vì nó đi theo, nó sanh khởi dục, sanh khởi ái, sanh khởi tham. Mình tác ý khổ, mà tác ý đó là đúng, đúng là Thánh Trí, còn kia là tác ý theo phàm tâm.
Nó bưng đồ ăn lên nhiều như vậy mà khổ, ăn vô hết ngồi thiền, ăn vô khó tiêu, mệt, ăn một chút thôi. Đó là tác ý. Đam mê cái này (điện thoại) nên sanh ra những dục, ái, tham, tại thứ này, tối ngày tưởng nhớ cái này. Sáng thức dậy rồi ăn, trưa ăn, tối ăn, chiều ăn, khuya ăn, quán nhàm chán các thức ăn đi rồi từ từ mình sẽ nhàm chán. Hay lắm, mình tác ý mình quán rồi từ từ nó nhàm chán chứ không tự động mà nhàm chán. Nên đa số tu mà không thành tựu là ta nghĩ rằng nói vậy, nghe vậy rồi làm vậy được, không phải. Tác ý liên tục hoài, tác ý đó là quán, là Chánh Tư Duy. Tác ý nhàm chán đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức, đối với những cảnh vinh nhục, được mất, khen chê, giàu nghèo, thành bại của cuộc đời. Tác ý nhàm chán đối với những trò gian dối, xảo ngụy, tuồng kịch, sân khấu của cuộc đời, nhìn thấy những cái giả dối nhan nhản trước mặt mà tác ý nhàm chán.
Tác ý từ vị mới bắt đầu tu cho đến Thánh Quả A-la-hán đều là tác ý năm uẩn, là mũi tên, là ung nhọt, là hố than hừng, là kẻ giết người, là thứ bại hoại. Cứ tác ý như vậy hoài thì sớm muộn gì cũng nhập lưu. Khi sân khởi lên mình tác ý, nói đây là con thú, là ngọn lửa đốt mình, là thứ khốn nạn, sát nhân… Không chấp nhận, đánh đuổi ra. Tham khởi lên cũng tác ý vậy, là quái vật, yêu tinh, bản ngã khởi lên cũng vậy, không biết xấu hổ, nhục nhã, mặt dày, đội quần đi. Bản ngã với ai? Cạo đầu trọc lóc rồi lấy tay rờ lên đầu đi, đồ thứ không biết nhục, biết nhục không? Bỏ cha bỏ mẹ, bỏ hết tất cả vô đây ngã mạn, ta đây, cống cao, mình chửi nó, dùng những tác ý mạnh tác ý riết rồi tham, sân, si chạy mất dép. Phải tác ý, tác ý thật mạnh, thật nhiều, liên tục. Nếu mình không tác ý thì những thứ đó sanh khởi, đây là mình nói tác ý ngược lại, còn nếu mình không tác ý thì những tác ý tham, sân, si, bản ngã kia sẽ sanh khởi. Tác ý kia là tác ý của phàm, của nghiệp, của vô minh, chấp thủ, tham ái, mà cái kia thì khỏi cần tác ý vì nó đã đầy rẫy, tác cho nó đi ra, tác cho hết thì được, còn tác theo nó là mình chết, là nó tác mình, tác qua tác lại.
Dùng tác ý của Chánh Pháp, Chánh Tri Kiến, của tuệ, tinh tấn niệm định tuệ để tác ý thật mạnh. Rồi tác ý từ, bi, hỷ, xả vô lượng tâm, tác ý những trí huệ, Thánh Trí, tác ý bốn Thánh Đế, tác ý Thất Giác Chi, tác ý Tứ Nhi Ý Túc, Tứ Chánh Cần, Ngũ Căn, Ngũ Lục tác ý những tác ý Thánh Pháp, Thánh Trí, Thánh Tuệ, Thánh Thể Nhập, tác ý hoài cho nó sanh khởi chứ đâu phải tự nhiên [50;05]kinh sách thầy ra giảng vậy. Không phải, thầy tác ý liên tục, gặp gì cũng tác ý theo pháp. Tác ý riết quen rồi giờ chỗ nào nhìn vô cũng thành pháp được, chứ đâu phải học cho giỏi để lên nói, thuộc lòng kinh lên nói không chưa đủ, phải dùng tác ý, “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”. Muốn sanh khởi Thánh Pháp thì tác ý Thánh Pháp, muốn sanh khởi sự viễn ly thì tác ý cho nó viễn ly, muốn sanh khởi sự ly tham thì tác ý ly tham, tác động tâm ý.