Thứ Tự Tu Tập
THỨ TỰ TU TẬP
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc90109612 \h 1
II. Phát hiện cấu uế PAGEREF _Toc90109613 \h 3
III. Nhiếp phục và đoạn tận PAGEREF _Toc90109614 \h 5
IV. Tu tập thiện pháp PAGEREF _Toc90109615 \h 9
V. Tổng kết PAGEREF _Toc90109616 \h 13
I. Nhận diện ngũ uẩn
Minh Thành xin phép được chia sẻ về tuần tự tu tập, đạo lộ hành trì, con đường, những bước mà chúng ta cần phải đi qua theo sự tu tập, tinh thần của kinh tạng Nikāya. Những bước này rất quan trọng, chúng ta cần nắm thật vững để khi thực tập, thực hành đi đúng đạo lộ, con đường, trình tự trong sự tu học. Nếu không thì mình tu học một cách mông lung, mù mịt, viễn vong, xa vời, không thấy rõ con đường, đạo lộ, trình tự, mình không biết đang đi đến đâu, tu điều gì. Khi nắm rõ được những trình tự, những bước thực tập, hành trì này thì sự tu học của chúng ta rất rõ ràng, minh bạch.
Đầu tiên là sự khác biệt của phàm phu không nghe, không học được Chánh Pháp, không gặp được bậc chân nhân chánh kiến thì người này nhận lầm hình hài này là tôi, của tôi, là một bản ngã, tự ngã. Sự khác biệt của vô văn phàm phu và đa văn Thánh đệ tử, sự khác biệt giữa người có tu học Chánh Pháp và không có tu học Chánh Pháp nằm ở điểm nào? Đó là điểm quyết định là chỗ người tu, đã văn Thánh đệ tử là người nghe được Chánh Pháp, gặp được Chánh Pháp, gặp được bậc chân nhân chánh kiến. Điều kiện quyết định là người này nhìn ra được năm tổ hợp, chúng ta thường dùng là câu nhận diện năm uẩn. Nếu không bước qua được bước này thì vĩnh viễn mình chỉ là vô văn phàm phu.
Vì vậy việc nhận diện năm uẩn, nhìn ra được năm tổ hợp là tri kiến của bậc Thánh, không phải là việc bình thường. Nên biết được điều đó là cánh cửa để bước vào. Nếu không nhận diện được năm uẩn, nhìn thấy năm tổ hợp thì người này vĩnh viễn, mãi mãi ở trong vô văn phàm phu. Vì vậy, pháp nhận diện ngũ uẩn là pháp quyết định, tuyệt đối quan trọng, chỉ có nhìn được ngũ uẩn, năm tổ hợp thì mê lầm mới được phá ở bước đầu.
Nên khi mình có tu học đến mức độ nào đi nữa mà mình không nhận diện ngũ uẩn thì sống trong vô minh, bản ngã. Đây là từ ban đầu đến khi cứu cánh là nhìn thấy năm uẩn. Nên thấy được năm uẩn là thấy Phật, thấy pháp, thấy được Thánh trí, thấy được chân lý nên chúng ta từng bước vĩ được biểu đồ vì điều này rất vĩ đại, đạo lộ của kinh Nikāya không hề đơn giản. Vì vậy chúng ta hoàn chỉnh nó từ từ.
Thứ quyết định bậc đa văn Thánh đệ tử của người tu học là đầu tiên thấy được một tổ hợp lớn, kẻ vô văn phàm phu (kẻ không nghe Chánh Pháp, không học Chánh Pháp, không gặp bậc chân nhân, bậc Chánh Kiến) thì họ lại cho tổ hợp đó là tôi, của tôi.
Đây là sự khác nhau, người không biết tu, không thành tựu Chánh Kiến thì người đó thấy tôi, chấp ngã ở trong cái tổ hợp lớn này, còn người có nghe pháp, có gặp bậc chân nhân, chánh kiến, nhận diện năm uẩn thì nhận ra được đây là một tổ hợp lớn gồm nhiều tổ hợp nhỏ. Tổ hợp gồm có sắc, cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức. Đây quyết định được, bất cứ người tu học mà không nhìn ra được thân tâm này chỉ là một tổ hợp lớn, không có tự ngã, không có cái tôi thì người đó vĩnh viễn chỉ ở ngoài cổng chùa, dù cho có tu trăm năm. Chỉ làm được những pháp thiện trong hữu vi của người trời ở trong luân hồi sanh tử, trong hữu lậu hữu vi, hữu ái.
Nếu không bước qua được bước thứ nhất, bước này là nhận diện ngũ uẩn, nhìn ra năm tổ hợp. Đây là bước quyết định nên người nào nhìn ra được năm tổ hợp nhỏ trong tổ hợp lớn này thì người này chỉ thấy thân tâm này là một tổ hợp, tuy rằng tập khí phiền não, dục ái, tham, sân, si còn nguyên nhưng sự thấy đó là thấy của bậc Thánh.
Điểm này rất quan trọng và sự thấy này được tu tập, duy trì thường xuyên thì thấy đó là thấy của bậc Thánh, tri kiến của bậc Thánh. Nên sự tu học của người bình thường là không có chặn này.
II. Phát hiện cấu uế
Giờ chúng ta tiếp đến chặng thứ hai, sau khi thấy được năm tổ hợp này, thấy được hình hài, thấy được tổ hợp của những cảm giác, cảm thọ, của những hình bóng, tưởng, suy tư, tổ hợp của nhận thức, thì sau khi người này thấy thì người này phát giác, phát hiện ra ác và bất thiện pháp.
Đây là bước quan trọng, nên người không nhận diện được ngũ uẩn mà họ thấy được cái ác, bất thiện pháp là khác. Cái người đời gọi là ác, bất thiện pháp thường là hậu quả, khi cái ác trổ ra quả, ra hành động. Còn khi người nhận diện được ngũ uẩn, họ nhìn ra được ác, bất thiện pháp là họ thấy được từ trong mầm móng, trong cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư.
Nên cũng là pháp ác và bất thiện pháp, nhưng người không nhận diện ngũ uẩn khi xưa chưa tu được, chưa nhìn nhận được pháp này mà mình thấy được cái ác, bất thiện pháp là thấy được hậu quả, kết quả, hành động của nó, việc đã rồi, quả báo của nó. Nhưng giờ khi nhận diện được ngũ uẩn, thấy được các ác bất thiện pháp là mình thấy ở trong mầm mống, trong sự suy tư, nghĩ ngợi, trong cảm giác, bằng chứng là mình thấy được tham, sân, si trong cảm thọ. Nhưng đó là người bình thường không thấy được, người không nhận diện được ngũ uẩn thì làm sao thấy được ba cảm thọ.
Làm sao trong suy nghĩ mà họ thấy được sân tư duy? Dù họ có thấy đi nữa thì họ lại nhận là của tôi, là “Tôi đang giận!” Mà họ không thấy được bên trong là một ý hành sân hận.
Vậy nên chúng ta thấy được sự quyết định là sự nhận diện năm uẩn, dù cho mình có tu đến bao lâu thì pháp này vẫn còn tồn tại cho tới ngày cuối cùng, chứng quả A-la-hán. Lúc nào mà mình thấy đây là sự vận hành của năm tổ hợp thì lúc đó mình ở trong Thánh trí, trí huệ. Nếu khi mình thấy đây là tôi, của tôi thì lúc đó mình ở trong vô minh.
Và lợi thế, tuyệt diệu, tối thượng, thù thắng của người tu là người nhìn ra được năm uẩn này, năm tổ hợp này để tu, thì người nhận ra được năm tổ hợp, năm uẩn này, không phải là tôi, của tôi ở bước đầu tiên thì mưới bắt đầu tách mình ra được, đối với những cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư và nhận thức.
Nếu không nhận diện được ngũ uẩn này, thì dính vào nhau, trở thành cái tôi. Đây là chỗ thù thắng, tối thượng, đặc thù, đặc biệt, riêng biệt, bất cộng của đa văn Thánh đệ tử và vô văn phàm phu. Họ nhìn ra được bước đầu tiên của sự tu này là hướng nội. Người không nhận diện được ngũ uẩn là hướng ngoại, chỉ có hướng nội mới thấy được năm uẩn, nếu hướng ngoại thì không thể thấy. Đây là điểm khác biệt tiếp theo giữa vô văn phàm phu và đa văn Thánh đệ tử.
Tức là, người phàm phu thì họ luôn nhìn ra ngoài, tìm kiếm bên ngoài, thậm chí họ tu nhưng cũng muốn tìm kiếm cái gì đạt được bên ngoài. Họ muốn trở thành sắc nào đó, muốn được cảm giác nào đó, muốn có những hình bóng tương lai ra sao đó. Vì vậy họ tu đều nằm trong tự ngã, trong một sự hướng ngoại, mong cầu bên ngoài, còn người Chánh Kiến, người hướng nội là nhìn vào trong năm tổ hợp này để thấy được sự sanh khởi, an trú, vận hành, sự chấm dứt của nó, sanh diệt của nó để thấy được guồng máy, cấu trúc, sự hoạt động của nó. Chỗ đó gọi là tối thượng, gọi là Thánh tri kiến – sự thấy biết của bậc Thánh, tri kiến của bậc Thánh.
Bất cứ lúc nào mình nhìn vào trong và thấy là “Đây là sắc, thọ, tưởng, hành thức.” Không có cái tôi thì lúc đó là mình đang an trú trong sự thấy biết của bậc Thánh. Lúc đầu mình đi ngược vào cái tôi, của tôi thì lúc đó mình trở về phàm phu. Nên công năng của sự nhận diện năm uẩn rất tối thượng. Đúng ra là cần làm bài tập rất nhiều và người chịu tu thì ở bất cứ chỗ nào, hoàn cảnh nào, kêu là nhận diện được ngũ uẩn ngay tại đó. Nếu người này không nhận diện được thì tâm của người này không Chánh Niệm, tỉnh giác, tâm của người này hôn mê. Vậy nên sau này nếu gặp ở đâu là kêu nhận diện ngũ uẩn ngay đó.
Ví dụ đang lặt rau thì kêu “Nhận diện ngũ uẩn ngay lúc này, ngũ uẩn ra sao!” Làm mà không được quên sự nhìn lại thân tâm của mình, không để công việc quên. Ví như đang trồng rau, đang làm cỏ thì nhận diện ngũ uẩn ngay tại đó. Đó là để xét nên công phu, chỉ có con đường này mới bắt đầu phát giác, phát hiện ra ác bất thiện pháp, mầm móng, căn nguyên, nguồn cội, gốc rễ, căn bản của ác, bất thiện pháp, sẽ được thấy, sẽ được biết.
Vì bản chất bên trong là của những phiền não, cấu nhiễm, rác bẩn, khi nhìn lại thì sẽ thấy được. Vì bản chất của nó là vậy. Trước giờ mình cứ nghĩ mình là tốt, là hay, là tuyệt vời vì mình hướng ngoại, chỉ nhìn ra ngoài, nên mình tưởng, giờ mình quay trở vào thì mình thấy và biết, ác và bất thiện pháp.
Sự thấy biết này có nhiều cấp độ, ác và bất thiện pháp cũng có nhiều cấp độ. Cấp độ thứ nhất đơn giản, ai cũng có thể thấy được là sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu là cái ác bất thiện pháp dễ thấy, mọi người đều thấy được, có thể nhận thức được.
III. Nhiếp phục và đoạn tận
Đầu tiên, sau khi thấy được thì phải nhiếp phục và đoạn tận. Trước khi mình nhiếp phục, đoạn tận thì mình phải thấy được nó, vậy nên Chánh Kiến dẫn đầu, mới đi đến tu giới, khác với người cố gắng vào để giữ giới. Người này thấy biết đại tổ hợp, năm tổ hợp nhỏ và một tổ hợp lớn, thấy biết được sự vận hành của nó. Sau khi thấy biết những ác, bất thiện pháp trong đó hoạt động, thì người này cố gắng nhiếp phục và đoạn tận.
Bên ngoài là nhờ giới, là bước đầu tiên để chặn những cái thô, giới gồm có sự thu thúc các căn, hộ trì sáu căn, phòng hộ. Đó là bước đầu tiên, căn bản. Bước sâu hơn là những cảm giác, suy tư, nghĩ tưởng về dục, sân, hại. Phát giác ra những suy nghĩ về ham muốn, nóng giận, ngu si, làm hại mình, làm hại người, những cảm thọ thúc giục, ham muốn, đòi hỏi, khao khát, phát giác, phát hiện ra những cấu nhiễm, hơn thua, ta đây, phát hiện những sự gọi là chấp ngã, vô minh, những tâm ngụy biện, quanh co, giấu lỗi lầm, tâm xảo trá, ganh tị, nhân ngã, bỉ thử, bao nhiêu những ác bất thiện pháp.
Người này thấy và biết được ác bất thiện pháp được hiển hiện, người này nhiếp phục và đoạn tận nó bằng cách đầu tiên là giới, sau đó là như lý tác ý, quán chiếu, thiền định. Đây là giới, định, huệ, là sự đào sâu thêm một bước về ác, bất thiện pháp, những cảm giác, nghĩ tưởng, sự thúc giục bên trong, những sự bức xúc, nóng bức, nhiệt não bên trong. Người này bắt đầu thấy biết thì người này có một sự xấu hổ và sợ hãi, tàm quý xuất hiện, các pháp vận hành.
Người này thấy “Ôi, không ngờ, chẳng dè mình ghê gớm như vậy, khủng khiếp như vậy…” Người này sốc toàn tập vì người này hướng nội, nhìn thấy, bắt đầu khai pháp nhãn, mở ra con mắt pháp, khai pháp nhãn, mở ra con mắt trí tuệ, mắt thứ ba không nhìn ra ngoài mà là nhìn vào trong nội tâm.
Người này mở ra mắt pháp, mắt trí, mắt tuệ, mắt đạo, người này nhìn vào bên trong thì không những sát sanh, trộm cắp, tà dâm mà trong này là ngụy biện, quanh co, ganh tị, tật đố, hơn thua, cau có, gay gắt, cộc cằn, ta đây, vênh váo, xảo trá, man trá, dối trá, hư ngụy như trong bài kinh Nikāya có cả một trang chỉ nói về rác bẩn của tâm, cấu nhiễm của tâm. Người này khi phát hiện ra thì sốc toàn tập, không ngờ, quá sốc, quá bất ngờ, quá khủng khiếp. Đây bắt đầu là thành tựu tri kiến, tri kiến của bậc Thánh, càng ngày càng tỏa ra, sáng ra, tinh minh ra những góc cạnh, phương diện, sự vận hành, guồng máy hoạt động của những cảm giác, những hình bóng, nghĩ tưởng, nhận thức trong này được hiển lộ ra. Các pháp được hiển lộ bởi sự tu cảm giác toàn thân.
Sau khi nhận diện ngũ uẩn thì mình thực tập ba pháp, lấy cảm giác toàn thân làm chính thì khi cảm giác toàn thân hiển lộ thì tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, thì cảm giác toàn thân hiển lộ ra hết. Dục, ái, tham, giận đều hiển lộ ra, tự mình thấy “Mình tham dữ vậy? Quá nhiều ái. Hết sức dục. Hở chút là giận, sáng giận, trưa giận, chiều giận, nằm chiêm bao cũng giận.” Sau đó lại thấy giận lên là muốn hại người ta, làm khổ cho mình, giận rồi lại nhậu rồi lại chạy xe.
Mình lại thấy “Sao cái ta của mình khủng khiếp vậy?” Là sốc toàn tập, vô cùng bất ngờ, chẳng dè “Vô minh của mình khủng hoảng vậy? Rõ ràng mình nhìn thấy đó là năm uẩn, mà tại sao mình lại cứ tham, sân, si, hơn thua? Vô minh của mình nặng dữ vậy? Tham ái của mình khủng khiếp vậy?”
Sau đó người này nhờ vào sự an trú cảm giác toàn thân, định tâm trên thân, rồi người này bắt đầu nhìn ra các lậu hoặc, nhìn ra các cấu nhiễm, nhìn ra các cấu nhiễm, rác bẩn, xú uế, nhìn ra các ác, bất thiện pháp. Các pháp được hiển hiện như thật hiển hiện, đây mới gọi là thực tại, hiện tiền là đây, không phải là điều xa xôi, trống không, yên tịnh như vậy. Thực tại là dục, tham, ái, sân, si, bản ngã, là ta đây, vênh váo, là khen mình chê người, cống cao, ngã mạn, dương dương tự đắc, đó là sự thật ngay trong hiện tại nội tâm của mình. Thực tại, thực tế phũ phàng, sự thật phũ phàng được hiển hiện ra hết. Mắt pháp, mắt đạo, mắt trí, mắt tuệ mở ra, Chánh Tri Kiến được rực sáng, được thành tựu, tất cả các ác, bất thiện pháp được hiển lộ trong sự thấy biết, bằng trí tuệ của bậc Thánh, thấy biết Thánh trí tuệ.
Mọi người có thấy như vậy? Và khi mình thấy dục, tham, ái được trình bày, sân, si, bản ngã được hiển lộ, những vô minh, chấp thủ bên trong được soi sáng bằng Thánh trí tuệ, sự thấy biết của bậc Thánh. Bằng sự nhận diện năm uẩn, hướng nội, cảm giác toàn thân, bằng sự nhìn tất cả suy nghĩ này, nhìn từng hình bóng này được kiểm tra, kiểm soát được sự chánh niệm và tỉnh giác.
Cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt, nội tâm tỉnh giác mới nhìn ra được từng suy nghĩ, từng nhận thức, tư tưởng, cảm giác, cảm thọ sanh khởi, không bỏ sót một tên nào. Phải nhìn kĩ mình như người giữ cửa, anh bảo vệ, nếu ai vô ra cổng thì hỏi “Đến làm gì? Tìm ai? Làm gì? Ở đâu tới? Tiêm mấy mũi vắc xin, đã test chưa, xét nghiệm chưa?” Đó gọi là chánh niệm tỉnh giác, kiểm soát như người gác cổng, bảo vệ.
Mình nhìn thấy vậy thì các ác và bất thiện pháp được hiển lộ ra, nên sự tu trong giai đoạn này là nhiếp phục và đoạn tận. Lúc xưa đọc bài kinh này thấy đơn giản, giờ thì thấy nó rất thấm thía, ở trong bài kinh Trường Bộ, là bài kinh Đại bổn. Không phải là cái ác, bất thiện pháp bình thường giống như mình chỉ nhìn được này là sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu là bình thường, là cũng tốt trong nhân đạo, thiên đạo, nhưng nhìn ra được những điều này là phải nhờ Thánh trí mới thấy được. Còn sát sanh, trộm cắp, tà dâm này không nhận diện được ngũ uẩn thì lúc đó mình cũng biết, nhưng những cảm thọ suy tư, tư tưởng, hình bóng mà có dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã chấp thủ này mà mình không thấy, không biết chúng dính với một cái tôi. Mình lại không thấy được năm tổ hợp này, không thấy được ngũ uẩn này. Đây được xem là giai đoạn phần nào tu tinh tấn, khá khá mới đến được giai đoạn này.
Khi thấy biết được rồi thì xấu hổ, nhục nhã, cúi mặt không nhìn ai, không dám hất mặt lên vì biết được bên trong đầy rẫy dục, tham ái, đầy rẫy sân hận, hơn thua, đầy rẫy chấp ngã thì vênh váo, ta đây với ai, kiêu căng, cao ngạo với ai? Chỉ có người không thấy không biết thì người đó mới kiêu căng, cao ngạo, ta đây, vênh váo, dương dương tự đắc. Người không thấy không biết là người mù trong giáo pháp thì người đó mới như vậy. Người đã thấy đã biết rồi thì không thể như vậy. Khi đó tàm, quý xuất hiện, hai điều này là tuyệt diệu, người nào tu mà mất hai thứ này là xong.
Mọi người thấy Ngài tôn giả, tướng quân của Chánh Pháp, khi y của Ngài đắp chấp xuống đất thì Ngài xấu hổ thì tàm, quý của Ngài ra sao? Đó là bậc Thánh A-la-hán, Ngài thấy đó là nhục nhã, trái với oai nghi. Đối với chúng ta có bao nhiêu tội lỗi, dính với năm giới mà lại không xấu hổ, không sợ hãi? Vì vây, đây là điều tuyệt diệu sau khi thấy biết rồi thì bắt đầu người này xấu hổ, sợ hãi, người này cố gắng nhiếp phục và đoạn tận năm thứ thô bên ngoài và tế bên trong.
Những điều là tế bên trong thì chỉ có người nhận diện được ngũ uẩn mới thấy được, người bình thường không thấy được. Một người quay trở lại nội tâm mình mà nó lộn xộn, không biết thọ là gì, những cảm giác, mấy loại cảm giác, trong cảm giác là gì không rõ, cũng không biết tưởng là hình bóng gì, tương ưng với dục ái, sân hay bản ngã cũng không biết. Thân kiến tự ngã cũng không biết, những suy nghĩ hại, theo chiều mê, tâm đảo tưởng, đảo kiến, nhận thức là chấp thủ cũng không biết… Vậy thì làm sao người này nhìn ra được hết tất cả những điều này?
Vậy nên muốn tu giải thoát là không thể, chỉ là trên suy nghĩ, trên tưởng tượng vì người này không thấy được thân tâm của mình một cách chính xác, rõ ràng, cụ thể, minh bạch, tường tận, thấu đáu. Như vậy mới gọi là Chánh Giác.
Chánh Giác là biết đúng, là sự biết đúng về năm tổ hợp. Chánh Đẳng Chánh Giác là viên mãn, tất cả khía cạnh, góc diện, ngõ ngách, bao nhiêu phương diện của nó đều được thấy biết hoàn toàn, chính xác.
Giờ chúng ta Chánh Giác được chỉ là một phần, không là toàn phần. Như vậy, Chánh Giác là thấy đúng về thân tâm của mình, sau đó mình mới dùng giới, dùng sự thu thúc sáu căn, hộ trì, phòng hộ. Đó là đối với giới bên ngoài, tiếp theo là thiền định, tập định tâm, an trú cảm giác toàn thân, như lý tác ý và quán chiếu quán, định, tuệ để thực hành. Dùng sự thấy biết của bậc Thánh để quán.
Đây là bước không làm các điều ác, như bài kệ số mười bốn trong kinh Trường Bộ, kinh Đại Bổn.
IV. Tu tập thiện pháp
Tiếp đến là chúng thiện phụng hành, song song là mặt này là mặt nhiếp phục, hộ trì, đoạn tận, đó là mặt tiêu cực. Là mình không làm điều ác, chúng thiện phụng hành là mình làm các việc lành thì việc thiện này là làm các thiện pháp, làm như thế nào? Điều căn bản trong kinh Nikāya là tứ vô lượng tâm.
Về tín, giới, văn, thí, tàm, quý, tuệ là bảy tài sản của bậc Thánh. Hay là từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm và xả vô lượng tâm, và những pháp tu diệt ngã, phá ngã. Điều này Minh Thành đã từng nói qua.
Ở đây, làm các việc lành thì bước đầu tiên là từ bỏ các việc ác như sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, từ bỏ những dục ái, tham, sân, si, chấp ngã. Vậy nên Đức Phật từng dạy: từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, nói lời đôi chiều, lời hung ác, lời phù phiếm, từ bỏ những chất say sưa, nghiệp ngập.
Nên việc lành đầu tiên là bỏ cái ác, từ bỏ những cái trên, từ bỏ những suy tư, ham muốn, từ bỏ những điều bất chánh, nóng giận, những tâm ác hại, những sự hơn thua, ganh đua, ta đây… Từ bỏ hết những cái đó. Đó là một mặt, cũng gọi là tu, gọi là chỉ ác, ý là một mặt là đình chỉ, một mặt là tác thiện là làm lành.
Một mặt là mình dừng lại để mình tu, mình giữ, trong giới gọi là chỉ trì, tác trì. Chỉ dừng lại là mình đang trì giới, tác trì là làm, như vậy mới gọi là trì giới. Vậy làm gì? Đó là phát huy lòng tin của mình đối với Tam Bảo, phát huy đức hạnh, giới đức, nghe pháp thật nhiều thêm, bố thí, xấu hổ, sợ hãi những ác bất thiện pháp nhiều lên và phát huy tâm đó nhiều hơn. Quán chiếu trí huệ, tác ý nhiều hơn, như vậy là mình làm thêm được các việc thiện.
Vì vậy chúng ta đang ngồi đây là thiện pháp, bốn tâm vô lượng này hết sức quan trọng, đây là đại thiện. Bốn tâm vô lượng này là tâm thương xót, tâm hoan hỷ trong pháp, trong thiện, tâm buông xả không chấp thủ, những điều đó là phước đức của chúng ta. Từ bi, phước sanh trong này, công đức chi vương, phước, hỷ xả trong này, đi tới chỗ này đoạn tận, nhiếp phục được là được sanh cõi người hưởng phước. Tu tập cái này được viên mãn là sanh chư thiên đến phạm thiên, đây là nhân thiên.
Tức là khi dừng được các điều ác thì đời sau sanh ra thì mình đã trở lại thành người, sanh ở cõi đời này. Và làm những điều thiện này mà phát triển mạnh thì sanh được chư thiên, sanh thiên. Chúng ta thấy đã có đạo lộ rõ ràng, đây là nhân đạo, dừng ở chỗ này thì chắc chắn ở đời sau được sanh ra cõi người hưởng phước, tu tập điều thiện này sanh thiên và thậm chí lên được phạm thiên.
Nếu tu được bốn tâm vô lượng này viên mãn, cộng với giới thì người này lên được phạm thiên, đừng nói chi là diệt ngã.
Vì vậy, chúng ta mới thấy được sự thâm sâu trong sự hành trì của chúng ta, nó có từng chặn, giữ được năm giới thì chắc chắn làm người. Tu tập từ bi hỷ xả, những giới, những sự nghe pháp, bố thí, trí tuệ, diệt bản ngã thì đây là công đức chi vương, vua của tất cả công đức nằm ở chỗ này. Nằm ở bốn tâm vô lượng – từ, bi, hỷ, xả - là công đức chi vương, chúa tể các công đức, vậy nên mới sanh được làm phạm thiên, thiên chủ, sắc ca, đế thích, vua của tầng trời, tứ đại thiên vương hay lên đến tầng trời của sắc giới. Chúa tể của công đức nằm ở bốn tâm vô lượng này.
Dừng ác làm lành, không làm các điều ác nhưng làm mọi việc lành, việc lành này phát huy đến mức viên mãn thiện, toàn thiện, cực thiện, chí thiện thì công đức thiện này được viên mãn. Viên mãn được các pháp hành: từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm. Những tín, giới được viên mãn, phước đức được viên mãn. Khi điều thiện này được viên mãn thì xả luôn thiện, giữ tâm ý thanh tịnh, nếu đến đây dừng và có Thánh tri kiến, chánh tri kiến về năm uẩn thì dừng ở đây, tu bốn vô lượng tâm là Thánh đệ tử thiên, sanh lên trời là ở tịnh cư thiên, là tầng trời của các bậc Bất lai, hay ở những tầng trời khác nhưng các vị này đã thành tựu Chánh Kiến thì cũng gọi là Thánh đệ tử thiên, tức là không phải chư thiên bình thường, mà là chư thiên, đệ tử của bậc Thánh – Thánh thiên, là trời bậc Thánh, không phải là trời bình thường, là trời thành tựu Chánh Kiến.
Đối với trời phàm phu cũng là thiên nhân, cũng là trời, cũng có phước như vậy, nhưng trời này không thành tựu, thấy được ngũ uẩn, không thấy được những lậu hoặc này. Trời này chỉ giữ được giới và tu được các thiện pháp này thôi, gọi là trời phàm phu, thiên nhân.
Thánh đệ tử thiên là do sự thấy đúng đưa người về phía trước nên không dừng lại được ở đây, nói như vậy để thấy được các chặng nhưng người Thánh đệ tử thiên này Chánh Tri Kiến đưa người ta về phía trước, người ta không dừng lại được, người ta đi đến chỗ gọi là xả thiện pháp. Để cho tâm ý được thanh tịnh hoàn toàn, vì giữ các thiện pháp này là còn khổ, đây là chỗ cứu cánh, không phải dễ học đến.
Mọi hình thái hiện hữu đều nằm trong đau khổ, phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ nên các vị này không muốn, muốn diệt khổ, diệt tận khổ nên người này đi đến xả những điều thiện này để đạt được tâm thanh tịnh.
Như vậy, muốn xả thiện này thì phải tu, người này cần thấy được tính chất vô thường, khổ vô ngã của tổ hợp sắc tướng này, người này nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt. Người này nhìn thấy tính chất vô thường, khổ vô ngã của các cảm thọ này, người này quán cảm thọ giống như mũi tên, thấy cảm thọ vui là khổ, thấy cảm thọ không vui không khổ là vô thường, người này nhàm chán, ly tham, từ bỏ đối với các cảm thọ. Người này biết tất cả những hình bóng, tự ngã này là vô minh, chấp thủ, sanh tử, khổ đau. Người này từ bỏ hình bóng của tự ngã bằng cách quán Ba mươi hai thể trượt, quán Tứ đại, quán Chín giai đoạn tử thi để người này phá tan hình bóng này. Đây là bước cuối cùng, tối thượng.
Đức Phật từng nói: “Này các Tỳ-kheo, ta tuyên bố tác ý tức là nghiệp”. Tức là còn suy nghĩ này là còn tạo nghiệp. Sau khi tư duy thì người này khởi ra ý nghiệp, khẩu nghiệp, thân nghiệp, người này làm cho tất cả tư duy này an tịnh, lắng dịu. Những nhận thức này trong vô minh, người này hướng đến sự nhàm chán, ly tham, từ bỏ. Đó là trong Tương Ưng Sáu Xứ, là thấy được tính chất vô thường, khổ đau, vô ngã, biến hoại, ly tham, từ bỏ, người này muốn chấm dứt đoạn diệt, xả bỏ ngũ uẩn dù cho nó là thiện.
Khi người này viên mãn hết tất cả thiện pháp thì người này xả bỏ tâm chấp thủ đối với thiện pháp. Đây là viên mãn, toàn mãn, đại viên mãn thiện pháp. Người này hướng đến sự tịch tịnh, giải thoát đối với năm uẩn, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, người này phá hoàn toàn tham ái trong tâm, phá hoàn toàn vô minh trong trí tuệ. Người này đạt được tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Người này tự biết mình đã thoát ra khỏi năm uẩn, không còn ham, thích, muốn, không còn tham ái trong mọi hình thái của hiện hữu. Người này đạt đến chỗ hướng tâm tịch tịnh thì: Mạng sống bị dắt dẫn, tuổi thọ chẳng là bao, bị dẫn đến già nua, không có nơi dừng bước. Ai đem tâm quán xét, sợ hãi tử vong này, hãy bỏ mọi thế lợi, tâm hướng cầu tịch tịnh.
Trong Tương Ưng Sáu Xứ chúng ta học để giữ tâm ý thanh tịnh, từ bỏ những tham ái trong hiện hữu, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, thọ, tưởng, hành, thức, căn, trần, thức, xứ, giới, uẩn. Người này quán sâu vào bản chất, đặt chất, tính chất, bản tính của năm uẩn, người này thấy đó là cái không đáng để cho mình ưa thích, không đáng để cho mình phải mong cầu, để cho mình phải buộc ràng, hệ lụy, người này xả bỏ, viễn ly, xả ly, xuất ly, hướng đến sự từ bỏ ngũ uẩn.
Trên mọi hình thái, người này đều không muốn tiếp tục có những sắc, thọ, tưởng, hành, thức như vậy nữa, người này đưa tâm mình đến sự chấm dứt, đoạn diệt năm thứ này, không tham ái chấp thủ, hoàn toàn xả bỏ, người này đi đến chỗ tâm ý hoàn toàn trong sạch, thanh tịnh.
Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo
(Kinh Pháp Cú)
Ý nói không làm điều ác, dâng làm mọi việc lành, giữ tâm ý thanh tịnh, đó là lời của tất cả Chư Phật, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã dạy trong bài kệ của Đức Phật Tỳ-bà-thi trong kinh Trường bộ Đức Phật Tỳ-bà-thi giáo giới của Ngài.
Qua đó, chúng ta đã thấy được đạo lộ? Hiện tại chúng ta đang học về Tương Ưng Sáu Xứ không phải là mình đi đến chỗ này, mà là mình học cái này để mình thành tựu thấy biết về bản chất của ngũ uẩn đó. Để mình không ưa thích nó, để mình giảm được tham, sân, si, và chấp ngã. Chúng ta nhớ Chánh Kiến này từ đầu đến cuối để mình quân tu, quân tập, tích tụ, chất chứa những cái nhìn, nghe, chiêm nghiệm những cảm xúc, cảm thọ, thấy biết về Thánh trí tuệ.
Mình chất chứa những cái thấy, cái nghe, cảm xúc, nhận thức, hiểu biết để mình đánh phá được những vô minh, chấp thủ, dục ái, hơn thua, sân hận, si mê. Không phải mình đi tới giai đoạn này mà là mình tu tập Chánh Kiến để cho mình làm cho những cái kia lắng dịu xuống, giảm xuống để bắt đầu có sự nhiếp phục và mình đang phát huy những thiện pháp này.
V. Tổng kết
Đó là chúng ta nói sơ lược, tổng quát về thứ tự tu tập, đạo lộ trong bài kệ, bài kinh Đại Bổn trong kinh Trường Bộ, bài kinh số mười bốn.
Cả bài kệ như sau:
“28. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giữa chúng Tỷ-kheo, tụng đọc giới bổn này:
“Chư Phật dạy Niết-bàn là đệ nhất.
“Nhẫn nhục, khổ hạnh, kham nhẫn, là đệ nhất.
“Người xuất gia hại người xuất gia khác.
“Hại người khác như vậy không xứng gọi là Sa-môn.
“Mọi điều ác không làm, hướng tâm các thiện nghiệp.
“Giữ tâm trí thanh tịnh, chính lời chư Phật dạy.
“Không chỉ trích, không đánh đập, giữ mình trong giới bổn.
“Ăn uống có tiết độ, ngủ nghỉ riêng một mình.
“Hướng tâm đến cao khiết, chính lời chư Phật dạy”.”
(Bài kinh Đại Bổn – Trường Bộ Kinh tập một)
Đây là bài kệ của Đức Phật Vipassì (Tỳ-bà-thi) – bài kệ về giới bổn.
Sau này người ta rút gọn và chỉ lấy bốn câu trở thành bài kệ rất nổi tiếng. Âm chữ Hán là:
Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo
(Kinh Pháp Cú)
Ý là: không làm điều ác, làm mọi việc lành, giữ tâm ý trong sạch, là lời chư Phật dạy. Đã trở thành một bài kệ nổi tiếng được mệnh danh là đại ý Phật pháp.
Bài này có giai thoại, câu chuyện trong nhà thiền là: Lúc đó trong một buổi đi dạo của Bạch Cư Dị, là một nhà thơ rất nổi tiếng, lúc đó ông đang làm quan Thứ Sử. Ông đi ngang qua một cây cổ thụ, ông thấy vắt vẻo trên cành cao có một vị tăng ngồi trong vòm (giống với tổ chim) – gọi là ô sào thiền sư.
Thấy lạ như vậy nên ông ấy hỏi “Sao thầy lại ngồi ở chỗ chênh vênh, nguy hiểm vậy?” Sau đó người sư trả lời “Chỗ đại quan ngồi còn nguy hiểm hơn chỗ tôi!” Ông quan nhìn lại chiếc kiệu mà mình đang ngồi thì ngạc nhiên “Chỗ tôi đang ngồi có gì đáng ngại?” Được trả lời là “Chỗ của đại quan ở dưới vua và trên trăm họ. Vua thương thì quần thần ghét, được lòng dân thì mất lòng vua. Tính mạng của đại quan và thân quyến đều lệ thuộc vào lòng yêu, ghét của nhà vua. Có thể bị tru di cửu tộc, lại thêm sự tật đố, tị hiềm của bạn bè. Vậy thì một chiếc ghế kê trên đầu lưỡi của thiên hạ làm sao bì được với sự cứng chắc của cội cây này?”
Ý nói chiếc ghế của vị quan chỉ là kê trên đầu lưỡi của thiên hạ, trên quan, vua, mọi người thì làm sao bì được với cành cây cứng chắc mà vị sư đang ngồi đó. Nên chỗ của vị quan nguy hiểm hơn chỗ tôi ngồi.
Lúc này nhà thơ Bạch Cư Dị nghe qua mới ngẫm nghĩ, gật đầu “Thầy nói thật có lý! Có thể dùng một bài kệ để tóm tắt đại ý, tinh hoa, cốt lõi của Phật giáo không?”
Lúc nào thiền sư Ô Sào mới thong thả đọc bài kệ:
“Không làm các điều ác
Vâng làm mọi việc lành
Giữ tâm ý thanh tịnh
Là lời chư Phật dạy.”
Ông Bạch Cư Dị nói “Những lời nói đó con nít ba tuổi cũng nói được!” Thì thiền sư mỉm cười “Tuy là con nít lên ba nói được nhưng ông già tám mươi tuổi chưa chắc làm xong!”
Sau này ông Bạch Cư Dị thường tới lui, đàm đạo với các vị trong Phật giáo, tự xưng mình là Hương sơn cư vị, trở thành cư sĩ của Phật giáo. Sau đó ông trở thành một nhà thơ rất lỗi lạc trong Phật giáo.
Đó là sự liên hệ một chút về bài kệ trong kinh Trường Bộ mà sau này ta vận dụng, có chỗ là bài kệ gọi là đại ý Phật Pháp nhưng nếu mình không nhận diện ngũ uẩn, không tu theo đạo lộ kinh Nikāya thì mình sẽ hiểu nó rất cạn cợt. Vì chính Minh Thành khi xưa đọc thuộc lòng nó trong bao nhiêu năm nhưng nghĩ nó rất đơn giản, nhưng giờ mới hiểu được chữ ác trong đó rất sâu sắc, làm các việc lành là sâu rộng, rộng lớn ra sao. Để giữ tâm ý thanh tịnh thì phải xả ly ngũ uẩn này thì đến cỡ nào? Độ thâm sâu trong lời Phật dạy, trong Thánh đạo Nikāya này, đó mới là lời dạy của chư Phật.
Vì vậy mình đừng ngại, mình tu và nhìn lại mình đang ở chỗ nào trong đạo lộ này, thứ tự này, mình nhìn thấy mình đang ở đâu thì mình biết, không nên sợ. Từng bước thật vững chắc, kiên trì để đi lên, quan trọng là Chánh Kiến được bậc chân nhân, bậc Thánh chỉ dẫn cho mình nhận diện ngũ uẩn. Đó là cánh cửa quan trọng nhất, sau đó là tự mở cửa đi vào để thấy trong nhà dơ ra sao, để có những phương pháp quét dọn.
Tùy theo loại rác mà có những dụng cụ tương thích, chổi mềm chổi cứng, bàn chải sắc hay xà phòng, chổi, thuốc tẩy thì tất cả những thứ đó là Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần, Bát Thánh đạo phần. Đó là những công cụ, phương tiện như là chổi mềm, chổi cứng, bàn chải sắt, nước, xà phòng, thuốc tẩy, bao nhiêu đồ hốt rác thì tất cả những thứ đó là Ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Để tổng vệ sinh căn nhà nội tâm vô lượng vô biên kiếp vừa qua mà mình đã bỏ hoang để đi lang thang, vất vơ vất vưởng ở ngoài sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, năm dục trưởng dưỡng cứ đi lang thang như vậy, hướng ngoại mãi, chạy đi tìm mãi mà bỏ quên ngôi nhà như vậy.
Giờ chúng ta tu là để quay lại hướng nội, mới thấy được, đầu tiên là mở con mắt mù ra trước, nhận diện năm uẩn là được sáng con mắt mù trong vô lượng, vô biên kiếp. Nên việc nhận diện ngũ uẩn này tuyệt diệu, tối thượng, viên mãn về thân tâm của mình, chưa bao giờ có phương pháp, nhìn nhận thân tâm của mình một cách chính xác, tận tường, minh bạch, thấu đáo, đầy đủ hết tất cả mọi khía cạnh, phương diện, góc độ của thân tâm này.
Không thể có một phương pháp thứ hai ngoài sự nhận diện ngũ uẩn này, trong vô lượng vô biên kiếp vừa qua chúng ta đã không nhìn thấy được thân tâm của mình. Luôn sống trong tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo, trong dục ái, sân, si, ngu muội, vô minh, trong chấp ngã, chấp thủ, chỉ có Thánh trí tuệ này, tri kiến của bậc Thánh mới cho mình nhìn thấy được năm tổ hợp nhỏ trong tổ hợp lớn gọi là tôi này. Từ trong năm tổ hợp đó thì mình lại xem được nhân duyên sanh diệt, tập khởi, đoạn diệt của nó, xem được guồng máy vận hành, hoạt động của nó. Những thứ ác độc trong đó, nó sai khiến, dẫn dắt, điều khiển, áp đảo, xâm chiếm, làm hại mình như thế nào, mình phát giác, phát hiện ra, thấy và biết được sự ác độc của nó ra sao. Với sự sai khiến, sai sử như vậy mà mình làm nô lệ, tôi đòi cho nó đến mức độ nào. Mình nhìn thấy ra được là nhờ phương pháp tối thượng của Chánh Tri Kiến là sự nhìn ra được năm tổ hợp.
Nếu mình không nhìn thấy được thì vĩnh viễn, mãi mãi là vô văn phàm phu, dù cho tu cái gì cũng trong hữu lậu, hữu vi, sanh diệt. Vậy nên đó là lý do tại sao chúng ta quý trọng sự nhận diện ngũ uẩn đó, bất cứ lúc nào mình thấy được ngũ uẩn là thấy được chấp ngã, không thấy được ngũ uẩn thì chỉ là một cái tôi. Tu mà chỉ muốn hưởng cái này cái kia thì đến lúc chết sanh ra nơi đâu.
Đó là nằm trong nhân thiên pháp, không phải là Thánh đạo, mà là thiên đạo, nhân đạo, thần đạo của thế gian, là Thánh của thế gian chứ không phải là Thánh xuất thế gian.
Vì vậy, sự nhận diện ngũ uẩn này là tối tôn, tối thượng, là một sự nhìn Chánh Đẳng Chánh Giác, về thân tâm của chúng ta. Tất cả các khía cạnh phải siêng năng nhìn thì người đó sẽ tu tiến bộ nhiều, vì lúc đầu mình thích thú, trình bày này kia, kêu nhận diện thì mình thích thú, khoái nhưng tu được một thời gian thì không muốn nhìn gì nữa thì như vậy đã đánh mất chìa khóa, mở ra kho kim cương, vô giá, thất bảo, chỉ có như vậy mới đưa đến khổ, thấy khổ. Khi mình nhận diện ngũ uẩn thì mình mới bắt đầu thấy được khổ và nguyên nhân của khổ. Thấy được đạo lộ thoát khổ là nhận diện được ngũ uẩn này. Tất cả những Tứ Thánh Đế, Tứ Chánh Cần, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo đều thiết lập trên ngũ uẩn, nhưng không thấy được ngũ uẩn thì Ba mươi bảy phẩm trợ đạo sẽ không có chỗ đứng.
Vì khi không thấy được ngũ uẩn thì lại có một ảo tưởng về tự ngã, là không thấy được sự thật, thực tại nên không thể tu tập. Tâm là gì cũng không biết, tâm đang ra sao, sanh khởi, vận hành, an trú, chấm dứt ra sao cũng không biết. Trong đó có gì cũng không thấy, không biết nó đang vận hành, bị nó dẫn dắt, xâm chiếm, áp đảo. Luôn trong vô minh, tối thui, mù thì không làm gì được, chỉ có thể đứng ở ngoài cửa và nếu đi vào thì cũng không biết làm gì. Và căn nhà nội tâm là vô lượng vô biên kiếp không vệ sinh, chùi rửa, lau dọn.
Nên bài kinh Maganida sau khi Đức Phật ví dụ người cùi bị hố than hừng, người mù bị người ta gạt phủ tấm vải dơ. Họ lừa là tấm vải trắng trẻo, sạch đẹp lắm, nhưng đó lại là tấm vải dơ, người mù không thấy được nó. Chỉ khi được sáng mắt, chữa trị thì mới nhìn thấy và biết là mình bị gạt.
Đó là nói bên ngoài, nói sâu vào trong là chúng ta bị tâm thức này gạt, tâm gạt mình mà mình lại không thấy, dẫn mình đi hoài mà không thấy, đến khi mắt pháp của mình mở ra rồi thì một ngàn mạng này cũng đổi lại pháp nhận diện ngũ uẩn này, đừng nói một mạng. Mình chết một ngàn lần, vạn lần, tỉ lần mà không ai chỉ được mình về nhận diện ngũ uẩn này ngoại trừ Đức Thế Tôn và đệ tử của Đức Thế Tôn.
Bản thân của Minh Thành đi tầm đạo ở khắp thế giới, toàn cầu không có một ai chỉ về nhận diện ngũ uẩn này. Ở tất cả các thiền viện lớn nhất của Phật giáo thế giới, từ Thái Lan đến Srilanka, Myanma, Đài Loan, Nepal… Các nước lớn của Phật giáo. Đều không có ai chỉ nhận diện ngũ uẩn và nếu không có nhận diện ngũ uẩn thì không thấy chính xác về thân tâm, không thấy đầy đủ về thân tâm thì làm sao mình nhiếp phục được thân tâm? Làm sao tẩy rửa được thân tâm? Làm sao đạt đến được chỗ hoàn toàn thanh tịnh, trong sạch?
Không có một pháp thứ hai ngoài sự nhận diện ngũ uẩn này ra. Vậy nên việc nhận diện ngũ uẩn này là tối tôn, tối thượng, tối thắng, thấy năm uẩn là thấy Phật, thấy pháp, thấy trí, thấy Thánh đạo, thấy pháp duyên khởi, thấy được Như Lai. Vì thấy được năm uẩn là thấy cảm thọ, thấy được cảm thọ thì mới thấy được tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ. Chúng ta thấy được lo-gic, nhân quả hệ của nó không?
Thấy năm uẩn là thấy được tham, sân, si, lậu hoặc, sau đó mới nhiếp phục, tẩy sạch, đoạn tận. Nếu không thấy thì làm sao làm? Giờ mình mù mà lại kêu mình đi lau nhà, đi chùi hết tất cả đồ đạc trong phòng này thì đó chùi được gì? Giả sử mình mù và kêu mình đến chùi chuông, chùi bàn, chùi tượng Phật, nhà gỗ này thì thấy được gì, biết ở đâu, dùng cái gì để chùi?
Vậy nên không nhận diện ngũ uẩn gọi là mù. Việc này rất quan trọng, không được xem thường mà quên việc nhận diện ngũ uẩn này. Đó là Thánh trí tuệ, ngoài Thế Tôn ra thì không một ai chỉ cho mình. Các bậc Thánh nhân, thành tựu Chánh Tri Kiến, tối thượng mới có thể chỉ ra được cách nhìn toàn diện về các khía cạnh, góc độ. Sự sanh khởi, vận hành và hoại diệt của thân tâm này.
Qua đó chúng ta thấy được giá trị, công năng, tác dụng, ý nghĩ to lớn của sự nhận diện ngũ uẩn này. Nếu không thì chúng ta học chỉ thấy bình thường, lúc đầu chỉ thấy hứng thú được gần một tháng, hai ba tháng rồi sau đó thì bình thường, lại trở lại chứng nào tật nấy, vô minh, bản ngã vẫn còn nguyên.
Vậy nên người chân tu Phật học mà thấy được các điều trên thì còn gì hạnh phúc bằng? Không cần phải đi tìm bất cứ cái gì trên thế giới này. Cầm ở trên tay là ngọn đuốc Thánh. Trí tuệ này là tối tôn, tối thượng ở giữa chư thiên và loài người. Trời cũng không nhận diện được ngũ uẩn này, mê muộn, vô minh và si ám đối với tự thân, thân tâm của mình.
Chúng ta cần nhấn mạnh điểm đó để thấy, khi thấy được rồi thì thấy và biết, sau đó mới nhiếp phục và đoạn tận các ác bất thiện pháp và phát huy tu tập tất cả các thiện pháp, khi đã viên mãn tất cả các thiện pháp thì buông xả các thiện pháp. Thấy vậy nên nhàm chán, từ bỏ ngũ uẩn và giải thoát khỏi ngũ uẩn. Thấy vậy là thấy nguyên một dòng vô thường, khổ đau, vô ngã, biến hoại, ly tham, từ bỏ, đoạn diệt, hướng đến tịch tịnh giải thoát năm uẩn.
Chúc tất cả quý vị an lạc trong tâm từ.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc90109612 \h 1
II. Phát hiện cấu uế PAGEREF _Toc90109613 \h 3
III. Nhiếp phục và đoạn tận PAGEREF _Toc90109614 \h 5
IV. Tu tập thiện pháp PAGEREF _Toc90109615 \h 9
V. Tổng kết PAGEREF _Toc90109616 \h 13
I. Nhận diện ngũ uẩn
Minh Thành xin phép được chia sẻ về tuần tự tu tập, đạo lộ hành trì, con đường, những bước mà chúng ta cần phải đi qua theo sự tu tập, tinh thần của kinh tạng Nikāya. Những bước này rất quan trọng, chúng ta cần nắm thật vững để khi thực tập, thực hành đi đúng đạo lộ, con đường, trình tự trong sự tu học. Nếu không thì mình tu học một cách mông lung, mù mịt, viễn vong, xa vời, không thấy rõ con đường, đạo lộ, trình tự, mình không biết đang đi đến đâu, tu điều gì. Khi nắm rõ được những trình tự, những bước thực tập, hành trì này thì sự tu học của chúng ta rất rõ ràng, minh bạch.
Đầu tiên là sự khác biệt của phàm phu không nghe, không học được Chánh Pháp, không gặp được bậc chân nhân chánh kiến thì người này nhận lầm hình hài này là tôi, của tôi, là một bản ngã, tự ngã. Sự khác biệt của vô văn phàm phu và đa văn Thánh đệ tử, sự khác biệt giữa người có tu học Chánh Pháp và không có tu học Chánh Pháp nằm ở điểm nào? Đó là điểm quyết định là chỗ người tu, đã văn Thánh đệ tử là người nghe được Chánh Pháp, gặp được Chánh Pháp, gặp được bậc chân nhân chánh kiến. Điều kiện quyết định là người này nhìn ra được năm tổ hợp, chúng ta thường dùng là câu nhận diện năm uẩn. Nếu không bước qua được bước này thì vĩnh viễn mình chỉ là vô văn phàm phu.
Vì vậy việc nhận diện năm uẩn, nhìn ra được năm tổ hợp là tri kiến của bậc Thánh, không phải là việc bình thường. Nên biết được điều đó là cánh cửa để bước vào. Nếu không nhận diện được năm uẩn, nhìn thấy năm tổ hợp thì người này vĩnh viễn, mãi mãi ở trong vô văn phàm phu. Vì vậy, pháp nhận diện ngũ uẩn là pháp quyết định, tuyệt đối quan trọng, chỉ có nhìn được ngũ uẩn, năm tổ hợp thì mê lầm mới được phá ở bước đầu.
Nên khi mình có tu học đến mức độ nào đi nữa mà mình không nhận diện ngũ uẩn thì sống trong vô minh, bản ngã. Đây là từ ban đầu đến khi cứu cánh là nhìn thấy năm uẩn. Nên thấy được năm uẩn là thấy Phật, thấy pháp, thấy được Thánh trí, thấy được chân lý nên chúng ta từng bước vĩ được biểu đồ vì điều này rất vĩ đại, đạo lộ của kinh Nikāya không hề đơn giản. Vì vậy chúng ta hoàn chỉnh nó từ từ.
Thứ quyết định bậc đa văn Thánh đệ tử của người tu học là đầu tiên thấy được một tổ hợp lớn, kẻ vô văn phàm phu (kẻ không nghe Chánh Pháp, không học Chánh Pháp, không gặp bậc chân nhân, bậc Chánh Kiến) thì họ lại cho tổ hợp đó là tôi, của tôi.
Đây là sự khác nhau, người không biết tu, không thành tựu Chánh Kiến thì người đó thấy tôi, chấp ngã ở trong cái tổ hợp lớn này, còn người có nghe pháp, có gặp bậc chân nhân, chánh kiến, nhận diện năm uẩn thì nhận ra được đây là một tổ hợp lớn gồm nhiều tổ hợp nhỏ. Tổ hợp gồm có sắc, cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức. Đây quyết định được, bất cứ người tu học mà không nhìn ra được thân tâm này chỉ là một tổ hợp lớn, không có tự ngã, không có cái tôi thì người đó vĩnh viễn chỉ ở ngoài cổng chùa, dù cho có tu trăm năm. Chỉ làm được những pháp thiện trong hữu vi của người trời ở trong luân hồi sanh tử, trong hữu lậu hữu vi, hữu ái.
Nếu không bước qua được bước thứ nhất, bước này là nhận diện ngũ uẩn, nhìn ra năm tổ hợp. Đây là bước quyết định nên người nào nhìn ra được năm tổ hợp nhỏ trong tổ hợp lớn này thì người này chỉ thấy thân tâm này là một tổ hợp, tuy rằng tập khí phiền não, dục ái, tham, sân, si còn nguyên nhưng sự thấy đó là thấy của bậc Thánh.
Điểm này rất quan trọng và sự thấy này được tu tập, duy trì thường xuyên thì thấy đó là thấy của bậc Thánh, tri kiến của bậc Thánh. Nên sự tu học của người bình thường là không có chặn này.
II. Phát hiện cấu uế
Giờ chúng ta tiếp đến chặng thứ hai, sau khi thấy được năm tổ hợp này, thấy được hình hài, thấy được tổ hợp của những cảm giác, cảm thọ, của những hình bóng, tưởng, suy tư, tổ hợp của nhận thức, thì sau khi người này thấy thì người này phát giác, phát hiện ra ác và bất thiện pháp.
Đây là bước quan trọng, nên người không nhận diện được ngũ uẩn mà họ thấy được cái ác, bất thiện pháp là khác. Cái người đời gọi là ác, bất thiện pháp thường là hậu quả, khi cái ác trổ ra quả, ra hành động. Còn khi người nhận diện được ngũ uẩn, họ nhìn ra được ác, bất thiện pháp là họ thấy được từ trong mầm móng, trong cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư.
Nên cũng là pháp ác và bất thiện pháp, nhưng người không nhận diện ngũ uẩn khi xưa chưa tu được, chưa nhìn nhận được pháp này mà mình thấy được cái ác, bất thiện pháp là thấy được hậu quả, kết quả, hành động của nó, việc đã rồi, quả báo của nó. Nhưng giờ khi nhận diện được ngũ uẩn, thấy được các ác bất thiện pháp là mình thấy ở trong mầm mống, trong sự suy tư, nghĩ ngợi, trong cảm giác, bằng chứng là mình thấy được tham, sân, si trong cảm thọ. Nhưng đó là người bình thường không thấy được, người không nhận diện được ngũ uẩn thì làm sao thấy được ba cảm thọ.
Làm sao trong suy nghĩ mà họ thấy được sân tư duy? Dù họ có thấy đi nữa thì họ lại nhận là của tôi, là “Tôi đang giận!” Mà họ không thấy được bên trong là một ý hành sân hận.
Vậy nên chúng ta thấy được sự quyết định là sự nhận diện năm uẩn, dù cho mình có tu đến bao lâu thì pháp này vẫn còn tồn tại cho tới ngày cuối cùng, chứng quả A-la-hán. Lúc nào mà mình thấy đây là sự vận hành của năm tổ hợp thì lúc đó mình ở trong Thánh trí, trí huệ. Nếu khi mình thấy đây là tôi, của tôi thì lúc đó mình ở trong vô minh.
Và lợi thế, tuyệt diệu, tối thượng, thù thắng của người tu là người nhìn ra được năm uẩn này, năm tổ hợp này để tu, thì người nhận ra được năm tổ hợp, năm uẩn này, không phải là tôi, của tôi ở bước đầu tiên thì mưới bắt đầu tách mình ra được, đối với những cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư và nhận thức.
Nếu không nhận diện được ngũ uẩn này, thì dính vào nhau, trở thành cái tôi. Đây là chỗ thù thắng, tối thượng, đặc thù, đặc biệt, riêng biệt, bất cộng của đa văn Thánh đệ tử và vô văn phàm phu. Họ nhìn ra được bước đầu tiên của sự tu này là hướng nội. Người không nhận diện được ngũ uẩn là hướng ngoại, chỉ có hướng nội mới thấy được năm uẩn, nếu hướng ngoại thì không thể thấy. Đây là điểm khác biệt tiếp theo giữa vô văn phàm phu và đa văn Thánh đệ tử.
Tức là, người phàm phu thì họ luôn nhìn ra ngoài, tìm kiếm bên ngoài, thậm chí họ tu nhưng cũng muốn tìm kiếm cái gì đạt được bên ngoài. Họ muốn trở thành sắc nào đó, muốn được cảm giác nào đó, muốn có những hình bóng tương lai ra sao đó. Vì vậy họ tu đều nằm trong tự ngã, trong một sự hướng ngoại, mong cầu bên ngoài, còn người Chánh Kiến, người hướng nội là nhìn vào trong năm tổ hợp này để thấy được sự sanh khởi, an trú, vận hành, sự chấm dứt của nó, sanh diệt của nó để thấy được guồng máy, cấu trúc, sự hoạt động của nó. Chỗ đó gọi là tối thượng, gọi là Thánh tri kiến – sự thấy biết của bậc Thánh, tri kiến của bậc Thánh.
Bất cứ lúc nào mình nhìn vào trong và thấy là “Đây là sắc, thọ, tưởng, hành thức.” Không có cái tôi thì lúc đó là mình đang an trú trong sự thấy biết của bậc Thánh. Lúc đầu mình đi ngược vào cái tôi, của tôi thì lúc đó mình trở về phàm phu. Nên công năng của sự nhận diện năm uẩn rất tối thượng. Đúng ra là cần làm bài tập rất nhiều và người chịu tu thì ở bất cứ chỗ nào, hoàn cảnh nào, kêu là nhận diện được ngũ uẩn ngay tại đó. Nếu người này không nhận diện được thì tâm của người này không Chánh Niệm, tỉnh giác, tâm của người này hôn mê. Vậy nên sau này nếu gặp ở đâu là kêu nhận diện ngũ uẩn ngay đó.
Ví dụ đang lặt rau thì kêu “Nhận diện ngũ uẩn ngay lúc này, ngũ uẩn ra sao!” Làm mà không được quên sự nhìn lại thân tâm của mình, không để công việc quên. Ví như đang trồng rau, đang làm cỏ thì nhận diện ngũ uẩn ngay tại đó. Đó là để xét nên công phu, chỉ có con đường này mới bắt đầu phát giác, phát hiện ra ác bất thiện pháp, mầm móng, căn nguyên, nguồn cội, gốc rễ, căn bản của ác, bất thiện pháp, sẽ được thấy, sẽ được biết.
Vì bản chất bên trong là của những phiền não, cấu nhiễm, rác bẩn, khi nhìn lại thì sẽ thấy được. Vì bản chất của nó là vậy. Trước giờ mình cứ nghĩ mình là tốt, là hay, là tuyệt vời vì mình hướng ngoại, chỉ nhìn ra ngoài, nên mình tưởng, giờ mình quay trở vào thì mình thấy và biết, ác và bất thiện pháp.
Sự thấy biết này có nhiều cấp độ, ác và bất thiện pháp cũng có nhiều cấp độ. Cấp độ thứ nhất đơn giản, ai cũng có thể thấy được là sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu là cái ác bất thiện pháp dễ thấy, mọi người đều thấy được, có thể nhận thức được.
III. Nhiếp phục và đoạn tận
Đầu tiên, sau khi thấy được thì phải nhiếp phục và đoạn tận. Trước khi mình nhiếp phục, đoạn tận thì mình phải thấy được nó, vậy nên Chánh Kiến dẫn đầu, mới đi đến tu giới, khác với người cố gắng vào để giữ giới. Người này thấy biết đại tổ hợp, năm tổ hợp nhỏ và một tổ hợp lớn, thấy biết được sự vận hành của nó. Sau khi thấy biết những ác, bất thiện pháp trong đó hoạt động, thì người này cố gắng nhiếp phục và đoạn tận.
Bên ngoài là nhờ giới, là bước đầu tiên để chặn những cái thô, giới gồm có sự thu thúc các căn, hộ trì sáu căn, phòng hộ. Đó là bước đầu tiên, căn bản. Bước sâu hơn là những cảm giác, suy tư, nghĩ tưởng về dục, sân, hại. Phát giác ra những suy nghĩ về ham muốn, nóng giận, ngu si, làm hại mình, làm hại người, những cảm thọ thúc giục, ham muốn, đòi hỏi, khao khát, phát giác, phát hiện ra những cấu nhiễm, hơn thua, ta đây, phát hiện những sự gọi là chấp ngã, vô minh, những tâm ngụy biện, quanh co, giấu lỗi lầm, tâm xảo trá, ganh tị, nhân ngã, bỉ thử, bao nhiêu những ác bất thiện pháp.
Người này thấy và biết được ác bất thiện pháp được hiển hiện, người này nhiếp phục và đoạn tận nó bằng cách đầu tiên là giới, sau đó là như lý tác ý, quán chiếu, thiền định. Đây là giới, định, huệ, là sự đào sâu thêm một bước về ác, bất thiện pháp, những cảm giác, nghĩ tưởng, sự thúc giục bên trong, những sự bức xúc, nóng bức, nhiệt não bên trong. Người này bắt đầu thấy biết thì người này có một sự xấu hổ và sợ hãi, tàm quý xuất hiện, các pháp vận hành.
Người này thấy “Ôi, không ngờ, chẳng dè mình ghê gớm như vậy, khủng khiếp như vậy…” Người này sốc toàn tập vì người này hướng nội, nhìn thấy, bắt đầu khai pháp nhãn, mở ra con mắt pháp, khai pháp nhãn, mở ra con mắt trí tuệ, mắt thứ ba không nhìn ra ngoài mà là nhìn vào trong nội tâm.
Người này mở ra mắt pháp, mắt trí, mắt tuệ, mắt đạo, người này nhìn vào bên trong thì không những sát sanh, trộm cắp, tà dâm mà trong này là ngụy biện, quanh co, ganh tị, tật đố, hơn thua, cau có, gay gắt, cộc cằn, ta đây, vênh váo, xảo trá, man trá, dối trá, hư ngụy như trong bài kinh Nikāya có cả một trang chỉ nói về rác bẩn của tâm, cấu nhiễm của tâm. Người này khi phát hiện ra thì sốc toàn tập, không ngờ, quá sốc, quá bất ngờ, quá khủng khiếp. Đây bắt đầu là thành tựu tri kiến, tri kiến của bậc Thánh, càng ngày càng tỏa ra, sáng ra, tinh minh ra những góc cạnh, phương diện, sự vận hành, guồng máy hoạt động của những cảm giác, những hình bóng, nghĩ tưởng, nhận thức trong này được hiển lộ ra. Các pháp được hiển lộ bởi sự tu cảm giác toàn thân.
Sau khi nhận diện ngũ uẩn thì mình thực tập ba pháp, lấy cảm giác toàn thân làm chính thì khi cảm giác toàn thân hiển lộ thì tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, thì cảm giác toàn thân hiển lộ ra hết. Dục, ái, tham, giận đều hiển lộ ra, tự mình thấy “Mình tham dữ vậy? Quá nhiều ái. Hết sức dục. Hở chút là giận, sáng giận, trưa giận, chiều giận, nằm chiêm bao cũng giận.” Sau đó lại thấy giận lên là muốn hại người ta, làm khổ cho mình, giận rồi lại nhậu rồi lại chạy xe.
Mình lại thấy “Sao cái ta của mình khủng khiếp vậy?” Là sốc toàn tập, vô cùng bất ngờ, chẳng dè “Vô minh của mình khủng hoảng vậy? Rõ ràng mình nhìn thấy đó là năm uẩn, mà tại sao mình lại cứ tham, sân, si, hơn thua? Vô minh của mình nặng dữ vậy? Tham ái của mình khủng khiếp vậy?”
Sau đó người này nhờ vào sự an trú cảm giác toàn thân, định tâm trên thân, rồi người này bắt đầu nhìn ra các lậu hoặc, nhìn ra các cấu nhiễm, nhìn ra các cấu nhiễm, rác bẩn, xú uế, nhìn ra các ác, bất thiện pháp. Các pháp được hiển hiện như thật hiển hiện, đây mới gọi là thực tại, hiện tiền là đây, không phải là điều xa xôi, trống không, yên tịnh như vậy. Thực tại là dục, tham, ái, sân, si, bản ngã, là ta đây, vênh váo, là khen mình chê người, cống cao, ngã mạn, dương dương tự đắc, đó là sự thật ngay trong hiện tại nội tâm của mình. Thực tại, thực tế phũ phàng, sự thật phũ phàng được hiển hiện ra hết. Mắt pháp, mắt đạo, mắt trí, mắt tuệ mở ra, Chánh Tri Kiến được rực sáng, được thành tựu, tất cả các ác, bất thiện pháp được hiển lộ trong sự thấy biết, bằng trí tuệ của bậc Thánh, thấy biết Thánh trí tuệ.
Mọi người có thấy như vậy? Và khi mình thấy dục, tham, ái được trình bày, sân, si, bản ngã được hiển lộ, những vô minh, chấp thủ bên trong được soi sáng bằng Thánh trí tuệ, sự thấy biết của bậc Thánh. Bằng sự nhận diện năm uẩn, hướng nội, cảm giác toàn thân, bằng sự nhìn tất cả suy nghĩ này, nhìn từng hình bóng này được kiểm tra, kiểm soát được sự chánh niệm và tỉnh giác.
Cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt, nội tâm tỉnh giác mới nhìn ra được từng suy nghĩ, từng nhận thức, tư tưởng, cảm giác, cảm thọ sanh khởi, không bỏ sót một tên nào. Phải nhìn kĩ mình như người giữ cửa, anh bảo vệ, nếu ai vô ra cổng thì hỏi “Đến làm gì? Tìm ai? Làm gì? Ở đâu tới? Tiêm mấy mũi vắc xin, đã test chưa, xét nghiệm chưa?” Đó gọi là chánh niệm tỉnh giác, kiểm soát như người gác cổng, bảo vệ.
Mình nhìn thấy vậy thì các ác và bất thiện pháp được hiển lộ ra, nên sự tu trong giai đoạn này là nhiếp phục và đoạn tận. Lúc xưa đọc bài kinh này thấy đơn giản, giờ thì thấy nó rất thấm thía, ở trong bài kinh Trường Bộ, là bài kinh Đại bổn. Không phải là cái ác, bất thiện pháp bình thường giống như mình chỉ nhìn được này là sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu là bình thường, là cũng tốt trong nhân đạo, thiên đạo, nhưng nhìn ra được những điều này là phải nhờ Thánh trí mới thấy được. Còn sát sanh, trộm cắp, tà dâm này không nhận diện được ngũ uẩn thì lúc đó mình cũng biết, nhưng những cảm thọ suy tư, tư tưởng, hình bóng mà có dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã chấp thủ này mà mình không thấy, không biết chúng dính với một cái tôi. Mình lại không thấy được năm tổ hợp này, không thấy được ngũ uẩn này. Đây được xem là giai đoạn phần nào tu tinh tấn, khá khá mới đến được giai đoạn này.
Khi thấy biết được rồi thì xấu hổ, nhục nhã, cúi mặt không nhìn ai, không dám hất mặt lên vì biết được bên trong đầy rẫy dục, tham ái, đầy rẫy sân hận, hơn thua, đầy rẫy chấp ngã thì vênh váo, ta đây với ai, kiêu căng, cao ngạo với ai? Chỉ có người không thấy không biết thì người đó mới kiêu căng, cao ngạo, ta đây, vênh váo, dương dương tự đắc. Người không thấy không biết là người mù trong giáo pháp thì người đó mới như vậy. Người đã thấy đã biết rồi thì không thể như vậy. Khi đó tàm, quý xuất hiện, hai điều này là tuyệt diệu, người nào tu mà mất hai thứ này là xong.
Mọi người thấy Ngài tôn giả, tướng quân của Chánh Pháp, khi y của Ngài đắp chấp xuống đất thì Ngài xấu hổ thì tàm, quý của Ngài ra sao? Đó là bậc Thánh A-la-hán, Ngài thấy đó là nhục nhã, trái với oai nghi. Đối với chúng ta có bao nhiêu tội lỗi, dính với năm giới mà lại không xấu hổ, không sợ hãi? Vì vây, đây là điều tuyệt diệu sau khi thấy biết rồi thì bắt đầu người này xấu hổ, sợ hãi, người này cố gắng nhiếp phục và đoạn tận năm thứ thô bên ngoài và tế bên trong.
Những điều là tế bên trong thì chỉ có người nhận diện được ngũ uẩn mới thấy được, người bình thường không thấy được. Một người quay trở lại nội tâm mình mà nó lộn xộn, không biết thọ là gì, những cảm giác, mấy loại cảm giác, trong cảm giác là gì không rõ, cũng không biết tưởng là hình bóng gì, tương ưng với dục ái, sân hay bản ngã cũng không biết. Thân kiến tự ngã cũng không biết, những suy nghĩ hại, theo chiều mê, tâm đảo tưởng, đảo kiến, nhận thức là chấp thủ cũng không biết… Vậy thì làm sao người này nhìn ra được hết tất cả những điều này?
Vậy nên muốn tu giải thoát là không thể, chỉ là trên suy nghĩ, trên tưởng tượng vì người này không thấy được thân tâm của mình một cách chính xác, rõ ràng, cụ thể, minh bạch, tường tận, thấu đáu. Như vậy mới gọi là Chánh Giác.
Chánh Giác là biết đúng, là sự biết đúng về năm tổ hợp. Chánh Đẳng Chánh Giác là viên mãn, tất cả khía cạnh, góc diện, ngõ ngách, bao nhiêu phương diện của nó đều được thấy biết hoàn toàn, chính xác.
Giờ chúng ta Chánh Giác được chỉ là một phần, không là toàn phần. Như vậy, Chánh Giác là thấy đúng về thân tâm của mình, sau đó mình mới dùng giới, dùng sự thu thúc sáu căn, hộ trì, phòng hộ. Đó là đối với giới bên ngoài, tiếp theo là thiền định, tập định tâm, an trú cảm giác toàn thân, như lý tác ý và quán chiếu quán, định, tuệ để thực hành. Dùng sự thấy biết của bậc Thánh để quán.
Đây là bước không làm các điều ác, như bài kệ số mười bốn trong kinh Trường Bộ, kinh Đại Bổn.
IV. Tu tập thiện pháp
Tiếp đến là chúng thiện phụng hành, song song là mặt này là mặt nhiếp phục, hộ trì, đoạn tận, đó là mặt tiêu cực. Là mình không làm điều ác, chúng thiện phụng hành là mình làm các việc lành thì việc thiện này là làm các thiện pháp, làm như thế nào? Điều căn bản trong kinh Nikāya là tứ vô lượng tâm.
Về tín, giới, văn, thí, tàm, quý, tuệ là bảy tài sản của bậc Thánh. Hay là từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm và xả vô lượng tâm, và những pháp tu diệt ngã, phá ngã. Điều này Minh Thành đã từng nói qua.
Ở đây, làm các việc lành thì bước đầu tiên là từ bỏ các việc ác như sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, từ bỏ những dục ái, tham, sân, si, chấp ngã. Vậy nên Đức Phật từng dạy: từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, nói lời đôi chiều, lời hung ác, lời phù phiếm, từ bỏ những chất say sưa, nghiệp ngập.
Nên việc lành đầu tiên là bỏ cái ác, từ bỏ những cái trên, từ bỏ những suy tư, ham muốn, từ bỏ những điều bất chánh, nóng giận, những tâm ác hại, những sự hơn thua, ganh đua, ta đây… Từ bỏ hết những cái đó. Đó là một mặt, cũng gọi là tu, gọi là chỉ ác, ý là một mặt là đình chỉ, một mặt là tác thiện là làm lành.
Một mặt là mình dừng lại để mình tu, mình giữ, trong giới gọi là chỉ trì, tác trì. Chỉ dừng lại là mình đang trì giới, tác trì là làm, như vậy mới gọi là trì giới. Vậy làm gì? Đó là phát huy lòng tin của mình đối với Tam Bảo, phát huy đức hạnh, giới đức, nghe pháp thật nhiều thêm, bố thí, xấu hổ, sợ hãi những ác bất thiện pháp nhiều lên và phát huy tâm đó nhiều hơn. Quán chiếu trí huệ, tác ý nhiều hơn, như vậy là mình làm thêm được các việc thiện.
Vì vậy chúng ta đang ngồi đây là thiện pháp, bốn tâm vô lượng này hết sức quan trọng, đây là đại thiện. Bốn tâm vô lượng này là tâm thương xót, tâm hoan hỷ trong pháp, trong thiện, tâm buông xả không chấp thủ, những điều đó là phước đức của chúng ta. Từ bi, phước sanh trong này, công đức chi vương, phước, hỷ xả trong này, đi tới chỗ này đoạn tận, nhiếp phục được là được sanh cõi người hưởng phước. Tu tập cái này được viên mãn là sanh chư thiên đến phạm thiên, đây là nhân thiên.
Tức là khi dừng được các điều ác thì đời sau sanh ra thì mình đã trở lại thành người, sanh ở cõi đời này. Và làm những điều thiện này mà phát triển mạnh thì sanh được chư thiên, sanh thiên. Chúng ta thấy đã có đạo lộ rõ ràng, đây là nhân đạo, dừng ở chỗ này thì chắc chắn ở đời sau được sanh ra cõi người hưởng phước, tu tập điều thiện này sanh thiên và thậm chí lên được phạm thiên.
Nếu tu được bốn tâm vô lượng này viên mãn, cộng với giới thì người này lên được phạm thiên, đừng nói chi là diệt ngã.
Vì vậy, chúng ta mới thấy được sự thâm sâu trong sự hành trì của chúng ta, nó có từng chặn, giữ được năm giới thì chắc chắn làm người. Tu tập từ bi hỷ xả, những giới, những sự nghe pháp, bố thí, trí tuệ, diệt bản ngã thì đây là công đức chi vương, vua của tất cả công đức nằm ở chỗ này. Nằm ở bốn tâm vô lượng – từ, bi, hỷ, xả - là công đức chi vương, chúa tể các công đức, vậy nên mới sanh được làm phạm thiên, thiên chủ, sắc ca, đế thích, vua của tầng trời, tứ đại thiên vương hay lên đến tầng trời của sắc giới. Chúa tể của công đức nằm ở bốn tâm vô lượng này.
Dừng ác làm lành, không làm các điều ác nhưng làm mọi việc lành, việc lành này phát huy đến mức viên mãn thiện, toàn thiện, cực thiện, chí thiện thì công đức thiện này được viên mãn. Viên mãn được các pháp hành: từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm. Những tín, giới được viên mãn, phước đức được viên mãn. Khi điều thiện này được viên mãn thì xả luôn thiện, giữ tâm ý thanh tịnh, nếu đến đây dừng và có Thánh tri kiến, chánh tri kiến về năm uẩn thì dừng ở đây, tu bốn vô lượng tâm là Thánh đệ tử thiên, sanh lên trời là ở tịnh cư thiên, là tầng trời của các bậc Bất lai, hay ở những tầng trời khác nhưng các vị này đã thành tựu Chánh Kiến thì cũng gọi là Thánh đệ tử thiên, tức là không phải chư thiên bình thường, mà là chư thiên, đệ tử của bậc Thánh – Thánh thiên, là trời bậc Thánh, không phải là trời bình thường, là trời thành tựu Chánh Kiến.
Đối với trời phàm phu cũng là thiên nhân, cũng là trời, cũng có phước như vậy, nhưng trời này không thành tựu, thấy được ngũ uẩn, không thấy được những lậu hoặc này. Trời này chỉ giữ được giới và tu được các thiện pháp này thôi, gọi là trời phàm phu, thiên nhân.
Thánh đệ tử thiên là do sự thấy đúng đưa người về phía trước nên không dừng lại được ở đây, nói như vậy để thấy được các chặng nhưng người Thánh đệ tử thiên này Chánh Tri Kiến đưa người ta về phía trước, người ta không dừng lại được, người ta đi đến chỗ gọi là xả thiện pháp. Để cho tâm ý được thanh tịnh hoàn toàn, vì giữ các thiện pháp này là còn khổ, đây là chỗ cứu cánh, không phải dễ học đến.
Mọi hình thái hiện hữu đều nằm trong đau khổ, phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ nên các vị này không muốn, muốn diệt khổ, diệt tận khổ nên người này đi đến xả những điều thiện này để đạt được tâm thanh tịnh.
Như vậy, muốn xả thiện này thì phải tu, người này cần thấy được tính chất vô thường, khổ vô ngã của tổ hợp sắc tướng này, người này nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt. Người này nhìn thấy tính chất vô thường, khổ vô ngã của các cảm thọ này, người này quán cảm thọ giống như mũi tên, thấy cảm thọ vui là khổ, thấy cảm thọ không vui không khổ là vô thường, người này nhàm chán, ly tham, từ bỏ đối với các cảm thọ. Người này biết tất cả những hình bóng, tự ngã này là vô minh, chấp thủ, sanh tử, khổ đau. Người này từ bỏ hình bóng của tự ngã bằng cách quán Ba mươi hai thể trượt, quán Tứ đại, quán Chín giai đoạn tử thi để người này phá tan hình bóng này. Đây là bước cuối cùng, tối thượng.
Đức Phật từng nói: “Này các Tỳ-kheo, ta tuyên bố tác ý tức là nghiệp”. Tức là còn suy nghĩ này là còn tạo nghiệp. Sau khi tư duy thì người này khởi ra ý nghiệp, khẩu nghiệp, thân nghiệp, người này làm cho tất cả tư duy này an tịnh, lắng dịu. Những nhận thức này trong vô minh, người này hướng đến sự nhàm chán, ly tham, từ bỏ. Đó là trong Tương Ưng Sáu Xứ, là thấy được tính chất vô thường, khổ đau, vô ngã, biến hoại, ly tham, từ bỏ, người này muốn chấm dứt đoạn diệt, xả bỏ ngũ uẩn dù cho nó là thiện.
Khi người này viên mãn hết tất cả thiện pháp thì người này xả bỏ tâm chấp thủ đối với thiện pháp. Đây là viên mãn, toàn mãn, đại viên mãn thiện pháp. Người này hướng đến sự tịch tịnh, giải thoát đối với năm uẩn, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, người này phá hoàn toàn tham ái trong tâm, phá hoàn toàn vô minh trong trí tuệ. Người này đạt được tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Người này tự biết mình đã thoát ra khỏi năm uẩn, không còn ham, thích, muốn, không còn tham ái trong mọi hình thái của hiện hữu. Người này đạt đến chỗ hướng tâm tịch tịnh thì: Mạng sống bị dắt dẫn, tuổi thọ chẳng là bao, bị dẫn đến già nua, không có nơi dừng bước. Ai đem tâm quán xét, sợ hãi tử vong này, hãy bỏ mọi thế lợi, tâm hướng cầu tịch tịnh.
Trong Tương Ưng Sáu Xứ chúng ta học để giữ tâm ý thanh tịnh, từ bỏ những tham ái trong hiện hữu, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, thọ, tưởng, hành, thức, căn, trần, thức, xứ, giới, uẩn. Người này quán sâu vào bản chất, đặt chất, tính chất, bản tính của năm uẩn, người này thấy đó là cái không đáng để cho mình ưa thích, không đáng để cho mình phải mong cầu, để cho mình phải buộc ràng, hệ lụy, người này xả bỏ, viễn ly, xả ly, xuất ly, hướng đến sự từ bỏ ngũ uẩn.
Trên mọi hình thái, người này đều không muốn tiếp tục có những sắc, thọ, tưởng, hành, thức như vậy nữa, người này đưa tâm mình đến sự chấm dứt, đoạn diệt năm thứ này, không tham ái chấp thủ, hoàn toàn xả bỏ, người này đi đến chỗ tâm ý hoàn toàn trong sạch, thanh tịnh.
Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo
(Kinh Pháp Cú)
Ý nói không làm điều ác, dâng làm mọi việc lành, giữ tâm ý thanh tịnh, đó là lời của tất cả Chư Phật, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã dạy trong bài kệ của Đức Phật Tỳ-bà-thi trong kinh Trường bộ Đức Phật Tỳ-bà-thi giáo giới của Ngài.
Qua đó, chúng ta đã thấy được đạo lộ? Hiện tại chúng ta đang học về Tương Ưng Sáu Xứ không phải là mình đi đến chỗ này, mà là mình học cái này để mình thành tựu thấy biết về bản chất của ngũ uẩn đó. Để mình không ưa thích nó, để mình giảm được tham, sân, si, và chấp ngã. Chúng ta nhớ Chánh Kiến này từ đầu đến cuối để mình quân tu, quân tập, tích tụ, chất chứa những cái nhìn, nghe, chiêm nghiệm những cảm xúc, cảm thọ, thấy biết về Thánh trí tuệ.
Mình chất chứa những cái thấy, cái nghe, cảm xúc, nhận thức, hiểu biết để mình đánh phá được những vô minh, chấp thủ, dục ái, hơn thua, sân hận, si mê. Không phải mình đi tới giai đoạn này mà là mình tu tập Chánh Kiến để cho mình làm cho những cái kia lắng dịu xuống, giảm xuống để bắt đầu có sự nhiếp phục và mình đang phát huy những thiện pháp này.
V. Tổng kết
Đó là chúng ta nói sơ lược, tổng quát về thứ tự tu tập, đạo lộ trong bài kệ, bài kinh Đại Bổn trong kinh Trường Bộ, bài kinh số mười bốn.
Cả bài kệ như sau:
“28. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giữa chúng Tỷ-kheo, tụng đọc giới bổn này:
“Chư Phật dạy Niết-bàn là đệ nhất.
“Nhẫn nhục, khổ hạnh, kham nhẫn, là đệ nhất.
“Người xuất gia hại người xuất gia khác.
“Hại người khác như vậy không xứng gọi là Sa-môn.
“Mọi điều ác không làm, hướng tâm các thiện nghiệp.
“Giữ tâm trí thanh tịnh, chính lời chư Phật dạy.
“Không chỉ trích, không đánh đập, giữ mình trong giới bổn.
“Ăn uống có tiết độ, ngủ nghỉ riêng một mình.
“Hướng tâm đến cao khiết, chính lời chư Phật dạy”.”
(Bài kinh Đại Bổn – Trường Bộ Kinh tập một)
Đây là bài kệ của Đức Phật Vipassì (Tỳ-bà-thi) – bài kệ về giới bổn.
Sau này người ta rút gọn và chỉ lấy bốn câu trở thành bài kệ rất nổi tiếng. Âm chữ Hán là:
Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo
(Kinh Pháp Cú)
Ý là: không làm điều ác, làm mọi việc lành, giữ tâm ý trong sạch, là lời chư Phật dạy. Đã trở thành một bài kệ nổi tiếng được mệnh danh là đại ý Phật pháp.
Bài này có giai thoại, câu chuyện trong nhà thiền là: Lúc đó trong một buổi đi dạo của Bạch Cư Dị, là một nhà thơ rất nổi tiếng, lúc đó ông đang làm quan Thứ Sử. Ông đi ngang qua một cây cổ thụ, ông thấy vắt vẻo trên cành cao có một vị tăng ngồi trong vòm (giống với tổ chim) – gọi là ô sào thiền sư.
Thấy lạ như vậy nên ông ấy hỏi “Sao thầy lại ngồi ở chỗ chênh vênh, nguy hiểm vậy?” Sau đó người sư trả lời “Chỗ đại quan ngồi còn nguy hiểm hơn chỗ tôi!” Ông quan nhìn lại chiếc kiệu mà mình đang ngồi thì ngạc nhiên “Chỗ tôi đang ngồi có gì đáng ngại?” Được trả lời là “Chỗ của đại quan ở dưới vua và trên trăm họ. Vua thương thì quần thần ghét, được lòng dân thì mất lòng vua. Tính mạng của đại quan và thân quyến đều lệ thuộc vào lòng yêu, ghét của nhà vua. Có thể bị tru di cửu tộc, lại thêm sự tật đố, tị hiềm của bạn bè. Vậy thì một chiếc ghế kê trên đầu lưỡi của thiên hạ làm sao bì được với sự cứng chắc của cội cây này?”
Ý nói chiếc ghế của vị quan chỉ là kê trên đầu lưỡi của thiên hạ, trên quan, vua, mọi người thì làm sao bì được với cành cây cứng chắc mà vị sư đang ngồi đó. Nên chỗ của vị quan nguy hiểm hơn chỗ tôi ngồi.
Lúc này nhà thơ Bạch Cư Dị nghe qua mới ngẫm nghĩ, gật đầu “Thầy nói thật có lý! Có thể dùng một bài kệ để tóm tắt đại ý, tinh hoa, cốt lõi của Phật giáo không?”
Lúc nào thiền sư Ô Sào mới thong thả đọc bài kệ:
“Không làm các điều ác
Vâng làm mọi việc lành
Giữ tâm ý thanh tịnh
Là lời chư Phật dạy.”
Ông Bạch Cư Dị nói “Những lời nói đó con nít ba tuổi cũng nói được!” Thì thiền sư mỉm cười “Tuy là con nít lên ba nói được nhưng ông già tám mươi tuổi chưa chắc làm xong!”
Sau này ông Bạch Cư Dị thường tới lui, đàm đạo với các vị trong Phật giáo, tự xưng mình là Hương sơn cư vị, trở thành cư sĩ của Phật giáo. Sau đó ông trở thành một nhà thơ rất lỗi lạc trong Phật giáo.
Đó là sự liên hệ một chút về bài kệ trong kinh Trường Bộ mà sau này ta vận dụng, có chỗ là bài kệ gọi là đại ý Phật Pháp nhưng nếu mình không nhận diện ngũ uẩn, không tu theo đạo lộ kinh Nikāya thì mình sẽ hiểu nó rất cạn cợt. Vì chính Minh Thành khi xưa đọc thuộc lòng nó trong bao nhiêu năm nhưng nghĩ nó rất đơn giản, nhưng giờ mới hiểu được chữ ác trong đó rất sâu sắc, làm các việc lành là sâu rộng, rộng lớn ra sao. Để giữ tâm ý thanh tịnh thì phải xả ly ngũ uẩn này thì đến cỡ nào? Độ thâm sâu trong lời Phật dạy, trong Thánh đạo Nikāya này, đó mới là lời dạy của chư Phật.
Vì vậy mình đừng ngại, mình tu và nhìn lại mình đang ở chỗ nào trong đạo lộ này, thứ tự này, mình nhìn thấy mình đang ở đâu thì mình biết, không nên sợ. Từng bước thật vững chắc, kiên trì để đi lên, quan trọng là Chánh Kiến được bậc chân nhân, bậc Thánh chỉ dẫn cho mình nhận diện ngũ uẩn. Đó là cánh cửa quan trọng nhất, sau đó là tự mở cửa đi vào để thấy trong nhà dơ ra sao, để có những phương pháp quét dọn.
Tùy theo loại rác mà có những dụng cụ tương thích, chổi mềm chổi cứng, bàn chải sắc hay xà phòng, chổi, thuốc tẩy thì tất cả những thứ đó là Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần, Bát Thánh đạo phần. Đó là những công cụ, phương tiện như là chổi mềm, chổi cứng, bàn chải sắt, nước, xà phòng, thuốc tẩy, bao nhiêu đồ hốt rác thì tất cả những thứ đó là Ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Để tổng vệ sinh căn nhà nội tâm vô lượng vô biên kiếp vừa qua mà mình đã bỏ hoang để đi lang thang, vất vơ vất vưởng ở ngoài sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, năm dục trưởng dưỡng cứ đi lang thang như vậy, hướng ngoại mãi, chạy đi tìm mãi mà bỏ quên ngôi nhà như vậy.
Giờ chúng ta tu là để quay lại hướng nội, mới thấy được, đầu tiên là mở con mắt mù ra trước, nhận diện năm uẩn là được sáng con mắt mù trong vô lượng, vô biên kiếp. Nên việc nhận diện ngũ uẩn này tuyệt diệu, tối thượng, viên mãn về thân tâm của mình, chưa bao giờ có phương pháp, nhìn nhận thân tâm của mình một cách chính xác, tận tường, minh bạch, thấu đáo, đầy đủ hết tất cả mọi khía cạnh, phương diện, góc độ của thân tâm này.
Không thể có một phương pháp thứ hai ngoài sự nhận diện ngũ uẩn này, trong vô lượng vô biên kiếp vừa qua chúng ta đã không nhìn thấy được thân tâm của mình. Luôn sống trong tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo, trong dục ái, sân, si, ngu muội, vô minh, trong chấp ngã, chấp thủ, chỉ có Thánh trí tuệ này, tri kiến của bậc Thánh mới cho mình nhìn thấy được năm tổ hợp nhỏ trong tổ hợp lớn gọi là tôi này. Từ trong năm tổ hợp đó thì mình lại xem được nhân duyên sanh diệt, tập khởi, đoạn diệt của nó, xem được guồng máy vận hành, hoạt động của nó. Những thứ ác độc trong đó, nó sai khiến, dẫn dắt, điều khiển, áp đảo, xâm chiếm, làm hại mình như thế nào, mình phát giác, phát hiện ra, thấy và biết được sự ác độc của nó ra sao. Với sự sai khiến, sai sử như vậy mà mình làm nô lệ, tôi đòi cho nó đến mức độ nào. Mình nhìn thấy ra được là nhờ phương pháp tối thượng của Chánh Tri Kiến là sự nhìn ra được năm tổ hợp.
Nếu mình không nhìn thấy được thì vĩnh viễn, mãi mãi là vô văn phàm phu, dù cho tu cái gì cũng trong hữu lậu, hữu vi, sanh diệt. Vậy nên đó là lý do tại sao chúng ta quý trọng sự nhận diện ngũ uẩn đó, bất cứ lúc nào mình thấy được ngũ uẩn là thấy được chấp ngã, không thấy được ngũ uẩn thì chỉ là một cái tôi. Tu mà chỉ muốn hưởng cái này cái kia thì đến lúc chết sanh ra nơi đâu.
Đó là nằm trong nhân thiên pháp, không phải là Thánh đạo, mà là thiên đạo, nhân đạo, thần đạo của thế gian, là Thánh của thế gian chứ không phải là Thánh xuất thế gian.
Vì vậy, sự nhận diện ngũ uẩn này là tối tôn, tối thượng, là một sự nhìn Chánh Đẳng Chánh Giác, về thân tâm của chúng ta. Tất cả các khía cạnh phải siêng năng nhìn thì người đó sẽ tu tiến bộ nhiều, vì lúc đầu mình thích thú, trình bày này kia, kêu nhận diện thì mình thích thú, khoái nhưng tu được một thời gian thì không muốn nhìn gì nữa thì như vậy đã đánh mất chìa khóa, mở ra kho kim cương, vô giá, thất bảo, chỉ có như vậy mới đưa đến khổ, thấy khổ. Khi mình nhận diện ngũ uẩn thì mình mới bắt đầu thấy được khổ và nguyên nhân của khổ. Thấy được đạo lộ thoát khổ là nhận diện được ngũ uẩn này. Tất cả những Tứ Thánh Đế, Tứ Chánh Cần, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo đều thiết lập trên ngũ uẩn, nhưng không thấy được ngũ uẩn thì Ba mươi bảy phẩm trợ đạo sẽ không có chỗ đứng.
Vì khi không thấy được ngũ uẩn thì lại có một ảo tưởng về tự ngã, là không thấy được sự thật, thực tại nên không thể tu tập. Tâm là gì cũng không biết, tâm đang ra sao, sanh khởi, vận hành, an trú, chấm dứt ra sao cũng không biết. Trong đó có gì cũng không thấy, không biết nó đang vận hành, bị nó dẫn dắt, xâm chiếm, áp đảo. Luôn trong vô minh, tối thui, mù thì không làm gì được, chỉ có thể đứng ở ngoài cửa và nếu đi vào thì cũng không biết làm gì. Và căn nhà nội tâm là vô lượng vô biên kiếp không vệ sinh, chùi rửa, lau dọn.
Nên bài kinh Maganida sau khi Đức Phật ví dụ người cùi bị hố than hừng, người mù bị người ta gạt phủ tấm vải dơ. Họ lừa là tấm vải trắng trẻo, sạch đẹp lắm, nhưng đó lại là tấm vải dơ, người mù không thấy được nó. Chỉ khi được sáng mắt, chữa trị thì mới nhìn thấy và biết là mình bị gạt.
Đó là nói bên ngoài, nói sâu vào trong là chúng ta bị tâm thức này gạt, tâm gạt mình mà mình lại không thấy, dẫn mình đi hoài mà không thấy, đến khi mắt pháp của mình mở ra rồi thì một ngàn mạng này cũng đổi lại pháp nhận diện ngũ uẩn này, đừng nói một mạng. Mình chết một ngàn lần, vạn lần, tỉ lần mà không ai chỉ được mình về nhận diện ngũ uẩn này ngoại trừ Đức Thế Tôn và đệ tử của Đức Thế Tôn.
Bản thân của Minh Thành đi tầm đạo ở khắp thế giới, toàn cầu không có một ai chỉ về nhận diện ngũ uẩn này. Ở tất cả các thiền viện lớn nhất của Phật giáo thế giới, từ Thái Lan đến Srilanka, Myanma, Đài Loan, Nepal… Các nước lớn của Phật giáo. Đều không có ai chỉ nhận diện ngũ uẩn và nếu không có nhận diện ngũ uẩn thì không thấy chính xác về thân tâm, không thấy đầy đủ về thân tâm thì làm sao mình nhiếp phục được thân tâm? Làm sao tẩy rửa được thân tâm? Làm sao đạt đến được chỗ hoàn toàn thanh tịnh, trong sạch?
Không có một pháp thứ hai ngoài sự nhận diện ngũ uẩn này ra. Vậy nên việc nhận diện ngũ uẩn này là tối tôn, tối thượng, tối thắng, thấy năm uẩn là thấy Phật, thấy pháp, thấy trí, thấy Thánh đạo, thấy pháp duyên khởi, thấy được Như Lai. Vì thấy được năm uẩn là thấy cảm thọ, thấy được cảm thọ thì mới thấy được tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ. Chúng ta thấy được lo-gic, nhân quả hệ của nó không?
Thấy năm uẩn là thấy được tham, sân, si, lậu hoặc, sau đó mới nhiếp phục, tẩy sạch, đoạn tận. Nếu không thấy thì làm sao làm? Giờ mình mù mà lại kêu mình đi lau nhà, đi chùi hết tất cả đồ đạc trong phòng này thì đó chùi được gì? Giả sử mình mù và kêu mình đến chùi chuông, chùi bàn, chùi tượng Phật, nhà gỗ này thì thấy được gì, biết ở đâu, dùng cái gì để chùi?
Vậy nên không nhận diện ngũ uẩn gọi là mù. Việc này rất quan trọng, không được xem thường mà quên việc nhận diện ngũ uẩn này. Đó là Thánh trí tuệ, ngoài Thế Tôn ra thì không một ai chỉ cho mình. Các bậc Thánh nhân, thành tựu Chánh Tri Kiến, tối thượng mới có thể chỉ ra được cách nhìn toàn diện về các khía cạnh, góc độ. Sự sanh khởi, vận hành và hoại diệt của thân tâm này.
Qua đó chúng ta thấy được giá trị, công năng, tác dụng, ý nghĩ to lớn của sự nhận diện ngũ uẩn này. Nếu không thì chúng ta học chỉ thấy bình thường, lúc đầu chỉ thấy hứng thú được gần một tháng, hai ba tháng rồi sau đó thì bình thường, lại trở lại chứng nào tật nấy, vô minh, bản ngã vẫn còn nguyên.
Vậy nên người chân tu Phật học mà thấy được các điều trên thì còn gì hạnh phúc bằng? Không cần phải đi tìm bất cứ cái gì trên thế giới này. Cầm ở trên tay là ngọn đuốc Thánh. Trí tuệ này là tối tôn, tối thượng ở giữa chư thiên và loài người. Trời cũng không nhận diện được ngũ uẩn này, mê muộn, vô minh và si ám đối với tự thân, thân tâm của mình.
Chúng ta cần nhấn mạnh điểm đó để thấy, khi thấy được rồi thì thấy và biết, sau đó mới nhiếp phục và đoạn tận các ác bất thiện pháp và phát huy tu tập tất cả các thiện pháp, khi đã viên mãn tất cả các thiện pháp thì buông xả các thiện pháp. Thấy vậy nên nhàm chán, từ bỏ ngũ uẩn và giải thoát khỏi ngũ uẩn. Thấy vậy là thấy nguyên một dòng vô thường, khổ đau, vô ngã, biến hoại, ly tham, từ bỏ, đoạn diệt, hướng đến tịch tịnh giải thoát năm uẩn.
Chúc tất cả quý vị an lạc trong tâm từ.
./.