Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Soi Thấu 5 Uẩn 3

2026-03-03 00:55:27
NHẬP THẤT CHIA SẺ 5 - SOI THẤU NĂM UẨN 3

THÍCH MINH THÀNH

Mấy hôm nay chúng ta thực tập nhận diện năm uẩn để thấy được năm uẩn vận hành ra sao, mặt mũi nó ra sao. Hôm nay chúng ta nghe Đức Phật nói về tính chất của nó, những nguyên nhân gì làm mình khổ, nguyên nhân gì đưa đến an lạc.

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ cùng toàn thể đại chúng. Sau khi nghe bài Thiên Uẩn, trong suốt buổi đi thiền hành và nghe kinh tạng thì con thấy những lời Đức Phật nhắn nhủ được nhắc lại nhiều lần. Sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không phải là ta, không phải của ta, không phải tự ngã của ta, nếu ai cho rằng đây là ta, đây là của ta và đây là tự ngã của ta sẽ dẫn đến bị sầu bi khổ ưu não. Ai cho rằng việc mang cái thân này mà không bị bệnh thì người đó mới chính là người ngu. Bản thân con bị rúng động khi nghe những lời nói đó và suy nghĩ rất nhiều về điều này, khi mang tâm trạng lo lắng, suy nghĩ suốt ngày mà mình không biết cách đối trị, bây giờ biết được chánh pháp, nghe được lời dạy chính kim khẩu của Đức Phật nên con rất hoan hỷ. Con xin cám ơn trên sư phụ đã tạo điều kiện cho huynh đệ chúng con được tận mắt thấy tai nghe và chiêm nghiệm những lời Đức Phật dạy. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên sư phụ, quý thầy cùng toàn thể anh em huynh đệ. Vừa qua con đi kinh hành, được nghe kinh Tương Ưng Bộ, con nghe được những lời Đức Phật chỉ dạy về năm uẩn, sự tập hợp của năm uẩn. Từ đó giờ con không biết, cứ tưởng đó là mình, hôm nay con nghe được và nhận ra được sự thật nên rất vui. Con cám ơn thầy. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Chúng ta thấy được giá trị của chánh pháp, nhiều khi mình nghe pháp rất nhiều nhưng chánh pháp là khó nghe. Điều này người thông thường có khi không chấp nhận được, thậm chí tu nhiều năm mà không có tâm tha thiết chân thành cầu giải thoát thì nghe để hiểu chứ không trân trọng, tôn quý. Đây là sự thật tối tượng, mình phải có Văn – Tư – Tu thì mới thành tựu chứ mình chỉ nghe mà không có chiêm nghiệm, không có tu tập thì cái nghe đó không trở thành dưỡng chất, không nuôi được trí huệ cho nên khi nghe rồi thực tập, quán chiếu, hành trì pháp đó sẽ càng ngày càng tiến bộ rõ rệt. Khi nghe tới đâu chúng ta sẽ chia sẻ những điểm quan trọng đến đó. Trong Phật giáo của mình, điểm quan trọng quyết định đầu tiên là chánh kiến, sự nhìn nhận phải chính xác theo đúng lời Phật dạy, từ cái nhìn nhận chính xác đó mới làm cho ngôn ngữ, hành động của mình được chính xác. Khi học Bát Chánh Đạo mình sẽ thấy đây là con đường của Phật đi, con đường của thánh nhân, tất cả hiền thánh đều phải đi con đường này trong Phật giáo.

 Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh đạo, thời ở đây không có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng không có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp luật nào có Bát Thánh đạo, thời ở đây có đệ nhất Sa-môn, cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp luật này có Bát Thánh Ðạo, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những vị Tỳ-kheo này sống chơn chánh, thời đời này không vắng những vị A-la-hán (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Cho nên chánh kiến được xác lập ở chỗ thấy rõ được thọ; tưởng; hành; thức. Nếu không thấy rõ thọ; tưởng; hành; thức mà chỉ thấy trên suy tưởng thì cái đó chưa đi vào pháp, đó chỉ làm một khái niệm. Còn dòng pháp này là mình thực pháp, thành ra phương pháp nhận diện năm uẩn là cực kì quan trọng, thầy mong các huynh đệ hãy liên tục nhận diện, nhìn lại thân tâm, cảm giác như thế nào, có suy tưởng gì và có nhận thức gì. Khi mình rõ biết chính mình thì sự tu hành không còn khó nữa.

Người được nghe chánh pháp gọi là đa văn thánh đệ tử, còn người phàm phu suốt đời cũng không được nghe, thậm chí cả trăm ngàn kiếp cũng không nghe được nếu không gặp chánh pháp. Không có Đức Phật ra đời thì không có một ai ở trên thế giới này có thể nhìn thấy được ngũ thủ uẩn, không ai có thể nhìn thấy được tính chất không có gì là tôi, không có gì là của tôi, vô ngã, duyên sanh của các pháp.

Có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta". Do bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta." khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não! (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, I. Nakulapità).

Hai chữ ám ảnh rất sâu sắc, mình bị ám ảnh trong nội tâm mình. Mỗi khi mình nói về mình như "chút nữa tôi đi ăn cơm" thì lúc đó trong nội tâm mình tưởng, hành ra sao?

Nếu như bản thân con khởi lên ý hành "chút nữa tôi đi ăn cơm" thì sẽ hiện ra hình bóng bát cơm và món ăn mà con sẽ chuẩn bị. Nếu ở trong thất thì con tưởng ra các loại rau củ, gạo, và hình bóng con phải có trong đó.

Hình bóng của mình chắc chắn phải có, đây là chỗ Minh Thành muốn nói. Khi mình nói "ngày mai tôi sẽ đi Đà Lạt" thì lúc đó mình sẽ thấy hình bóng lờ mờ trong nội tâm, đó gọi là ám ảnh về một cái tôi, về một bản ngã. Tất cả phàm phu không nghe chánh pháp đều bị như vậy, khi nói về mình "cái này tôi làm", "tôi thấy điều này", "tuần sau tôi về thăm nhà", thì khi vừa nói ra như vậy sẽ hiện lên đầy đủ thọ; tưởng; hành; thức. Cái cảm giác thúc đẩy mình nói, từ cảm giác nung lên hình bóng lờ mờ của mình được về nhà thấy cha mẹ. Như vậy sâu thẳm bên trong là cảm giác nung nóng lên rồi thọ; tưởng; hành; thức vận hành theo, cái quan trọng là hình bóng về cái tôi, cái ảo ảnh về một cái tôi, cái ảm ảnh về một cái tôi. Khi Minh Thành ngồi thiền lúc 4h sáng, ánh đèn rọi bóng của mình vào tấm mùng nên thấy sao hôm nay cái mặt hơi tròn, cái thân cũng tròn nên khởi lên cảm giác vui vì mình có tướng hảo, ngay đó phải nhìn lại liền "đây là cái gì, có một cái bóng thôi mà cũng bám chấp vào cái ngã được", từ cái bóng bên ngoài cái mùng nhìn lại bên trong nội tâm có câu nói "mình hôm nay có tướng hảo" thì lúc đó thêm cái bóng bên trong rồi nhìn lại sắc thân này. Như vậy 3 cái đều chấp về tự ngã: Cái bóng bên ngoài, cái bóng bên trong và sắc thân này là mình đều dính chặt trong đó nên lúc đó phải lập tức quán chiếu "có một cái bóng thôi mà đã bám chấp như vậy rồi. Nó là ảo ảnh, vô thường, có gì trong này mà thích thú, hoan hỷ, đáng vui đáng mừng? Đây là dục, là tham. Đây là vô minh, tham ái. Đây là sắc thân tứ đại vô thường", dùng Như lý tác ý để dập tan tư tưởng hỷ tham trong tự ngã. Lập tức quán lúc mình già bệnh chết, quán tới bộ xương, quán cho bộ xương nát ra thành bụi, quán như vậy thì phát sanh ra cảm giác sâu sắc về vô ngã. Nhìn trong 32 thể trược hay 36 vật thì cái nào là mình? Phải quán chiếu để phá tư tưởng hữu ngã, cái ám ảnh về tôi, cái ảo ảnh về một cái mình trong nội tâm. Cái tu như vậy rất sâu sắc, cái ảo ảnh này rất cứng chắc, gắn chặt như keo sơn, nó cứng còn hơn cả ngọn núi đá, cho nên trong sự thực tập Minh Thành nhìn sâu vào nội tâm thấy vô minh và ái dục giống như xương thịt của mình, nó ăn sâu vào tủy xương nên tuệ quán mà yếu thì không đủ sức đánh bật được nó. Thành ra phải liên tục nhìn soi xét, chiếu kiến ngũ uẩn, đó là công phu của tuệ quán, chánh tư duy Như lý tác ý chứ không phải mình biết đó là cái ngã rồi để qua bên, biết rồi thôi chứ không làm gì nó là sai, ngược lại phải quán cho tan cảm giác ưa thích, thích thú thì mới là sự thực tập.

Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy bị ám ảnh: "Thọ là ta, thọ là của ta". Do bị ám ảnh: "Thọ là ta, thọ là của ta" khi thọ biến hoại, đổi khác; nên do thọ biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não! (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, I. Nakulapità).

Cảm giác này là cây cổ thụ ngàn năm, cái kho trong hàng tỷ kiếp, tất cả những tập nghiệp, tập khí của mình hội tụ trong cái kho cảm thọ. Cho nên người ta lúc nào cũng đi tìm cảm giác, như người chạy xe ôm, chạy xích lô từ sáng tới tối rồi đi nhậu thay vì vui vẻ với vợ con, cũng chỉ vì một chút cảm giác vui vẻ đó thôi. Trong bài kinh đại khổ uẩn và tiểu khổ uẩn nói rất rõ cái này, khổ uẩn là sự tích tập, hội tụ tất cả khổ từ nơi dục tham, chỉ vì một chút cảm giác vui sướng đó mà có khi người ta đánh đổi cả cuộc đời, sinh mạng hoặc sự nghiệp, bạn bè trở thành kẻ thù.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát-đế-lị tranh đoạt với Sát-đế-lị, Bà-la-môn tranh đoạt với Bà-la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ, mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ, cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha, anh em tranh đoạt với anh em, anh tranh đoạt với chị, chị tranh đoạt với anh, bạn bè tranh đoạt với bạn bè. Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt; họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong (Trung Bộ Kinh, 13. Ðại kinh Khổ uẩn)

Đọc tin tức thấy rùng rợn, vợ chồng chặt xác nhau, tất cả đều từ cảm giác. Lúc đầu là cảm giác yêu thương, sau này là cảm giác oán hận. Sự đau khổ của chúng sanh này là cho rằng cảm giác này là tôi, cảm giác này là của tôi mà không thấy cảm giác chỉ là cảm giác. Bây giờ chân đau thì chút nữa là hết đau, bây giờ đói nhưng ăn vào là hết đói, buồn ngủ nhưng mình chấn tỉnh, quán chiếu vô thường rồi nhớ tới cha mẹ, ông bà, nhớ tới những người đã đặt niềm tin hi vọng vào mình thì tinh tấn lực lên, lúc đó sẽ đánh tan cảm giác lờ đờ, uể oải, buồn ngủ. Khi tu tập từ từ mình sẽ làm chủ cảm giác chứ không để cảm giác làm chủ, quan trọng là mình phải thấy cảm giác chỉ là cảm giác chứ không phải là mình, nó là cái pháp vô thường, biến đổi.

Vị ngọt của thọ, sự nguy hiểm của thọ và sự xuất ly khỏi thọ nghĩa là vị ngọt cảm giác, sự nguy hiểm của cảm giác và sự xuất ly khỏi cảm giác này. Thế nào là vị ngọt cả cảm giác? Là tất cả những cái gì vui sướng, thích thú, hấp dẫn là vị ngọt của cảm giác. Vị ngọt đó được bao lâu? Chỉ có chút xíu thôi, mình chuẩn bị buổi tiệc có khi 2-3 ngày nhưng khi lên ăn trong bao lâu? Nhiều lắm chừng 1 tiếng vậy mà vì một chút cảm giác đó mà cả ngày hoặc nhiều ngày lo lắng, chăm lo cho buổi tiệc, có nhiều người nặng về cảm giác của lưỡi, gọi là vị giác. Cảm giác ghê nhất trong khắp thiên hạ này là cảm giác của thân xác, của dục, cảm giác này nhận chìm hết chúng sanh trong trầm luân biển khổ. Thành ra việc quán 32 thể trược, quán bất tịnh, quán tử thi, quán niệm sự chết là để tẩy từ từ sự đam mê cảm giác của dục, phải biết đó chỉ là cảm giác thôi. Người đời thường bị vướng mắc vào trước tiên là tình cảm, rồi đến tình dục, khi 2 cái này hết rồi chỉ còn lại sự nhàm chán, nhìn vào sự xấu dở của nhau, bung ra hết những cái tập khí xấu rồi chán nhau. Hương vị của tình cảm, tình yêu lúc ban đầu được bao nhiêu? Cho nên khi nhìn sâu vào cảm giác sẽ thấy được hết tất cả mọi thứ, phải nghe và quán chiếu chứ nghe không thì không đủ. Ngồi thiền rồi nhìn sâu vào các tầng cảm thọ vì cảm giác này nó tan hoại, vô thường, đổi khác nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Không còn cảm giác như lúc ban đầu thương mến nhau vì cảm giác nó là vô thường nên chắc chắn nó phải đổi thay. Khi nhìn thọ uẩn hằng ngày mình sẽ thấy bằng con mắt tuệ, con mắt tâm, con mắt pháp của mình, nhưng chỗ này phải cố gắng tinh tấn vì không khéo mình sẽ sợ, sợ mất hết mọi thứ mình đã có, mình yêu thích. Đây là ác ma trong tâm của mình, nó sẽ kháng cự lại vì nó nói mình tu vậy thì không còn mong muốn cảm giác gì nữa, mà cái tham dục lại muốn cảm giác, cái này là cái mình phải vượt qua. Bây giờ mình không quán cảm giác mà đánh thẳng vào những tên chống đối việc tu tập, trong tâm mình sẽ phát sanh ra cảm giác sợ mất mọi thứ mình đang có, mất những cái mình đang hưởng thụ, mình đang đam mê. Đó là cái ghê gớm nhất, nó không cho mình tiến sâu vào trí huệ, nó không cho mình đi thẳng vào tuệ giác. Phải nhìn kĩ những thứ này là ác ma trú ẩn trong nội tâm mình, nó là tên vô minh, tham dục, tham ái, nó lưu luyến, bịn rịn, nó kéo mình trở về chứ đừng đi giải thoát. Phải thấy rõ bộ mặt của nó.

Vị ấy quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy bị ám ảnh: "Tưởng là ta, tưởng là của ta". Do bị ám ảnh: "Tưởng là ta, tưởng là của ta" khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên do tưởng biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

 Vị ấy quán các hành như là tự ngã hay tự ngã như là có các hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy bị ám ảnh: "Các hành là ta, các hành là của ta". Do bị ám ảnh: "Các hành là ta, các hành là của ta" khi các hành biến hoại, đổi khác; do các hành biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não! (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, I. Nakulapità).

Mình chú trọng vào năm uẩn, đặt nặng vào cái thọ, nhưng thọ đi liền với tưởng, hành. Các nhà bác học, triết học thường nói suy nghĩ này là tôi nên chỗ này mình phải quán chiếu cho sâu sắc. Kẻ vô văn phàm phu không nghe chánh pháp, không thấy được ngũ uẩn nên họ nói suy tưởng này là tôi nên họ chấp chặt vào suy tưởng đó, nếu có ai nói cái suy tưởng đó không đúng thì xảy ra sự tranh đấu, gây gổ, thậm chí đi đến tù tội, có án mạng xảy ra.

Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt; họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong (Trung Bộ Kinh, 13. Ðại kinh Khổ uẩn)

Tất cả những cái này đều xuất phát từ tham dục, cảm giác tham dục được nuôi dưỡng bởi suy tưởng, dục tưởng. Mình nuôi dưỡng, chấp nhận nó chứ không tẩy sạch, đoạn tận thì nó sẽ tiếp diễn trong nội tâm mình. Khi nghe nói có một đoàn người khá đông lên đây tu học thì mình bắt đầu tưởng hình bóng họ, họ lên đây sẽ làm gì, tu học ra sao… Hoặc khi nghe có ba mẹ người thân lên thăm là mình tưởng ra hình bóng họ, ăn mặc ra sao, có khi tối ngủ nằm chiêm bao. Tới chừng sự thật đến thì khác, không giống với cái mình tưởng. Mà lỡ như không giống trong sự tưởng tượng của mình thì có khi mình sẽ buồn, thậm chí phiền não. Ngoài đời có biết bao cái tưởng, chính cái tưởng đẩy họ vào lòng lẩn quẩn không ra khỏi, sự thật khác xa so với tưởng tượng. Khi thấy mây đen mình tưởng sẽ có mưa, có hành và thọ đi theo, cái thức rõ biết, ngay lúc đó bao nhiêu pháp vận hành thì tâm sẽ lo lắng, sợ có mưa ướt người. Từ những cái vận hành bên trong biểu hiện ra ngoài, hữu lậu sanh khởi liên tục và đẩy mình đi tạo nghiệp, có sự suy nghĩ nên miệng nói ra và thân sẽ hành động, từ ý hành sẽ có khẩu hành và thân hành thì đưa đến nghiệp khổ.

Mình sống với thực tại là mình biết tưởng chỉ là tưởng, tưởng này vô thường, tưởng này biến đổi, những suy nghĩ này không phải của mình, là pháp duyên sanh, nó chỉ tưởng những cái nó đã thấy chứ nó không thể tưởng những cái nó chưa thấy. Do đã thấy trái chanh nên khi nói tới trái chanh thì lập tức trong đầu mình sẽ hiện lên hình bóng trái chanh. Do đã biết, đã ăn bún riêu nên khi nói đến tô bún riêu thì trong tâm mình sẽ có hình bóng và cả hương vị của tô bún riêu, nên mới gọi là sắc tưởng; hương tưởng; thanh tưởng; vị tưởng, xúc tưởng và đi sâu vào nữa là pháp tưởng. Nhưng cái thật bên ngoài mới làm cho mình ít đau khổ hơn là cái bên trong, chỗ này mới cay đắng, ví dụ khi nghe lời chỉ trích phê bình chỉ có 2-3 phút nhưng trở về 5 ngày sau câu nói đó vẫn còn trong đầu. Nếu không dùng Như lý tác ý và quán chiếu để tẩy sạch nó thì có khi những lời nói đó làm cho mình đau khổ nhiều năm, thậm chí cả cuộc đời. Mọi người có thấy ghê gớm không? Cho nên mình chết với sự suy tưởng, những bóng dáng và những lời nói thầm trong tâm nếu mình không tẩy sạch, không dùng Như lý tác ý và quán chiếu.

Có ba pháp cần thực tập và nhớ kỹ:

Rõ biết trước mặt,

Cảm giác toàn thân,

Nội tâm tỉnh giác.

Bước thứ hai là nhận diện năm uẩn, nhìn rõ sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Mình phải thấy được cảm giác, suy tưởng và nhận thức. Phải thấy rõ sắc pháp và sắc thân này, thấy rành rõ và phải gọi đúng tên. Thọ gồm: Lạc thọ; khổ thọ; bất khổ bất lạc thọ. Hành gồm: Ý hành, thân hành và khẩu hành. Tưởng hình bóng ra sao phải nói rõ. Thức phải nhận rõ chứ không nói chung chung, nếu nói chung chung là không có trạch pháp, không rõ pháp. Ý hành rất ghê gớm, nói một hồi là mình nghe theo nó, nó dụ dỗ nói theo chiều tham dục, si mê, vô minh. Khi gặp người khác phái mà đẹp thì trong đầu có những lời nói liên tục mà mình không quán chiếu là mình không thể dừng lại được tâm hành. Còn khi phát hiện ra nó thì đó là cả một sự chánh kiến. Khi mình đã thấy, đã biết nó cũng giống như mình thấy con rắn trong nhà, phải đánh đuổi nó ra vì cái hành này vô thường, giả dối, lôi kéo mình vào dòng khổ đau, phiền lụy. Phải dùng mọi cách để dập tắt nó, chỗ này mới là chỗ mình tu chứ không phải tu ở hình thức bên ngoài, đó chỉ dành cho người sơ cơ. Nhiều khi thấy ngồi thiền nhưng thực ra có thiền không hay đang suy nghĩ gì khác trong đầu? Cho nên mình không thể căn cứ vào hình thức bên ngoài, mà phải dùng trí huệ quán chiếu để thấu rõ được năm uẩn vận hành, đây là cái tu sâu sắc của Đức Phật, mới thực sự là con ngoan của Đức Phật.

Sự nhận thức của mình cũng giống vậy. Sự rõ biết sắc; thọ; tưởng; hành. Mình tham ái, đam mê, chấp ngã trong cái thức "cái rõ biết này là tôi", "đây là nhận thức của tôi", " đây là hiểu biết của tôi", "đây là kiến thức của tôi", tất cả những cái này gắn kết chặt vào cái tôi đó không thể gỡ ra được và nhận thức của mình bị thay đổi thì lúc đó sẽ khổ. Cái biết của mình thường xuyên thay đổi vì nó là pháp vô thường, cái thức đó phải gắn vào cái thân này, gắn vào con mắt, lỗ mũi, lưỡi, miệng thì mới biểu hiện ra được. Nếu không có con mắt thì làm sao có nhãn thức, không có sự rõ biết các sắc, cái vô thường tạo ra nó thì làm sao nó thường được? Một sự biến đổi, giả dối, là đồ lắp ráp mà nó gắn vào đó thì làm sao nó là thật được? Một thứ đồ giả tạo ra nó thì làm sao nó là đồ thật được? Phải quán chiếu sâu sắc năm uẩn để nhận diện, để nhìn cho kĩ mọi thứ. Chiếu kiến ngũ uẩn là soi thấu năm uẩn, mà năm uẩn là thân tâm mình và vạn vật. Thành ra sự tu học của mình sâu sắc ở chỗ luôn quay trở lại để nhận rõ tự thân, tự tâm của mình. Khi nhận rõ rồi sẽ thấy nhiều vấn đề, đầy rẫy trong đó là dục tham, vô minh, chấp ngã, ta đây… nhưng khi thấy được tức là mình đã thành tựu trí huệ về tự thân. Thời gian này chúng ta cố gắng tinh tấn, nhiệt tâm tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, phải nhớ 3 pháp, nhận diện năm uẩn, mỗi khi có bất thiện pháp sanh khởi là dùng Như lý tác ý đánh đuổi, kế đó là dùng sự quán chiếu bất tịnh, về cái chết, sự vô thường, biến hoại, tan vỡ của các pháp, từ từ mình sẽ tách ra được năm uẩn và mình và thành tựu trí huệ về năm uẩn.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.