Thánh Trí 5 Uẩn 20 - Vị Ngọt và Sự Nguy Hại
KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI - THÁNH TRÍ NĂM UẨN 20 - VỊ NGỌT VÀ SỰ NGUY HẠI
Thích Minh Thành
Đã từ rất lâu đời rồi vô minh, tham ái và chấp thủ trong thân xác này, trong những cảm giác, nghĩ tưởng. Cho nên tuy chúng ta biết nhận diện năm uẩn, đôi phần thấy được tham sân si, bản ngã nhưng chúng ta phải có sự nỗ lực, cố gắng rất nhiều. Đường tu này không phải dễ dàng, không đơn giản như chúng ta nghĩ, chỉ cần không an trú trong pháp thì lập tức buông lung phóng dật, tự ngã ái, cảnh giới ái, thành ra trong sự chiêm nghiệm của con thời gian gần đây thấy rằng phải "trường kì kháng chiến", không phải chỉ tu trong dáng ngồi hay trên miệng mà còn tu sâu vào cảm giác, khi sanh khởi những ý hành trái ngược pháp, hữu ái, ưa thích những cảnh sắc, sanh khởi ra những tâm niệm "dừng lại, tu vậy được rồi" hoặc sanh khởi lên những ý nhiệm thối thất thì phải lập tức tác ý ngay tại chỗ, đánh đuổi những ý nghĩ đó ra khỏi thân tâm, nếu những ý nghĩ đó sanh khởi được một lần thì sẽ có những lần sau, khi tiếp tục sanh khởi nhiều lần sẽ đưa đến sự thối thất, đưa đến không nhiệt tâm, tinh cần phấn đấu, không nỗ lực tự mình tiến lên cho nên chỗ tu càng ngày càng sâu sắc là phải biết nắm bắt suy nghĩ như sư tử săn mồi, khi nó vồ mồi đều dùng toàn lực, thì trí tuệ năm uẩn của mình cũng phải bén nhạy, rực sáng, mau lẹ, phải dứt khoát, nếu không thì đời tu của mình lúc tiến lúc lùi, lúc thì tinh tấn siêng năng lúc thì sống lững lờ. Đức Thế Tôn nói chúng sanh chết trong suy tưởng, trong tư tưởng, trong suy nghĩ. Sự tu của chúng ta phải chịu khó, phải kiểm soát được những cảm giác, phải biết cảm giác gì đang có mặt, trong cảm giác đó đang có tham sân si, vô minh và bản ngã đang trú ẩn và phải có cách xử lý khéo léo, thiện xảo, quả quyết, dứt khoát, đó là tuệ lực của mình, niệm lực, tinh tấn lực, mãnh hổ lực, đại hồng lực là ở trong sự quyết đoán trong suy nghĩ, trong chánh tư duy, trong Như lý tác ý, trong dòng suy nghĩ đó mình có chặn đứng được không.
Ai chận được phẫn nộ,
Như dừng xe đang lăn,
Ta gọi người đánh xe,
Kẻ khác, cầm cương hờ.
(Kinh Pháp Cú 17 – Phẩm Phẫn Nộ, kệ 222)
Giống như chiếc xe tải hạng nặng mà mình là tài xế, mình phải đạp được thắng khi xe đang lao dốc, còn không nó sẽ đưa mình xuống hố sâu, vực thẳm. Cho nên sự tu tập là nhận diện ngũ uẩn, nhận diện những cảm giác, nghĩ tưởng, đọc được, dò xét được, quản lý, nhìn kĩ và ngăn chặn lại. Đức Phật nói như dừng xe đang lăn, người nào điều phục chính mình giống như có thể chặn được chiếc xe hàng trăm tấn, dùng sức mạnh của mình chặn đứng lại. Những ý nghĩ trong lòng mình cực kì nguy hiểm, nó là kẻ giết người, chỉ cần một suy nghĩ thôi có thể hoàn tục, chỉ cần một suy nghĩ thôi là rớt khỏi dòng pháp, chỉ cần suy nghĩ mà không có chánh tư duy thì huynh đệ có thể giận nhau, thầy trò không nhìn mặt nhau, chỉ cần một suy nghĩ sai là vợ chồng chia ly, mẹ con phân tán, huynh đệ tương tàn cho nên tất cả chúng sanh đều chết trong ý tưởng. Những kẻ vô văn phàm phu không biết tu học thánh pháp này thì làm sao biết được đó là hành uẩn? Làm sao có thể tách mình ra khỏi hành uẩn? Chúng ta có phước duyên học được, thực tập được nhưng thấy được nó không có nghĩa ta có thể khống chế, nhiếp phục được nó. Có rất nhiều cấp độ trong sự nhận diện ngũ uẩn chứ không đơn thuần chỉ đọc tên ra. Ví dụ chúng ta biết người đó tên gì, cô kia tên gì nhưng chỉ là biết tên thôi, khi ở gần thì biết được cách suy nghĩ, hành động, từ từ mình biết được tánh tình… Có rất nhiều cấp độ, trong nhận diện ngũ uẩn cũng vậy, mình chỉ mới biết được tên của các uẩn: Thọ uẩn; hành uẩn; tưởng uẩn; thức uẩn, đây là cảm giác, đây là hình bóng trong tâm, đây là những lời nói thầm nhưng mình chưa biết tánh tình của nó, tức là sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, hành với hành tánh, thức với thức tánh. Làm cho hiện hành các pháp hữu vi chính là hành, là sự suy nghĩ, làm cho hiển lộ ra ngũ uẩn. Ví dụ suy nghĩ người đó đẹp, dễ thương quá thì các uẩn đều hiện ra hết, sắc uẩn của người đó hiện ra, sắc tưởng, sắc tư, những cảm giác khi tiếp xúc với người đó, hình bóng của người đó, những suy nghĩ, nhận thức rõ biết về người đó, chỉ cần một suy nghĩ thôi là biểu hiện ra ngũ uẩn trong tâm mình, nhưng lúc suy nghĩ như vậy mình có thấy được ngũ uẩn không hay chỉ thấy hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó rồi bị cuốn vào đó. Cho nên nhận diện ngũ uẩn là khi có suy nghĩ sanh khởi lên là mình thấy ngũ uẩn chứ không có người nào trong đó, không thấy có cô này cô kia, chú này chú nọ mà chỉ thấy đó là ngũ uẩn, đây là cả một công trình, công phu tu tập. Vì vậy nếu tu chỉ để gieo duyên, chặn đứng được những cái thô của ác nghiệp, nếu nỗ lực một chút có thể chặn được cái vừa, sự nỗ lực nhiều hơn nữa có thể chặn được các vi tế, còn nếu tu để diệt tận các lậu hoặc thì người này không có thời gian rãnh rỗi, lúc nào cũng nhìn lại thân tâm thì làm gì có thời gian rãnh. Minh Thành nói những điều này không phải than khó khăn để sợ mà để mình biết bản thân đang ở vị trí nào để không lầm tưởng. Trên núi Linh Quy này là môi trường cực kì thuận tiện để quét dọn căn nhà nội tâm, những buổi pháp như vầy rất quan trọng chỉ cần nghỉ học vài ngày là thấy khác ngay, học lại thì khác, vì vậy phải ngày đêm tinh tấn hoan hỉ tu tập thiện pháp. Con đi chỗ này chỗ kia, tiếp xúc đủ các dạng người, khi nói chuyện con quay lại nhìn nội tâm, nhìn ngũ uẩn của cuộc đời thấy một tình thương dào dạt cho chính mình và cho mọi người, mọi người nói ra đều là tham sân si, bản ngã ở trong ngũ uẩn, những câu nói đưa đến sự viễn ly, xa lìa, nhàm chán là cực kì ít ỏi. Khi con nói chuyện trong lớp, con hỏi có khi nào các thầy các cô đi kinh hành trong chùa nhìn lên ngôi chùa của mình nói "đây là tứ đại sắc uẩn vô thường, tan nát, hoại diệt, không có gì đáng ưa thích trong này, đây không phải là tôi, không phải của tôi nên đáng từ bỏ, nhàm chán" không? Mọi người đều cười "không có đâu thầy ơi", vì thế mà trong tu học cần phải tác ý liên tục, không tác ý không sanh trí huệ, trơ ra trong vô minh, tham ái, chấp thủ. Phải tập tác ý không chỉ trong giờ ngồi thiền, tác ý nhàm chán với những tham ái, sân hận, những cái này sanh khởi chỉ thấy chán chê, não nề, sanh khởi cảm giác ta đây chỉ thấy khiếp sợ, đây là con đường dẫn đến địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, mình cảm thấy sợ hãi với chính cảm giác, suy nghĩ của mình. Tâm ưa thích cảnh vật, thân thể, những sắc pháp sanh khởi là phải tác ý "mày ưa thích đống tro này lắm phải không? Mày ưa thích cái hòm này phải không? Mày ưa thích đống đổ nát, những dòng nước mắt, những dòng máu lắm phải không? Tỉnh lên để nhìn thấy bản chất trống rỗng của thế giới này, bản chất tàn hoại, đau khổ của thế giới này". Trên đường con đi từ Sài Gòn về núi thấy xảy ra tai nạn giao thông, 1 người chết 1 người bị thương, nhìn những cảnh này phải biết tác ý, nắm bắt hình ảnh đó đưa vào tâm, lấy đó làm đề tài thiền quán, dùng tâm nhãn đưa hình ảnh đó vào đề tài để thiền quán liên tục "đó là thân xác của mày, là kiếp sống của mi đó. Ngươi đam mê, khao khát đi rồi kết cục bị như thế", tác ý như vậy từ từ mới thể nhập, trí tuệ bắt đầu khởi động vận hành, còn không mình sẽ sống trong tham ái, chấp thủ, mình không nghĩ là mình chết, bị nhiễm dịch bệnh, những người bị bệnh không nghĩ họ sẽ bệnh, những người đã chết không nghĩ rằng họ sẽ chết, người bị tai nạn giao thông không nghĩ rằng họ sẽ bị tai nạn giao thông, cái vô minh không cho họ nghĩ như vậy, bất cứ lúc nào sự bất trắc, vô thường cũng có thể xảy ra. Ngồi chỗ nào cũng nghĩ chỗ này sẽ sụp đổ, bước lên xe là nghĩ có thể xảy ra tai nạn giao thông để phát triển tâm xả ly, tâm từ bỏ, cái chấp thủ uẩn mới bắt đầu được nới lỏng ra, còn không chỉ học cho biết, nói cho vui thôi. Cho nên phải có sự để tâm chịu khó tác ý, khi tác ý thì trí huệ sẽ tăng trưởng đột biến, tăng thượng tuệ học được là nhờ tăng thượng tâm học, tăng thượng giới học, giữ gìn ngôn ngữ, hành vi, giữ gìn tâm sẽ sanh ra sự tác ý đúng chánh pháp thì trí huệ sẽ tăng trưởng. Vì vậy biết rằng khó nhưng mình phải là người chịu khó, không được buông tay, không được thấy khó mà thối lui, không được thấy khó mà đứng lại, càng khó chừng nào càng tiến lên chừng đó, không thể làm kẻ chiến bại bỏ cha bỏ mẹ, bỏ ông bà cô chú, mình đã bỏ những thứ yêu thích của cuộc đời để vào đây thì không thể trở thành kẻ thất bại, hèn hạ nhục nhã được, mình phải là người chiến thắng, phải là người có thành tích, thánh quả. Làm sao mình có thể chấp nhận thành kẻ tồi bại, mang nợ được? Phải tác ý như vậy thường xuyên, chửi cái tâm, la cái tham ái, quở trách sân hận, phỉ nhổ bản ngã, ta đây hơn thua, tác ý mạnh mẽ "mày là thứ đáng khinh khi, tồi bại nhục nhã. Mày đi tu để được bản ngã hay sao? Tính chuyện hơn thua với huynh đệ hay sao?". Vì vậy tu theo dòng pháp này khổ chứ không có sướng, đi đến cái khổ cùng cực để diệt tận tất cả khổ đau, đó là cùng tận biên tế của đau khổ, diệt khổ chi đạo. Tu này là một sức mạnh đối diện trực chỉ với nội tâm, tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình, tự mình la mắng quở trách mình, bậc trí là tự đều phục thì mới đưa đến đại an lạc, đại an ổn, đại bình an. Trong cuộc sống vô nghĩa, vô thường này nhân loại đang đau khổ, chết chóc hiện diện khắp mọi nơi trong thiên tai dịch bệnh, tại sao mình không biết trân trọng những giờ phút mình đang có? Tại sao mình lại sống buông lung phóng dật qua ngày đoạn tháng rồi tai nạn ập đến thì đời tu mình còn lại gì? So với những người gặp tai nạn, dịch bệnh, chết chóc, lũ lụt, sạt lở chôn vùi tài sản ruộng vừa thì mình tu học một chút này có đáng là gì? So với nỗi khổ trong sanh tử luân hồi, trong buông lung phóng dật, vô minh, tham sân si, hành xác nhau, đâm chém, giết hại nhau thì nỗi khổ tu hành này chẳng đáng là bao. Xã hội bây giờ xảy ra những chuyện không tưởng tượng được, người đàn ông đến cửa hàng bán điện thoại thì nhân viên nói là điện thoại bị trầy, người đàn ông này lấy ống tuýp đập vào đầu nhân viên vỡ đầu, con người bây giờ hung ác, tàn bạo, tham sân si mãnh liệt, bản ngã kinh hoàng. Đây là thời gian thuận lợi nhất trong mọi thời để tu học xuất ly, nếu không tu thì đợi đến khi nào mới tu? Nếu bây giờ không xảy ra thiên tai dịch bệnh thì chưa chắc mình có mặt ở đây để tu, những tiếng sấm vang rền để mình tỉnh mộng mà mình vẫn chưa chịu tu, chưa chịu thức tỉnh thì đến bao giờ mới thức tỉnh? Những cụ già ở miền Trung nói lũ lụt nước dâng cao như vậy hàng chục năm qua chưa từng thấy, dịch bệnh đang diễn ra hàng trăm năm qua chưa từng thấy, 7 tỉnh miền Trung đang hứng chịu thảm họa bão lũ, gia đình phân tán chia ly, tài sản tích lũy mấy chục năm trôi theo dòng nước, beo nhiêu cảnh tan thương dâu bể đang diễn ra trước mắt mà vẫn không tỉnh ngộ để tu học thì đến khi nào mới tu? Cho nên phải đánh tan cảm giác trơ, đờ đẫn, làm sanh khởi cảm giác nhiệt tâm tinh cần, nỗ lực tinh tấn. Chính sự vô cảm đó giết chết mình. Này các Tỳ-kheo, thọ là kẻ giết người cho nên phải nỗ lực, phải để tâm hết lòng. Tuy nhiên không phải nói làm được 100% được nhưng sự để tâm giúp mình tăng trưởng rất nhiều, ví dụ qua giai đoạn dịch bệnh này chưa chắc mình có mặt ở đây hoặc tâm mình không còn dòng cảm thọ xót thương, đau khổ cho chúng sanh giống như bây giờ. Mình sẽ vui thích, chạy đi tìm này tìm kia lại, làm ăn kinh doanh trở lại, chưa chắc chịu nghe những lời giảng này cho nên phải tác ý ngày đêm, tu tập chỉ quán, dừng nghỉ lại để nhìn thật kĩ trong thân tâm, rác bẩn hồ tâm đã ngập bờ trong nội tâm.
Cái ái rất nhỏ nhiệm, ghê gớm. Chỉ cần mình buông lỏng một chút thôi sẽ trở về với phàm tục, phàm phu, phàm tình. Trở về sự ưa thích, ái luyến, tiếp tục khao khát, tham muốn, tìm tòi. Đức Thế Tôn nói lý do tại sao đống khổ này sanh khởi và làm sao để chấm dứt khổ, nhân duyên khiến cho khổ uẩn tập khởi và đoạn diệt.
Này các Tỳ-kheo, ai sống, thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ (upàdàniyadhammà), ái được tăng trưởng. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, II. Thủ)
Trong những thứ mà mình có được, tức là vị ngọt trong sắc, trong cảm giác, trong nghĩ tưởng, ai nhìn những vị ngọt này thì tham ái sẽ lớn mạnh.
Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kuru, tại một thị trấn của dân chúng Kuru tên là Kammàsadamma.
Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, sâu xa thay là định lý Duyên khởi này, và sâu xa thật là định nghĩa này. Nhưng đối với con định lý ấy có vẻ rõ ràng, minh bạch!
Khi nói câu này ngài Anan còn là bậc hữu học, mới chứng được thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn thôi. Thế Tôn nói tiếp:
Chớ có nói vậy, này Ananda! Chớ có nói vậy, này Ananda! Sâu xa thay, này Ananda là định lý Duyên khởi này, và sâu xa thật là định nghĩa này. Này Ananda, chính vì không hiểu rõ pháp này, không giác ngộ, không chứng nhập pháp này mà chúng sanh nay bị rối ren như cuộn chỉ, bị phủ đầy bởi bệnh cằn cỗi, như cỏ munjà, như cây lau, không thoát khỏi sự luân hồi trong cõi dữ, ác thú, đọa xứ. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, X. Nhân)
Chúng sanh không chứng nhập được giáo lý duyên khởi, từ xúc sanh ra thọ, từ thọ sanh ra ái, từ ái sanh ra thủ. Tiếp xúc sanh ra cảm giác, cảm giác sanh ra sự yếu thích, yêu thích sanh ra sự chấp thủ, từ chấp thủ sanh ra sự hiện hữu. Đó là trích đoạn của thập nhị nhân duyên, do mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý tiếp xúc với sắc sanh ra cảm giác yêu thích rồi nắm giữ, từ nắm giữ sanh khởi ra sự có mặt hiện hữu. Thế Tôn nói chúng sanh không giác ngộ được điều này nên bị rối ren như cuộn chỉ, rối như tơ vò, dân gian có câu "tơ lòng trăm mối", rối ren trong đó không biết phải làm sao, không biết bắt đầu từ đâu. Chúng sanh không thoát khỏi sự luân hồi trong cõi dữ, ác thú, đọa xứ, tức là lòng vòng trong cảnh khổ, trong đường ác, trong chỗ sa đọa chính vì không hiểu được lý duyên khởi này một phần vì nó rất thâm sâu.
Này Ananda, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, hữu có mặt. Do duyên hữu, sanh có mặt. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Này Ananda, ví như một cây lớn, các rễ của cây ấy đâm xuống và đâm ngang, tất cả rễ ấy đều hút lên nhựa sống cho cây ấy. Này Ananda, cây lớn ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể đứng vững trong một thời gian dài. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, X. Nhân)
Đức Phật ví dụ một cây lớn có bộ rễ đâm thẳng, đâm ngang vào đất, hút chất dinh dưỡng cho cây cho nên mới có thể đứng vững, tồn tại trong thời gian dài.
Cũng vậy, này Ananda, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, thủ có mặt. Do duyên thủ, hữu có mặt... (như trên)... Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, X. Nhân)
Thế nào là sống thấy vị ngọt trong các pháp? Nhìn cái cây thấy đẹp nên thích, nhìn cái nhà to đẹp nên thích thì đó là vị ngọt của sắc, nhìn gương thấy mặt mình đẹp nên hài lòng, chỉ thấy đây là vóc dáng, hình hài của mình mà không thấy đây là sắc uẩn; không thấy đó là tứ đại, trong đó chỉ là ruột non, ruột già, tóc, lông, răng, móng, gân, xương, máu và nước tiểu; không nhìn thấy những điều này, không thấy đó là ổ chứa nhóm bệnh hoạn; không thấy hình ảnh nằm một chỗ trong đống phân và nước tiểu của chính người đó; không thấy vô thường, sự hủy hoại đang diễn ra trên thân thể đó trương phình lên, đầy giòi bọ trong đó; không nhìn thấy sự nguy hiểm của sắc pháp, sắc uẩn; không nhìn thấy cây này rồi sẽ héo úa, khô tàn; không nhìn thấy sự nguy hại mà chỉ thấy vị ngọt thì ái tăng trưởng cho nên sự tu học của chúng ta là nhìn thấy sự nguy hại trong các pháp. Nhìn hình hài, vóc dáng này trong gương mà ưa thích, thích thú thì đó chính là nhựa sống của cây luân hồi, làm cho cái cây sanh tử phát triển tăng trưởng. Còn nếu nhìn vào gương chỉ thấy đây là tứ đại, phủ ngoài là lớp trơn láng, che hết toàn bộ thứ nhơ nhớp bên trong, thân này không có ai trong đó, chỉ đó tim gan, tùy phế thận thì đó là sự chánh quán, sự nhìn đúng đắn về sự thật bản chất của thân thể này thì ái dừng lại, đó là những lúc mình đào gốc, chặt bớt những cái rễ thâm căn cố đế trong vô lượng vô biên kiếp trong vô minh, tham ái và chấp thủ đối với thân xác vô thường, bất tịnh này. Còn giờ nhìn cái nào cũng thấy đẹp, thấy thích, yêu mến thì chỉ làm cho ái tăng trưởng, tức là làm cho bộ rễ đó lớn mạnh hút nhựa sống nuôi cây luân hồi, cây sanh tử, cây tham sân si.
Này các Tỳ-kheo, ví như một đống lửa lớn làm bằng mười xe củi, hay hai mươi xe củi, hay ba mươi xe củi, hay bốn mươi xe củi đang cháy đỏ. Tại đây có người thỉnh thoảng ném cỏ khô vào, và ném củi khô vào. Này các Tỳ-kheo, như vậy đống lửa lớn ấy được nuôi dưỡng, được tiếp tế, có thể cháy đỏ trong một thời gian dài. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, II. Thủ)
Sống mà chỉ chạy theo sắc ái; thanh ái; hương ái; vị ái; xúc ái; pháp ái, yêu thích những hình sắc, âm thanh, mùi vị, những sự tiếp xúc, yêu thích những cảm giác, nghĩ tưởng, bên trong thì chính là ngọn lửa của luân hồi sanh tử, ngọn lửa của tham sân si, vô minh và bản ngã được tiếp tế, ngọn lửa của sự tranh đấu, ganh tị, đố kị được nuôi dưỡng bằng những đống củi khô để ngọn lửa cháy rực thêm, đó là ái tăng trưởng. Sự yêu thích, đam mê, say đắm, thèm muốn tăng trưởng lớn mạnh thì sự chấp thủ càng cứng chắc vì yêu thích thì phải nắm giữ, nắm giữ thì phải có được, nắm giữ mà không có thì sao được nên hữu có mặt, một khi đã có rồi thì sanh có mặt nên kéo theo già; bệnh chết và sau đó là sầu; bi; khổ; ưu; não, suy nghĩ, lo lắng, sợ hãi, hoảng loạn, những dòng nước mắt tiếp tục tái diễn. Cho nên dân gian thường nói tham ít khổ ít, tham vừa khổ vừa, tham nhiều khổ nhiều, không tham không khổ. Nhưng họ chỉ hiểu tham là ham những món đồ, tiền tài, vật chất bên ngoài còn mình tu học phải hiểu tham này bao gồm cả ngũ uẩn, chỉ có thánh trí của Đức Phật mới chỉ cho mình biết muốn ít khổ ít, muốn vừa khổ vừa, không muốn không khổ nhưng muốn cái gì? Muốn sắc, tham sắc, trong đó sắc là thân thể, đồ vật, cảnh vật, càng muốn nhiều chừng nào thì càng khổ nhiều chừng đó, càng ưa thích nhiều chừng nào càng khổ nhiều chừng đó, không thích thì không khổ. Tại sao lại không thích? Vì thấy được sự nguy hiểm của nó, sự nguy hại hiểm họa tìm ẩn trong đó. Thân thể này chứa đầy sự nguy hiểm trong đó, những chứng bệnh bắt đầu sanh khởi, tóc bắt đầu bạc, những dấu hiệu của già bệnh bắt đầu hiện ra. Hình ảnh một chàng trai trẻ ở độ tuổi đôi mươi không còn nữa mà thay vào đó là hình ảnh một người đàn ông trung niên, sau đó là lão niên, thậm chí chưa chắc đi được đến giai đoạn lão niên. Không có gì chắc chắc trong cuộc đời này, ngồi đây nói chuyện vậy thôi chứ không chừng đột quỵ chết tại chỗ, bất cứ lúc nào cũng phải thấy sự nguy hiểm và tác hại của sắc uẩn này thì ái mới giảm thiểu, đào gốc chặt rễ của tham ái thì cây sanh tử luân hồi mới suy yếu từ từ chứ không phải làm một lần là chặt được hết vì nó đã trở thành cây cổ thụ vô lượng vô biên kiếp rồi. Vô minh và tham ái đã có từ rất lâu rồi nên chỉ cần xa rời khỏi pháp là lập tức trở lại vô minh, tham ái ngay. Không nghe pháp, không ngồi thiền quán chiếu, tác ý là sẽ dính vào vô minh, tham ái liền, vì vậy phải nghe pháp tác ý, thiền định thường xuyên và liên tục, chỉ trừ những lúc làm việc. Nhiếp tâm chánh quán hi vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm, sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ), vì thế để diệt tận tham ái là phải trường kì kháng chiến. Lòng ưa thích với những hình sắc, âm thanh, những mùi vị, sự tiếp xúc, lòng ưa thích đối với những hình bóng lờ mờ, cảm giác, suy nghĩ trong tâm, đó là pháp ái, ngồi một mình vẫn cười thích như thường, ngồi một mình mà vẫn bực bội, sân hận như thường vì suy nghĩ đến người thương là ái, tham còn suy nghĩ đến người giận là ghét, tức, sân, còn những hình bóng bình thường hiện ra là si mê trong đó vì không nhìn thấy rõ các pháp đang vận hành, không thấy rõ nó là sắc; thọ; tưởng; hành; thức; không thấy rõ nó là pháp trần "tiền trần lạc tạ ảnh tử"; không thấy những bóng dáng rơi rớt lại trong tâm sau khi đã tiếp xúc. Chỉ thấy một cái tôi to tướng, "tôi đau khổ", "tôi vui sướng", không thấy các pháp.
Này các Tỳ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, II. Thủ)
Ai sống thấy tự nguy hiểm và tác hại của các pháp thì ái được đoạn diệt. Nhìn cái gì cũng thấy nguy hiểm, tác hại trong đó, coi chừng nó nếu không nó giết mình chết, đó là sống với chánh trí thánh tuệ. Phải cẩn thận với tứ bề bốn phương đều là gai độc, phải bước trên kiếm bén, đi trên băng lỏng, phải cực kì cẩn thận vì xung quanh là bẫy sập. Sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp là bẫy mồi của ác ma, chỉ cần không có chánh niệm là dính bẫy ngay, tất cả mọi nơi đều là bẫy mồi giăng khắp mọi nơi. Trong câu chuyện về con khỉ bị mắc bẫy của người thợ săn, tay phải con khỉ dính vào bẫy đầy keo, nó lấy tay trái chạm vào tiếp thì dính luôn tay trái, hai chân đạp vào cũng bị dính keo, tiếp theo lấy miệng cắn vào cũng dính. Vậy là hai tay, hai chân và miệng đều dính bẫy keo, người thợ săn chỉ cần lấy cái cây xỏ ngang con khỉ đem về. Mình bị dính vào 6 trần cũng giống vậy, nhìn thấy sắc vừa ý là dính mắc, cái sắc này ám ảnh vào tâm, ngồi thiền thì hình bóng đó hiện ra trong tâm, đi đâu hình bóng đó cũng đi theo mình.
Ở đây, này Gia chủ, có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta". Do bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta." khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy bị ám ảnh: "Thọ là ta, thọ là của ta". Do bị ám ảnh: "Thọ là ta, thọ là của ta" khi thọ biến hoại, đổi khác; nên do thọ biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy bị ám ảnh: "Tưởng là ta, tưởng là của ta". Do bị ám ảnh: "Tưởng là ta, tưởng là của ta" khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên do tưởng biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán các hành như là tự ngã hay tự ngã như là có các hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy bị ám ảnh: "Các hành là ta, các hành là của ta". Do bị ám ảnh: "Các hành là ta, các hành là của ta" khi các hành biến hoại, đổi khác; do các hành biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não! (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, I. Nakulapità)
Không những bị sắc ám ảnh mà người đó còn bị những cảm giác ám ảnh, bị những hình bóng, suy nghĩ, nhận thức ám ảnh. Vì có nhận thức nên mới biết sắc đó là dễ thương, khả ái, khả hỷ, khả lạc liên hệ đến dục hấp dẫn. Chính vì nhận thức nên mới có sắc ái; thanh ái; hương ái; vị ái; xúc ái, sắc ái; thọ ái; tưởng ái; hành ái; thức ái. Mình bị ám ảnh, bị đeo bám như kẻ mắc nợ, chừng nào thấy sự nguy hại trong các pháp thì ái mới đoạn diệt. Người đời có bài hát "làm sao giết được người trong mộng để trả thù duyên kiếp phũ phàng", đó chính là họ bị sắc ám ảnh, hình bóng của sắc đó ám ảnh trong tâm nên mới nói làm sao giết được người trong mộng, tức là hình bóng đó cứ sống mãi trong tâm trí không thể bị phai xòa. Chỉ có thần kiếm thánh trí năm uẩn mới có thể xóa bỏ được mà thôi, nếu không cứ bị nó ám ảnh không thôi. Ngồi tu mà cứ nhớ đến hình ảnh bà ngoại mỏi gối lưng còng chờ con cháu bên hiên nhà, đó là sắc ám ảnh, hình bóng đó làm cho mình ái, rủ rê mình về lo cho ngoại, "về lo cho ngoại vì ngoại đã nuôi mình từ nhỏ đến lớn", hành uẩn đó là kẻ giết người, tưởng là kẻ giết người, những cảm thọ, suy nghĩ đó là kẻ giết người, mình không giết nó thì nó giết mình. Khi nhớ đến sư phụ, huynh đệ, trường lớp là phải thẳng tay diệt trừ những hình bóng đó, phải mạnh mẽ mở mắt ra đánh đuổi nó nếu không là nó dẫn mình vào mê hồn trận, dùng Bát Chánh Đạo để đối trị với bát quái trận. Người nào cũng có nỗi niềm riêng nên phải có thánh trí huệ đối chọi với nó, nếu không là mình thất bại với nó, tu không được, ngày đêm chống giặc trong nội tâm. Khi chiến đấu sẽ có thắng có bại nhưng từ từ rồi chiến thắng sẽ nhiều hơn cái bại, mình ở trên núi tu hành được là đã thắng rồi nhưng phải thắng quyết liệt tận sâu bên trong các dòng cảm thọ, suy tưởng.
Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, II. Thủ)
Không còn yêu thích thì không còn nắm chặt vào nó nữa, không còn nắm chặt thì sự hiện hữu (có) sẽ bị chấm dứt, sự có bị chấm dứt thì sanh chấm dứt, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. Tác ý là cách gỡ ra khỏi những tham ái, trói buộc này, mỗi lần mình tác ý là mỗi lần sợi dây được nới lỏng ra, nếu mình nghĩ tác ý mệt mỏi quá nên muốn buông thả cho khỏe thì nó còn nằm ở đó, chưa được giải quyết, gốc rễ vẫn còn nguyên, chẳng qua mình không nhìn đến nó chứ không phải là mình an ổn, bệnh ung thư, ung nhọt đó vẫn còn nằm đó và cần được giải phẫu, dù đau đớn, thất vọng nhưng sẽ hết bệnh. Mình được vô thượng y vương (Đức Phật) giải phẫu thì chắc chắn sẽ hết bệnh, dùng con dao chánh pháp để giải phẫu mối ung nhọt đó.
Này Ananda, ví như một cây lớn, rồi có người đi đến, cầm cái cuốc và cái giỏ. Người ấy chặt đứt rễ cây ấy. Sau khi chặt đứt rễ, người ấy đào một cái mương. Sau khi đào mương, người ấy nhổ lên các rễ lớn cho đến các rễ con, rễ phụ. Người ấy chặt cây ấy ra từng khúc. Sau khi chặt ra từng khúc, người ấy bửa. Sau khi bửa, người ấy chẻ ra từng miếng nhỏ. Sau khi chẻ ra từng miếng nhỏ, người ấy phơi giữa gió và nắng. Sau khi phơi giữa gió và nắng, người ấy lấy lửa đốt. Sau khi lấy lửa đốt, người ấy vun lại thành đống tro. Sau khi vun lại thành đống tro, hoặc người ấy sàng trong gió lớn hay đổ vào dòng nước chảy mạnh để nước cuốn đi. Như vậy, này Ananda, cây lớn ấy sẽ bị chặt đứt, làm thành như cây ta-la, không thể nào tái sanh, không thể sanh khởi lại trong tương lai. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, X. Nhân)
Chỉ có bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mới ví dụ được như vậy, bình thường chỉ nói đào bới gốc rễ là xong, còn ở đây là chặt cành, chặt cây, chẻ từng khúc, sau khi đốt gom lại thành đống tro, sàng trong gió lớn hoặc đổ vào dòng nước mạnh chảy ra biển cho cuốn đi. Như vậy, này Ananda, cây lớn ấy sẽ bị chặt đứt, làm thành như cây ta-la, không thể nào tái sanh, không thể sanh khởi lại trong tương lai. Đây chính là pháp hành, chỉ có vậy mới có thể lậu tận. Còn mình mới làm cho nó nằm im là tưởng xong rồi, vài năm sau tiếp duyên xúc cảnh với nghiệp trong quá khứ là nó sống lại. Có những cây sau khi bị chặt đi rồi nhưng thời gian sau lại mọc ra cây con ngay trên thân cây cũ, trong tâm mình là cái cây cổ thụ vô lượng kiếp nên phải chẻ ra đốt cháy, sàng trước gió cho bay đi mới có thể diệt tận được, nếu mình nghĩ làm sơ sơ là được rồi thì mai đây nó sẽ sống lại. Mình đã chứng kiến trước mắt có những người tu rất giỏi nhưng bất thình lình hoàn tục, chừng nào Nhập lưu thì mới chắc ăn còn không vẫn có thể bị rơi rớt, thối đọa, vì Nhập lưu là trong tư tưởng đã xác quyết tuyệt đối ngũ uẩn này là khổ đau, không thấy sự vui nào trong đây dù chỉ là chút ít, không muốn tiếp tục tái diễn sanh tử nữa là Nhập lưu, phá thân kiến không còn tôi và của tôi nữa, như vậy mới an toàn còn không mình vẫn còn ở trong phạm vi của tai họa, hiểm họa, chút thì thấy khổ, chút thì thấy vui, thấy món ngon là thấy thích, muốn ăn liền, tiếp xúc những người mẫu, nhà giàu chỉ thấy sang trọng, đẹp đẽ nhưng trong đó là tai họa, họ không giống như mình nghĩ vì tiếp xúc nhiều rồi sẽ thấy họ cũng khổ như ai.
Này các Tỳ-kheo, ví như một đống lửa lớn làm bằng mười xe củi, hay hai mươi xe củi, hay ba mươi xe củi, hay bốn mươi xe củi đang cháy đỏ. Tại đấy không có người thỉnh thoảng ném cỏ khô vào, hay phân khô, hay củi khô vào. Như vậy, này các Tỳ-kheo, đống lửa lớn ấy do nhiên liệu được tiếp tế trước tiêu diệt, do nhiên liệu khác không được đem lại, không được nuôi dưỡng, bị tắt. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, II. Thủ)
Dù cho có 50 xe củi nhưng không được tiếp tế, củi không được đưa vào thì ngọn lửa đó cuối cùng cũng lụi tàn. Ngọn lửa đó không được tiếp tế nhiên liệu, không được đưa củi khô, xăng dầu, những chất dễ cháy thì sớm muộn cũng dập tắt.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt... (như trên) ... Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, II. Thủ)
Như vậy mình đã biết được vị ngọt, sự nguy hiểm và tác hại, sự xuất ly của các pháp. Tăng trưởng sự nguy hại, quán chiếu về sự nguy hại thì hệ quả sẽ đưa đến sự thoát ra, xuất ly. Đức Phật tâm sự trước khi ngài thành Chánh Giác, còn là Bồ-tát, ngài tu tập nhiều như vậy nhưng vẫn không có kết quả, không thấy sự thành tựu. Sau khi xem xét thì ngài thấy việc quán về nguy hại chưa được sung mãn nên ngài phát triển cái quán về sự nguy hiểm và tác hại lên đến cùng cực thì ngài đoạn tận các lậu hoặc và chứng vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vì thế mà quán nguy hại rất quan trọng, có quán về nguy hại mới đưa đến sự xuất ly cho nên phải nhìn thấy nguy hiểm và tác hại để tâm mình thoát ra khỏi nó.
Này Ananda, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng được Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Lành thay, sự xuất ly! Lành thay, sống viễn ly". Nhưng tâm của Ta không có hứng khởi trong sự xuất ly ấy, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát, dầu Ta có thấy "Ðây là an tịnh". Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như sau: "Vì Ta không thấy nguy hiểm trong các dục, vì Ta không làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy, lợi ích của xuất ly chưa được chứng đắc, Ta chưa được thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm Ta không hứng khởi trong xuất ly ấy, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát". Này Ananda, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau: "Nếu sau khi thấy nguy hiểm trong các dục, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi ích trong sự xuất ly, Ta thưởng thức lợi ích ấy", thời sự kiện này xảy ra: Tâm của Ta có thể hứng khởi trong xuất ly, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì Ta có thấy: "Ðây là an tịnh".
Rồi này Ananda, sau một thời gian, sau khi thấy sự nguy hiểm trong các dục, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi ích trong sự xuất ly, Ta thưởng thức lợi ích ấy. Và này Ananda, tâm Ta hứng khởi trong xuất ly, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì Ta thấy: "Ðây là an tịnh". Này Ananda, sau một thời gian Ta ly dục... chứng đạt và an trú sơ Thiền. Do Ta trú với sự an trú này, các tưởng tác ý câu hữu với dục vẫn hiện hành. Như vậy, đối với Ta, đây là một chứng bệnh. Ví như, này Ananda, đối với người sung sướng, đau khổ có thể khởi lên, như là một chứng bệnh. Cũng vậy, các tưởng tác ý câu hữu với dục vẫn hiện hành ở nơi Ta. Như vậy đối với Ta, đây là một chứng bệnh.
Cho đến khi nào, này Ananda, chín thứ đệ trú Thiền chứng này đã được Ta thuận thứ nghịch thứ chứng đạt và xuất khởi, thời này Ananda, trong thế giới này, với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, cho đến khi ấy, Ta mới xác chứng rằng Ta đã chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tri và Kiến khởi lên nơi Ta. Ta biết rằng: "Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa". (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, IV. Ðại Phẩm, (X) (41) Tapussa)
./.
Thích Minh Thành
Đã từ rất lâu đời rồi vô minh, tham ái và chấp thủ trong thân xác này, trong những cảm giác, nghĩ tưởng. Cho nên tuy chúng ta biết nhận diện năm uẩn, đôi phần thấy được tham sân si, bản ngã nhưng chúng ta phải có sự nỗ lực, cố gắng rất nhiều. Đường tu này không phải dễ dàng, không đơn giản như chúng ta nghĩ, chỉ cần không an trú trong pháp thì lập tức buông lung phóng dật, tự ngã ái, cảnh giới ái, thành ra trong sự chiêm nghiệm của con thời gian gần đây thấy rằng phải "trường kì kháng chiến", không phải chỉ tu trong dáng ngồi hay trên miệng mà còn tu sâu vào cảm giác, khi sanh khởi những ý hành trái ngược pháp, hữu ái, ưa thích những cảnh sắc, sanh khởi ra những tâm niệm "dừng lại, tu vậy được rồi" hoặc sanh khởi lên những ý nhiệm thối thất thì phải lập tức tác ý ngay tại chỗ, đánh đuổi những ý nghĩ đó ra khỏi thân tâm, nếu những ý nghĩ đó sanh khởi được một lần thì sẽ có những lần sau, khi tiếp tục sanh khởi nhiều lần sẽ đưa đến sự thối thất, đưa đến không nhiệt tâm, tinh cần phấn đấu, không nỗ lực tự mình tiến lên cho nên chỗ tu càng ngày càng sâu sắc là phải biết nắm bắt suy nghĩ như sư tử săn mồi, khi nó vồ mồi đều dùng toàn lực, thì trí tuệ năm uẩn của mình cũng phải bén nhạy, rực sáng, mau lẹ, phải dứt khoát, nếu không thì đời tu của mình lúc tiến lúc lùi, lúc thì tinh tấn siêng năng lúc thì sống lững lờ. Đức Thế Tôn nói chúng sanh chết trong suy tưởng, trong tư tưởng, trong suy nghĩ. Sự tu của chúng ta phải chịu khó, phải kiểm soát được những cảm giác, phải biết cảm giác gì đang có mặt, trong cảm giác đó đang có tham sân si, vô minh và bản ngã đang trú ẩn và phải có cách xử lý khéo léo, thiện xảo, quả quyết, dứt khoát, đó là tuệ lực của mình, niệm lực, tinh tấn lực, mãnh hổ lực, đại hồng lực là ở trong sự quyết đoán trong suy nghĩ, trong chánh tư duy, trong Như lý tác ý, trong dòng suy nghĩ đó mình có chặn đứng được không.
Ai chận được phẫn nộ,
Như dừng xe đang lăn,
Ta gọi người đánh xe,
Kẻ khác, cầm cương hờ.
(Kinh Pháp Cú 17 – Phẩm Phẫn Nộ, kệ 222)
Giống như chiếc xe tải hạng nặng mà mình là tài xế, mình phải đạp được thắng khi xe đang lao dốc, còn không nó sẽ đưa mình xuống hố sâu, vực thẳm. Cho nên sự tu tập là nhận diện ngũ uẩn, nhận diện những cảm giác, nghĩ tưởng, đọc được, dò xét được, quản lý, nhìn kĩ và ngăn chặn lại. Đức Phật nói như dừng xe đang lăn, người nào điều phục chính mình giống như có thể chặn được chiếc xe hàng trăm tấn, dùng sức mạnh của mình chặn đứng lại. Những ý nghĩ trong lòng mình cực kì nguy hiểm, nó là kẻ giết người, chỉ cần một suy nghĩ thôi có thể hoàn tục, chỉ cần một suy nghĩ thôi là rớt khỏi dòng pháp, chỉ cần suy nghĩ mà không có chánh tư duy thì huynh đệ có thể giận nhau, thầy trò không nhìn mặt nhau, chỉ cần một suy nghĩ sai là vợ chồng chia ly, mẹ con phân tán, huynh đệ tương tàn cho nên tất cả chúng sanh đều chết trong ý tưởng. Những kẻ vô văn phàm phu không biết tu học thánh pháp này thì làm sao biết được đó là hành uẩn? Làm sao có thể tách mình ra khỏi hành uẩn? Chúng ta có phước duyên học được, thực tập được nhưng thấy được nó không có nghĩa ta có thể khống chế, nhiếp phục được nó. Có rất nhiều cấp độ trong sự nhận diện ngũ uẩn chứ không đơn thuần chỉ đọc tên ra. Ví dụ chúng ta biết người đó tên gì, cô kia tên gì nhưng chỉ là biết tên thôi, khi ở gần thì biết được cách suy nghĩ, hành động, từ từ mình biết được tánh tình… Có rất nhiều cấp độ, trong nhận diện ngũ uẩn cũng vậy, mình chỉ mới biết được tên của các uẩn: Thọ uẩn; hành uẩn; tưởng uẩn; thức uẩn, đây là cảm giác, đây là hình bóng trong tâm, đây là những lời nói thầm nhưng mình chưa biết tánh tình của nó, tức là sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, hành với hành tánh, thức với thức tánh. Làm cho hiện hành các pháp hữu vi chính là hành, là sự suy nghĩ, làm cho hiển lộ ra ngũ uẩn. Ví dụ suy nghĩ người đó đẹp, dễ thương quá thì các uẩn đều hiện ra hết, sắc uẩn của người đó hiện ra, sắc tưởng, sắc tư, những cảm giác khi tiếp xúc với người đó, hình bóng của người đó, những suy nghĩ, nhận thức rõ biết về người đó, chỉ cần một suy nghĩ thôi là biểu hiện ra ngũ uẩn trong tâm mình, nhưng lúc suy nghĩ như vậy mình có thấy được ngũ uẩn không hay chỉ thấy hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó rồi bị cuốn vào đó. Cho nên nhận diện ngũ uẩn là khi có suy nghĩ sanh khởi lên là mình thấy ngũ uẩn chứ không có người nào trong đó, không thấy có cô này cô kia, chú này chú nọ mà chỉ thấy đó là ngũ uẩn, đây là cả một công trình, công phu tu tập. Vì vậy nếu tu chỉ để gieo duyên, chặn đứng được những cái thô của ác nghiệp, nếu nỗ lực một chút có thể chặn được cái vừa, sự nỗ lực nhiều hơn nữa có thể chặn được các vi tế, còn nếu tu để diệt tận các lậu hoặc thì người này không có thời gian rãnh rỗi, lúc nào cũng nhìn lại thân tâm thì làm gì có thời gian rãnh. Minh Thành nói những điều này không phải than khó khăn để sợ mà để mình biết bản thân đang ở vị trí nào để không lầm tưởng. Trên núi Linh Quy này là môi trường cực kì thuận tiện để quét dọn căn nhà nội tâm, những buổi pháp như vầy rất quan trọng chỉ cần nghỉ học vài ngày là thấy khác ngay, học lại thì khác, vì vậy phải ngày đêm tinh tấn hoan hỉ tu tập thiện pháp. Con đi chỗ này chỗ kia, tiếp xúc đủ các dạng người, khi nói chuyện con quay lại nhìn nội tâm, nhìn ngũ uẩn của cuộc đời thấy một tình thương dào dạt cho chính mình và cho mọi người, mọi người nói ra đều là tham sân si, bản ngã ở trong ngũ uẩn, những câu nói đưa đến sự viễn ly, xa lìa, nhàm chán là cực kì ít ỏi. Khi con nói chuyện trong lớp, con hỏi có khi nào các thầy các cô đi kinh hành trong chùa nhìn lên ngôi chùa của mình nói "đây là tứ đại sắc uẩn vô thường, tan nát, hoại diệt, không có gì đáng ưa thích trong này, đây không phải là tôi, không phải của tôi nên đáng từ bỏ, nhàm chán" không? Mọi người đều cười "không có đâu thầy ơi", vì thế mà trong tu học cần phải tác ý liên tục, không tác ý không sanh trí huệ, trơ ra trong vô minh, tham ái, chấp thủ. Phải tập tác ý không chỉ trong giờ ngồi thiền, tác ý nhàm chán với những tham ái, sân hận, những cái này sanh khởi chỉ thấy chán chê, não nề, sanh khởi cảm giác ta đây chỉ thấy khiếp sợ, đây là con đường dẫn đến địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, mình cảm thấy sợ hãi với chính cảm giác, suy nghĩ của mình. Tâm ưa thích cảnh vật, thân thể, những sắc pháp sanh khởi là phải tác ý "mày ưa thích đống tro này lắm phải không? Mày ưa thích cái hòm này phải không? Mày ưa thích đống đổ nát, những dòng nước mắt, những dòng máu lắm phải không? Tỉnh lên để nhìn thấy bản chất trống rỗng của thế giới này, bản chất tàn hoại, đau khổ của thế giới này". Trên đường con đi từ Sài Gòn về núi thấy xảy ra tai nạn giao thông, 1 người chết 1 người bị thương, nhìn những cảnh này phải biết tác ý, nắm bắt hình ảnh đó đưa vào tâm, lấy đó làm đề tài thiền quán, dùng tâm nhãn đưa hình ảnh đó vào đề tài để thiền quán liên tục "đó là thân xác của mày, là kiếp sống của mi đó. Ngươi đam mê, khao khát đi rồi kết cục bị như thế", tác ý như vậy từ từ mới thể nhập, trí tuệ bắt đầu khởi động vận hành, còn không mình sẽ sống trong tham ái, chấp thủ, mình không nghĩ là mình chết, bị nhiễm dịch bệnh, những người bị bệnh không nghĩ họ sẽ bệnh, những người đã chết không nghĩ rằng họ sẽ chết, người bị tai nạn giao thông không nghĩ rằng họ sẽ bị tai nạn giao thông, cái vô minh không cho họ nghĩ như vậy, bất cứ lúc nào sự bất trắc, vô thường cũng có thể xảy ra. Ngồi chỗ nào cũng nghĩ chỗ này sẽ sụp đổ, bước lên xe là nghĩ có thể xảy ra tai nạn giao thông để phát triển tâm xả ly, tâm từ bỏ, cái chấp thủ uẩn mới bắt đầu được nới lỏng ra, còn không chỉ học cho biết, nói cho vui thôi. Cho nên phải có sự để tâm chịu khó tác ý, khi tác ý thì trí huệ sẽ tăng trưởng đột biến, tăng thượng tuệ học được là nhờ tăng thượng tâm học, tăng thượng giới học, giữ gìn ngôn ngữ, hành vi, giữ gìn tâm sẽ sanh ra sự tác ý đúng chánh pháp thì trí huệ sẽ tăng trưởng. Vì vậy biết rằng khó nhưng mình phải là người chịu khó, không được buông tay, không được thấy khó mà thối lui, không được thấy khó mà đứng lại, càng khó chừng nào càng tiến lên chừng đó, không thể làm kẻ chiến bại bỏ cha bỏ mẹ, bỏ ông bà cô chú, mình đã bỏ những thứ yêu thích của cuộc đời để vào đây thì không thể trở thành kẻ thất bại, hèn hạ nhục nhã được, mình phải là người chiến thắng, phải là người có thành tích, thánh quả. Làm sao mình có thể chấp nhận thành kẻ tồi bại, mang nợ được? Phải tác ý như vậy thường xuyên, chửi cái tâm, la cái tham ái, quở trách sân hận, phỉ nhổ bản ngã, ta đây hơn thua, tác ý mạnh mẽ "mày là thứ đáng khinh khi, tồi bại nhục nhã. Mày đi tu để được bản ngã hay sao? Tính chuyện hơn thua với huynh đệ hay sao?". Vì vậy tu theo dòng pháp này khổ chứ không có sướng, đi đến cái khổ cùng cực để diệt tận tất cả khổ đau, đó là cùng tận biên tế của đau khổ, diệt khổ chi đạo. Tu này là một sức mạnh đối diện trực chỉ với nội tâm, tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình, tự mình la mắng quở trách mình, bậc trí là tự đều phục thì mới đưa đến đại an lạc, đại an ổn, đại bình an. Trong cuộc sống vô nghĩa, vô thường này nhân loại đang đau khổ, chết chóc hiện diện khắp mọi nơi trong thiên tai dịch bệnh, tại sao mình không biết trân trọng những giờ phút mình đang có? Tại sao mình lại sống buông lung phóng dật qua ngày đoạn tháng rồi tai nạn ập đến thì đời tu mình còn lại gì? So với những người gặp tai nạn, dịch bệnh, chết chóc, lũ lụt, sạt lở chôn vùi tài sản ruộng vừa thì mình tu học một chút này có đáng là gì? So với nỗi khổ trong sanh tử luân hồi, trong buông lung phóng dật, vô minh, tham sân si, hành xác nhau, đâm chém, giết hại nhau thì nỗi khổ tu hành này chẳng đáng là bao. Xã hội bây giờ xảy ra những chuyện không tưởng tượng được, người đàn ông đến cửa hàng bán điện thoại thì nhân viên nói là điện thoại bị trầy, người đàn ông này lấy ống tuýp đập vào đầu nhân viên vỡ đầu, con người bây giờ hung ác, tàn bạo, tham sân si mãnh liệt, bản ngã kinh hoàng. Đây là thời gian thuận lợi nhất trong mọi thời để tu học xuất ly, nếu không tu thì đợi đến khi nào mới tu? Nếu bây giờ không xảy ra thiên tai dịch bệnh thì chưa chắc mình có mặt ở đây để tu, những tiếng sấm vang rền để mình tỉnh mộng mà mình vẫn chưa chịu tu, chưa chịu thức tỉnh thì đến bao giờ mới thức tỉnh? Những cụ già ở miền Trung nói lũ lụt nước dâng cao như vậy hàng chục năm qua chưa từng thấy, dịch bệnh đang diễn ra hàng trăm năm qua chưa từng thấy, 7 tỉnh miền Trung đang hứng chịu thảm họa bão lũ, gia đình phân tán chia ly, tài sản tích lũy mấy chục năm trôi theo dòng nước, beo nhiêu cảnh tan thương dâu bể đang diễn ra trước mắt mà vẫn không tỉnh ngộ để tu học thì đến khi nào mới tu? Cho nên phải đánh tan cảm giác trơ, đờ đẫn, làm sanh khởi cảm giác nhiệt tâm tinh cần, nỗ lực tinh tấn. Chính sự vô cảm đó giết chết mình. Này các Tỳ-kheo, thọ là kẻ giết người cho nên phải nỗ lực, phải để tâm hết lòng. Tuy nhiên không phải nói làm được 100% được nhưng sự để tâm giúp mình tăng trưởng rất nhiều, ví dụ qua giai đoạn dịch bệnh này chưa chắc mình có mặt ở đây hoặc tâm mình không còn dòng cảm thọ xót thương, đau khổ cho chúng sanh giống như bây giờ. Mình sẽ vui thích, chạy đi tìm này tìm kia lại, làm ăn kinh doanh trở lại, chưa chắc chịu nghe những lời giảng này cho nên phải tác ý ngày đêm, tu tập chỉ quán, dừng nghỉ lại để nhìn thật kĩ trong thân tâm, rác bẩn hồ tâm đã ngập bờ trong nội tâm.
Cái ái rất nhỏ nhiệm, ghê gớm. Chỉ cần mình buông lỏng một chút thôi sẽ trở về với phàm tục, phàm phu, phàm tình. Trở về sự ưa thích, ái luyến, tiếp tục khao khát, tham muốn, tìm tòi. Đức Thế Tôn nói lý do tại sao đống khổ này sanh khởi và làm sao để chấm dứt khổ, nhân duyên khiến cho khổ uẩn tập khởi và đoạn diệt.
Này các Tỳ-kheo, ai sống, thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ (upàdàniyadhammà), ái được tăng trưởng. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, II. Thủ)
Trong những thứ mà mình có được, tức là vị ngọt trong sắc, trong cảm giác, trong nghĩ tưởng, ai nhìn những vị ngọt này thì tham ái sẽ lớn mạnh.
Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kuru, tại một thị trấn của dân chúng Kuru tên là Kammàsadamma.
Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, sâu xa thay là định lý Duyên khởi này, và sâu xa thật là định nghĩa này. Nhưng đối với con định lý ấy có vẻ rõ ràng, minh bạch!
Khi nói câu này ngài Anan còn là bậc hữu học, mới chứng được thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn thôi. Thế Tôn nói tiếp:
Chớ có nói vậy, này Ananda! Chớ có nói vậy, này Ananda! Sâu xa thay, này Ananda là định lý Duyên khởi này, và sâu xa thật là định nghĩa này. Này Ananda, chính vì không hiểu rõ pháp này, không giác ngộ, không chứng nhập pháp này mà chúng sanh nay bị rối ren như cuộn chỉ, bị phủ đầy bởi bệnh cằn cỗi, như cỏ munjà, như cây lau, không thoát khỏi sự luân hồi trong cõi dữ, ác thú, đọa xứ. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, X. Nhân)
Chúng sanh không chứng nhập được giáo lý duyên khởi, từ xúc sanh ra thọ, từ thọ sanh ra ái, từ ái sanh ra thủ. Tiếp xúc sanh ra cảm giác, cảm giác sanh ra sự yếu thích, yêu thích sanh ra sự chấp thủ, từ chấp thủ sanh ra sự hiện hữu. Đó là trích đoạn của thập nhị nhân duyên, do mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý tiếp xúc với sắc sanh ra cảm giác yêu thích rồi nắm giữ, từ nắm giữ sanh khởi ra sự có mặt hiện hữu. Thế Tôn nói chúng sanh không giác ngộ được điều này nên bị rối ren như cuộn chỉ, rối như tơ vò, dân gian có câu "tơ lòng trăm mối", rối ren trong đó không biết phải làm sao, không biết bắt đầu từ đâu. Chúng sanh không thoát khỏi sự luân hồi trong cõi dữ, ác thú, đọa xứ, tức là lòng vòng trong cảnh khổ, trong đường ác, trong chỗ sa đọa chính vì không hiểu được lý duyên khởi này một phần vì nó rất thâm sâu.
Này Ananda, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, hữu có mặt. Do duyên hữu, sanh có mặt. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Này Ananda, ví như một cây lớn, các rễ của cây ấy đâm xuống và đâm ngang, tất cả rễ ấy đều hút lên nhựa sống cho cây ấy. Này Ananda, cây lớn ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể đứng vững trong một thời gian dài. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, X. Nhân)
Đức Phật ví dụ một cây lớn có bộ rễ đâm thẳng, đâm ngang vào đất, hút chất dinh dưỡng cho cây cho nên mới có thể đứng vững, tồn tại trong thời gian dài.
Cũng vậy, này Ananda, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, thủ có mặt. Do duyên thủ, hữu có mặt... (như trên)... Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, X. Nhân)
Thế nào là sống thấy vị ngọt trong các pháp? Nhìn cái cây thấy đẹp nên thích, nhìn cái nhà to đẹp nên thích thì đó là vị ngọt của sắc, nhìn gương thấy mặt mình đẹp nên hài lòng, chỉ thấy đây là vóc dáng, hình hài của mình mà không thấy đây là sắc uẩn; không thấy đó là tứ đại, trong đó chỉ là ruột non, ruột già, tóc, lông, răng, móng, gân, xương, máu và nước tiểu; không nhìn thấy những điều này, không thấy đó là ổ chứa nhóm bệnh hoạn; không thấy hình ảnh nằm một chỗ trong đống phân và nước tiểu của chính người đó; không thấy vô thường, sự hủy hoại đang diễn ra trên thân thể đó trương phình lên, đầy giòi bọ trong đó; không nhìn thấy sự nguy hiểm của sắc pháp, sắc uẩn; không nhìn thấy cây này rồi sẽ héo úa, khô tàn; không nhìn thấy sự nguy hại mà chỉ thấy vị ngọt thì ái tăng trưởng cho nên sự tu học của chúng ta là nhìn thấy sự nguy hại trong các pháp. Nhìn hình hài, vóc dáng này trong gương mà ưa thích, thích thú thì đó chính là nhựa sống của cây luân hồi, làm cho cái cây sanh tử phát triển tăng trưởng. Còn nếu nhìn vào gương chỉ thấy đây là tứ đại, phủ ngoài là lớp trơn láng, che hết toàn bộ thứ nhơ nhớp bên trong, thân này không có ai trong đó, chỉ đó tim gan, tùy phế thận thì đó là sự chánh quán, sự nhìn đúng đắn về sự thật bản chất của thân thể này thì ái dừng lại, đó là những lúc mình đào gốc, chặt bớt những cái rễ thâm căn cố đế trong vô lượng vô biên kiếp trong vô minh, tham ái và chấp thủ đối với thân xác vô thường, bất tịnh này. Còn giờ nhìn cái nào cũng thấy đẹp, thấy thích, yêu mến thì chỉ làm cho ái tăng trưởng, tức là làm cho bộ rễ đó lớn mạnh hút nhựa sống nuôi cây luân hồi, cây sanh tử, cây tham sân si.
Này các Tỳ-kheo, ví như một đống lửa lớn làm bằng mười xe củi, hay hai mươi xe củi, hay ba mươi xe củi, hay bốn mươi xe củi đang cháy đỏ. Tại đây có người thỉnh thoảng ném cỏ khô vào, và ném củi khô vào. Này các Tỳ-kheo, như vậy đống lửa lớn ấy được nuôi dưỡng, được tiếp tế, có thể cháy đỏ trong một thời gian dài. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, II. Thủ)
Sống mà chỉ chạy theo sắc ái; thanh ái; hương ái; vị ái; xúc ái; pháp ái, yêu thích những hình sắc, âm thanh, mùi vị, những sự tiếp xúc, yêu thích những cảm giác, nghĩ tưởng, bên trong thì chính là ngọn lửa của luân hồi sanh tử, ngọn lửa của tham sân si, vô minh và bản ngã được tiếp tế, ngọn lửa của sự tranh đấu, ganh tị, đố kị được nuôi dưỡng bằng những đống củi khô để ngọn lửa cháy rực thêm, đó là ái tăng trưởng. Sự yêu thích, đam mê, say đắm, thèm muốn tăng trưởng lớn mạnh thì sự chấp thủ càng cứng chắc vì yêu thích thì phải nắm giữ, nắm giữ thì phải có được, nắm giữ mà không có thì sao được nên hữu có mặt, một khi đã có rồi thì sanh có mặt nên kéo theo già; bệnh chết và sau đó là sầu; bi; khổ; ưu; não, suy nghĩ, lo lắng, sợ hãi, hoảng loạn, những dòng nước mắt tiếp tục tái diễn. Cho nên dân gian thường nói tham ít khổ ít, tham vừa khổ vừa, tham nhiều khổ nhiều, không tham không khổ. Nhưng họ chỉ hiểu tham là ham những món đồ, tiền tài, vật chất bên ngoài còn mình tu học phải hiểu tham này bao gồm cả ngũ uẩn, chỉ có thánh trí của Đức Phật mới chỉ cho mình biết muốn ít khổ ít, muốn vừa khổ vừa, không muốn không khổ nhưng muốn cái gì? Muốn sắc, tham sắc, trong đó sắc là thân thể, đồ vật, cảnh vật, càng muốn nhiều chừng nào thì càng khổ nhiều chừng đó, càng ưa thích nhiều chừng nào càng khổ nhiều chừng đó, không thích thì không khổ. Tại sao lại không thích? Vì thấy được sự nguy hiểm của nó, sự nguy hại hiểm họa tìm ẩn trong đó. Thân thể này chứa đầy sự nguy hiểm trong đó, những chứng bệnh bắt đầu sanh khởi, tóc bắt đầu bạc, những dấu hiệu của già bệnh bắt đầu hiện ra. Hình ảnh một chàng trai trẻ ở độ tuổi đôi mươi không còn nữa mà thay vào đó là hình ảnh một người đàn ông trung niên, sau đó là lão niên, thậm chí chưa chắc đi được đến giai đoạn lão niên. Không có gì chắc chắc trong cuộc đời này, ngồi đây nói chuyện vậy thôi chứ không chừng đột quỵ chết tại chỗ, bất cứ lúc nào cũng phải thấy sự nguy hiểm và tác hại của sắc uẩn này thì ái mới giảm thiểu, đào gốc chặt rễ của tham ái thì cây sanh tử luân hồi mới suy yếu từ từ chứ không phải làm một lần là chặt được hết vì nó đã trở thành cây cổ thụ vô lượng vô biên kiếp rồi. Vô minh và tham ái đã có từ rất lâu rồi nên chỉ cần xa rời khỏi pháp là lập tức trở lại vô minh, tham ái ngay. Không nghe pháp, không ngồi thiền quán chiếu, tác ý là sẽ dính vào vô minh, tham ái liền, vì vậy phải nghe pháp tác ý, thiền định thường xuyên và liên tục, chỉ trừ những lúc làm việc. Nhiếp tâm chánh quán hi vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm, sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ), vì thế để diệt tận tham ái là phải trường kì kháng chiến. Lòng ưa thích với những hình sắc, âm thanh, những mùi vị, sự tiếp xúc, lòng ưa thích đối với những hình bóng lờ mờ, cảm giác, suy nghĩ trong tâm, đó là pháp ái, ngồi một mình vẫn cười thích như thường, ngồi một mình mà vẫn bực bội, sân hận như thường vì suy nghĩ đến người thương là ái, tham còn suy nghĩ đến người giận là ghét, tức, sân, còn những hình bóng bình thường hiện ra là si mê trong đó vì không nhìn thấy rõ các pháp đang vận hành, không thấy rõ nó là sắc; thọ; tưởng; hành; thức; không thấy rõ nó là pháp trần "tiền trần lạc tạ ảnh tử"; không thấy những bóng dáng rơi rớt lại trong tâm sau khi đã tiếp xúc. Chỉ thấy một cái tôi to tướng, "tôi đau khổ", "tôi vui sướng", không thấy các pháp.
Này các Tỳ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, II. Thủ)
Ai sống thấy tự nguy hiểm và tác hại của các pháp thì ái được đoạn diệt. Nhìn cái gì cũng thấy nguy hiểm, tác hại trong đó, coi chừng nó nếu không nó giết mình chết, đó là sống với chánh trí thánh tuệ. Phải cẩn thận với tứ bề bốn phương đều là gai độc, phải bước trên kiếm bén, đi trên băng lỏng, phải cực kì cẩn thận vì xung quanh là bẫy sập. Sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp là bẫy mồi của ác ma, chỉ cần không có chánh niệm là dính bẫy ngay, tất cả mọi nơi đều là bẫy mồi giăng khắp mọi nơi. Trong câu chuyện về con khỉ bị mắc bẫy của người thợ săn, tay phải con khỉ dính vào bẫy đầy keo, nó lấy tay trái chạm vào tiếp thì dính luôn tay trái, hai chân đạp vào cũng bị dính keo, tiếp theo lấy miệng cắn vào cũng dính. Vậy là hai tay, hai chân và miệng đều dính bẫy keo, người thợ săn chỉ cần lấy cái cây xỏ ngang con khỉ đem về. Mình bị dính vào 6 trần cũng giống vậy, nhìn thấy sắc vừa ý là dính mắc, cái sắc này ám ảnh vào tâm, ngồi thiền thì hình bóng đó hiện ra trong tâm, đi đâu hình bóng đó cũng đi theo mình.
Ở đây, này Gia chủ, có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta". Do bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta." khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy bị ám ảnh: "Thọ là ta, thọ là của ta". Do bị ám ảnh: "Thọ là ta, thọ là của ta" khi thọ biến hoại, đổi khác; nên do thọ biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy bị ám ảnh: "Tưởng là ta, tưởng là của ta". Do bị ám ảnh: "Tưởng là ta, tưởng là của ta" khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên do tưởng biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán các hành như là tự ngã hay tự ngã như là có các hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy bị ám ảnh: "Các hành là ta, các hành là của ta". Do bị ám ảnh: "Các hành là ta, các hành là của ta" khi các hành biến hoại, đổi khác; do các hành biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não! (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, I. Nakulapità)
Không những bị sắc ám ảnh mà người đó còn bị những cảm giác ám ảnh, bị những hình bóng, suy nghĩ, nhận thức ám ảnh. Vì có nhận thức nên mới biết sắc đó là dễ thương, khả ái, khả hỷ, khả lạc liên hệ đến dục hấp dẫn. Chính vì nhận thức nên mới có sắc ái; thanh ái; hương ái; vị ái; xúc ái, sắc ái; thọ ái; tưởng ái; hành ái; thức ái. Mình bị ám ảnh, bị đeo bám như kẻ mắc nợ, chừng nào thấy sự nguy hại trong các pháp thì ái mới đoạn diệt. Người đời có bài hát "làm sao giết được người trong mộng để trả thù duyên kiếp phũ phàng", đó chính là họ bị sắc ám ảnh, hình bóng của sắc đó ám ảnh trong tâm nên mới nói làm sao giết được người trong mộng, tức là hình bóng đó cứ sống mãi trong tâm trí không thể bị phai xòa. Chỉ có thần kiếm thánh trí năm uẩn mới có thể xóa bỏ được mà thôi, nếu không cứ bị nó ám ảnh không thôi. Ngồi tu mà cứ nhớ đến hình ảnh bà ngoại mỏi gối lưng còng chờ con cháu bên hiên nhà, đó là sắc ám ảnh, hình bóng đó làm cho mình ái, rủ rê mình về lo cho ngoại, "về lo cho ngoại vì ngoại đã nuôi mình từ nhỏ đến lớn", hành uẩn đó là kẻ giết người, tưởng là kẻ giết người, những cảm thọ, suy nghĩ đó là kẻ giết người, mình không giết nó thì nó giết mình. Khi nhớ đến sư phụ, huynh đệ, trường lớp là phải thẳng tay diệt trừ những hình bóng đó, phải mạnh mẽ mở mắt ra đánh đuổi nó nếu không là nó dẫn mình vào mê hồn trận, dùng Bát Chánh Đạo để đối trị với bát quái trận. Người nào cũng có nỗi niềm riêng nên phải có thánh trí huệ đối chọi với nó, nếu không là mình thất bại với nó, tu không được, ngày đêm chống giặc trong nội tâm. Khi chiến đấu sẽ có thắng có bại nhưng từ từ rồi chiến thắng sẽ nhiều hơn cái bại, mình ở trên núi tu hành được là đã thắng rồi nhưng phải thắng quyết liệt tận sâu bên trong các dòng cảm thọ, suy tưởng.
Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, II. Thủ)
Không còn yêu thích thì không còn nắm chặt vào nó nữa, không còn nắm chặt thì sự hiện hữu (có) sẽ bị chấm dứt, sự có bị chấm dứt thì sanh chấm dứt, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. Tác ý là cách gỡ ra khỏi những tham ái, trói buộc này, mỗi lần mình tác ý là mỗi lần sợi dây được nới lỏng ra, nếu mình nghĩ tác ý mệt mỏi quá nên muốn buông thả cho khỏe thì nó còn nằm ở đó, chưa được giải quyết, gốc rễ vẫn còn nguyên, chẳng qua mình không nhìn đến nó chứ không phải là mình an ổn, bệnh ung thư, ung nhọt đó vẫn còn nằm đó và cần được giải phẫu, dù đau đớn, thất vọng nhưng sẽ hết bệnh. Mình được vô thượng y vương (Đức Phật) giải phẫu thì chắc chắn sẽ hết bệnh, dùng con dao chánh pháp để giải phẫu mối ung nhọt đó.
Này Ananda, ví như một cây lớn, rồi có người đi đến, cầm cái cuốc và cái giỏ. Người ấy chặt đứt rễ cây ấy. Sau khi chặt đứt rễ, người ấy đào một cái mương. Sau khi đào mương, người ấy nhổ lên các rễ lớn cho đến các rễ con, rễ phụ. Người ấy chặt cây ấy ra từng khúc. Sau khi chặt ra từng khúc, người ấy bửa. Sau khi bửa, người ấy chẻ ra từng miếng nhỏ. Sau khi chẻ ra từng miếng nhỏ, người ấy phơi giữa gió và nắng. Sau khi phơi giữa gió và nắng, người ấy lấy lửa đốt. Sau khi lấy lửa đốt, người ấy vun lại thành đống tro. Sau khi vun lại thành đống tro, hoặc người ấy sàng trong gió lớn hay đổ vào dòng nước chảy mạnh để nước cuốn đi. Như vậy, này Ananda, cây lớn ấy sẽ bị chặt đứt, làm thành như cây ta-la, không thể nào tái sanh, không thể sanh khởi lại trong tương lai. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, X. Nhân)
Chỉ có bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mới ví dụ được như vậy, bình thường chỉ nói đào bới gốc rễ là xong, còn ở đây là chặt cành, chặt cây, chẻ từng khúc, sau khi đốt gom lại thành đống tro, sàng trong gió lớn hoặc đổ vào dòng nước mạnh chảy ra biển cho cuốn đi. Như vậy, này Ananda, cây lớn ấy sẽ bị chặt đứt, làm thành như cây ta-la, không thể nào tái sanh, không thể sanh khởi lại trong tương lai. Đây chính là pháp hành, chỉ có vậy mới có thể lậu tận. Còn mình mới làm cho nó nằm im là tưởng xong rồi, vài năm sau tiếp duyên xúc cảnh với nghiệp trong quá khứ là nó sống lại. Có những cây sau khi bị chặt đi rồi nhưng thời gian sau lại mọc ra cây con ngay trên thân cây cũ, trong tâm mình là cái cây cổ thụ vô lượng kiếp nên phải chẻ ra đốt cháy, sàng trước gió cho bay đi mới có thể diệt tận được, nếu mình nghĩ làm sơ sơ là được rồi thì mai đây nó sẽ sống lại. Mình đã chứng kiến trước mắt có những người tu rất giỏi nhưng bất thình lình hoàn tục, chừng nào Nhập lưu thì mới chắc ăn còn không vẫn có thể bị rơi rớt, thối đọa, vì Nhập lưu là trong tư tưởng đã xác quyết tuyệt đối ngũ uẩn này là khổ đau, không thấy sự vui nào trong đây dù chỉ là chút ít, không muốn tiếp tục tái diễn sanh tử nữa là Nhập lưu, phá thân kiến không còn tôi và của tôi nữa, như vậy mới an toàn còn không mình vẫn còn ở trong phạm vi của tai họa, hiểm họa, chút thì thấy khổ, chút thì thấy vui, thấy món ngon là thấy thích, muốn ăn liền, tiếp xúc những người mẫu, nhà giàu chỉ thấy sang trọng, đẹp đẽ nhưng trong đó là tai họa, họ không giống như mình nghĩ vì tiếp xúc nhiều rồi sẽ thấy họ cũng khổ như ai.
Này các Tỳ-kheo, ví như một đống lửa lớn làm bằng mười xe củi, hay hai mươi xe củi, hay ba mươi xe củi, hay bốn mươi xe củi đang cháy đỏ. Tại đấy không có người thỉnh thoảng ném cỏ khô vào, hay phân khô, hay củi khô vào. Như vậy, này các Tỳ-kheo, đống lửa lớn ấy do nhiên liệu được tiếp tế trước tiêu diệt, do nhiên liệu khác không được đem lại, không được nuôi dưỡng, bị tắt. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, II. Thủ)
Dù cho có 50 xe củi nhưng không được tiếp tế, củi không được đưa vào thì ngọn lửa đó cuối cùng cũng lụi tàn. Ngọn lửa đó không được tiếp tế nhiên liệu, không được đưa củi khô, xăng dầu, những chất dễ cháy thì sớm muộn cũng dập tắt.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt... (như trên) ... Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, II. Thủ)
Như vậy mình đã biết được vị ngọt, sự nguy hiểm và tác hại, sự xuất ly của các pháp. Tăng trưởng sự nguy hại, quán chiếu về sự nguy hại thì hệ quả sẽ đưa đến sự thoát ra, xuất ly. Đức Phật tâm sự trước khi ngài thành Chánh Giác, còn là Bồ-tát, ngài tu tập nhiều như vậy nhưng vẫn không có kết quả, không thấy sự thành tựu. Sau khi xem xét thì ngài thấy việc quán về nguy hại chưa được sung mãn nên ngài phát triển cái quán về sự nguy hiểm và tác hại lên đến cùng cực thì ngài đoạn tận các lậu hoặc và chứng vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vì thế mà quán nguy hại rất quan trọng, có quán về nguy hại mới đưa đến sự xuất ly cho nên phải nhìn thấy nguy hiểm và tác hại để tâm mình thoát ra khỏi nó.
Này Ananda, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng được Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Lành thay, sự xuất ly! Lành thay, sống viễn ly". Nhưng tâm của Ta không có hứng khởi trong sự xuất ly ấy, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát, dầu Ta có thấy "Ðây là an tịnh". Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như sau: "Vì Ta không thấy nguy hiểm trong các dục, vì Ta không làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy, lợi ích của xuất ly chưa được chứng đắc, Ta chưa được thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm Ta không hứng khởi trong xuất ly ấy, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát". Này Ananda, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau: "Nếu sau khi thấy nguy hiểm trong các dục, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi ích trong sự xuất ly, Ta thưởng thức lợi ích ấy", thời sự kiện này xảy ra: Tâm của Ta có thể hứng khởi trong xuất ly, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì Ta có thấy: "Ðây là an tịnh".
Rồi này Ananda, sau một thời gian, sau khi thấy sự nguy hiểm trong các dục, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi ích trong sự xuất ly, Ta thưởng thức lợi ích ấy. Và này Ananda, tâm Ta hứng khởi trong xuất ly, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì Ta thấy: "Ðây là an tịnh". Này Ananda, sau một thời gian Ta ly dục... chứng đạt và an trú sơ Thiền. Do Ta trú với sự an trú này, các tưởng tác ý câu hữu với dục vẫn hiện hành. Như vậy, đối với Ta, đây là một chứng bệnh. Ví như, này Ananda, đối với người sung sướng, đau khổ có thể khởi lên, như là một chứng bệnh. Cũng vậy, các tưởng tác ý câu hữu với dục vẫn hiện hành ở nơi Ta. Như vậy đối với Ta, đây là một chứng bệnh.
Cho đến khi nào, này Ananda, chín thứ đệ trú Thiền chứng này đã được Ta thuận thứ nghịch thứ chứng đạt và xuất khởi, thời này Ananda, trong thế giới này, với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, cho đến khi ấy, Ta mới xác chứng rằng Ta đã chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tri và Kiến khởi lên nơi Ta. Ta biết rằng: "Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa". (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, IV. Ðại Phẩm, (X) (41) Tapussa)
./.