Mục Đích Đạo Phật Là Gì 3 - Liễu Tri Đau Khổ
MỤC ĐÍCH ĐẠO PHẬT LÀ GÌ? 3
LIỄU TRI ĐAU KHỔ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khổ Đế PAGEREF _Toc73535394 \h 1
II. Khổ tập PAGEREF _Toc73535395 \h 3
III. Nhắc nhở tu học PAGEREF _Toc73535396 \h 6
IV. Năm pháp đưa đến bất động PAGEREF _Toc73535397 \h 11
I. Khổ Đế
Trong lời bình của đoạn clip em bé 3 tuổi bị ba đổ xăng đốt thì người ta nói bây giờ nó 9 tuổi rồi, nó vui vẻ, nó quên hết những cái quá khứ. Mà mình nghĩ nó suốt đời sẽ không quên được. Mình nghe mình phải dùng cái trí huệ của mình để mà quán xét chứ không phải mình nghe câu nói đó rồi mình đi theo câu nói đó. Cái cô mẹ của nó thì bước thêm một bước nữa, đang sống hạnh phúc. Mỗi khi mà cô nhìn thấy đứa con cô như vậy thì có hạnh phúc được không? Cho nên nói hạnh phúc là hạnh phúc ở trong đau khổ, cái vui ở trong cái khổ. Hôm nay chúng ta sẽ học bài kinh rất là quan trọng. Chữ khổ ở trong đạo Phật nó thâm sâu lắm. Mình chiêm nghiệm, quán chiếu mấy phút về những cảnh khi nãy rồi mình sẽ học bài kinh này. Hôm nay mình học bài kinh có chủ đề là mục đích của đạo Phật cần phải biết khổ.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh, tập 4, trang 91, bài kinh Tỳ-kheo:
“Rất nhiều Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Ở đây, Bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo hỏi chúng con: "Này chư Hiền, vì mục đích gì, Phạm hạnh sống dưới Sa-môn Gotama?" Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, chúng con trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: "Này chư Hiền, với mục đích liễu tri đau khổ, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama". Ðược hỏi như vậy và trả lời như vậy, bạch Thế Tôn, có phải chúng con trả lời đúng với lời nói Thế Tôn, chúng con không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, chúng con trả lời đúng pháp và thuận pháp, và những ai là vị đồng pháp, nói lời đúng pháp và thuận pháp, không có cơ hội để chỉ trích?
- Này các Tỳ-kheo, các Ông được hỏi như vậy và trả lời như vậy là các Ông trả lời đúng với lời của Ta, các Ông không xuyên tạc Ta với điều không thật, các Ông trả lời đúng pháp và thuận pháp.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập IV – bài kinh Tỷ Kheo)
Như vậy mục đích của mình tu là liễu tri đau khổ. Cái này mình nói ra thì người thông thường sẽ nghĩ mình tiêu cực nhưng mà cái này rất là thâm sâu. Nếu mà mình không thành tựu chánh tri kiến trong kinh tạng Nikaya thì mình không thể nào thấy rốt ráo được liễu tri đau khổ là mục đích. Liễu tri là sự thấy biết rốt ráo, sự thấu hiểu triệt để về cái đau khổ của cuộc đời. Đó là mục đích của người học theo Phật Pháp từ cư sĩ cho đến xuất gia. Mình thấy suốt được bản chất của khổ trong cuộc đời này. Nhớ là liễu tri đau khổ cho mình chiêm nghiệm.
Cho nên tại sao khi nãy Minh Thành nói những lời bình là cô đó đang sống hạnh phúc với đứa con bị đốt cháy. Nói cái đó là nói cái lời cho nó hoa mỹ, cho an ủi chứ làm gì có hạnh phúc. Mỗi khi cô nhìn lại dáng vóc, hình hài của đứa con bị cháy thì làm sao có hạnh phúc trong đó. Rồi cô bé không tay không chân mà luôn sống trong tiếng cười. Mình đọc câu đó mình nghe rất hay. Luôn sống trong niềm vui, trong tiếng cười mà không tay, không chân. Cái đó có sự thật không? Chẳng qua là nói một lời an ủi. Mình ở đây có tay có chân trọn vẹn, thậm chí là những người giàu có, thành đạt, đẹp đẽ thì không luôn ở trong nụ cười huống hồ chi một người tật nguyền không tay không chân. Cho nên liễu tri đau khổ là mục đích của người tu học theo Phật.
Có một bài kinh trong Tăng Chi Bộ, kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch:
“Này các Tỳ-kheo, cần phải biết khổ, cần phải biết khổ sanh khởi, cần phải biết khổ sai biệt, cần phải biết khổ dị thục, cần phải biết khổ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến khổ đoạn diệt đã được nói như vậy. Chính do duyên gì đã được nói như vậy?”
(Tăng Chi Bộ kinh tập III – bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Bốn chữ quan trọng là “Cần phải biết khổ”. Bây giờ mình bình an tạm thời, chưa phải là cứu cánh. Cho nên ngài Ajahn Chah có một câu hỏi rất đặc biệt. Ngài đi trong thiền viện, ngài hỏi các Sư “Hôm nay có khổ không?”. Các sư nói “Có” thì ngài nói “Có khổ là tốt lắm”. Phải thấy được cái khổ, sự thật của khổ. Mình chưa có thấy sâu sắc, chưa triệt để. Mình thấy triệt để ở đây là A-la-hán, là khổ Thánh đế. Cho nên mình học để cần phải biết khổ. Cái khi nãy mình xem là cần phải biết khổ sai biệt, tức là bao nhiêu những hoàn cảnh từ có con trẻ bị chết, tật nguyền, vợ bị chồng đốt, bị xe cán, ở trong những khu ổ chuột, bệnh nằm liệt giường, liệt chiếu cho đến hi sinh cái đầu của mình cho y học để người ta tiến hành phẫu thuật ghép đầu.
Tất cả những cái đó là sai biệt của đau khổ. Từ cảnh mua gánh bán bưng như hôm qua Minh Thành đi trên đường thấy bà cụ khoảng 80 tuổi bán vé số ngay chỗ rẽ vào đường cao tốc. Trời mưa gió bà mặc cái áo mưa, mặt đổ đồi mồi, tóc bạc phơ đứng ngoài mưa bão. Cái khổ như vậy mà người ta cũng chịu để vì mưu sinh. Còn mình ở trong nhà nệm ấm chăn êm mà tu không chịu tu, không chịu nỗ lực tinh tấn. Cho nên phải coi những cái này thường để mình quán chiếu, để mình biết rằng trên cuộc đời này vô vàn những cảnh khổ khác nhau, những con người khác nhau, những hoàn cảnh khác nhau, những thói quen, tập tục khác nhau. Có những người thẩm mỹ mấy chục lần trở thành thảm họa của thẩm mỹ. Họ thẩm mỹ cấy lông, râu vào cho thành con cọp chứ họ không muốn làm người. Thành ra ở trong tham sân si đó nó làm cho mình mê muội, nó che đậy làm cho mình ở trong tăm tối mình không thấy được.
Cho nên mình cần biết được cái khổ sanh khởi, cái khổ sai biệt, cái khổ dị thục. Dị là biến đổi, thục là chín muồi. Khi mình gây ra một cái nhân, một cái ác tâm hay một lời nói ác, hành động xấu thì lúc đó nó chưa có trổ ra mà nó dị là nó biến dị. Cái đó nó thấm vô từ từ tới lúc nào đó nó trổ quả đó ra là thục, tức là nó chín. Cái hoa trái nó chín nó phản hồi trở lại. Cái nghiệp quả nó biến đổi và nó đi tới chỗ chín muồi.
II. Khổ tập
Khổ sanh khởi từ đâu? Con đường đưa đến khổ đoạn diệt như thế nào? Thế nào là khổ?
“Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, ưu, não là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ.
Thế nào là khổ sanh khởi? Ái, này các Tỳ-kheo, là khổ sanh khởi.
Thế nào là khổ sai biệt? Này các Tỳ-kheo, có khổ lớn, có khổ nhỏ, có khổ chậm biến, có khổ mau biến. Này các Tỳ khưu, đây là khổ sai biệt.
Thế nào là khổ dị thục? Này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, ưu sầu, bi thảm, than van, đập ngực, khóc lóc, đi đến bất tỉnh; do bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, nên đi tìm phía bên ngoài xem có ai biết được một câu, hai câu thần chú để đoạn diệt khổ này.”
(Tăng Chi Bộ kinh tập III – bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Mình cứ đi tìm bên ngoài. Khổ quá đi tìm Phật độ, chú thuật hay này nọ ở ngoài mà mình không biết nguồn gốc sanh ra đau khổ là ái. Sự yêu thích là nguồn gốc sanh ra đau khổ. Yêu thích, ái luyến, bám chặt vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đó là nguồn gốc sanh ra khổ. Yêu thích cái sắc thân, yêu thích cái cảm giác, yêu thích tưởng, suy nghĩ, nhận thức. Đức Phật giải thích “năm thủ uẩn là khổ”. Cái mấu chốt ở đây phải nhớ chữ “thủ”. Thủ là nắm giữ.
Ví dụ: Hình ảnh bà mẹ nằm muốn xỉu, đau khổ, quằn quại, không ngồi dậy nổi vì hai đứa con đi tắm hồ bị chìm chết. Nếu như hai đứa con đó không phải là con của cô đó mà con của nhà khác ở đầu xóm thì lúc đó cô đó có quằn quại như vậy không? Trong bài kinh Ái Sanh, Đức Phật dạy rất là rõ. Vì đó là đối tượng mình thương mến rất mực. Mà đối tượng mình thương mến rất mực có biến đổi vô thường thì lúc đó mình khổ. Cho nên Đức Phật kết luận ái sanh ra đau khổ, sanh ra sự ràng buộc.
Cái đó là ái bên ngoài. Chính tự thân mình cũng có tự thể ái. Nếu tự thân mình có biến đổi mình có khổ không? Đang đi bị vấp té trầy một đường ngay mặt, mình yêu thích sắc đẹp thì lúc đó có dám ra đường không? Ái của mình nó nằm trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nó nằm trong năm uẩn. Trong bài kinh Ái Sanh, trong bài kinh Đại Niệm Xứ, Đức Phật nói rất rõ, ái ở đâu? Ái ở trong con mắt. Yêu thích ở đâu? Yêu thích trong con mắt, trong lỗ tai, trong lỗ mũi, trong miệng, trong thân, trong ý. Yêu thích ở đâu? Yêu thích trong sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Sáu Trần, sáu Căn, sáu Xúc, sáu Nội xứ, sáu Ngoại xứ. Tức là sáu Căn, sáu Trần ở ngoài. Yêu thích trong cảm giác, trong các tưởng, trong suy nghĩ, trong nhận biết. Mình tiến sâu vào kinh tạng Nikaya Đức Phật mới chỉ ra nguồn gốc liễu tri đau khổ. Để mà mình nhìn thấy được chỗ đó thì nó đòi hỏi mình phải có trí huệ sâu sắc.
“Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng khổ này đem lại kết quả mê loạn, đem lại kết quả tìm kiếm. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là khổ dị thục.”
(Tăng Chi Bộ kinh tập III – bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Khi mình khổ rồi là mình mê mờ, rối loạn. Khi mình khổ thì mình sẽ tìm kiếm những cái không có cái này.
Ví dụ: Ngoài đời mình ở chung người này không được thì mình li dị rồi đi kiếm người khác. Mình tưởng đâu cái khác nó tốt hơn cái này nhưng mà cuối cùng cái khác nó tệ hơn. Có khi cũng có cái khác của cái khác. Tại vì đều là trong ngũ uẩn, nó cũng có vô minh, tham ái, tham sân si. Nó ở dạng này, kiểu kia chứ cái gốc nó chỉ là vậy. Cũng như tất cả món đồ làm bằng đất sét thì dáng nó là dài, vuông, ngắn, méo, tròn, lớn, nhỏ… thì đều là đất sét. Tất cả nó làm bằng tham sân si. Nói người này khó quá tìm người khác thì người khác cũng có tham sân si. Bỏ người khác kiếm người khác nữa thì cũng tham sân si. Trong khi gốc tham sân si nằm trong mình nữa.
Cho nên chỗ đó là chỗ mình mê loạn trong năm uẩn. Ngày nào mình chưa thành tựu trí năm uẩn, mình chưa thấy rõ được sắc là sắc, cảm giác là cảm giác, tưởng là tưởng, suy nghĩ là suy nghĩ, thức là thức không phải là mình thì ngày đó mình còn bám chặt trong đó. Cho nên gọi là ngũ thủ uẩn. Tóm lại ngũ thủ uẩn là khổ. Mình thấy cái đó là mình thì mình không thể nào tách khỏi cái khổ.
Những cái nỗi khổ khi nãy mình nhìn thì nó khổ tới mức độ nào. Mình ở đây nước không được sạch một chút là mình chê, thậm chí nước sạch mình còn không muốn uống, mình uống đá chanh, cà phê sữa. Trong clip khi nãy cái dòng nước giống nước cống mà mấy đứa nhỏ còn tắm ở đó, sinh hoạt ở đó. Cho nên mình phải thấy được cái khổ là ở trong năm uẩn. Tại sao có già? Tại sao có bệnh? Tại sao có chết? Tại vì có sanh. Tại sao có sầu, bi, khổ, ưu, não? Tại vì có sanh.
Tại sao có sanh? Tại vì có sự yêu thích trong cái sanh này, muốn được tồn tại, muốn mình có mặt, muốn hiện hữu. Ái ở trong cái hữu, ái thủ hữu. Yêu thích cho nên nó nắm giữ cho nên nó phải có hiện hữu. Cái tâm mà còn bám chặt ở trong năm uẩn thì nhất định còn đi trong luân hồi, dầu cho làm bất cứ cái gì đi nữa cũng không chấm dứt luân hồi. Sự khát ái để tìm hỷ lạc chỗ này, chỗ kia là tiếp tục đi trong sanh tử. Ngày nào mà mình thành tựu trí huệ mình sẽ ngao ngán cái thân năm uẩn này, sắc này là từ chỗ này mà nó là cái ổ mỏng manh, đổ vỡ, chết, chấm dứt mạng sống. Cái thành này làm bằng xương, quét tô bằng thịt máu, lừa đảo chất chứa trong này. Là cái ổ dòi, chất chứa bao nhiêu bệnh hoạn, từ chỗ này nó sanh ra bao nhiêu những thứ khác, sanh ra dục, sanh ra ái, sanh ra tham, sanh ra sân, ra si, ra ngã mạn, chấp ngã…
III. Nhắc nhở tu học
Tất cả là từ ở trong sắc uẩn này. Mình thấy ngao ngán nó rồi mình không muốn tiếp tục. Từ chỗ ngao ngán, chán chường, muốn xả bỏ thì cái trí đó nó mới đưa mình đến chấm dứt luân hồi. Mà cái trí này là cái trí của bậc hướng vào dòng pháp, gọi là hướng Dự lưu hoặc là Dự lưu. Trí này rất khó thành tựu mà thành tựu được rồi thì mới có chỗ đứng trong giáo pháp và luật của Như Lai. Thật ra mình làm mọi cái mình chỉ mong đời sau mình được hưởng, được tốt hơn thì cái đó là cái phước báu chứ chưa thành tựu trí huệ xuất thế, chưa thể nhập vào dòng pháp. Đừng nói chi người cư sĩ, ngay cả người xuất gia làm cái này cái kia để tiếp tục đời sau nữa chứ không phải muốn chấm dứt luân hồi. Cho nên cần phải biết khổ, cần phải liễu tri đau khổ. Khổ sanh khởi từ ái. Yêu thích cái thân, cái tâm này. Nắm giữ cái danh, cái sắc này. Thủ cái năm uẩn này. Chỗ này nếu mà mình quán chiếu sâu sắc thì mình mới thấy được cái nghĩa lý thậm thâm trong giáo pháp của Đức Phật.
Bây giờ mình nói về con mắt. Đức Phật chỉ ái nó núp trong con mắt. Mình tưởng đâu cái ái đơn giản là nam nữ, vợ chồng. Nhưng mà không phải. Đó là cái bình thường, phàm phu cũng biết. Còn mình thành tựu được cái trí này mình mới thấy được cái tham ái trong con mắt mình. Khi mình nhìn vô gương mình thấy con mắt mình, thấy gương mặt mình trông cũng được. Đó là cái ái ở trong đó. Rồi lỗ tai, lỗ mũi, cái miệng, cái thân. Nhìn sâu trong đó mới thấy chỗ nào cũng có cái ái tiềm phục. Cái này đòi hỏi mình phải thường trực nhìn lại cảm giác, quán lại cái thọ rồi mình mới thấy. Mình để ý xem mỗi ngày mình sống với cái ái nhiều hay với cái tuệ quán nhiều.
Cho nên hằng ngày nếu mà mình không quán chiếu tu tập thì toàn là mình sống với tham ái. Mình tưởng mình tu nhiều nhưng không có. Nó sâu xa ở bên trong, cái này là mình đi sâu vào chứ không phải hình thức ở ngoài mình tụng niệm bao nhiêu. Cái đó mới là việc thiện ở ngoài chứ chưa phải trí huệ. Trí huệ là mình phải nhìn thấy được bộ mặt của tham ái, sân hận, si mê và mình thấy được nó vận hành như thế nào, nó sanh khởi ra làm sao, nó chấm dứt như thế nào.
Thấy được nó rồi mình mới dùng cái sự thân hành niệm, sự quán chiếu thân, quán tứ đại, quán 32 thể trược, quán chín giai đoạn tử thi mình mới phá được nó. Hôm nay mình học cái căn cứ địa của tham ái. Mình phải thành tựu cái trí huệ để mình phát hiện ra tham ái nó cư trú ở đâu, nó sanh khởi ra làm sao, nó an trú làm sao và nó vận hành làm sao, nó chấm dứt làm sao. Mình nhìn vào cái gương mà mình thấy con mắt, gương mặt, cái mũi mà mình còn thích mình trong đó thì mình còn luân hồi, mình còn khổ đau với sắc uẩn này. Nếu mình nhìn trong đó mình thấy con mắt này là vô thường biến đổi, lỗ tai này là vô thường biến đổi, sẽ hoại diệt, lỗ mũi này là vô thường biến hoại, thân này là vô thường biến hoại.
Cái thân này không phải tôi, không là tôi, có cái gì đâu mà dính mắc ham thích ở trong này. Khi mà nó sanh khởi lên được sự quán chiếu như vậy thì lúc đó mình bắt đầu mình thành tựu trí huệ. Còn nếu ngày giờ nào mình còn nhìn trong đó mà còn thấy mặt mũi của mình, còn yêu thích trong đó, còn mỉm cười, khoái chí, thích thú trong đó thì mình biết rằng cái dòng luân hồi của mình còn dài lắm. Bây giờ phải tập cái đó nhất là những cụ già vì mình sắp xả ly rồi. Nếu mình không tập cái đó thì lúc cuối mình không xả ly được. Cái này là sự tu hành thâm sâu của trí huệ. Cái này là đoạn dứt tất cả tham ái, đau khổ.
Bây giờ mình phải nghe pháp thường rồi mình phải tập. Mình giơ tay ra nhìn, nghĩ rằng vài bữa nữa nó sẽ thành tro, nó sẽ vô hủ cốt hoặc nó sẽ nằm bất động ở dưới, nó sẽ rã ra thành xương. Tay này sẽ lột lớp da ra thì trong này là mỡ, là thịt, là máu, là gân, là xương, là tủy, da bọc thịt, thịt bọc xương, xương bọc gân, gân bọc tủy. Mình nhìn vô, tay này không phải là mình, không phải của mình. Đừng có tham đắm, luyến ái vào trong này. Luyến ái là sau này đi không được, sắp sửa mất thì mình tiếc nuối, mà tiếc nuối thì mình tiếp tục mình chụp vô cái thân.
Lúc đó nếu mình không có trí huệ, cái tâm mình ở trong sự vô minh mờ tối, cái nghiệp mình nó chụp trúng cái thân côn trùng, dòi, bọ, gián, rết, rắn… Vì lúc đó mình mờ mịt mình không biết, mình chỉ nhanh chóng đi tìm cái thân. Từ cái dục, cái ái đó nó tìm cái thân. Vì nó mất cái thân nó sợ nên nó phải đi tìm. Cái ái, cái dục, cái nghiệp, cái sự khát ái, khao khát đẩy mình đi cộng với cái nghiệp thiện ác của mình trong quá khứ thì nó chạy vào trúng chỗ cha mẹ đang giao hợp. Nó nhảy vào trong đó rồi là nó hợp với cái thân.
Cho nên nếu mà bây giờ mình không tập để mình xả ly cái ái đối với năm uẩn này thì lúc đó mình không thể nào giải thoát khỏi sắc uẩn. Phải nghe các bài kinh và tụng theo để nhắc, nhắc để nhớ, nhớ để thực tập. Cứ nhìn thấy tóc bạc là nghĩ sắp sửa ra đi rồi, không có gì yêu thích trong này hết. Cái chân hôm nay rụng rời rồi không có gì hết. Mình phải thấy rằng thân thể này nó mong manh vô cùng mà mình không chịu tinh tấn nỗ lực mình tu. Mỗi ngày phải nhìn thấy được, phải xả ly cái ái ở trong cái thân này.
Định nghĩa về ái trong chánh tri kiến, Kinh Trung Bộ tập 1:
“Chính là ái đưa đến tái sanh, cùng khởi hỷ dục và tham hướng đến tái sanh, cùng khởi hỷ dục và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.”
(Trung Bộ Kinh – bài kinh Chánh Tri Kiến)
Dục là ham muốn, hỷ là mình thích trong đó. Thích thú, ham muốn trong đó rồi mình hướng đến tái sanh. Cái ái sâu sắc nhất trong tất cả các ái là tự thể ái, yêu thích chính bản thân mình. Từ cái mình yêu thích bản thân mình rồi mới yêu thích bản thân người. Từ cái yêu thích bản thân người mới bắt đầu trói buộc. Rồi có gì biến động của những người mình yêu thích, những món đồ mình yêu thích thì lúc đó mình khổ. Nếu không có cái gì làm mình yêu thích thì mình sẽ không khổ. Cho nên ái diệt tức là niết bàn. Tức là không còn yêu thích cái gì nữa thì sẽ chấm dứt khổ. Mình để ý cái gì mà mình yêu thích nhất thì cái đó làm mình khổ nhất.
Ví dụ: Có người thích xe, quý chiếc xe. Mình o bế, chăm sóc nó như bé cưng của mình. Mình đi mà có ai đó tông vào, làm bể hết rồi lúc đó mình khổ. Đó là nói vật ngoài thân. Rồi đến người mình yêu thích nhất, mình thương nhất, vợ chồng hay là con cái nếu có chuyện gì đến với những người đó thì sao? Có nhiều người nghe tin thôi chịu không nổi ngất xỉu. Ngay bản thân mình thì sao?
Cho nên chỗ này là chỗ sâu sắc của Phật Pháp. Đây là nói chấm dứt hết khổ. Nếu mình tương đối, mình nói phước báu này kia thì cái đó khác. Mình chỉ làm những cái bên ngoài. Cái trí huệ ở đây muốn thành tựu là cái trí huệ đó.
“Thế nào là đoạn diệt của khổ? Ðó là sự đoạn diệt, ly tham, không có dư tàn, sự quăng bỏ, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự vô chấp khát ái ấy.”
(Trung Bộ Kinh – bài kinh Chánh Tri Kiến)
Đây là chân chánh tri kiến. Sự đoạn diệt ái, không còn tham muốn ở trong cái sắc uẩn này, cái thọ, tưởng, hành, thức này, không còn tham muốn đối với ngũ uẩn của người khác, không còn tham muốn đối với những món đồ này kia nữa.
Ví dụ: Bản thân Minh Thành xuất gia rồi mà còn yêu thích cái chùa. Tối ngày phải lo rồi đến chết lại muốn đầu thai lại để lo cái chùa.
Cho nên không khéo có những người tu đến già là dễ bị vướng mắc. Bỏ cái này thì vướng qua cái kia. Có khi sắp sửa qua đời mà đi sờ từng cây cột. Cái ái này nó đủ thứ hình thái, kiểu cách. Nó trá hình đủ mọi cách. Có khi cái ái nó ẩn nấp trong nhãn hiệu của từ bi. Cái này là cái tinh vi sâu sắc. Mình tưởng đâu mình từ bi nhưng mà cái đó là ái. Mình phải có trí huệ mình mới thấy được. Mình phải trận pháp xem cái nào là ái, cái nào là từ.
Chẳng hạn như bây giờ có cái thất mình trồng hoa cho thật là đẹp thì cái đó mình phải xem lại. Tất cả mọi người đều phải xem lại. Có nhiều khi mình làm đẹp cái mình yêu thích. Yêu thích rồi trong cái thọ, tưởng, hành, thức của mình vận hành nó muốn mình phải sửa cho đẹp hơn nữa để mọi người khen. Mỗi lần khen thì mình làm thêm. Mình thọ cái đó. Mình làm thêm thì mình quên thời gian tu học của mình. Bây giờ Minh Thành cũng vậy, có ai nói “Chùa này đẹp quá, nổi tiếng quá” thì mình nghe mình thọ. Mình nhận cái đó, mình thích trong đó. Mình nghe khen thì mình cố làm thêm. Khen nữa thì mình lại làm nữa. Rồi cuối cùng mình đi theo cái ái bên trong mà mình không biết. Cái ái của danh lợi, tài sắc, của tiếng khen. Mình đi theo cái đó tới lúc mình sắp sửa ra đi mình không thành tựu trí huệ, mình không thành tựu đạo quả mà mình thành tựu những cái bại hoại của vô thường.
Cho nên sự đoạn diệt của khổ là sự ly tham, không còn sót lại chút nào, quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát. Ngài Xá Lợi Phất là bậc Chánh đẳng giác, bậc A-la-hán dạy mình con đường đoạn tận khổ.
Bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề, mẹ nuôi của Đức Phật nói với Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con lớn tuổi rồi, con không còn thời gian nhiều. Thế Tôn dạy con phương pháp vắn tắt để con tu, con đoạn tận hết phiền não. Con không còn kịp thời gian nữa, con già rồi.
Đức Phật nói:
- Thấy ái ở đâu đoạn ở đó. Dùng trí huệ ly tham, quán chiếu về tứ niệm xứ, về cái thân hình niệm.
Bà về làm một thời gian thì chứng A-la-hán, thành Thánh tổ Ni chúng. Đứng đầu bên Ni chúng, là Thánh Ni đầu tiên của lịch sử Phật giáo trên thế giới.
Nhìn trở lại để phát hiện ra nó là một công trình. Bây giờ mình nằm ngủ mình thấy cái ái trong chăn của mình. Chuông reo rồi nhưng mình lăn qua lăn lại, thấy trời lạnh quá nằm thêm chút nữa. Cái đó là ái. Bữa nay có bảy, tám món mình ăn tới đó được rồi nhưng thấy món đó ngon, hợp với mình thì mình ăn nữa xong rồi khó tiêu. Khó tiêu thì tìm nước ngọt uống hoặc nước chanh để uống. Cái đó là ái. Ăn cũng ham ăn, ngủ cũng ham ngủ, nói cũng ham nói, làm cũng ham làm.
IV. Năm pháp đưa đến bất động
Có năm pháp đưa mình đến sự thành tựu bất động:
“Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thực hành Niệm hơi thở vô hơi thở ra, không bao lâu thể nhập vào bất động.”
Tức là người nào tu về quán niệm hơi thở, thân hình niệm mình nói cho đủ, ở đây Đức Phật chỉ nêu một pháp đó. Bất cứ mình tu pháp nào mà đầy đủ năm điều này thì không bao lâu mình thể nhập bất động. Bất động tức là A-la-hán quả. Bất động tâm giải thoát tức là khi cái ái mình diệt tận thì đối với thế gian này không có cái gì làm tâm mình dao động.
“Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn không có nhiều, công việc không có nhiều, nuôi sống dễ dàng, khéo tri túc với những nhu yếu ở đời,”
Mình không bày ra nhiều công việc. Mình tưởng đi tu rãnh nhưng đi tu còn bận hơn. Cái đó cũng có cái hay mà cũng có cái không hay. Nếu vị đó thành tựu trí huệ rồi, có khả năng nhiếp phục được phiền não rồi để người ta giúp người khác thì cái đó khác. Mình không biết được cảnh giới của các vị đó. Còn thường thường mình chưa thành tựu chánh tri kiến, chưa vào vòng pháp mà mình cứ yêu thích công việc thì đó là điều đưa mình đến không đạt mục đích của người tu. Dễ nuôi là sao cũng ăn được, chỗ nào ngủ cũng được, sao cũng sống được. Khéo biết đủ với những nhu yếu ở đời, ăn mặc đơn giản.
“Ăn uống ít, không chuyên lo về bao tử.”
Khi nãy nói là dễ nuôi sống. Bây giờ Đức Phật nhắc lại là chuyện ăn uống này rất quan trọng. Một ngày mình ăn ba, bốn bữa. Các Thầy Tỳ-kheo ngày xưa một ngày ăn một bữa là nhiều rồi. Mình một ngày ba bữa, ai giỏi thì hai bữa, có khi không khéo tu tối còn ăn mì gói. Ăn như vậy thì không ngồi thiền được. Ăn no thì làm sao ngồi tu. Cho nên ăn uống ít, không chuyên lo về bao tử.
Ví dụ: Một ngày mình có hai buổi ăn chánh. Buổi sáng, buổi trưa cúng dường đại chúng thì dọn đầy đủ. Chứ đừng một chút đem ra, một chút thì ăn. Ăn như vậy thì mất thời gian, không tu học được. Giờ chánh muốn gì thì dọn hết trong giờ đó. Vì mình ăn thì bao tử mình làm việc cũng mệt không chịu nổi.
“Ít thụy miên, chuyên chú trong giác tỉnh;”
Tức là phải thiền định, thiền quán. Rãnh là mình ngồi thiền. Giờ làm công tác đại chúng là mình đem hết khả năng ra mình làm trong giờ đó. Xong đến giờ khác thì mình chuyên chú mình tu. Tới giờ làm mình không làm, tới giờ nghỉ mình kéo ra mình làm thì nó ngược đời.
“Nghe nhiều, thọ trì nhiều, tích lũy điều đã nghe; các pháp nào sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, tán thán Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, các pháp ấy, Tỷ-kheo đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ nhờ đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến;”
Cái nghe nhiều quan trọng lắm. Nghe xong phải thọ trì, là mình phải tiếp nhận, mình giữ gìn, mình tích lũy. Rồi mình chuyên chú quán sát, nắm giữ, ghi nhớ, đọc nhiều lần. Nếu sáng này Minh Thành không cho đại chúng xem những cái clip đó thì đại chúng không phát lên được cảm giác như khi mình xem, không phát lên được cảm giác nhàm chán, thấy cuộc đời là khổ nếu mình không coi những cái đó. Cho nên cái thấy, cái nghe pháp nó nung đúc cho mình cái trí huệ, nung đúc cho mình sự thoát ra, nung đúc cho mình sự chán nản trong cõi vô thường, khổ đau, nung đúc cho mình chánh tri kiến để thấy rõ bản chất của sự thật.
“Quán sát tâm như đã được giải thoát.” (Tăng Chi Bộ Kinh tập II – bài kinh Nghe Pháp)
Thành tựu năm pháp này thì các Tỳ-kheo hơi thở vô hơi thở ra sẽ được thể nhập vào bất động. Thứ nhất là ít muốn, biết đủ, dễ nuôi. Thứ hai là ăn uống vừa phải, chuyên chú vào giác tĩnh. Thứ ba là ít ngủ. Thứ tư là siêng năng nghe pháp, quán sát theo nghĩa lý. Cuối cùng là quán sát tâm giải thoát. Nếu thường mình tu tập như vậy thì khi tâm mình giải thoát mình sẽ biết được nó giải thoát ra những cái đó. Năm điều đó sẽ đưa đến chỗ bất động.
./.
LIỄU TRI ĐAU KHỔ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khổ Đế PAGEREF _Toc73535394 \h 1
II. Khổ tập PAGEREF _Toc73535395 \h 3
III. Nhắc nhở tu học PAGEREF _Toc73535396 \h 6
IV. Năm pháp đưa đến bất động PAGEREF _Toc73535397 \h 11
I. Khổ Đế
Trong lời bình của đoạn clip em bé 3 tuổi bị ba đổ xăng đốt thì người ta nói bây giờ nó 9 tuổi rồi, nó vui vẻ, nó quên hết những cái quá khứ. Mà mình nghĩ nó suốt đời sẽ không quên được. Mình nghe mình phải dùng cái trí huệ của mình để mà quán xét chứ không phải mình nghe câu nói đó rồi mình đi theo câu nói đó. Cái cô mẹ của nó thì bước thêm một bước nữa, đang sống hạnh phúc. Mỗi khi mà cô nhìn thấy đứa con cô như vậy thì có hạnh phúc được không? Cho nên nói hạnh phúc là hạnh phúc ở trong đau khổ, cái vui ở trong cái khổ. Hôm nay chúng ta sẽ học bài kinh rất là quan trọng. Chữ khổ ở trong đạo Phật nó thâm sâu lắm. Mình chiêm nghiệm, quán chiếu mấy phút về những cảnh khi nãy rồi mình sẽ học bài kinh này. Hôm nay mình học bài kinh có chủ đề là mục đích của đạo Phật cần phải biết khổ.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh, tập 4, trang 91, bài kinh Tỳ-kheo:
“Rất nhiều Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Ở đây, Bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo hỏi chúng con: "Này chư Hiền, vì mục đích gì, Phạm hạnh sống dưới Sa-môn Gotama?" Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, chúng con trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: "Này chư Hiền, với mục đích liễu tri đau khổ, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama". Ðược hỏi như vậy và trả lời như vậy, bạch Thế Tôn, có phải chúng con trả lời đúng với lời nói Thế Tôn, chúng con không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, chúng con trả lời đúng pháp và thuận pháp, và những ai là vị đồng pháp, nói lời đúng pháp và thuận pháp, không có cơ hội để chỉ trích?
- Này các Tỳ-kheo, các Ông được hỏi như vậy và trả lời như vậy là các Ông trả lời đúng với lời của Ta, các Ông không xuyên tạc Ta với điều không thật, các Ông trả lời đúng pháp và thuận pháp.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập IV – bài kinh Tỷ Kheo)
Như vậy mục đích của mình tu là liễu tri đau khổ. Cái này mình nói ra thì người thông thường sẽ nghĩ mình tiêu cực nhưng mà cái này rất là thâm sâu. Nếu mà mình không thành tựu chánh tri kiến trong kinh tạng Nikaya thì mình không thể nào thấy rốt ráo được liễu tri đau khổ là mục đích. Liễu tri là sự thấy biết rốt ráo, sự thấu hiểu triệt để về cái đau khổ của cuộc đời. Đó là mục đích của người học theo Phật Pháp từ cư sĩ cho đến xuất gia. Mình thấy suốt được bản chất của khổ trong cuộc đời này. Nhớ là liễu tri đau khổ cho mình chiêm nghiệm.
Cho nên tại sao khi nãy Minh Thành nói những lời bình là cô đó đang sống hạnh phúc với đứa con bị đốt cháy. Nói cái đó là nói cái lời cho nó hoa mỹ, cho an ủi chứ làm gì có hạnh phúc. Mỗi khi cô nhìn lại dáng vóc, hình hài của đứa con bị cháy thì làm sao có hạnh phúc trong đó. Rồi cô bé không tay không chân mà luôn sống trong tiếng cười. Mình đọc câu đó mình nghe rất hay. Luôn sống trong niềm vui, trong tiếng cười mà không tay, không chân. Cái đó có sự thật không? Chẳng qua là nói một lời an ủi. Mình ở đây có tay có chân trọn vẹn, thậm chí là những người giàu có, thành đạt, đẹp đẽ thì không luôn ở trong nụ cười huống hồ chi một người tật nguyền không tay không chân. Cho nên liễu tri đau khổ là mục đích của người tu học theo Phật.
Có một bài kinh trong Tăng Chi Bộ, kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch:
“Này các Tỳ-kheo, cần phải biết khổ, cần phải biết khổ sanh khởi, cần phải biết khổ sai biệt, cần phải biết khổ dị thục, cần phải biết khổ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến khổ đoạn diệt đã được nói như vậy. Chính do duyên gì đã được nói như vậy?”
(Tăng Chi Bộ kinh tập III – bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Bốn chữ quan trọng là “Cần phải biết khổ”. Bây giờ mình bình an tạm thời, chưa phải là cứu cánh. Cho nên ngài Ajahn Chah có một câu hỏi rất đặc biệt. Ngài đi trong thiền viện, ngài hỏi các Sư “Hôm nay có khổ không?”. Các sư nói “Có” thì ngài nói “Có khổ là tốt lắm”. Phải thấy được cái khổ, sự thật của khổ. Mình chưa có thấy sâu sắc, chưa triệt để. Mình thấy triệt để ở đây là A-la-hán, là khổ Thánh đế. Cho nên mình học để cần phải biết khổ. Cái khi nãy mình xem là cần phải biết khổ sai biệt, tức là bao nhiêu những hoàn cảnh từ có con trẻ bị chết, tật nguyền, vợ bị chồng đốt, bị xe cán, ở trong những khu ổ chuột, bệnh nằm liệt giường, liệt chiếu cho đến hi sinh cái đầu của mình cho y học để người ta tiến hành phẫu thuật ghép đầu.
Tất cả những cái đó là sai biệt của đau khổ. Từ cảnh mua gánh bán bưng như hôm qua Minh Thành đi trên đường thấy bà cụ khoảng 80 tuổi bán vé số ngay chỗ rẽ vào đường cao tốc. Trời mưa gió bà mặc cái áo mưa, mặt đổ đồi mồi, tóc bạc phơ đứng ngoài mưa bão. Cái khổ như vậy mà người ta cũng chịu để vì mưu sinh. Còn mình ở trong nhà nệm ấm chăn êm mà tu không chịu tu, không chịu nỗ lực tinh tấn. Cho nên phải coi những cái này thường để mình quán chiếu, để mình biết rằng trên cuộc đời này vô vàn những cảnh khổ khác nhau, những con người khác nhau, những hoàn cảnh khác nhau, những thói quen, tập tục khác nhau. Có những người thẩm mỹ mấy chục lần trở thành thảm họa của thẩm mỹ. Họ thẩm mỹ cấy lông, râu vào cho thành con cọp chứ họ không muốn làm người. Thành ra ở trong tham sân si đó nó làm cho mình mê muội, nó che đậy làm cho mình ở trong tăm tối mình không thấy được.
Cho nên mình cần biết được cái khổ sanh khởi, cái khổ sai biệt, cái khổ dị thục. Dị là biến đổi, thục là chín muồi. Khi mình gây ra một cái nhân, một cái ác tâm hay một lời nói ác, hành động xấu thì lúc đó nó chưa có trổ ra mà nó dị là nó biến dị. Cái đó nó thấm vô từ từ tới lúc nào đó nó trổ quả đó ra là thục, tức là nó chín. Cái hoa trái nó chín nó phản hồi trở lại. Cái nghiệp quả nó biến đổi và nó đi tới chỗ chín muồi.
II. Khổ tập
Khổ sanh khởi từ đâu? Con đường đưa đến khổ đoạn diệt như thế nào? Thế nào là khổ?
“Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, ưu, não là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ.
Thế nào là khổ sanh khởi? Ái, này các Tỳ-kheo, là khổ sanh khởi.
Thế nào là khổ sai biệt? Này các Tỳ-kheo, có khổ lớn, có khổ nhỏ, có khổ chậm biến, có khổ mau biến. Này các Tỳ khưu, đây là khổ sai biệt.
Thế nào là khổ dị thục? Này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, ưu sầu, bi thảm, than van, đập ngực, khóc lóc, đi đến bất tỉnh; do bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, nên đi tìm phía bên ngoài xem có ai biết được một câu, hai câu thần chú để đoạn diệt khổ này.”
(Tăng Chi Bộ kinh tập III – bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Mình cứ đi tìm bên ngoài. Khổ quá đi tìm Phật độ, chú thuật hay này nọ ở ngoài mà mình không biết nguồn gốc sanh ra đau khổ là ái. Sự yêu thích là nguồn gốc sanh ra đau khổ. Yêu thích, ái luyến, bám chặt vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đó là nguồn gốc sanh ra khổ. Yêu thích cái sắc thân, yêu thích cái cảm giác, yêu thích tưởng, suy nghĩ, nhận thức. Đức Phật giải thích “năm thủ uẩn là khổ”. Cái mấu chốt ở đây phải nhớ chữ “thủ”. Thủ là nắm giữ.
Ví dụ: Hình ảnh bà mẹ nằm muốn xỉu, đau khổ, quằn quại, không ngồi dậy nổi vì hai đứa con đi tắm hồ bị chìm chết. Nếu như hai đứa con đó không phải là con của cô đó mà con của nhà khác ở đầu xóm thì lúc đó cô đó có quằn quại như vậy không? Trong bài kinh Ái Sanh, Đức Phật dạy rất là rõ. Vì đó là đối tượng mình thương mến rất mực. Mà đối tượng mình thương mến rất mực có biến đổi vô thường thì lúc đó mình khổ. Cho nên Đức Phật kết luận ái sanh ra đau khổ, sanh ra sự ràng buộc.
Cái đó là ái bên ngoài. Chính tự thân mình cũng có tự thể ái. Nếu tự thân mình có biến đổi mình có khổ không? Đang đi bị vấp té trầy một đường ngay mặt, mình yêu thích sắc đẹp thì lúc đó có dám ra đường không? Ái của mình nó nằm trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nó nằm trong năm uẩn. Trong bài kinh Ái Sanh, trong bài kinh Đại Niệm Xứ, Đức Phật nói rất rõ, ái ở đâu? Ái ở trong con mắt. Yêu thích ở đâu? Yêu thích trong con mắt, trong lỗ tai, trong lỗ mũi, trong miệng, trong thân, trong ý. Yêu thích ở đâu? Yêu thích trong sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Sáu Trần, sáu Căn, sáu Xúc, sáu Nội xứ, sáu Ngoại xứ. Tức là sáu Căn, sáu Trần ở ngoài. Yêu thích trong cảm giác, trong các tưởng, trong suy nghĩ, trong nhận biết. Mình tiến sâu vào kinh tạng Nikaya Đức Phật mới chỉ ra nguồn gốc liễu tri đau khổ. Để mà mình nhìn thấy được chỗ đó thì nó đòi hỏi mình phải có trí huệ sâu sắc.
“Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng khổ này đem lại kết quả mê loạn, đem lại kết quả tìm kiếm. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là khổ dị thục.”
(Tăng Chi Bộ kinh tập III – bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Khi mình khổ rồi là mình mê mờ, rối loạn. Khi mình khổ thì mình sẽ tìm kiếm những cái không có cái này.
Ví dụ: Ngoài đời mình ở chung người này không được thì mình li dị rồi đi kiếm người khác. Mình tưởng đâu cái khác nó tốt hơn cái này nhưng mà cuối cùng cái khác nó tệ hơn. Có khi cũng có cái khác của cái khác. Tại vì đều là trong ngũ uẩn, nó cũng có vô minh, tham ái, tham sân si. Nó ở dạng này, kiểu kia chứ cái gốc nó chỉ là vậy. Cũng như tất cả món đồ làm bằng đất sét thì dáng nó là dài, vuông, ngắn, méo, tròn, lớn, nhỏ… thì đều là đất sét. Tất cả nó làm bằng tham sân si. Nói người này khó quá tìm người khác thì người khác cũng có tham sân si. Bỏ người khác kiếm người khác nữa thì cũng tham sân si. Trong khi gốc tham sân si nằm trong mình nữa.
Cho nên chỗ đó là chỗ mình mê loạn trong năm uẩn. Ngày nào mình chưa thành tựu trí năm uẩn, mình chưa thấy rõ được sắc là sắc, cảm giác là cảm giác, tưởng là tưởng, suy nghĩ là suy nghĩ, thức là thức không phải là mình thì ngày đó mình còn bám chặt trong đó. Cho nên gọi là ngũ thủ uẩn. Tóm lại ngũ thủ uẩn là khổ. Mình thấy cái đó là mình thì mình không thể nào tách khỏi cái khổ.
Những cái nỗi khổ khi nãy mình nhìn thì nó khổ tới mức độ nào. Mình ở đây nước không được sạch một chút là mình chê, thậm chí nước sạch mình còn không muốn uống, mình uống đá chanh, cà phê sữa. Trong clip khi nãy cái dòng nước giống nước cống mà mấy đứa nhỏ còn tắm ở đó, sinh hoạt ở đó. Cho nên mình phải thấy được cái khổ là ở trong năm uẩn. Tại sao có già? Tại sao có bệnh? Tại sao có chết? Tại vì có sanh. Tại sao có sầu, bi, khổ, ưu, não? Tại vì có sanh.
Tại sao có sanh? Tại vì có sự yêu thích trong cái sanh này, muốn được tồn tại, muốn mình có mặt, muốn hiện hữu. Ái ở trong cái hữu, ái thủ hữu. Yêu thích cho nên nó nắm giữ cho nên nó phải có hiện hữu. Cái tâm mà còn bám chặt ở trong năm uẩn thì nhất định còn đi trong luân hồi, dầu cho làm bất cứ cái gì đi nữa cũng không chấm dứt luân hồi. Sự khát ái để tìm hỷ lạc chỗ này, chỗ kia là tiếp tục đi trong sanh tử. Ngày nào mà mình thành tựu trí huệ mình sẽ ngao ngán cái thân năm uẩn này, sắc này là từ chỗ này mà nó là cái ổ mỏng manh, đổ vỡ, chết, chấm dứt mạng sống. Cái thành này làm bằng xương, quét tô bằng thịt máu, lừa đảo chất chứa trong này. Là cái ổ dòi, chất chứa bao nhiêu bệnh hoạn, từ chỗ này nó sanh ra bao nhiêu những thứ khác, sanh ra dục, sanh ra ái, sanh ra tham, sanh ra sân, ra si, ra ngã mạn, chấp ngã…
III. Nhắc nhở tu học
Tất cả là từ ở trong sắc uẩn này. Mình thấy ngao ngán nó rồi mình không muốn tiếp tục. Từ chỗ ngao ngán, chán chường, muốn xả bỏ thì cái trí đó nó mới đưa mình đến chấm dứt luân hồi. Mà cái trí này là cái trí của bậc hướng vào dòng pháp, gọi là hướng Dự lưu hoặc là Dự lưu. Trí này rất khó thành tựu mà thành tựu được rồi thì mới có chỗ đứng trong giáo pháp và luật của Như Lai. Thật ra mình làm mọi cái mình chỉ mong đời sau mình được hưởng, được tốt hơn thì cái đó là cái phước báu chứ chưa thành tựu trí huệ xuất thế, chưa thể nhập vào dòng pháp. Đừng nói chi người cư sĩ, ngay cả người xuất gia làm cái này cái kia để tiếp tục đời sau nữa chứ không phải muốn chấm dứt luân hồi. Cho nên cần phải biết khổ, cần phải liễu tri đau khổ. Khổ sanh khởi từ ái. Yêu thích cái thân, cái tâm này. Nắm giữ cái danh, cái sắc này. Thủ cái năm uẩn này. Chỗ này nếu mà mình quán chiếu sâu sắc thì mình mới thấy được cái nghĩa lý thậm thâm trong giáo pháp của Đức Phật.
Bây giờ mình nói về con mắt. Đức Phật chỉ ái nó núp trong con mắt. Mình tưởng đâu cái ái đơn giản là nam nữ, vợ chồng. Nhưng mà không phải. Đó là cái bình thường, phàm phu cũng biết. Còn mình thành tựu được cái trí này mình mới thấy được cái tham ái trong con mắt mình. Khi mình nhìn vô gương mình thấy con mắt mình, thấy gương mặt mình trông cũng được. Đó là cái ái ở trong đó. Rồi lỗ tai, lỗ mũi, cái miệng, cái thân. Nhìn sâu trong đó mới thấy chỗ nào cũng có cái ái tiềm phục. Cái này đòi hỏi mình phải thường trực nhìn lại cảm giác, quán lại cái thọ rồi mình mới thấy. Mình để ý xem mỗi ngày mình sống với cái ái nhiều hay với cái tuệ quán nhiều.
Cho nên hằng ngày nếu mà mình không quán chiếu tu tập thì toàn là mình sống với tham ái. Mình tưởng mình tu nhiều nhưng không có. Nó sâu xa ở bên trong, cái này là mình đi sâu vào chứ không phải hình thức ở ngoài mình tụng niệm bao nhiêu. Cái đó mới là việc thiện ở ngoài chứ chưa phải trí huệ. Trí huệ là mình phải nhìn thấy được bộ mặt của tham ái, sân hận, si mê và mình thấy được nó vận hành như thế nào, nó sanh khởi ra làm sao, nó chấm dứt như thế nào.
Thấy được nó rồi mình mới dùng cái sự thân hành niệm, sự quán chiếu thân, quán tứ đại, quán 32 thể trược, quán chín giai đoạn tử thi mình mới phá được nó. Hôm nay mình học cái căn cứ địa của tham ái. Mình phải thành tựu cái trí huệ để mình phát hiện ra tham ái nó cư trú ở đâu, nó sanh khởi ra làm sao, nó an trú làm sao và nó vận hành làm sao, nó chấm dứt làm sao. Mình nhìn vào cái gương mà mình thấy con mắt, gương mặt, cái mũi mà mình còn thích mình trong đó thì mình còn luân hồi, mình còn khổ đau với sắc uẩn này. Nếu mình nhìn trong đó mình thấy con mắt này là vô thường biến đổi, lỗ tai này là vô thường biến đổi, sẽ hoại diệt, lỗ mũi này là vô thường biến hoại, thân này là vô thường biến hoại.
Cái thân này không phải tôi, không là tôi, có cái gì đâu mà dính mắc ham thích ở trong này. Khi mà nó sanh khởi lên được sự quán chiếu như vậy thì lúc đó mình bắt đầu mình thành tựu trí huệ. Còn nếu ngày giờ nào mình còn nhìn trong đó mà còn thấy mặt mũi của mình, còn yêu thích trong đó, còn mỉm cười, khoái chí, thích thú trong đó thì mình biết rằng cái dòng luân hồi của mình còn dài lắm. Bây giờ phải tập cái đó nhất là những cụ già vì mình sắp xả ly rồi. Nếu mình không tập cái đó thì lúc cuối mình không xả ly được. Cái này là sự tu hành thâm sâu của trí huệ. Cái này là đoạn dứt tất cả tham ái, đau khổ.
Bây giờ mình phải nghe pháp thường rồi mình phải tập. Mình giơ tay ra nhìn, nghĩ rằng vài bữa nữa nó sẽ thành tro, nó sẽ vô hủ cốt hoặc nó sẽ nằm bất động ở dưới, nó sẽ rã ra thành xương. Tay này sẽ lột lớp da ra thì trong này là mỡ, là thịt, là máu, là gân, là xương, là tủy, da bọc thịt, thịt bọc xương, xương bọc gân, gân bọc tủy. Mình nhìn vô, tay này không phải là mình, không phải của mình. Đừng có tham đắm, luyến ái vào trong này. Luyến ái là sau này đi không được, sắp sửa mất thì mình tiếc nuối, mà tiếc nuối thì mình tiếp tục mình chụp vô cái thân.
Lúc đó nếu mình không có trí huệ, cái tâm mình ở trong sự vô minh mờ tối, cái nghiệp mình nó chụp trúng cái thân côn trùng, dòi, bọ, gián, rết, rắn… Vì lúc đó mình mờ mịt mình không biết, mình chỉ nhanh chóng đi tìm cái thân. Từ cái dục, cái ái đó nó tìm cái thân. Vì nó mất cái thân nó sợ nên nó phải đi tìm. Cái ái, cái dục, cái nghiệp, cái sự khát ái, khao khát đẩy mình đi cộng với cái nghiệp thiện ác của mình trong quá khứ thì nó chạy vào trúng chỗ cha mẹ đang giao hợp. Nó nhảy vào trong đó rồi là nó hợp với cái thân.
Cho nên nếu mà bây giờ mình không tập để mình xả ly cái ái đối với năm uẩn này thì lúc đó mình không thể nào giải thoát khỏi sắc uẩn. Phải nghe các bài kinh và tụng theo để nhắc, nhắc để nhớ, nhớ để thực tập. Cứ nhìn thấy tóc bạc là nghĩ sắp sửa ra đi rồi, không có gì yêu thích trong này hết. Cái chân hôm nay rụng rời rồi không có gì hết. Mình phải thấy rằng thân thể này nó mong manh vô cùng mà mình không chịu tinh tấn nỗ lực mình tu. Mỗi ngày phải nhìn thấy được, phải xả ly cái ái ở trong cái thân này.
Định nghĩa về ái trong chánh tri kiến, Kinh Trung Bộ tập 1:
“Chính là ái đưa đến tái sanh, cùng khởi hỷ dục và tham hướng đến tái sanh, cùng khởi hỷ dục và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.”
(Trung Bộ Kinh – bài kinh Chánh Tri Kiến)
Dục là ham muốn, hỷ là mình thích trong đó. Thích thú, ham muốn trong đó rồi mình hướng đến tái sanh. Cái ái sâu sắc nhất trong tất cả các ái là tự thể ái, yêu thích chính bản thân mình. Từ cái mình yêu thích bản thân mình rồi mới yêu thích bản thân người. Từ cái yêu thích bản thân người mới bắt đầu trói buộc. Rồi có gì biến động của những người mình yêu thích, những món đồ mình yêu thích thì lúc đó mình khổ. Nếu không có cái gì làm mình yêu thích thì mình sẽ không khổ. Cho nên ái diệt tức là niết bàn. Tức là không còn yêu thích cái gì nữa thì sẽ chấm dứt khổ. Mình để ý cái gì mà mình yêu thích nhất thì cái đó làm mình khổ nhất.
Ví dụ: Có người thích xe, quý chiếc xe. Mình o bế, chăm sóc nó như bé cưng của mình. Mình đi mà có ai đó tông vào, làm bể hết rồi lúc đó mình khổ. Đó là nói vật ngoài thân. Rồi đến người mình yêu thích nhất, mình thương nhất, vợ chồng hay là con cái nếu có chuyện gì đến với những người đó thì sao? Có nhiều người nghe tin thôi chịu không nổi ngất xỉu. Ngay bản thân mình thì sao?
Cho nên chỗ này là chỗ sâu sắc của Phật Pháp. Đây là nói chấm dứt hết khổ. Nếu mình tương đối, mình nói phước báu này kia thì cái đó khác. Mình chỉ làm những cái bên ngoài. Cái trí huệ ở đây muốn thành tựu là cái trí huệ đó.
“Thế nào là đoạn diệt của khổ? Ðó là sự đoạn diệt, ly tham, không có dư tàn, sự quăng bỏ, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự vô chấp khát ái ấy.”
(Trung Bộ Kinh – bài kinh Chánh Tri Kiến)
Đây là chân chánh tri kiến. Sự đoạn diệt ái, không còn tham muốn ở trong cái sắc uẩn này, cái thọ, tưởng, hành, thức này, không còn tham muốn đối với ngũ uẩn của người khác, không còn tham muốn đối với những món đồ này kia nữa.
Ví dụ: Bản thân Minh Thành xuất gia rồi mà còn yêu thích cái chùa. Tối ngày phải lo rồi đến chết lại muốn đầu thai lại để lo cái chùa.
Cho nên không khéo có những người tu đến già là dễ bị vướng mắc. Bỏ cái này thì vướng qua cái kia. Có khi sắp sửa qua đời mà đi sờ từng cây cột. Cái ái này nó đủ thứ hình thái, kiểu cách. Nó trá hình đủ mọi cách. Có khi cái ái nó ẩn nấp trong nhãn hiệu của từ bi. Cái này là cái tinh vi sâu sắc. Mình tưởng đâu mình từ bi nhưng mà cái đó là ái. Mình phải có trí huệ mình mới thấy được. Mình phải trận pháp xem cái nào là ái, cái nào là từ.
Chẳng hạn như bây giờ có cái thất mình trồng hoa cho thật là đẹp thì cái đó mình phải xem lại. Tất cả mọi người đều phải xem lại. Có nhiều khi mình làm đẹp cái mình yêu thích. Yêu thích rồi trong cái thọ, tưởng, hành, thức của mình vận hành nó muốn mình phải sửa cho đẹp hơn nữa để mọi người khen. Mỗi lần khen thì mình làm thêm. Mình thọ cái đó. Mình làm thêm thì mình quên thời gian tu học của mình. Bây giờ Minh Thành cũng vậy, có ai nói “Chùa này đẹp quá, nổi tiếng quá” thì mình nghe mình thọ. Mình nhận cái đó, mình thích trong đó. Mình nghe khen thì mình cố làm thêm. Khen nữa thì mình lại làm nữa. Rồi cuối cùng mình đi theo cái ái bên trong mà mình không biết. Cái ái của danh lợi, tài sắc, của tiếng khen. Mình đi theo cái đó tới lúc mình sắp sửa ra đi mình không thành tựu trí huệ, mình không thành tựu đạo quả mà mình thành tựu những cái bại hoại của vô thường.
Cho nên sự đoạn diệt của khổ là sự ly tham, không còn sót lại chút nào, quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát. Ngài Xá Lợi Phất là bậc Chánh đẳng giác, bậc A-la-hán dạy mình con đường đoạn tận khổ.
Bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề, mẹ nuôi của Đức Phật nói với Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con lớn tuổi rồi, con không còn thời gian nhiều. Thế Tôn dạy con phương pháp vắn tắt để con tu, con đoạn tận hết phiền não. Con không còn kịp thời gian nữa, con già rồi.
Đức Phật nói:
- Thấy ái ở đâu đoạn ở đó. Dùng trí huệ ly tham, quán chiếu về tứ niệm xứ, về cái thân hình niệm.
Bà về làm một thời gian thì chứng A-la-hán, thành Thánh tổ Ni chúng. Đứng đầu bên Ni chúng, là Thánh Ni đầu tiên của lịch sử Phật giáo trên thế giới.
Nhìn trở lại để phát hiện ra nó là một công trình. Bây giờ mình nằm ngủ mình thấy cái ái trong chăn của mình. Chuông reo rồi nhưng mình lăn qua lăn lại, thấy trời lạnh quá nằm thêm chút nữa. Cái đó là ái. Bữa nay có bảy, tám món mình ăn tới đó được rồi nhưng thấy món đó ngon, hợp với mình thì mình ăn nữa xong rồi khó tiêu. Khó tiêu thì tìm nước ngọt uống hoặc nước chanh để uống. Cái đó là ái. Ăn cũng ham ăn, ngủ cũng ham ngủ, nói cũng ham nói, làm cũng ham làm.
IV. Năm pháp đưa đến bất động
Có năm pháp đưa mình đến sự thành tựu bất động:
“Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thực hành Niệm hơi thở vô hơi thở ra, không bao lâu thể nhập vào bất động.”
Tức là người nào tu về quán niệm hơi thở, thân hình niệm mình nói cho đủ, ở đây Đức Phật chỉ nêu một pháp đó. Bất cứ mình tu pháp nào mà đầy đủ năm điều này thì không bao lâu mình thể nhập bất động. Bất động tức là A-la-hán quả. Bất động tâm giải thoát tức là khi cái ái mình diệt tận thì đối với thế gian này không có cái gì làm tâm mình dao động.
“Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn không có nhiều, công việc không có nhiều, nuôi sống dễ dàng, khéo tri túc với những nhu yếu ở đời,”
Mình không bày ra nhiều công việc. Mình tưởng đi tu rãnh nhưng đi tu còn bận hơn. Cái đó cũng có cái hay mà cũng có cái không hay. Nếu vị đó thành tựu trí huệ rồi, có khả năng nhiếp phục được phiền não rồi để người ta giúp người khác thì cái đó khác. Mình không biết được cảnh giới của các vị đó. Còn thường thường mình chưa thành tựu chánh tri kiến, chưa vào vòng pháp mà mình cứ yêu thích công việc thì đó là điều đưa mình đến không đạt mục đích của người tu. Dễ nuôi là sao cũng ăn được, chỗ nào ngủ cũng được, sao cũng sống được. Khéo biết đủ với những nhu yếu ở đời, ăn mặc đơn giản.
“Ăn uống ít, không chuyên lo về bao tử.”
Khi nãy nói là dễ nuôi sống. Bây giờ Đức Phật nhắc lại là chuyện ăn uống này rất quan trọng. Một ngày mình ăn ba, bốn bữa. Các Thầy Tỳ-kheo ngày xưa một ngày ăn một bữa là nhiều rồi. Mình một ngày ba bữa, ai giỏi thì hai bữa, có khi không khéo tu tối còn ăn mì gói. Ăn như vậy thì không ngồi thiền được. Ăn no thì làm sao ngồi tu. Cho nên ăn uống ít, không chuyên lo về bao tử.
Ví dụ: Một ngày mình có hai buổi ăn chánh. Buổi sáng, buổi trưa cúng dường đại chúng thì dọn đầy đủ. Chứ đừng một chút đem ra, một chút thì ăn. Ăn như vậy thì mất thời gian, không tu học được. Giờ chánh muốn gì thì dọn hết trong giờ đó. Vì mình ăn thì bao tử mình làm việc cũng mệt không chịu nổi.
“Ít thụy miên, chuyên chú trong giác tỉnh;”
Tức là phải thiền định, thiền quán. Rãnh là mình ngồi thiền. Giờ làm công tác đại chúng là mình đem hết khả năng ra mình làm trong giờ đó. Xong đến giờ khác thì mình chuyên chú mình tu. Tới giờ làm mình không làm, tới giờ nghỉ mình kéo ra mình làm thì nó ngược đời.
“Nghe nhiều, thọ trì nhiều, tích lũy điều đã nghe; các pháp nào sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, tán thán Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, các pháp ấy, Tỷ-kheo đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ nhờ đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến;”
Cái nghe nhiều quan trọng lắm. Nghe xong phải thọ trì, là mình phải tiếp nhận, mình giữ gìn, mình tích lũy. Rồi mình chuyên chú quán sát, nắm giữ, ghi nhớ, đọc nhiều lần. Nếu sáng này Minh Thành không cho đại chúng xem những cái clip đó thì đại chúng không phát lên được cảm giác như khi mình xem, không phát lên được cảm giác nhàm chán, thấy cuộc đời là khổ nếu mình không coi những cái đó. Cho nên cái thấy, cái nghe pháp nó nung đúc cho mình cái trí huệ, nung đúc cho mình sự thoát ra, nung đúc cho mình sự chán nản trong cõi vô thường, khổ đau, nung đúc cho mình chánh tri kiến để thấy rõ bản chất của sự thật.
“Quán sát tâm như đã được giải thoát.” (Tăng Chi Bộ Kinh tập II – bài kinh Nghe Pháp)
Thành tựu năm pháp này thì các Tỳ-kheo hơi thở vô hơi thở ra sẽ được thể nhập vào bất động. Thứ nhất là ít muốn, biết đủ, dễ nuôi. Thứ hai là ăn uống vừa phải, chuyên chú vào giác tĩnh. Thứ ba là ít ngủ. Thứ tư là siêng năng nghe pháp, quán sát theo nghĩa lý. Cuối cùng là quán sát tâm giải thoát. Nếu thường mình tu tập như vậy thì khi tâm mình giải thoát mình sẽ biết được nó giải thoát ra những cái đó. Năm điều đó sẽ đưa đến chỗ bất động.
./.