Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Địa Ngục Và Quả Báo Của Ác Nghiệp 2 - Người Xuất Gia Tu Như Thế Nào - Tương Ưng Lakkhana

2026-03-03 00:55:27
Kinh Nikāya Giảng Giải

ĐỊA NGỤC VÀ QUẢ BÁO CỦA ÁC NGHIỆP 2

NGƯỜI XUẤT GIA TU NHƯ THẾ NÀO

TƯƠNG ƯNG LAKKHANA

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Địa ngục và quả báo của ác nghiệp PAGEREF _Toc113043266 \h 1

II.Người xuất gia phải nhớ! PAGEREF _Toc113043267 \h 13

Địa ngục và quả báo của ác nghiệp

Minh Thành muốn giới thiệu đến đại chúng những bản kinh mà trước nay chúng ta chưa được tiếp xúc, những vấn đề có thể trước nay chúng ta chưa nghe cho nên mọi người chịu khó lắng nghe cẩn thận. Hôm trước chúng ta đã nghe lời nhắc nhở của ngài đại Ca-diếp Maha Kassapa và hôm nay chúng ta sẽ nghe ngài Mục-kiền-liên dạy những bài học lớn, Minh Thành giới thiệu để mọi người về đọc thêm. Chúng ta sẽ thấy được những quả báo của ác nghiệp và thấy được loài quỷ đói sẽ như thế nào. Chúng ta học về những hình ảnh, những sự thấy biết của ngài Mục-kiền-liên nhưng trong kinh lại ghi là Tương Ưng Lakkhana. Trước nay chúng ta chỉ nghe nói ngài Mục-kiền-liên là thần thông đệ nhất, qua bài kinh này mình sẽ thấy thần thông của ngài như thế nào. Tuy nhiên, bài kinh này chỉ là một phần nhỏ bằng thiên nhãn mà ngài thấy biết, còn chúng sanh bình thường không thấy được.

"Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm) chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

Lúc bấy giờ Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahà Moggallàna trú ở núi Gijjhakùta (Linh Thứu).

Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát, đi đến Tôn giả Lakkhana.

Sau khi đến, nói với Tôn giả Lakkhana:

-- Chúng ta hãy cùng đi, này Hiền giả Lakkhana. Chúng ta hãy đi vào Ràjagaha để khất thực.

-- Thưa vâng, Hiền giả.

Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna khi đi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi qua một chỗ, liền mỉm cười". (Tương Ưng Bộ - tập II, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Đống Xương)

Những bậc đại A-la-hán là tướng quân Chánh pháp khi cười phải có nhân có duyên chứ không phải tự nhiên mà cười.

"Rồi Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:

-- Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?

-- Này Hiền giả Lakkhana, không phải thời là câu hỏi ấy. Trước mặt Thế Tôn, hãy hỏi tôi câu hỏi ấy". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Đống Xương)

Những sự kiện thời Đức Phật rất đặc biệt mà chúng ta ít có dịp nghe, ngài Mục-kiền-liên nói ngài Lakkhana từ từ hãy hỏi, hãy đi khất thực trước đã, khi đi khất thực trở về trước mặt Thế Tôn hãy hỏi câu hỏi đó. Sau khi đi khất thực về trước mặt Thế Tôn ngài Lakkhana đã hỏi lại câu hỏi tại sao ngài Mục-kiền-liên cười, bắt đầu từ đây chúng ta sẽ nghe thiên nhãn của đại thần thông tôn giả rồi sẽ thấy lo lắng và sợ hãi cho ác nghiệp của chúng sanh và của tự thân chúng ta.

"-- Ở đây, Tôn giả Mahàa Moggallàna khi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi ngang qua một chỗ, liền mỉm cười. Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?

-- Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một bộ xương đang đi trên trời. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ xương sườn nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.

-- Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: 'Thật vi diệu thay! Thật vi diệu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một Dạ-xoa như vậy! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy!'". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Đống Xương)

Một người mới chết cách đâu không lâu vậy mà sau khi chết lại trở thành hình hài của một kẻ Dạ-xoa, một bộ xương đi lơ lửng trong hư không rồi bị những con chim bay theo cắn xé, bộ xương này kêu la thảm thiết. Sau khi ngài Mục-kiền-liên trình bày tại chúng hội thì Thế Tôn mới bảo các Tỳ-kheo:

"-- Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỳ-kheo, là các đệ tử! Sống với nhau như thực trí, này các Tỳ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng, một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Đống Xương)

Thực nhãn là con mắt chân thật. Thực trí là trí huệ đúng với sự thật. Trên đây là sự ấn chứng của Đức Phật cho ngài Mục-kiền-liên.

"Xưa kia, này các Tỳ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Đống Xương)

Trong bài kinh Rừng Simsapa Thế Tôn đã hốt lên nắm lá và hỏi các Tỳ-kheo trong rừng nhiều lá hay lá trong nắm tay ngài nhiều thì các Tỳ-kheo trả lời lá trong tay rất ít so với lá trong rừng. Thế Tôn nói tiếp những cái ngài thấy, ngài biết, ngài chứng đắc nhiều như lá trong rừng còn những gì ngài nói cho các Tỳ-kheo ít như lá trong bàn tay vì ngài chỉ nói về khổ và phương pháp diệt khổ.

"Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại rừng Simsapà.

Rồi Thế Tôn lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapà, rồi bảo các Tỳ-kheo:

-- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một số ít lá Simsapà mà Ta nắm lấy trong tay, hay lá trong rừng Simsapà?

-- Thật là quá ít, bạch Thế Tôn, một ít lá Simsapà mà Thế Tôn nắm lấy trong tay, và thật là quá nhiều lá trong rừng Simsapà.

-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, thật là quá nhiều, những gì Ta đã thắng tri mà không nói cho các Ông! Thật là quá ít những gì mà Ta đã nói ra!

Nhưng tại sao, này các Tỳ-kheo, Ta lại không nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, những điều ấy không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta không nói lên những điều ấy.

Và này các Tỳ-kheo, điều gì mà Ta nói? 'Đây là Khổ', này các Tỳ-kheo, là điều Ta nói. 'Đây là Khổ tập', là điều Ta nói. 'Đây là Khổ diệt', là điều Ta nói. 'Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt', là điều Ta nói.

6) Nhưng tại sao, này các Tỳ-kheo, Ta lại nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, những điều ấy liên hệ đến mục đích, là căn bản cho Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta nói lên những điều ấy.

Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Đây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương XII - Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, IV. Phẩm Rừng Simsapà, I. Simsapà)

Qua đây chúng ta thấy rằng sự chứng ngộ của Đức Phật và các bậc Thánh đã vượt ngoài sức tưởng tượng, cảm nhận và suy nghĩ của chúng ta vì thế chúng ta phải y cứ vào kinh tạng là những lời dạy gốc của Đức Phật để tu học, còn dựa vào suy nghĩ thông thường của phàm phu vô minh là một sai lầm to lớn.

"Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò (goghatako) ở Ràjagaha này. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Đống Xương)

Đó là Đức Phật ấn chứng, xác nhận ngài Mục-kiền-liên thấy như vậy là thực nhãn, nghĩa là thấy đúng và thực trí là trí tuệ biết đúng sự thật các chúng sanh trong tam giới này.

Đức Phật nói từng chi tiết trong địa ngục diễn ra như thế nào, chúng sanh chịu khổ trong đó như thế nào. Một thành bằng sắt rộng mười tám do tuần, một do tuần rộng 18 cây số và nền của thành cũng bằng sắt cháy đỏ rực, những chúng sanh trong đó chịu những quả báo khủng khiếp và kinh hãi.

"Rồi này các Tỳ-kheo, những người coi giữ Ðịa ngục quăng người ấy vào Ðại địa ngục. Này các Tỳ-kheo, Ðại địa ngục ấy có bốn góc, bốn cửa, chia thành phần bằng nhau, xung quanh có tường sắt, mái sắt lợp lên trên. Nền Ðịa ngục bằng sắt nung đỏ, chảy đỏ rực, đứng thẳng, luôn có mặt, rộng một trăm do tuần". (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)

Có những địa ngục nuốt những hòn sắt nóng, đổ nước đồng sôi vào miệng thì ruột già, ruột non, bộ đồ lòng rớt theo đó, những chúng sanh này kêu la thảm thiết quằn quại.

"Rồi này các Tỳ-kheo, những người coi giữ Ðịa ngục, câu người ấy lên với móc câu, đặt người ấy trên đất và nói với người ấy: 'Này Người kia, Ngươi muốn gì?' Người ấy nói: 'Thưa các Ngài, tôi đói bụng'. Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Địa ngục lấy cọc sắt nung đỏ cạy miệng người ấy và nhét vào miệng người ấy những cục đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Môi người ấy bị cháy, miệng bị cháy, cổ họng bị cháy, ngực bị cháy. Và kéo theo một ruột lớn, ruột nhỏ, các cục đồng ấy rơi ra ngoài từ phía dưới. Ở đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung, cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ". (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)

Trải qua thời gian dài đằng đẳng thì cánh cửa địa ngục ở phương Đông mở ra, tất cả mọi người chạy ùa ra thì lửa táp vào da thịt, đi vào xương tủy, từng miếng da rớt xuống, máu chảy thành dòng và những chúng sanh này kêu gào thảm thiết nhưng những chúng sanh này không được chết cho đến khi nào ác nghiệp của người này chưa được tiêu trừ.

"Này các Tỳ-kheo, rồi có một thời rất lâu dài, khi cửa phía Đông của Đại địa ngục được mở ra. Người ấy chạy vào đấy rất nhanh và mau lẹ. Khi người ấy chạy rất nhanh và mau lẹ, da ngoài bị cháy, da trong bị cháy, thịt bị cháy, dây gân bị cháy, xương bị khói xông đen. Sự trốn thoát của người ấy là như vậy. Này các Tỳ-kheo, dù cho người ấy có cố gắng rất nhiều, cửa vẫn đóng chống lại người ấy. Tại đây người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ". (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)

Có những địa ngục là núi đao rừng kiếm lôi kéo, xuyên thủng, chúng sanh phải chịu những cảm thọ cực hình, đau đớn thảm khốc nhưng không được chết.

"Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Đại Châm thọ lâm là Đại Kiếm diệp lâm (Rừng lá gươm - Asipattavanta). Người ấy vào trong ấy. Ở đấy, các lá cây, do gió lay động, cắt đứt tay của người ấy, cắt đứt chân, cắt đứt tay chân, cắt đứt tai, cắt đứt mũi, cắt đứt tai mũi. Ở đây, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ". (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)

Chúng sanh ở địa ngục, ngạ quỷ, chư Thiên có thân không giống con người mà giống như khi chúng ta nằm chiêm bao, nghĩa là khi nằm mơ thấy bị rớt xuống vực sâu sẽ có cảm thọ sợ hãi y như lúc tỉnh táo, chúng sanh ở địa ngục, ngạ quỷ, chư Thiên có thân như khi mình nằm chiêm bao, đó là cõi sắc giới, chỉ có hình bóng sáng vi tế của sắc chứ không có thân cầm nắm được nhưng lại có thọ; tưởng; hành; thức, có cảm thọ giống như khi mình nằm chiêm bao, cũng thấy đau đớn, đau khổ cho nên có nhiều người nằm mơ thấy ác mộng cũng kêu la, giãy giụa, đến khi thức dậy thì nước mắt chảy ra vì đau khổ trong cảnh tượng đó, cảnh tượng dưới địa ngục cũng giống y như vậy, có sắc vi tế chứ không có thân thô da thịt nhưng cảm giác, suy nghĩ, hình bóng y như nằm mơ. Vì thế, khi học bài này rồi mới thấy sợ hãi quả báo của ác nghiệp, trong kinh Đức Phật nói về nhân quả rất kinh hãi, kinh hoàng vì thế khi suy nghĩ, nói năng, hành động và nhất là người xuất gia nếu không sợ nhân quả sau khi nhắm mắt sẽ rất khủng khiếp và kinh hãi. Một trăm năm ở địa ngục không giống như trên trần gian, một ngày ở địa ngục là hàng trăm năm ở tại nhân gian cũng tương xứng như một ngày ở cõi trời, có những nơi là hằng trăm năm hoặc là năm trăm năm của nhân gian mới là một ngày đêm ở địa ngục, nhưng tuổi thọ ở dưới là "nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm" phải chịu những cảm giác đau khổ đó. Cho nên bây giờ nếu cứ buông lung phóng dật thì khi rớt chiếc áo Cà-sa này xuống là vô phương cứu chữa. Cũng vì nhận ra lẽ ấy nên cổ nhân có câu:

"Nhất thất túc, thành thiên cổ hận,

Tái hồi đầu, thị bách niên thân".

Tạm dịch: "Lỡ bước một phen ngàn đời ân hận,

Quay đầu trở lại chín suối ngậm ngùi".

Phải biết sợ hãi và hổ thẹn vì nếu không biết hai pháp tàm quý này thì cực kì nguy hiểm.

Tiếp theo ngài Mục-kiền-liên kể cho chúng ta biết một đống thịt đi giữa hư không, theo sau là các con chim ưng, kên kên bay theo cắn xé và đống thịt này kêu lên trong đau đớn.

"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một miếng thịt đang đi giữa hư không... đau đớn". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, III. Một Miếng Thịt và Kẻ Bắt Chim)

Hình dạng của chúng sanh đó là một đống thịt và người này kiếp trước là đồ tể giết trâu bò, cắt thịt chúng ra từng miếng nên quả báo của người này có thân tướng như vậy với những cảm thọ, cảm xúc kinh hoàng như thế.

 "Ở đây, này Hiền giả... tôi thấy một bị da... cắn mổ nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn...

Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người đồ tể giết dê ở tại Ràjagaha này...". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, IV. Người Giết Dê Bị Lột Da)

Khi nãy là một đống thịt còn bây giờ là một túi da, một bao da người và túi này lơ lửng trong hư không bị những con chim ăn thịt bay theo cắn xé, người này cũng có cảm thọ đau đớn. Người này khi còn sống là một người giết dê, trong những lò mổ giết chết các con vật xong thì lột da nó ra, quả báo người này là trở thành một túi da, một bao da.

"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng đao kiếm đang đi giữa hư không. Các đao kiếm ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.

Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người giết heo ở tại Ràjagaha này..." (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, V. Người Giết Heo Với Ðao Kiếm)

Mỗi cọng lông trên người đều là đao kiếm và lưỡi dao, các dao kiếm đó rơi xuống người đó máu chảy ra, thịt rơi ra, đó là người giết heo.

"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các cây lao đang đi trên hư không. Những cây lao ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.

Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người thợ săn thú ở tại Ràjagaha này." (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Người Săn Thú Với Cây Lao)

Khi còn sống họ lấy cây lao phóng vào những con thú cho nên khi chết đi lông của họ là những cây lao và những cây lao này rơi xuống người làm máu chảy ra, thịt tuôn ra, những cảm giác đau khổ đó họ phải chịu đựng "nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm".

"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các mũi tên, đang đi giữa hư không. Những mũi tên ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.

Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người tra tấn ở tại Ràjagaha này". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, VII. Người Tra Tấn Với Mũi Tên)

Ngài đang nói đến thế giới loài cô hồn, Dạ-xoa, ngạ quỷ. Lông của người đó bằng mũi tên và mũi tên này cứ rớt xuống đâm vào người vì người này khi sống làm nghề tra tấn người khác.

"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi kim đang đi giữa hư không...

Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người điều phục các loài thú". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, VIII. Người Ðánh Xe Với Các Cây Kim) 

Khi đi châm cứu, chúng ta bị những cây kim nhỏ châm vào người đến đâu là đau tới đó, còn ở đây mỗi lỗ chân lông là một cây kim, người này là người đánh xe.

"- Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với đầu chìm trong hố phân.

Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người thông dâm ở tại Ràjagaha này". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, I. Kẻ Thông Dâm Bị Chìm Trong Hố)

Đầu người đó chìm trong hố phân, chúng ta hãy nhớ rằng mỗi hình ảnh này là Đức Thế Tôn đang nói các chúng sanh đó phải chịu quả dị thục ở địa ngục trong "nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm", sau khi hết thời gian ở địa ngục mới sanh ra làm loài ngạ quỷ, Dạ-xoa, cô hồn chứ không phải chết đi là làm cô hồn, ngạ quỷ liền mà phải xuống địa ngục chịu sự đau đớn, thống khổ do ác nghiệp mình gây ra trước.

"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người chìm trong hố phân, ăn phân bằng hai tay.

Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một Bà-la-môn tại Ràjgaha này. Khi bậc Chánh Đẳng Giác Kassapa đang giảng dạy, người ấy mời chúng Tỳ-kheo dùng cơm. Rồi người ấy lấy một cái gáo đựng đầy phân và nói: 'Ôi mong các Tôn giả ăn cho tận kỳ thỏa thích và mang về!'". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, II. Tà Ác Là Bà La Môn Ăn Phân)

Từ thời Đức Phật Ca-diếp cho đến thời Đức Phật Thích-ca là trải qua bao nhiêu tỷ năm, khó để tính bằng con số mà sau khi đọa địa ngục vị Tỳ-kheo này trở thành quỷ đói chìm trong hố phân, lấy tay bốc phân để ăn vì tội lỗi lấy gáo phân dâng lên cho chúng Tỳ-kheo ngay thời bậc Chánh Đẳng Chánh Giác Kassapa đang giảng dạy giáo pháp, cho nên vị Bà-la-môn này phải chịu quả báo kinh hãi như vậy.

"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một phụ nữ bị lột da đang đi giữa hư không. Những con chim kên, những con quạ, những con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.

Người phụ nữ ấy, này các Tỳ-kheo, là một người gian phụ ở Ràjagaha này". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, III. Gian Phụ bị Lột Da) 

Khi còn sống tà dâm thì khi chết đi sẽ bị lột da. Chúng ta vừa nghe vừa quán chiếu, vừa nghiền ngẫm để sanh khởi lên thọ; tưởng; hành trong tâm, khi nghe đến đâu thì những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ đó sanh khởi lên trong tâm. Đã từ rất lâu chúng ta không có cơ hội được nghe, được nghiền ngẫm những điều này, chúng ta sống trong sự lãng quên, cứ nhìn thấy trước mắt mà không biết rằng còn những thứ rất đau khổ mà chúng ta không thấy, không biết, chúng ta đã từng bị như vậy trong quá khứ và sẽ có khả năng rơi vào trong đây nếu chúng ta chưa Nhập Lưu. Chỉ có bậc Nhập Lưu Thánh quả Tu-đà-hoàn mới vĩnh viễn không còn rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, còn lại nếu chưa Dự lưu đều có khả năng rơi vào những đường ác này.

"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người phụ nữ hôi hám, xấu xí đang đi trên hư không. Các con chim kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.

Người phụ nữ ấy, này các Tỳ-kheo, là một người bói toán ở chính Ràjagaha này". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Hai, IV. Người Phụ Nữ Xấu Xí Bói Toán)

 "Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.

Người đàn bà ấy, này các Tỳ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Hai, V. Người Ðàn Bà Khô Héo Ðã Rải Than Ðỏ trên Một Người Ðàn Bà)

Kiếp trước là hoàng hậu, là đệ nhất phu nhân vậy mà đời này lại thành quỷ đói, bị than lửa đổ lên người nên kêu la thảm thiết, vì sự ghen tức mà bà ấy đổ than hồng lên người phụ nữ khác. Chuyện này trong cung diễn ra rất thường xuyên, ở một địa vị cao quý như vậy rất dễ đọa vào ba đường ác, còn địa vị thấp thì khỏi nói, chỉ vì một ánh mắt thôi là xảy ra xô xát, cự cãi rồi có án mạng, ngay trong hiện tại là tù tội chung thân, tử hình còn sau khi chết chắc chắn phải đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nhưng chúng sanh không biết nhân quả, không sợ ác nghiệp, vì vô minh, ngu si, tham dục nên không thấy, không biết, không sợ. Đức Thế Tôn và các bậc Thánh ra đời nhằm "dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc", đó cũng là công năng của giáo pháp cho nên khi nghe những lời dạy trong kinh phải có cảm giác sợ hãi, lo lắng, nhìn lại thân tâm để quán chiếu những suy nghĩ, hành động của mình chứ không được nghe theo kiểu vô cảm, phải nghe bằng cả trái tim, cả tấm lòng, phải sanh khởi lên những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, đó là chúng ta đang thực tập quán chiếu. Minh Thành muốn đem những gì quan trọng, quý báu trong pháp cúng dường cho đại chúng bằng tất cả tấm lòng và rất mong quý huynh đệ phải có cảm xúc, cảm giác trong lời kinh của Đức Phật chứ đừng vô cảm.

"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một cái thân không đầu đi giữa hư không. Con mắt và miệng thời ở trên ngực.

Các con chim kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.

Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người ăn cướp tên là Hàrika ở tại Ràjagaha". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Hai, VI. Kẻ Trộm Cướp Đứt Ðầu)

Những phim ma ở ngoài đời đều căn cứ vào những bản kinh này, đây là điều mà Đức Phật thấy, Đức Phật chứng mà không có bất cứ ai kể cho ngài hoặc là ngài tưởng tượng ra, ngoài Thế Tôn còn có các bậc Thánh đã thành tựu Thánh trí, đã chứng đắc tam minh mới thấy giống như Đức Phật, phàm phu không thể thấy được cho nên ngài không nói, ngoại trừ việc đúng thời đúng duyên như ngài Mục-kiền-liên trình bày lên thì Đức Phật mới xác chứng đúng như vậy, còn tự nhiên ngài nói ra sẽ không có ai tin và sẽ bị đau khổ lâu dài. Đừng nói gì người cư sĩ hoặc không phải là Phật tử mà ngay cả người xuất gia còn không tin có địa ngục, điều này cực kì nguy hiểm nhưng đây là lời chính thống của Đức Phật được kết tập trải qua mấy ngàn năm nay, tất cả do tâm vô minh mà ra.

"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Tỳ-kheo đi giữa hư không.

Y tăng-già-lê (thượng y) của vị ấy bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Và vị ấy thốt lên những tiếng kêu đau đớn.

Tỳ-kheo ấy, này các Tỳ-kheo, là một ác Tỳ-kheo trong thời bậc Chánh Đẳng Giác Kassapa thuyết pháp". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Hai, VII. Tỳ-kheo)

Tỳ-kheo này không có da thịt mà là quỷ đói nhưng trên hình dạng của một người tu, đó là cô hồn, ngạ quỷ. Từ thời Phật Ca-diếp cho tới thời Phật Thích-ca Mâu-ni sau khi đọa địa ngục "nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm", bị rơi vào loài quỷ đói dưới thân tướng người tu, y cháy, đầu cháy, bát cháy, thân thể cháy và kêu la thảm thiết. Phá trai phạm giới, không có đức hạnh mà giả vờ có đức hạnh, không có giới đức mà làm ra dáng giới đức, không có tu hành mà làm ra dáng có tu hành đó gọi là ác tham, ác dục, ác hạnh.

"... tôi thấy một Tỳ-kheo-ni đi giữa hư không.

Y tăng-già-lê của vị ấy bị cháy đỏ.

... là một ác Tỳ-kheo-ni..." (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Hai, VIII. Tỳ-kheo Ni)

"... tôi thấy một học nữ đi giữa hư không.

Y tăng-già-lê của vị ấy bị cháy...

... là một ác học nữ..." (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Hai, IX. Học Nữ) 

Chúng ta không có con mắt nhìn ra được các chúng sanh khác nên không thể thấy được những điều này, con mắt chúng ta chỉ cần một tờ giấy che lại là không thấy gì nữa, còn đây là con mắt của các bậc Thánh nhìn thấy ngũ thú lục đạo của chúng sanh. Chúng ta ngồi đây nhưng nếu có chư Thiên hoặc có những phi nhân ở đây mình cũng không thấy biết được nhưng chúng ta rất tự tin, ta đây, ra vẻ hiểu biết "tôi thấy", "tôi hay", "tôi thấy", đó là sự đau khổ chấp ngã của chúng ta.

Người xuất gia phải nhớ!

Sau mùa An cư Minh Thành không biết còn gặp được mọi người nữa hay không cho nên hôm nay Minh Thành sẽ gửi những gì có giá trị thật nhiều cho đại chúng vì hiện giờ thật khó nói, từ thời Đức Phật đã có hiện tượng những người tu không nghe lời, cung kính giáo pháp cho nên các vị chân tu thật sự muốn học đạo không được bao nhiêu.

 "Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:

-- Này Kassapa, hãy giáo giới Tỳ-kheo! Này Kassapa, hãy nói pháp thoại cho các Tỳ-kheo! Này Kassapa, Ta hoặc Ông phải giáo giới các Tỳ-kheo! Ông hoặc Ta phải nói pháp thoại cho các Tỳ-kheo!

-- Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỳ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn. Họ không kính trọng lời giáo giới". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), VI. Giáo Giới)

"... tôi thấy một Sa-di đi giữa hư không...

Y Tăng-già-lê của vị ấy bị cháy... là một ác Sa-di". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Hai, X. Sa Di)

"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Sa-di-ni đi giữa hư không.

Y tăng-già-lê (sanghàti) của vị này bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Bình bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Vị ấy thốt lên những tiếng kêu đau đớn.

Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: 'Thật vi diệu thay, thật hy hữu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy trở thành một Dạ-xoa như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy'.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:

-- Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỳ-kheo, là các đệ tử. Sống với nhau như thực trí, này các Tỳ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng, một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Hai, XI. Sa Di Ni)

Câu nói này là Đức Phật xác chứng, ấn chứng, chứng nhận những gì ngài Mục-kiền-liên nói là sự thật, là thực chứng, thực thấy, là sự thật có như vậy trong nhân quả ác nghiệp của chúng sanh.

"Xưa kia, này các Tỳ-kheo, Ta cũng thấy Sa-di-ni ấy, nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.

Vị Sa-di-ni ấy, này các Tỳ-kheo, là một ác Sa-di-ni trong thời bậc Chánh Đẳng Giác Kassapa thuyết pháp. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Hai, XI. Sa Di Ni)

Xin mọi người hãy cảm nhận, cảm xúc cho sâu sắc những lời này, đừng xem thường đời sống xuất gia này, đừng xem thường y áo trên người mình, sau khi nhắm mắt rồi sẽ đi về đâu khi giới đức không viên mãn, thiền định không có, trí tuệ không tu tập, hằng ngày ngồi để người khác chắp tay, cung kính, cúng dường, tôn trọng, đó là những người đáng tuổi cha mẹ, đáng tuổi ông bà với mái tóc bạc phơ lạy xuống chân mình. Mình ngồi trên đó ăn uống hả hê, buông lung phóng dật mà không thấy sợ hãi, không lo lắng, không suy xét đến nhân quả.

Khủng khiếp là ác nghiệp! Kinh hoàng là nhân quả! Thống khổ là tái sanh!

Hãy chiêm nghiệm thật nhiều xin thưa các thầy, đệ tử Thích Minh Thành đảnh lễ các thầy, xin các thầy chiêm nghiệm thật nhiều đời sống xuất gia của mình. Con là Thích Minh Thành, con mong muốn tha thiết chân thành cầu xin tất cả Tăng Ni hãy chiêm nghiệm, quán chiếu, suy tư những gì bậc Chánh Đẳng Chánh Giác của chúng ta đã nói. Hãy lo lắng, ưu tư, ray rứt, thao thức kiểm tra giới đức, giới hạnh, kiểm tra nết hạnh, đức hạnh của mình đã tu học được gì từ ngày mình cạo tóc cho đến nay, có tăng trưởng thiện pháp hay không, những giới luật đã thọ có giữ gìn chu đáo cẩn thận không, trong bốn thiền đã thành tựu được thiền nào, pháp của bậc thượng nhân, trí huệ của bậc Thánh đã thể nhập hay chưa. Đừng sống trong lãng quên, đừng sống trong sự buông xuôi, sau này chúng ta sẽ đau khổ trên hình thức này, đau khổ trên chiếc áo này, đau khổ trong đời sống này vì chúng ta được rất nhiều Đàn-na tín thí tin tưởng, được cha mẹ đợi chờ, ông bà trông mong nhưng chúng ta có làm tròn bổn phận của người xuất gia hay không? Đây là những giây phút thiêng liêng quý báu, chúng ta ngồi với nhau cùng nhìn lại đời sống tu hành của mình, đạo hạnh, đức hạnh, giới hạnh, những gì chúng ta phát tâm từ ngày đầu tiên xuất gia cho đến nay chúng ta còn nhớ hay đã quên. Chúng ta đừng bao giờ quên vì quên đi là đau khổ, cha mẹ chúng ta không quên, cô bác ông bà không quên chúng ta là người xuất gia, Đàn-an tín thí không quên chúng ta là người xuất gia thì tại sao chúng ta lại quên mình là người xuất gia? Những cảm xúc này chúng ta hãy cất giữ, những cảm giác này chúng ta hãy gìn giữ, những cảm thọ này chúng ta hãy lưu giữ đừng để mất vì mất đi những cảm thọ này chúng ta sẽ sống trong lãng quên, thất niệm, chúng ta sẽ buông trôi, buông xuôi. Trong Tăng Chi Bộ, Đức Phật nói như sau:

"Này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau:

Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập như khi xuất gia.

Các pháp bất thiện được sanh không có chinh phục tâm và không tồn tại;

Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô thường;

Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô ngã;

Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng bất tịnh;

Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng nguy hại". (Tăng Chi Bộ, chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (IX). Xuất Gia)

Trên đây là những điều tâm niệm của người xuất gia. Dù cho xuất gia bao lâu đi nữa mình vẫn thực hành, tích tập như khi mới xuất gia. Các pháp bất thiện sanh ra trong tâm thì chúng ta không cho nó chinh phục, tồn tại trong đó, dục tham, sân hận sanh khởi chúng ta phải đánh đuổi, tẩy rửa làm cho nó tan biến hoàn toàn, bản ngã sanh khởi lên chúng ta phải nhiếp phục, hạ gục nó. Tâm chúng ta luôn thực hành, tích lũy, nhóm họp, thực tập quán tưởng về sự vô thường của tứ đại ngũ uẩn đời sống này. Đối với tưởng vô ngã, bất tịnh và nguy hại cũng giống vậy, tâm mình phải luôn quán chiếu về sự tàn hoại của cuộc đời này. Hiện nay trên 150 triệu người đã nhiễm dịch bệnh, mỗi ngày ca nhiễm lại tăng thêm nhiều lần, riêng Ấn Độ đã có trên bốn trăm ngàn ca nhiễm chỉ trong hai mươi bốn giờ, dịch bệnh này diễn ra bất cứ nơi đâu, bất cứ khi nào, bất kể chúng ta là ai cho nên chúng ta phải quán tưởng sự nguy hiểm của đời sống này, sự mong manh, bất an, đau khổ, phiền não, ưu tư, hoại diệt, trống không của thân xác này, mới cười nói, hò hét rồi bây giờ nằm bất động vì không có oxygen để thở, mới sân si, ta đây, vênh váo, hách dịch mà giờ là nắm tro tàn, một hủ cốt, một nắm mồ, một cái huyệt mộ. Trống rỗng, trống trơn là đời sống này, đầy rẫy những sự bất an cho nên cần quán chiếu sự vô thường, vô ngã thường xuyên, quán chiếu sự bất tịnh, sự rỉ chảy những thứ hôi thối, tanh hôi và xú uế. Đau khổ là đời sống vô minh, tham ái và chấp thủ, đau khổ khi chúng ta không biết nhìn lại, quán chiếu, suy tư cho nên đây là những pháp tu căn bản của người xuất gia: tưởng vô thường, tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh, tưởng sự nguy hiểm và tác hại của ngũ uẩn này, tưởng sự nguy hiểm và tác tại dục, tưởng sự nguy hiểm và tác tại của tham ái, tưởng sự nguy hiểm và tác tại của hình sắc, thân thể này, sự đòi hỏi, khát khao, thèm muốn này, tưởng sự nguy hiểm và tác tại của sắc… là những sự trói trăng, ràng buộc, dính mắc, chấp thủ.

Khi đã nhìn thấy sự nguy hiểm và tác hại của nó thì phải thấy sợ, thấy ngao ngán, nhàn chán, chỉ muốn từ bỏ, thoát ra. Đó là sự tu tập thường ngày, thường xuyên, hằng giờ của bậc Đa văn Thánh đệ tử thời Đức Thế Tôn còn tại thế.

"Sau khi biết được thế giới thăng bằng và không thăng bằng, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy.

Sau khi biết được thế giới sanh khởi và đoạn diệt, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy.

Sau khi biết được thế giới tập khởi và chấm dứt, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy.

Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng đoạn tận.

Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ly tham.

Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng đoạn diệt.

Đối với vị ấy, một trong hai quả này được chờ đợi, chánh trí ngay trong hiện tại hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn". (Tăng Chi Bộ, chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (IX). Xuất Gia)

Người nào xuất gia mà thường xuyên thực hành mười hai điều tâm niệm này thì kết quả chờ đợi người đó thứ nhất là lậu tận, thành tựu chánh trí của bậc tối cao A-la-hán và thứ hai là Thánh quả Bất Lai, không còn trở lại thế giới này nữa mà sẽ ở tịnh cư Thiên và từ đó nhập Niết-bàn. Thế giới này là không thăng bằng và chúng ta tu tập tâm mình để được thăng bằng, thế giới này là biến động và chúng ta tu tập tâm để được bất động. Chữ "thế giới" trong kinh Nikāya không phải là muôn màu muôn vẻ mà chỉ là ngũ uẩn, thế giới đó chính là ngũ uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức, như vậy sao khi biết được thế giới (ngũ uẩn) này sanh khởi và đoạn diệt thì chúng ta phải tu tập đừng để nó sanh khởi nữa mà hãy đưa nó đến chỗ đoạn diệt và chấm dứt, chính vô minh và khát ái làm cho ngũ uẩn này sanh khởi, diệt vô minh đoạn khát ái thì thế giới chấm dứt, ngũ uẩn chấm dứt không còn sanh tử nữa, đó là con đường vô sanh bất tử. Vì thế chúng ta phải thực hành và tích tập tưởng đoạn tận, ly tham, đoạn diệt, thường xuyên quán chiếu không tham ái với sắc vô thường này, không tham muốn với những cảm giác thúc giục, hình bóng, suy nghĩ này, mình biết nó chỉ là thọ; tưởng; hành; thức chứ không phải là mình, không phải của mình. Cần thường xuyên nhận diện năm uẩn để khi suy nghĩ sanh khởi lên thì biết rằng "đây là hành uẩn, không phải tôi, không phải của tôi và không chạy theo suy nghĩ này, vì chạy theo dục, tham, ái, sân, si này là đau khổ, phiền não, nghiệp báo", những hình bóng của chiếc xe, món đồ, tiền bạc, chùa chiền, đất đai, người này người nọ cần phải được tẩy sạch, không được chạy theo hình bóng (tưởng uẩn) đó, phải ly tham đối với thọ; tưởng; hành; thức. Cảm giác thích thú, ham thích này là vô thường, lát sau nó cũng sẽ tan biến mất, không có gì đáng để tham, dù cho đang thích nhưng vẫn quán chiếu ly tham, cảm giác bực bội sanh khởi lên thì tác ý "cảm giác này là vô thường, cảm giác này tan biến đi", không chạy theo cảm giác sân hận đó, cảm giác u mê sanh khởi cũng tác ý đánh đuổi nó đi, cảm giác bản ngã, ta đây sanh khởi cũng tác ý "cảm giác này tan biến khỏi tâm ta đi. Mày vênh váo, hất mặt lên để làm cái gì?", đánh gục bản ngã xuống là sự tu tập của bậc Đa văn Thánh đệ tử. Phải tập xin lỗi, sám hối, hạ cái tôi xuống với bất cứ ai, dù cho đó là Phật tử cũng phải từ bỏ bản ngã của một ông thầy, phải từ bỏ bản ngã hư ảo này, nó là thứ ác độc nhất trên đời cho nên cần đoạn tận những cảm giác tham, sân, si, bản ngã để đi đến chỗ sạch hoàn toàn, không còn sanh khởi trở lại trong tương lai như chặt cây tala, diệt tận hoàn toàn, đó gọi là quán đoạn tận, quán đoạn diệt. Đó là bậc chân tu, là bậc Đa văn Thánh đệ tử, là bậc đi theo con đường Thánh đạo của Đức Thế Tôn.

Xin thưa quý thầy, con là đệ tử pháp danh Minh Thành bằng những lời tha thiết gửi đến tất cả quý thầy bằng tình thương, bằng từ tâm. Nếu có gì làm quý thầy không hoan hỉ con xin được sám hối, tha thứ cho con.

./.