Tương ưng lợi đắc cung kính 1-2
TƯƠNG ƯNG LỢI ĐẮC CUNG KÍNH 1-2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bài kinh Khổ lụy PAGEREF _Toc113042503 \h 1
II. Bài kinh Lưỡi câu PAGEREF _Toc113042504 \h 3
III. Bài kinh Con rùa PAGEREF _Toc113042505 \h 4
IV. Bài kinh Lông dài PAGEREF _Toc113042506 \h 6
V. Bài kinh Trùng Phẩn PAGEREF _Toc113042507 \h 7
VI. Bài kinh Sét Đánh PAGEREF _Toc113042508 \h 10
VIII. Bài kinh Trúng độc PAGEREF _Toc113042509 \h 12
VIII. Bài kinh Con giả can PAGEREF _Toc113042510 \h 12
IX. Bài kinh Cuồng phong PAGEREF _Toc113042511 \h 13
X. Kinh với bài kệ PAGEREF _Toc113042512 \h 16
Minh Thành sẽ chia sẻ về Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, cho nên hôm nay chúng ta tìm hiểu về Chương IV. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2. Khi tìm hiểu chương Lợi Đắc Cung Kính, chúng ta cần chịu khó nghe những lời của Đức Phật và sẽ bất ngờ vì những thứ mình ưa thích đều bị quở trách, khiển trách, nhắc nhở.
I. Bài kinh Khổ lụy
1) Lúc đó Đức Thế Tôn ở Savathi, Xá Vệ nơi ông Cấp Cô Độc cúng dường.
2) Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
3) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
4) Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Đối với lợi đắc, cung kính, danh vọng đến và lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta sẽ từ bỏ chúng. Đối với lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú.
5) Như vậy này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Chương này rất dài, cho nên chúng ta chỉ trích đọc những đoạn trọng yếu mà Đức Thế Tôn lặp đi lặp lại nhiều lần. Đừng ngại phần lặp đi lặp lại, đó là để nhắc mình đi sâu vào cảm thọ, nếu có tâm chân thành cung kính, tha thiết thì sẽ thấy những từ lặp đi lặp lại có giá trị hết sức quan trọng. Còn người không có tâm kính pháp, không tôn kính Đức Thế Tôn, nên khi nghe lặp đi lặp lại thì chán, đó là tâm bất kính. Ngày xưa Minh Thành cũng hay suy nghĩ vậy, lặp lại nhiều lần làm mình không muốn nghe, đó chính là tâm bất kính. Nhưng chính vì sự lặp đi lặp lại thì Pháp Tạng mới còn, lặp lại nhiều thì các thầy mới thuộc lòng, mới được truyền bá lâu dài do ngày xưa là khẩu truyền.
Chúng ta đi vào phần chính “Khổ Lụy”: “Thật là đau khổ, thật là hệ lụy này các Tỷ-kheo, đó là các lợi đắc”. Lợi đắc là những thứ mình đạt được, đó là đau khổ cho người tu, hoàn toàn khác với cách nhìn của mình, đây là Thánh Tri Kiến – trí tuệ của bậc Thánh. Người ta cúng cho thì mình mừng, mình vui nhưng Đức Phật nói: “Lợi đắc là khổ lụy, là đau khổ, là sự hệ lụy, ràng buộc cho các Ông.” Những lợi dưỡng, những thứ mình có được đối với vật dụng cúng dường: đất đai, tiền bạc, ruộng vườn, xe cộ, những cơ sở vật chất,… Đức Thế Tôn cho đó đều là đau khổ, hệ lụy. Đây là trí tuệ hết sức sâu xa mà người tu phải quán chiếu, nếu không mình sẽ không vượt qua. Đau khổ, hệ lụy còn đến từ cung kính, danh vọng – được sự cung kính, có được tiếng tăm đó cũng là đau khổ, là sự ràng buộc.
“Thật là đắng cay, thật là ác độc, thật là chướng ngại pháp” – những thứ được cúng dường, được tôn kính, được lợi ích mang về là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp “để chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.” Tại vì được lợi dưỡng thì mình sẽ dính mắc tham thích, bị những thứ đó ràng buộc. Ví dụ hết sức đơn giản, chiếc xe mắc tiền hoặc điện thoại có giá trị là đắng cay, ác độc và chướng ngại pháp, ràng buộc thân tâm, là sự đau khổ. Có người đang ngồi học ở đây nhưng trong đầu suy nghĩ xem có ai dẫn xe của mình đi đâu đó, làm xe bị cọ quẹt trầy không; hoặc không có đi học cũng đi ra đi vào nhìn chiếc xe xem nó ra sao – đó là đắng cay, ác độc là hệ lụy, ràng buộc, đau khổ, chướng ngại pháp, làm cho tâm mình bất an. Cho nên những thứ lợi dụng, cung kính, danh vọng là chướng ngại pháp chứng để đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Đây là điều hết sức sâu sắc, chương này rất tuyệt diệu, do đó phải học thuộc lòng. Lá bùa hộ mạng của người tu là đây, bí quyết thành tựu của người tu là đây, nếu không nhìn thấy, không có trí tuệ về lợi dưỡng cung kính, cúng dường thì mình sẽ chết. Chỉ cần có người cúng cho 10 mẫu đất là mình bị kẹt vào đó, do phải bỏ thời gian công sức vào để lo xây dựng, lo kiến trúc, như vậy thì cuộc đời tu của mình chôn vào đó, mà khi chôn thật thì có 4-5 mét vuông.
“Này các Tỷ-kheo, thật là đau khổ thật là hệ lụy, là các lợi đắc cung kính danh vọng, thật là đắng cay, là ác độc, thật là chướng ngại pháp, để chứng đạt được vô thượng pháp an ổn khỏi các khổ ách”. Cho nên được lợi dưỡng, được cúng dường, được cung kính, được danh vọng thì phải hết sức thận trọng. Nếu không có chánh niệm tỉnh giác, không có hộ trì căn, không có thành tựu trí tuệ thì thứ đó là đắng cay, là ác độc, chính nó sẽ chặn con đường tiến lên phía trước, về phía Thánh đạo của mình.
“Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: đối với lợi đắc cung kính danh vọng đã đến, ta sẽ từ bỏ chúng”. Cho nên thật sự phải hết sức thận trọng, vì chỉ cần một ngôi chùa, một tịnh thất, một miếng đất, mà đời tu sẽ chấm hết. Ngày xưa Minh Thành chứng kiến, có những vị thị giả cho các đại trưởng lão, các bậc tôn túc, tôn chủ, có những đại thí chủ đến cúng dường, rồi bỗng sau này, người thị giả đó về làm lính cho những đại thí chủ đó luôn. Minh Thành chứng kiến và thấy thật là đau lòng, đau xót cho huynh đệ cùng tu với mình. Thật là đắng cay, thật là ác độc!
“Cho nên danh vọng, cung kính, lợi đắc mà đã đến thì chúng ta sẽ tự bỏ chúng, còn chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú”. Đừng để cho danh vọng, lợi dưỡng, cung kính xâm chiếm tâm. Tức là khi thấy người khác được một điều gì đó, mình cũng mong muốn được như vậy, tức là ta đã bị xâm chiếm an trú tâm. Cần phải tác ý như lời Đức Thế Tôn đã nói: “Lợi đắc, cung kính hại mình, hủy hoại đời tu của mình, ngăn chặn Thánh đạo. Lợi đắc, cúng dường là ngăn chặn trí tuệ, làm cho mình thoái đọa, lùi lại và rơi xuống.” Phải tác ý thật nhiều trong các buổi thiền tập, trong những lúc ngồi một mình.
II. Bài kinh Lưỡi câu
1) Tại Savathi,
2) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp, chứng đạt vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
3) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người câu cá quăng một lưỡi câu ngắn có mồi thịt vào trong hồ nước sâu, một con cá có mắt thấy mồi thịt nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con cá đã nuốt lưỡi câu ấy bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị người câu cá muốn làm gì thì làm.
Thật là đau khổ cho đời tu, một trí nguyện cao thượng rộng lớn, chỉ cần cúng dường thì bị dính lưỡi câu. Phải nhớ đem đến cung kính cúng dường với tâm chân thành cung kính vì pháp thì đã phải cẩn thận, chứ đừng vì ý khác là mình phải tuyệt đối tránh né để đoạn trừ. Minh Thành thấy có những trường hợp nhiều người tu đi ra ở nhà cư sĩ, ở đây Minh Thành không muốn nói việc đó, do các thầy hiểu nhiều hơn Minh Thành, Minh Thành nói ít các thầy hiểu nhiều.
Mắc lưỡi câu, dính lưỡi câu, nuốt lưỡi câu, Tỷ-kheo ấy rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa và bị người cúng dường sai sử, sai khiến, sai bảo, phải làm như vậy, và cuộc đời của mình rơi vào, dính vào, mắc vào, nuốt vào lưỡi câu.
4) Này các Tỷ-kheo, người câu cá ấy, chỉ cho ma, lưỡi câu ấy này các Tỷ-kheo chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng.
Ma là năm dục trưởng dưỡng, những sắc, khả lạc, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn đó là ma. Những âm thanh khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, đó là ma. Những mùi hương, vị, những sự xúc chạm êm ái, khả lạc, khả ái, khả ý liên hệ đến dục hấp dẫn, đáng vui, đáng mừng, vừa lòng, thích ý liên hệ đến dục hấp dẫn thu hút mình đó là ma phá hoại con đường Thánh đạo.
5) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào, thọ hưởng ái luyến, lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, Tỷ-kheo ấy được gọi là đã nuốt lưỡi câu của ác ma, bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.
Một cái điện thoại đẹp, một chiếc xe mới đắt tiền, những tiện nghi vật chất, những sự tôn kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng mà mình không tác ý để từ bỏ, không tác ý để ly tham, không biết quán chiếu sâu sắc thì chính là mình đã nuốt lưỡi câu. Thật là bất hạnh, thật là tai họa, đó là chướng ngại pháp làm cho mình không đạt được nơi vô thượng an ổn, khỏi ác khổ ách, mình sẽ vướng trong sầu, bi, khổ, ưu, não; vướng trong dục, trong ái, trong tham, trong danh lợi.
III. Bài kinh Con rùa
Tại Savathi
2) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngài pháp để chứng đắc vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
3) Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trong hồ nước có một gia đình con rùa sống trong hồ nước đã lâu ngày.
4) Rồi này các Tỷ-kheo, có một con này nói với con rùa khác: “Này rùa thân mến, chớ có đi đến chỗ ấy”.
Nhưng con rùa này không nghe, nó nói: “Có gì đâu”
5) Con rùa này đi đến chỗ ấy và một thợ săn phóng trúng vào nó một cây lao có dây và bắt nó, con rùa bị bắt, bị dính bẫy, bị mắc vào cây lao, mà nó không biết.
6) Rồi nó đi đến con rùa kia.
7) Này các Tỷ-kheo, con rùa kia, thấy con rùa này từ xa đi đến liền nói:
- “Này rùa thân mến, có phải Bạn đi đến chỗ kia rồi không?”
- “Này rùa thân mến, tôi đi đến chỗ kia rồi”.
8) “Này bạn rùa thân mến, bạn có bị thương hay bị bắn trúng ?”.
“Này rùa thân mến, tôi không bị thương, tôi không bị bắn trúng. Nhưng có sợi dây này dính trên lưng tôi”.
9) “Này rùa thân mến, Bạn thật bị thương rồi, Bạn thật bị bắn trúng rồi. Này rùa thân mến, chính do vật dụng của người thợ săn này, sợi dây này mà cha Bạn và ông Bạn rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa. Nay Bạn hãy đi đi, rùa thân mến, nay Bạn không còn thuộc về chúng ta. Cha của Bạn ông của Bạn bây giờ tới bạn đã mắc trúng sợi dây này, vũ khí này, mũi lao ác độc này.
10) Này các Tỷ-kheo, người thợ săn chỉ cho ác ma, cây lao chỉ cho lợi đắc cung kính danh vọng, sợi dây đó này các Tỷ-kheo là chỉ cho hỷ tham.
Cũng vậy, sư phụ dặn dò cẩn thận đừng có tiếp xúc nhiều, coi chừng trúng tên trúng lao, nhưng người học trò cho rằng mình tu hành tốt, cuối cùng mắc cạn trúng lao. Sư phụ nói đừng xuống núi, ở trên núi tu thêm 10 năm nữa, nhưng người đệ tử vẫn xuống núi và trúng chưởng: ngũ uẩn chưởng, ác ma chưởng, lợi đắc cung kính danh vọng chưởng, thật là đắng cay, thật là ác độc thật là chướng ngại pháp.
Câu này thật là thấm thía vô cùng, con rùa bị mắc rồi, bị dính rồi, tai nạn rồi mà nó không biết, mà nó nói là không có gì đâu, chỉ mắc sợi dây này thôi. Tại vì nó mê, nó vô minh, tham ái, không có trí tuệ nên không biết.
“Này bạn rùa thân mến, chính vũ khí này, chính sợi dây này, ông bạn cha bạn đã bị tai họa, đã bị hoạn nạn, đã bị khổ ách”. Chính sợi dây này mà sư ông của con bị, chính sợi dây này mà sư phụ con bị, chính sợi dây này con cũng bị theo luôn đó, phải cẩn thận đối với sợi dây này.
“Chính do vật dụng của người thợ săn này mà cha bạn, ông bạn rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa, bạn hãy đi đi rùa thân mến ơi, nay bạn không thuộc về chúng ta nữa”. Nay bạn đã trở thành thây chết trong Phật pháp, một khi vướng vào lợi dưỡng, danh vọng, lợi đắc, dục, tham, ái, thì không còn ý niệm tăng thượng giới học, không còn ý niệm tăng thượng tâm học trong thiền định, không còn ý niệm sắc bén để tăng thượng tuệ học nữa, bạn không thuộc về chúng ta, bạn không dự phần ở trong Tam bảo nữa mà bị ràng buộc vào sợi dây của hỷ và tham. Hỷ là vui mừng, thích thú, khoan khoái muốn thêm nữa. Tức là một người chân chánh tu hành bị dính mắc vào thì sầu, bi, khổ, ưu, não, lo lắng, nhục nhã, xấu hổ, tàm quý, nhưng thay vào đó, người này lại không có tàm quý, không có xấu hổ, không có nhục nhã, mà lại ưa thích, khoan khoái, muốn thêm nữa. Đó là bạn không còn thuộc về chúng ta, bạn là tử thi trong Phật giáo, không có ước muốn tăng thượng giới hạnh, thiền định trí tuệ, sống như một thây ma, vất vơ vất vưởng trong chùa, không nỗ lực để lớn mạnh trong pháp và luật, không có ước ao, không có khát vọng, không muốn tăng trưởng pháp, phát triển giới đức, giới hạnh, thiền định, trí tuệ, mà chỉ chạy theo tham lam, tham ái, tham dục, những lợi dưỡng, danh vọng. Thật là đắng cay, ác độc, cô phụ, đại bất hiếu với cha mẹ, thân tộc, thật là nhục nhã với ông bà tổ tiên, lừa gạt cha mẹ mình, lừa gạt đàn na tín thí, lừa gạt tất cả đồng phạm hạnh. Thật là đắng cay, thật là ác độc, thật là khổ lụy!
11) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với lợi đắc cung kính, danh vọng, hưởng thụ và ái luyến. Này các Tỷ-kheo được gọi là Tỷ-kheo bị lao đâm phải, đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.
12) Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
13) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu học.
IV. Bài kinh Lông dài
1) Tại Savathi
2) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
3) Ví như, này các Tỷ-kheo, một con dê cái lông dài, đi vào khóm cây gai góc; chỗ này, chỗ kia, nó bị dính vào; chỗ này chỗ kia nó mắc vướng vào; chỗ này chỗ kia nó bị trói buộc vào; chỗ này, chỗ kia, nó bị rơi vào bất hạnh, tai họa.
4) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát vào làng hay thị trấn để khất thực. Chỗ này, chỗ kia, vị ấy bị dính vào; chỗ này, chỗ kia, vị ấy bị vướng vào; chỗ kia, chỗ kia, vị ấy bị trói cột vào; chỗ này, chỗ kia vị ấy rơi vào bất hạnh, tai họa.
Xin thưa với đại chúng đây là những bài thiền quán, khơi lại chí nguyện cao thượng của người xuất gia, cần phải đọc tụng mỗi ngày, quán chiếu và tư duy. Bài kinh này và tới bài kinh “Trùng Phẩn”, đọc tới đâu thấm thía, nhức nhối, đau đớn tới đó, có một cảm thọ cảm xúc dạt dào rúng động, chấn động thân tâm. Đây chính là lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, nếu mình không nghe, thì nghe cái gì.
5) Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
6) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu học
V. Bài kinh Trùng Phẩn
1) Tại Savathi
2) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3) Ví như, một con trùng phẩn, trong đống phân, ăn phân, chỗ đó đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mắt là một đống phân lớn, phẩn tiểu, nó ăn ngon lành trong đó.
4) Nó khinh miệt các trùng khác, nói rằng: “Ta ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt ta là đống phân lớn”.
5) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào làng hay thị trấn khất thực. Vị ấy tại đây ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát của vị ấy được đầy tràn.
Ví dụ có những vị đang dự trai tăng, khoe khoang ngày mai ngày mốt lại dự trai tăng, cả tháng này đều dự trai tăng.
6) Vị ấy đi đến vườn tịnh xá và giữa chúng Tỷ-kheo và khoe khoang như sau: “Ta ăn uống no đủ, ta lại được mời vào ngày mai, bình bát của ta này tràn đầy. Ta được nhận các vật dụng y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Nhưng các Tỷ-kheo khác công đức ít, ảnh hưởng ít, không nhận được vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh giống như ta”.
Ta được cúng nhiều, ta được mời nhiều, ta có phước nhiều, và chung quanh ta là đống phân, nước tiểu, thật là đau đớn, thật là đắng cay, thật là ác độc, thật là xấu hổ, thật là nhục nhã, thật là bẩn thỉu cho một người tu.
Bỏ cha mẹ để đi tìm những thứ đó ư? Bỏ dòng tộc để tìm những đồng bạc lẻ, đồng bạc cắc của người ta vứt ra ư? Bỏ hết những tình thiêng liêng cao thượng của cha mẹ, để đi tìm những thứ bạc cắc, những thứ người ta nhổ ra đó hay sao? Thật là nhục nhã, thật là xấu hổ, thật là bẩn thỉu, thật là hèn hạ, thật là thối tha, thật là đau đớn cho một chí nguyện cao thượng thuở ban đầu. Đức Phật ví dụ con trùng, con dòi trong đống phân nước tiểu, ăn uống trong đó; nhai nuốt trong đó; ưa thích, đam mê, say đắm, thỏa mãn trong đó.
Thật là nhục nhã, thật là thấp hèn, thật là hèn hạ, thật là hạ liệt, thật là đại bất hiếu đối với cha mẹ, ông bà, thân tộc. Say mê ăn ngủ trong đó, say mê những tiện nghi vật chất trong đó, say mê trong những đồng bạc cắc bạc lẻ trong đó, những thứ người ta đã hỉ, đã nhổ, đã quăng ra, mà lại say mê trong đó, ưa thích trong đó. Phẩn, phân là những thứ người ta đã bài tiết ra sau khi người ta đã ăn, mà mình đam mê trong đó, ưa thích trong đó, say đắm trong đó, ngu si trong đó, thật là tội lỗi. Cho nên học bài này rất là tuyệt vời, bài khó nghe nhưng lại là thức tỉnh. Khó nghe nhưng lại là tiếng thánh chuông. Khó nghe nhưng lại là lợi ích, hạnh phúc, an lạc dài lâu cho chúng ta. Đây là những lời phát ra từ đại bi tâm của Đức Thế Tôn, mà suốt đời người xuất gia chưa được nghe một lần.
Xin thưa đại chúng, Minh Thành sẵn sàng ngồi đây đọc cho các thầy, đọc cho người xuất gia để tất cả nhìn lại chí nguyện cao thượng của mình, không thể nào vì những thứ thấp hèn, hèn hạ, bẩn thỉu đó mà đánh mất đi sứ mệnh hết sức thiêng liêng, cao cả của người tu. Chúng ta phải nhìn chính tự thân mình và những người xung quanh, bao nhiêu cái bẫy, lưỡi câu, bao nhiêu đống phân và chúng ta chết trong đó. Thật là đắng cay, ác độc, thật là bất hạnh, thật là tai họa. Nếu chúng ta không có sự phản tỉnh sâu sắc, tư duy quán chiếu hàng ngày trong mục đích xuất gia thì chúng ta luôn khoe khoan, tự hào trong một đống phân lớn trước mặt: “Trước mặt tôi là đống phân lớn, to, nhiều, còn các ông ít không ai mời”. Phải làm cho mình phát sanh cảm giác nhàm chán, ê chề, não nề. Đức Thế Tôn rất nhiều bài kinh như vậy, mà đây là trong những thánh chúng, những hội chúng, những vị ở gần bên cạnh bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, những sự việc này đã xảy ra gần 3.000 năm trước, như vậy thì bây giờ còn hơn đó rất nhiều. Nếu chúng ta hàng ngày vẫn cứ đọc tụng mà không tác ý, không tư duy quán chiếu, không nhắc nhở mình thì bị dính vào lưỡi câu, lọt vào đống phân.
7) Vị ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, khinh miệt các Tỷ-kheo Chánh hạnh khác. Này các Tỷ-kheo, như vậy sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho kẻ ngu si ấy.
Bị nhà cửa tiền bạc phòng ốc thuốc men ruộng vườn y áo xe cộ xâm chiếm tâm, chi phối và khinh miệt các Tỷ-kheo chánh hạnh khác. Chổ này hết sức nguy hiểm có thể bị đọa địa ngục, có những người được cúng dường, lại nhìn những vị khác sống đời sống thiểu dục tri thức đơn giản lại khinh thường. Các vị đang sống với thánh hạnh, mình không biết mà lại đem những thứ tài vật, đống phân, phẩn tiểu so sánh với bậc tôn giả, tôn kính, tôn đức, những bậc sống đời sống ly tham viễn ly, xuất ly, thật là ngu si. Đức Phật nói: “Khinh miệt các Tỷ-kheo Chánh hạnh khác, như vậy, này các Tỷ-kheo đem lại bất hạnh đau khổ lâu dài cho kẻ ngu si ấy”.
Cho nên mình nhìn bên ngoài thì không đúng, đem tâm phàm nhìn là chết, không căn cứ ở trong ngôi chùa, ở trên vật chất người đó, nhắm mắt là sẽ đọa địa ngục, vô đường súc sanh.
Chúng ta học Tương Ưng Lakkhana, một cô này là đệ nhất phu nhân – hoàng hậu, hoàng phi của một vị vua. Khi còn sanh tiền, ghen với quý phi của vua, bà ấy đổ than đỏ lên thân quý phi, sau khi chết đời sau trở thành ngạ quỷ, bộ xương dính thịt, tro trên hư không, lửa than đổ vào người làm bà ấy quằn quại, đau đớn kêu la thảm thiết trong hư không. Dù đời trước là đệ nhất phu nhân nhưng đời sau vẫn có thể trở thành ngạ quỷ.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Người đàn bà ấy, này các Tỷ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập II, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, Người Đàn Bà Khô Héo Đã Rải Than Đỏ trên Một Người Đàn Bà Khác)
Thành ra nếu nhìn bằng vô minh thì ta sẽ bị lầm lẫn, thấy ở ngoài là hay nhưng khi chết thì chưa biết thành mặt người hay thú, địa ngục hay cô hồn, chỉ cần nhắm mắt thì những hạnh nghiệp, bất thiện pháp, ác pháp và ác nghiệp biểu hiện, trong tích tắc thì xa như trời với vực giữa đại dương. Cho nên đừng khinh thường ai, mà đừng vội ngưỡng mộ ai, hãy lo tu tập Chánh Kiến, hãy lo cẩn thận giới hạnh, giới đức và giới luật của mình, bằng không thì khó lường hậu quả. Thấy người ta được mọi người quỳ lạy danh tiếng lững lẫy, nhưng khi chết có thể rơi vào địa ngục, chứ không phải có chức cao là giỏi. Ví dụ có vị hôm trước thì chức cao nhưng hôm sau thì đã vô tù, ngay khi còn sống tích tắc thì đã vô tù, không thể tưởng tượng được, quả dị thục của nghiệp là một trong bốn thứ bất khả tương nghì. Người nào cố gắng suy tưởng tưởng tượng thì sẽ điên loạn và thậm chí đến chết vì không thể hiểu được quả dị thục của nghiệp. Cho nên những ai đang ngồi đây thì quả dị thục đối với nghiệp của mỗi người không thể tưởng tượng được. Có thể bất thình lình mình bị điên khùng, ngày mai bị xe đụng, tuần sau bị nhiễm covid, thành ra quả dị thục của nghiệp không thể tưởng tượng được. Ví dụ người này mới thấy sống khỏe mạnh mà bây giờ bán thân bất toại, ung thư giai đoạn cuối hay bị nhiễm, tai nạn… Đó là nghiệp quả dị thục bất khả tương nghì, cho nên phải cẩn thận với nghiệp, hết sức thận trọng với nghiệp quả, đừng xem thường nghiệp quả.
8) Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
9) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu học
VI. Bài kinh Sét Đánh
1) Tại Savathi…
2) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3) Như thế nào này các Tỷ-kheo, sét đánh được ví như người hữu học với tâm nhiệt thành, khi bị các lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến.
4) Sét đánh chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến.
Người ta đưa bao thơ dày với nhiều tiền, cầm vào có thể bị sét đánh, cẩn thận, mình có làm đúng cho Tam bảo, hay sử dụng đồng tiền theo dục, ái, tham riêng của mình, rất khủng khiếp, phải khinh sợ đồng tiền đó. Nếu không sử dụng đúng trong Tam bảo, thì đồng tiền đó còn hơn là sét đánh, vào địa ngục, bị sét đánh hoài và phải chịu đựng. Cho nên đồng tiền đó là cúng dường Tam bảo. Nhắc nhở đại chúng, đồng tiền là cúng cho thầy, nhưng thầy là đại diện cho Tam bảo, nếu mình để đầu có tóc, người ta cúng thì mới gọi là cúng cho mình, còn cái đầu người tu là hình thức Tam bảo, người ta nói cúng cho thầy là cúng cho Tam bảo, đồng tiền đó phải xài cho Tam bảo. Nếu đồng tiền đó không xài vào mục đích của Phật, Pháp, Tăng mà xài cho mục đích cá nhân riêng, cho dục, tham, ái, ăn ngon trong nhà hàng hay mua sắm riêng thì tất cả đều bị đọa hết. Nếu nặng là địa ngục, nếu nhẹ là trâu, bò, chó, ngựa, để mình cày trả nợ.
Minh Thành thưa với đại chúng, có một chuyện gần nhất để các thầy nghe, không nói gì xa xôi, thí dụ các thầy ở dưới quê lên thuê nhà trọ thì một tháng tốn bao nhiêu tiền, rồi tiền xăng, tiền xe, điện, nước, ăn uống, học mỗi ngày – cộng hết bốn năm lại thì rất nhiều tiền. Ở ngoài đời người ta phải đi lo những thứ đó, còn mình nếu nói tu thì không cần lo gì nữa hết là chết. Tu phải lo gấp 1.000 lần người ở bên ngoài, nói rằng tu thì khỏe không cần lo là sai. Tu của mình là diệt tham, sân, si, thành tựu của giới, định, huệ – chỉ có như vậy thì mới đền đáp được nợ, còn nếu không có giới, không có thiền định, không có trí tuệ thì hoàn toàn không thể đáp đền. Nếu làm nghề thầy cúng thì khác, nghề thầy cúng thì đỡ hơn thầy tu, do người ta biết ông đó làm nghề, còn thầy tu thì dáng, tướng, hình, giới không đúng thì là kẻ lừa đảo, quả cuả nó rất khủng khiếp. Minh Thành không dám nói nhiều, chỉ mới nói nhẹ một phần, nói ít các thầy hiểu nhiều. Đó chỉ mới nói phần sinh hoạt phí, còn phần người ta cung kính, quỳ lạy dâng lên dù mình chỉ đáng tuổi cháu.
Sét đánh chỉ cho lợi đắc cung kính, danh vọng chạm đến.
5) Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
6) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu học
VIII. Bài kinh Trúng độc
1) Tại Savathi
2) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
3) Như thế nào, này các Tỷ-kheo, bị mũi tên độc bắn trúng, được ví như người hữu học với tâm trí nhiệt thành, khi bị các lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến. Giống như bị mũi tên độc bắn trúng.
4) Mũi tên này các Tỷ-kheo chỉ cho các lợi đắc, cung kính và danh vọng.
5) Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
6) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu học
“Người hữu học với tâm trí nhiệt thành”, tức là người này chưa chứng A-la-hán gọi là hữu học – tâm trí nhiệt thành trong tu học, mà người này bị lợi đắc, cung kính, cúng dường chạm tới thì giống như bắn trúng một mũi tên tẩm độc. “Thật là đắng cay ác độc, thật là đau khổ hệ lụy, này các Tỷ-kheo các Ông cần phải học tập như vậy.”
VIII. Bài kinh Con giả can
1) Tại Savathi
2) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3) Này các Tỷ-kheo các ông có nghe chăng, trong ban đêm, khi trời gần sáng có con giả cang tru lớn tiếng?
- Thưa có, Bạch Thế Tôn.
4) Đó là con giả can già, này các Tỷ-kheo, nó bị mắc bệnh ghẻ lở, không thoải mái trong chỗ hoang vắng, không thoải mái dưới những gốc cây, không thoải mái tại những chỗ lộ thiên ngoài đất trốn; chỗ nào nó đi, chỗ nào nó đứng, chỗ nào nó ngồi, chỗ nào nó nằm, tại chỗ ấy, nó cảm thấy bất hạnh và tai họa.
5) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, không thoải mái ở chổ hoang vắng, không thoải mái dưới những gốc cây, không thoải mái dưới dất trống lộ thiên; chỗ nào vị ấy đi, chỗ nào vị ấy đứng, chỗ nào vị ấy ngồi, vị ấy cảm thấy bất an và tai họa.
Ở chỗ hoang vắng không thoải mái, vào tịnh thất nhập không được, về quê buồn quá không chịu được. Tâm vị ấy bị lợi dưỡng xâm chiếm, nói rộng là dục ái tham, sân, si xâm chiếm nên chỗ vị ấy đi, đứng, ngồi, nằm tại đó vị ấy cảm thấy bất hạn, tai họa, thiếu thốn. Vị ấy đòi hỏi, khát khao, làm nô lệ cho tham, ái, dục cho nên phải đi tìm kiếm để đáp ứng, làm thỏa mãn những đòi hỏi, khát khao, phải cung phụng cho dục, cho ái, cho tham. Vị này một mình không được, độc cư thiền định không được, ở chỗ xa vắng không được, ở chỗ a lan nhã không được, ở chỗ núi rừng không được vì trong tâm là sự thúc giục, thèm khát, khát ái quậy bên trong tâm. Ở chỗ nào đi, đứng, nằm, ngồi, tại chỗ ấy vị ấy dễ cảm thấy bất hạnh và tai họa, trong tâm rất bức xúc. Hữu lậu làm cho bức xúc, làm cho khó chịu, làm cho buồn phiền, làm cho chán nản, không thể tu tập, không thể nhập thất, không thể độc cư thiền định, không thể ở yên một mình, vị này đi đến đâu cũng cảm thấy bất hạnh và tai họa.
6) Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
7) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu học
IX. Bài kinh Cuồng phong
1) Tại Savathi
2) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3) Trên thượng tầng hư không, này các Tỷ-kheo, gió thổi mạnh gọi là cuồng phong. Con chim bay đến chỗ ấy, bị cuồng phong thổi bạt đi, các chân đi một ngả, các cánh đi một ngả, đầu bay một ngả và thân rơi xuống một chỗ khác.
Con chim này bay trúng cuồng phong lốc xoáy gió dữ, bị thổi tung hết đầu chân tay mình.
4) Cũng vậy này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm. Buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào làng khất thực,thân không chế ngự, tâm không chế ngự, niệm không an trú, các căn không chế ngự.
Lời nói không chế ngự, tâm không chế ngự, niệm không an trú tức là không an trú trong Tứ Niệm Xứ, không có quán tâm, quán thọ, quán thân, quán pháp, các căn không chế ngự.
5) Vị ấy thấy phụ nữ, mặc y phục không đứng đắn, không khéo che đậy, bị tham dục công phá thân tâm vị ấy. Do tham dục công phá tâm vị ấy, vị ấy từ bỏ học tập, trở lại hoàn tục. Rồi có người lấy y phục, có người lấy bình bát, có người lấy tọa cụ, có người lấy ống đựng kim của vị ấy, chẳng khác gì con chim bị cuồng phong thổi bạt.
Minh Thành xin thưa với đại chúng, ở những chỗ có những khóa tu nhiều, phải cẩn thận tiếp xúc khi tiếp khách và tiếp xúc với Phật tử. Khi giao tiếp, khi ứng xử, khi tiếp duyên xúc cảnh, khi làm việc: thân không chế ngự, lời nói không chế ngự, tâm không chế ngự, chánh niệm Tứ Niệm Xứ không an trú; các căn buông lung phóng dật, không có hộ trì con mắt, không có hộ trì lỗ tai, không hộ trì lỗ mũi, không hộ trì lưỡi, không hộ trì thân, không hộ trì ý; khi tiếp xúc với hình bóng, nghĩ tưởng bên trong dù cho đang ngồi một mình hoặc thả lỏng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý để cho các dục, tham, ái, cảm giác sân hận, bực bội, khó chịu dẫn dắt, xâm chiếm, áp đảo; để cho một bản ngã, một cái tôi, một cái ta trùm phủ, bao phủ thì mình sẽ chết không toàn thây.
Minh Thành xin thưa quý thầy, chỉ cần ánh mắt là đã có thể giết người. Các thầy có nghe bài Ánh mắt người xưa không? Một ánh mắt mà mười năm chưa quên, tại vì không hộ trì nhãn căn, không có phòng hộ, không bảo vệ, không chế ngự để cho các căn buông lung phóng dật. Khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, khi duyên với pháp, khi ngồi một chỗ mà những hình bóng nghĩ tưởng cứ hiện lên trong tâm, nếu mình không có nội tâm tỉnh giác thì những nghe thấy, tiếp xúc đó sẽ xâm chiếm áp đảo, khi ngồi thiền thì hình bóng hiện ra. Không chỉ giống như Ông thầy Tỷ-kheo đi vào làng khất thực trong bài kinh, mà cả ngay khi ở trong chùa cũng có thể bị tấn công, thậm chí chùa còn phải để bảng “mặc quần áo chỉnh tề khi vào chùa”.
Nếu mình không phòng hộ, không bảo vệ thì sự tu của mình khó vô vàn, không như suy nghĩ của một tâm phàm phu, buông lung, biếng nhác. Sự tu đúng với Thánh đạo của Đức Phật bao gồm nhiều sự bảo bọc, hộ trì, bảo vệ, quán chiếu, hành trì, dùng Bát Chánh Đạo diệt Bát Tà Đạo. Cho nên sự tu tập của mình còn rất xa so với khi Đức Thế Tôn còn tại thế. Thậm chí có khi trái ngược mà mình không biết, với cái nhìn cạn cợt thiển cận, với cái thấy, sự hiểu biết hạn hẹp, hài lòng chấp nhận những thiện pháp nhỏ nhặt, nhỏ bé, lợi ích trước mắt thì không thể thấy Thánh đạo dài xa. Nếu không bằng tâm chân thành, cung kính, tha thiết, khát khao, học hỏi thì không thể hiểu được thật sự các bậc Thánh Tăng, các Tỷ-kheo ngày xưa tu tập như thế nào. Tại vì mình quá dễ dàng đơn giản, hết sức hạn hẹp chấp nhận những thứ cho là đúng trước mắt, nhưng thật sự không phải vậy. Chúng ta thấy trò chơi Tam sao thất bổn trên truyền hình, chỉ cần người này nói qua người kia thì đã sai. Cũng vậy, giáo pháp của Phật đã hoằng truyền 3.000 ngàn năm nay, nếu mình không có tâm tha thiết, chân thành, cung kính, không có lòng khắc khoải, nhiệt thành, nóng bỏng, cháy rực, không để cả sinh mạng của mình để đánh đổi thì mình không bao giờ thành tựu Chánh Tri Kiến thật sự. Sự tu học mà Đức Phật dạy hết sức sâu sắc, cẩn trọng, hết sức bài bản, tuần tự, chặn đứng hết tất cả dục, tham, ái, vô minh, tham, sân, si và bản ngã – chúng bị 37 Phẩm Trợ Đạo tấn công triệt để, toàn diện.
Đã ba mươi năm Minh Thành xuất gia, phát hiện ra sự thật về giáo pháp thì Minh Thành rất sốc. Bất cứ lúc nào tâm không an trú trong 37 Phẩm Trợ Đạo, Tứ Niệm Xứ, Tứ Như Ý Túc, Tứ Chánh Cần, Ngũ Căn, Ngũ Lực cà Bát Chánh Đạo Phần thì lúc đó mình buông lung, phóng dật. Cho nên lúc nào pháp cũng vận hành trong thân tâm, ta phải an trú trong các pháp, nếu mình không an trú trong các pháp thì tâm buông lung phóng dật, ở trong vô minh, tham ái, chỉ cần buông pháp thì sẽ trở về vị trí vô minh, khát ái, chấp thủ ngũ uẩn. Khi trú trong pháp thì mình mới rời khỏi, còn buông pháp thì sẽ trở về vị trí phàm phu, toàn là tham ái, vô minh, kiết sử, bản ngã, sân si.
Mỗi ngày chúng ta trú trong pháp được bao nhiêu? Nhiều khi ngay cả trong giờ đáng lẽ phải trú trong pháp mà còn không trú thì huống chi là giờ không trú trong pháp.
6) Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
7) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu học
X. Kinh với bài kệ
1) Tại Savathi.
2) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta thấy có người bị sự cung kính chi phối, tâm bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào khổ xứ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta thấy có một người bị sự không cung kính chi phối, tâm bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào khổ xứ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
5) Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta thấy có người bị cả hai cung kính và không cung kính chi phối, tâm bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào khổ xứ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Điều này tức là người được cung kính, lợi dưỡng, cúng dường cũn bị sa đọa và người không được cung kính vẫn bị đọa địa ngục là vì không được cung kính thì sanh tâm sân hận, ganh tỵ, ghét người được cung kính cúng dường. Thật là đau khổ, đắng cay, ác độc, bất hạnh, sẽ rơi vào địa ngục hết. Cho nên ta thấy người không được cung kính thì tâm bị chi phối, bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung sẽ rơi vào khổ xứ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Không được cung kính nên bực bội, không được cúng dường thì ganh tỵ, không được đảnh lễ thì khó chịu. Thấy Phật tử vào cúng chỉ có một người, còn người kế bên không cúng thì sân hận, bực bội.
6) Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
7) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập
“Ai khi được cung kính,
Khi không được cung kính,
Trong cả hai trường hợp,
Tâm định, không lay chuyển,
Sống hạnh không phóng dật,
Tâm thường nhập thiền tư,
Với tâm tưởng tế nhị,
Chánh quán các sở kiến,
Không còn rơi chấp thủ,
Không còn lạc chấp thủ,
Được gọi bậc chơn nhơn”.
Vì vậy, chúng ta phải sống hạnh không buông lung phóng dật, thường hộ trì căn, thường thu nhiếp, thường giữ gìn, thường cẩn thận. “Tâm thường nhập thiền tư” tức là tâm luôn luôn đi vào chỗ tư duy quán sát, thiền định xem trong tâm có dục, tham, sân, si, đam mê, dính mắc, bản ngã, hơn thua, đố kỵ, có rác bẩn, cấu uế, lậu hoặc không? “Tâm thường nhập thiền tư – Với tâm tưởng tế nhị” là tâm tưởng nhỏ nhiệm, vi tế, sâu sắc trong trí tuệ chánh quán. “Chánh quán các sở kiến” tức là nhìn một cách chân chánh bằng tất cả trí huệ với những thứ mình thấy. Từ hoàn cảnh, từ thân thể, từ nội tâm đều cần có sự chánh quán, quán chiếu chơn chánh theo tinh thần của Bát Chánh Đạo. “Không còn rơi chấp thủ” là không bám chặt trong sắc, cảm giác, nghĩ tưởng, hành, nhận thức rõ biết của mình. Như vậy mới “được gọi bậc chơn nhơn”, mới là bậc tu hành chân chánh, mới là con người chân tu, mới là thành tựu chân pháp, mới gọi là người chân thật đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, mới là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Chương này tuyệt đối quan trọng với người xuất gia, đây là cẩm nang, là bảo bối, là lá bùa hộ mệnh, là những điều tâm niệm để chúng ta tu tập mỗi khi nhận những sự cung kính, lợi dưỡng, cúng dường của mọi người.
Đầu tiên Đức Phật nói đau khổ và hệ lụy là những sự lợi dưỡng, cung kính.
Thứ hai Đức Phật dùng hình ảnh lưỡi câu, dính vào những thứ đó giống như con cá nhìn thấy miếng mồi trên lưỡi câu mà đớp, sẽ bị tai họa bất hạnh.
Tiếp theo là con rùa thân mến, nó không nghe con rùa kia nói, nó hiếu kỳ muốn đi đến chỗ lạ, cuối cùng trở về nó mang theo sợi dây, mà sợi dây đó cha của nó, ông của nó cũng bị mắc vào. Sợi dây đó chính là lợi đắc, cúng dường, cung kính, danh vọng. Chúng ta có thể nhìn thấy ngay tự thân chúng ta, trước mắt chúng ta, xung quanh chúng ta thấy rất nhiều.
Hình ảnh không bao giờ quên được đó là đống phân, mỗi khi tâm mình tham mê sự cúng dường, tôn trọng, đảnh lễ, mình phải nghĩ đây là đống phân, phẩn tiểu, đừng có ham, nó nhơ nhướp lắm, chẳng có gì đáng để ta đây vênh váo.
Đây là bài ấn tượng nhất, không được quên. Phải nhớ đến lưỡi câu; nhớ đống phân; nhớ tiếng sấm sét; nhớ con chim bị cuồng phong thổi bay nát hết; nhớ sét đánh; nhớ bị trúng độc; nhớ con chó rừng, con giả cang bị lở loét, bị bệnh; nhớ con chó ghẻ, con chó già đi đến đâu bị cắn, bị ngứa, bị côn trùng cắn, nó không ở được chỗ hoang vắng. Cũng vậy người bị tâm xâm chiếm vào dục, vào lợi dưỡng thì ở một mình không tu được, bị đau khổ.
Cuối cùng Đức Phật nhấn mạnh dù cho được cung kính hay không được cung kính thì cũng phải cẩn thận. Nếu không được cung kính thì tham dục, dính mắc, tham, sân, si đều bị vướng phải; còn nếu được cung kính thì tham, sân, lúc không có thì si.
Cho nên sự tu học của mình là dùng giới, định, huệ để diệt tham, sân, si; thành tựu cứu cánh phạm hạnh; là bậc đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bài kinh Khổ lụy PAGEREF _Toc113042503 \h 1
II. Bài kinh Lưỡi câu PAGEREF _Toc113042504 \h 3
III. Bài kinh Con rùa PAGEREF _Toc113042505 \h 4
IV. Bài kinh Lông dài PAGEREF _Toc113042506 \h 6
V. Bài kinh Trùng Phẩn PAGEREF _Toc113042507 \h 7
VI. Bài kinh Sét Đánh PAGEREF _Toc113042508 \h 10
VIII. Bài kinh Trúng độc PAGEREF _Toc113042509 \h 12
VIII. Bài kinh Con giả can PAGEREF _Toc113042510 \h 12
IX. Bài kinh Cuồng phong PAGEREF _Toc113042511 \h 13
X. Kinh với bài kệ PAGEREF _Toc113042512 \h 16
Minh Thành sẽ chia sẻ về Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, cho nên hôm nay chúng ta tìm hiểu về Chương IV. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2. Khi tìm hiểu chương Lợi Đắc Cung Kính, chúng ta cần chịu khó nghe những lời của Đức Phật và sẽ bất ngờ vì những thứ mình ưa thích đều bị quở trách, khiển trách, nhắc nhở.
I. Bài kinh Khổ lụy
1) Lúc đó Đức Thế Tôn ở Savathi, Xá Vệ nơi ông Cấp Cô Độc cúng dường.
2) Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
3) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
4) Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Đối với lợi đắc, cung kính, danh vọng đến và lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta sẽ từ bỏ chúng. Đối với lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú.
5) Như vậy này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Chương này rất dài, cho nên chúng ta chỉ trích đọc những đoạn trọng yếu mà Đức Thế Tôn lặp đi lặp lại nhiều lần. Đừng ngại phần lặp đi lặp lại, đó là để nhắc mình đi sâu vào cảm thọ, nếu có tâm chân thành cung kính, tha thiết thì sẽ thấy những từ lặp đi lặp lại có giá trị hết sức quan trọng. Còn người không có tâm kính pháp, không tôn kính Đức Thế Tôn, nên khi nghe lặp đi lặp lại thì chán, đó là tâm bất kính. Ngày xưa Minh Thành cũng hay suy nghĩ vậy, lặp lại nhiều lần làm mình không muốn nghe, đó chính là tâm bất kính. Nhưng chính vì sự lặp đi lặp lại thì Pháp Tạng mới còn, lặp lại nhiều thì các thầy mới thuộc lòng, mới được truyền bá lâu dài do ngày xưa là khẩu truyền.
Chúng ta đi vào phần chính “Khổ Lụy”: “Thật là đau khổ, thật là hệ lụy này các Tỷ-kheo, đó là các lợi đắc”. Lợi đắc là những thứ mình đạt được, đó là đau khổ cho người tu, hoàn toàn khác với cách nhìn của mình, đây là Thánh Tri Kiến – trí tuệ của bậc Thánh. Người ta cúng cho thì mình mừng, mình vui nhưng Đức Phật nói: “Lợi đắc là khổ lụy, là đau khổ, là sự hệ lụy, ràng buộc cho các Ông.” Những lợi dưỡng, những thứ mình có được đối với vật dụng cúng dường: đất đai, tiền bạc, ruộng vườn, xe cộ, những cơ sở vật chất,… Đức Thế Tôn cho đó đều là đau khổ, hệ lụy. Đây là trí tuệ hết sức sâu xa mà người tu phải quán chiếu, nếu không mình sẽ không vượt qua. Đau khổ, hệ lụy còn đến từ cung kính, danh vọng – được sự cung kính, có được tiếng tăm đó cũng là đau khổ, là sự ràng buộc.
“Thật là đắng cay, thật là ác độc, thật là chướng ngại pháp” – những thứ được cúng dường, được tôn kính, được lợi ích mang về là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp “để chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.” Tại vì được lợi dưỡng thì mình sẽ dính mắc tham thích, bị những thứ đó ràng buộc. Ví dụ hết sức đơn giản, chiếc xe mắc tiền hoặc điện thoại có giá trị là đắng cay, ác độc và chướng ngại pháp, ràng buộc thân tâm, là sự đau khổ. Có người đang ngồi học ở đây nhưng trong đầu suy nghĩ xem có ai dẫn xe của mình đi đâu đó, làm xe bị cọ quẹt trầy không; hoặc không có đi học cũng đi ra đi vào nhìn chiếc xe xem nó ra sao – đó là đắng cay, ác độc là hệ lụy, ràng buộc, đau khổ, chướng ngại pháp, làm cho tâm mình bất an. Cho nên những thứ lợi dụng, cung kính, danh vọng là chướng ngại pháp chứng để đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Đây là điều hết sức sâu sắc, chương này rất tuyệt diệu, do đó phải học thuộc lòng. Lá bùa hộ mạng của người tu là đây, bí quyết thành tựu của người tu là đây, nếu không nhìn thấy, không có trí tuệ về lợi dưỡng cung kính, cúng dường thì mình sẽ chết. Chỉ cần có người cúng cho 10 mẫu đất là mình bị kẹt vào đó, do phải bỏ thời gian công sức vào để lo xây dựng, lo kiến trúc, như vậy thì cuộc đời tu của mình chôn vào đó, mà khi chôn thật thì có 4-5 mét vuông.
“Này các Tỷ-kheo, thật là đau khổ thật là hệ lụy, là các lợi đắc cung kính danh vọng, thật là đắng cay, là ác độc, thật là chướng ngại pháp, để chứng đạt được vô thượng pháp an ổn khỏi các khổ ách”. Cho nên được lợi dưỡng, được cúng dường, được cung kính, được danh vọng thì phải hết sức thận trọng. Nếu không có chánh niệm tỉnh giác, không có hộ trì căn, không có thành tựu trí tuệ thì thứ đó là đắng cay, là ác độc, chính nó sẽ chặn con đường tiến lên phía trước, về phía Thánh đạo của mình.
“Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: đối với lợi đắc cung kính danh vọng đã đến, ta sẽ từ bỏ chúng”. Cho nên thật sự phải hết sức thận trọng, vì chỉ cần một ngôi chùa, một tịnh thất, một miếng đất, mà đời tu sẽ chấm hết. Ngày xưa Minh Thành chứng kiến, có những vị thị giả cho các đại trưởng lão, các bậc tôn túc, tôn chủ, có những đại thí chủ đến cúng dường, rồi bỗng sau này, người thị giả đó về làm lính cho những đại thí chủ đó luôn. Minh Thành chứng kiến và thấy thật là đau lòng, đau xót cho huynh đệ cùng tu với mình. Thật là đắng cay, thật là ác độc!
“Cho nên danh vọng, cung kính, lợi đắc mà đã đến thì chúng ta sẽ tự bỏ chúng, còn chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú”. Đừng để cho danh vọng, lợi dưỡng, cung kính xâm chiếm tâm. Tức là khi thấy người khác được một điều gì đó, mình cũng mong muốn được như vậy, tức là ta đã bị xâm chiếm an trú tâm. Cần phải tác ý như lời Đức Thế Tôn đã nói: “Lợi đắc, cung kính hại mình, hủy hoại đời tu của mình, ngăn chặn Thánh đạo. Lợi đắc, cúng dường là ngăn chặn trí tuệ, làm cho mình thoái đọa, lùi lại và rơi xuống.” Phải tác ý thật nhiều trong các buổi thiền tập, trong những lúc ngồi một mình.
II. Bài kinh Lưỡi câu
1) Tại Savathi,
2) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp, chứng đạt vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
3) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người câu cá quăng một lưỡi câu ngắn có mồi thịt vào trong hồ nước sâu, một con cá có mắt thấy mồi thịt nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con cá đã nuốt lưỡi câu ấy bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị người câu cá muốn làm gì thì làm.
Thật là đau khổ cho đời tu, một trí nguyện cao thượng rộng lớn, chỉ cần cúng dường thì bị dính lưỡi câu. Phải nhớ đem đến cung kính cúng dường với tâm chân thành cung kính vì pháp thì đã phải cẩn thận, chứ đừng vì ý khác là mình phải tuyệt đối tránh né để đoạn trừ. Minh Thành thấy có những trường hợp nhiều người tu đi ra ở nhà cư sĩ, ở đây Minh Thành không muốn nói việc đó, do các thầy hiểu nhiều hơn Minh Thành, Minh Thành nói ít các thầy hiểu nhiều.
Mắc lưỡi câu, dính lưỡi câu, nuốt lưỡi câu, Tỷ-kheo ấy rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa và bị người cúng dường sai sử, sai khiến, sai bảo, phải làm như vậy, và cuộc đời của mình rơi vào, dính vào, mắc vào, nuốt vào lưỡi câu.
4) Này các Tỷ-kheo, người câu cá ấy, chỉ cho ma, lưỡi câu ấy này các Tỷ-kheo chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng.
Ma là năm dục trưởng dưỡng, những sắc, khả lạc, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn đó là ma. Những âm thanh khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, đó là ma. Những mùi hương, vị, những sự xúc chạm êm ái, khả lạc, khả ái, khả ý liên hệ đến dục hấp dẫn, đáng vui, đáng mừng, vừa lòng, thích ý liên hệ đến dục hấp dẫn thu hút mình đó là ma phá hoại con đường Thánh đạo.
5) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào, thọ hưởng ái luyến, lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, Tỷ-kheo ấy được gọi là đã nuốt lưỡi câu của ác ma, bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.
Một cái điện thoại đẹp, một chiếc xe mới đắt tiền, những tiện nghi vật chất, những sự tôn kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng mà mình không tác ý để từ bỏ, không tác ý để ly tham, không biết quán chiếu sâu sắc thì chính là mình đã nuốt lưỡi câu. Thật là bất hạnh, thật là tai họa, đó là chướng ngại pháp làm cho mình không đạt được nơi vô thượng an ổn, khỏi ác khổ ách, mình sẽ vướng trong sầu, bi, khổ, ưu, não; vướng trong dục, trong ái, trong tham, trong danh lợi.
III. Bài kinh Con rùa
Tại Savathi
2) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngài pháp để chứng đắc vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
3) Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trong hồ nước có một gia đình con rùa sống trong hồ nước đã lâu ngày.
4) Rồi này các Tỷ-kheo, có một con này nói với con rùa khác: “Này rùa thân mến, chớ có đi đến chỗ ấy”.
Nhưng con rùa này không nghe, nó nói: “Có gì đâu”
5) Con rùa này đi đến chỗ ấy và một thợ săn phóng trúng vào nó một cây lao có dây và bắt nó, con rùa bị bắt, bị dính bẫy, bị mắc vào cây lao, mà nó không biết.
6) Rồi nó đi đến con rùa kia.
7) Này các Tỷ-kheo, con rùa kia, thấy con rùa này từ xa đi đến liền nói:
- “Này rùa thân mến, có phải Bạn đi đến chỗ kia rồi không?”
- “Này rùa thân mến, tôi đi đến chỗ kia rồi”.
8) “Này bạn rùa thân mến, bạn có bị thương hay bị bắn trúng ?”.
“Này rùa thân mến, tôi không bị thương, tôi không bị bắn trúng. Nhưng có sợi dây này dính trên lưng tôi”.
9) “Này rùa thân mến, Bạn thật bị thương rồi, Bạn thật bị bắn trúng rồi. Này rùa thân mến, chính do vật dụng của người thợ săn này, sợi dây này mà cha Bạn và ông Bạn rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa. Nay Bạn hãy đi đi, rùa thân mến, nay Bạn không còn thuộc về chúng ta. Cha của Bạn ông của Bạn bây giờ tới bạn đã mắc trúng sợi dây này, vũ khí này, mũi lao ác độc này.
10) Này các Tỷ-kheo, người thợ săn chỉ cho ác ma, cây lao chỉ cho lợi đắc cung kính danh vọng, sợi dây đó này các Tỷ-kheo là chỉ cho hỷ tham.
Cũng vậy, sư phụ dặn dò cẩn thận đừng có tiếp xúc nhiều, coi chừng trúng tên trúng lao, nhưng người học trò cho rằng mình tu hành tốt, cuối cùng mắc cạn trúng lao. Sư phụ nói đừng xuống núi, ở trên núi tu thêm 10 năm nữa, nhưng người đệ tử vẫn xuống núi và trúng chưởng: ngũ uẩn chưởng, ác ma chưởng, lợi đắc cung kính danh vọng chưởng, thật là đắng cay, thật là ác độc thật là chướng ngại pháp.
Câu này thật là thấm thía vô cùng, con rùa bị mắc rồi, bị dính rồi, tai nạn rồi mà nó không biết, mà nó nói là không có gì đâu, chỉ mắc sợi dây này thôi. Tại vì nó mê, nó vô minh, tham ái, không có trí tuệ nên không biết.
“Này bạn rùa thân mến, chính vũ khí này, chính sợi dây này, ông bạn cha bạn đã bị tai họa, đã bị hoạn nạn, đã bị khổ ách”. Chính sợi dây này mà sư ông của con bị, chính sợi dây này mà sư phụ con bị, chính sợi dây này con cũng bị theo luôn đó, phải cẩn thận đối với sợi dây này.
“Chính do vật dụng của người thợ săn này mà cha bạn, ông bạn rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa, bạn hãy đi đi rùa thân mến ơi, nay bạn không thuộc về chúng ta nữa”. Nay bạn đã trở thành thây chết trong Phật pháp, một khi vướng vào lợi dưỡng, danh vọng, lợi đắc, dục, tham, ái, thì không còn ý niệm tăng thượng giới học, không còn ý niệm tăng thượng tâm học trong thiền định, không còn ý niệm sắc bén để tăng thượng tuệ học nữa, bạn không thuộc về chúng ta, bạn không dự phần ở trong Tam bảo nữa mà bị ràng buộc vào sợi dây của hỷ và tham. Hỷ là vui mừng, thích thú, khoan khoái muốn thêm nữa. Tức là một người chân chánh tu hành bị dính mắc vào thì sầu, bi, khổ, ưu, não, lo lắng, nhục nhã, xấu hổ, tàm quý, nhưng thay vào đó, người này lại không có tàm quý, không có xấu hổ, không có nhục nhã, mà lại ưa thích, khoan khoái, muốn thêm nữa. Đó là bạn không còn thuộc về chúng ta, bạn là tử thi trong Phật giáo, không có ước muốn tăng thượng giới hạnh, thiền định trí tuệ, sống như một thây ma, vất vơ vất vưởng trong chùa, không nỗ lực để lớn mạnh trong pháp và luật, không có ước ao, không có khát vọng, không muốn tăng trưởng pháp, phát triển giới đức, giới hạnh, thiền định, trí tuệ, mà chỉ chạy theo tham lam, tham ái, tham dục, những lợi dưỡng, danh vọng. Thật là đắng cay, ác độc, cô phụ, đại bất hiếu với cha mẹ, thân tộc, thật là nhục nhã với ông bà tổ tiên, lừa gạt cha mẹ mình, lừa gạt đàn na tín thí, lừa gạt tất cả đồng phạm hạnh. Thật là đắng cay, thật là ác độc, thật là khổ lụy!
11) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với lợi đắc cung kính, danh vọng, hưởng thụ và ái luyến. Này các Tỷ-kheo được gọi là Tỷ-kheo bị lao đâm phải, đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.
12) Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
13) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu học.
IV. Bài kinh Lông dài
1) Tại Savathi
2) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
3) Ví như, này các Tỷ-kheo, một con dê cái lông dài, đi vào khóm cây gai góc; chỗ này, chỗ kia, nó bị dính vào; chỗ này chỗ kia nó mắc vướng vào; chỗ này chỗ kia nó bị trói buộc vào; chỗ này, chỗ kia, nó bị rơi vào bất hạnh, tai họa.
4) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát vào làng hay thị trấn để khất thực. Chỗ này, chỗ kia, vị ấy bị dính vào; chỗ này, chỗ kia, vị ấy bị vướng vào; chỗ kia, chỗ kia, vị ấy bị trói cột vào; chỗ này, chỗ kia vị ấy rơi vào bất hạnh, tai họa.
Xin thưa với đại chúng đây là những bài thiền quán, khơi lại chí nguyện cao thượng của người xuất gia, cần phải đọc tụng mỗi ngày, quán chiếu và tư duy. Bài kinh này và tới bài kinh “Trùng Phẩn”, đọc tới đâu thấm thía, nhức nhối, đau đớn tới đó, có một cảm thọ cảm xúc dạt dào rúng động, chấn động thân tâm. Đây chính là lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, nếu mình không nghe, thì nghe cái gì.
5) Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
6) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu học
V. Bài kinh Trùng Phẩn
1) Tại Savathi
2) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3) Ví như, một con trùng phẩn, trong đống phân, ăn phân, chỗ đó đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mắt là một đống phân lớn, phẩn tiểu, nó ăn ngon lành trong đó.
4) Nó khinh miệt các trùng khác, nói rằng: “Ta ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt ta là đống phân lớn”.
5) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào làng hay thị trấn khất thực. Vị ấy tại đây ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát của vị ấy được đầy tràn.
Ví dụ có những vị đang dự trai tăng, khoe khoang ngày mai ngày mốt lại dự trai tăng, cả tháng này đều dự trai tăng.
6) Vị ấy đi đến vườn tịnh xá và giữa chúng Tỷ-kheo và khoe khoang như sau: “Ta ăn uống no đủ, ta lại được mời vào ngày mai, bình bát của ta này tràn đầy. Ta được nhận các vật dụng y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Nhưng các Tỷ-kheo khác công đức ít, ảnh hưởng ít, không nhận được vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh giống như ta”.
Ta được cúng nhiều, ta được mời nhiều, ta có phước nhiều, và chung quanh ta là đống phân, nước tiểu, thật là đau đớn, thật là đắng cay, thật là ác độc, thật là xấu hổ, thật là nhục nhã, thật là bẩn thỉu cho một người tu.
Bỏ cha mẹ để đi tìm những thứ đó ư? Bỏ dòng tộc để tìm những đồng bạc lẻ, đồng bạc cắc của người ta vứt ra ư? Bỏ hết những tình thiêng liêng cao thượng của cha mẹ, để đi tìm những thứ bạc cắc, những thứ người ta nhổ ra đó hay sao? Thật là nhục nhã, thật là xấu hổ, thật là bẩn thỉu, thật là hèn hạ, thật là thối tha, thật là đau đớn cho một chí nguyện cao thượng thuở ban đầu. Đức Phật ví dụ con trùng, con dòi trong đống phân nước tiểu, ăn uống trong đó; nhai nuốt trong đó; ưa thích, đam mê, say đắm, thỏa mãn trong đó.
Thật là nhục nhã, thật là thấp hèn, thật là hèn hạ, thật là hạ liệt, thật là đại bất hiếu đối với cha mẹ, ông bà, thân tộc. Say mê ăn ngủ trong đó, say mê những tiện nghi vật chất trong đó, say mê trong những đồng bạc cắc bạc lẻ trong đó, những thứ người ta đã hỉ, đã nhổ, đã quăng ra, mà lại say mê trong đó, ưa thích trong đó. Phẩn, phân là những thứ người ta đã bài tiết ra sau khi người ta đã ăn, mà mình đam mê trong đó, ưa thích trong đó, say đắm trong đó, ngu si trong đó, thật là tội lỗi. Cho nên học bài này rất là tuyệt vời, bài khó nghe nhưng lại là thức tỉnh. Khó nghe nhưng lại là tiếng thánh chuông. Khó nghe nhưng lại là lợi ích, hạnh phúc, an lạc dài lâu cho chúng ta. Đây là những lời phát ra từ đại bi tâm của Đức Thế Tôn, mà suốt đời người xuất gia chưa được nghe một lần.
Xin thưa đại chúng, Minh Thành sẵn sàng ngồi đây đọc cho các thầy, đọc cho người xuất gia để tất cả nhìn lại chí nguyện cao thượng của mình, không thể nào vì những thứ thấp hèn, hèn hạ, bẩn thỉu đó mà đánh mất đi sứ mệnh hết sức thiêng liêng, cao cả của người tu. Chúng ta phải nhìn chính tự thân mình và những người xung quanh, bao nhiêu cái bẫy, lưỡi câu, bao nhiêu đống phân và chúng ta chết trong đó. Thật là đắng cay, ác độc, thật là bất hạnh, thật là tai họa. Nếu chúng ta không có sự phản tỉnh sâu sắc, tư duy quán chiếu hàng ngày trong mục đích xuất gia thì chúng ta luôn khoe khoan, tự hào trong một đống phân lớn trước mặt: “Trước mặt tôi là đống phân lớn, to, nhiều, còn các ông ít không ai mời”. Phải làm cho mình phát sanh cảm giác nhàm chán, ê chề, não nề. Đức Thế Tôn rất nhiều bài kinh như vậy, mà đây là trong những thánh chúng, những hội chúng, những vị ở gần bên cạnh bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, những sự việc này đã xảy ra gần 3.000 năm trước, như vậy thì bây giờ còn hơn đó rất nhiều. Nếu chúng ta hàng ngày vẫn cứ đọc tụng mà không tác ý, không tư duy quán chiếu, không nhắc nhở mình thì bị dính vào lưỡi câu, lọt vào đống phân.
7) Vị ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, khinh miệt các Tỷ-kheo Chánh hạnh khác. Này các Tỷ-kheo, như vậy sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho kẻ ngu si ấy.
Bị nhà cửa tiền bạc phòng ốc thuốc men ruộng vườn y áo xe cộ xâm chiếm tâm, chi phối và khinh miệt các Tỷ-kheo chánh hạnh khác. Chổ này hết sức nguy hiểm có thể bị đọa địa ngục, có những người được cúng dường, lại nhìn những vị khác sống đời sống thiểu dục tri thức đơn giản lại khinh thường. Các vị đang sống với thánh hạnh, mình không biết mà lại đem những thứ tài vật, đống phân, phẩn tiểu so sánh với bậc tôn giả, tôn kính, tôn đức, những bậc sống đời sống ly tham viễn ly, xuất ly, thật là ngu si. Đức Phật nói: “Khinh miệt các Tỷ-kheo Chánh hạnh khác, như vậy, này các Tỷ-kheo đem lại bất hạnh đau khổ lâu dài cho kẻ ngu si ấy”.
Cho nên mình nhìn bên ngoài thì không đúng, đem tâm phàm nhìn là chết, không căn cứ ở trong ngôi chùa, ở trên vật chất người đó, nhắm mắt là sẽ đọa địa ngục, vô đường súc sanh.
Chúng ta học Tương Ưng Lakkhana, một cô này là đệ nhất phu nhân – hoàng hậu, hoàng phi của một vị vua. Khi còn sanh tiền, ghen với quý phi của vua, bà ấy đổ than đỏ lên thân quý phi, sau khi chết đời sau trở thành ngạ quỷ, bộ xương dính thịt, tro trên hư không, lửa than đổ vào người làm bà ấy quằn quại, đau đớn kêu la thảm thiết trong hư không. Dù đời trước là đệ nhất phu nhân nhưng đời sau vẫn có thể trở thành ngạ quỷ.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Người đàn bà ấy, này các Tỷ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập II, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, Người Đàn Bà Khô Héo Đã Rải Than Đỏ trên Một Người Đàn Bà Khác)
Thành ra nếu nhìn bằng vô minh thì ta sẽ bị lầm lẫn, thấy ở ngoài là hay nhưng khi chết thì chưa biết thành mặt người hay thú, địa ngục hay cô hồn, chỉ cần nhắm mắt thì những hạnh nghiệp, bất thiện pháp, ác pháp và ác nghiệp biểu hiện, trong tích tắc thì xa như trời với vực giữa đại dương. Cho nên đừng khinh thường ai, mà đừng vội ngưỡng mộ ai, hãy lo tu tập Chánh Kiến, hãy lo cẩn thận giới hạnh, giới đức và giới luật của mình, bằng không thì khó lường hậu quả. Thấy người ta được mọi người quỳ lạy danh tiếng lững lẫy, nhưng khi chết có thể rơi vào địa ngục, chứ không phải có chức cao là giỏi. Ví dụ có vị hôm trước thì chức cao nhưng hôm sau thì đã vô tù, ngay khi còn sống tích tắc thì đã vô tù, không thể tưởng tượng được, quả dị thục của nghiệp là một trong bốn thứ bất khả tương nghì. Người nào cố gắng suy tưởng tưởng tượng thì sẽ điên loạn và thậm chí đến chết vì không thể hiểu được quả dị thục của nghiệp. Cho nên những ai đang ngồi đây thì quả dị thục đối với nghiệp của mỗi người không thể tưởng tượng được. Có thể bất thình lình mình bị điên khùng, ngày mai bị xe đụng, tuần sau bị nhiễm covid, thành ra quả dị thục của nghiệp không thể tưởng tượng được. Ví dụ người này mới thấy sống khỏe mạnh mà bây giờ bán thân bất toại, ung thư giai đoạn cuối hay bị nhiễm, tai nạn… Đó là nghiệp quả dị thục bất khả tương nghì, cho nên phải cẩn thận với nghiệp, hết sức thận trọng với nghiệp quả, đừng xem thường nghiệp quả.
8) Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
9) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu học
VI. Bài kinh Sét Đánh
1) Tại Savathi…
2) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3) Như thế nào này các Tỷ-kheo, sét đánh được ví như người hữu học với tâm nhiệt thành, khi bị các lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến.
4) Sét đánh chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến.
Người ta đưa bao thơ dày với nhiều tiền, cầm vào có thể bị sét đánh, cẩn thận, mình có làm đúng cho Tam bảo, hay sử dụng đồng tiền theo dục, ái, tham riêng của mình, rất khủng khiếp, phải khinh sợ đồng tiền đó. Nếu không sử dụng đúng trong Tam bảo, thì đồng tiền đó còn hơn là sét đánh, vào địa ngục, bị sét đánh hoài và phải chịu đựng. Cho nên đồng tiền đó là cúng dường Tam bảo. Nhắc nhở đại chúng, đồng tiền là cúng cho thầy, nhưng thầy là đại diện cho Tam bảo, nếu mình để đầu có tóc, người ta cúng thì mới gọi là cúng cho mình, còn cái đầu người tu là hình thức Tam bảo, người ta nói cúng cho thầy là cúng cho Tam bảo, đồng tiền đó phải xài cho Tam bảo. Nếu đồng tiền đó không xài vào mục đích của Phật, Pháp, Tăng mà xài cho mục đích cá nhân riêng, cho dục, tham, ái, ăn ngon trong nhà hàng hay mua sắm riêng thì tất cả đều bị đọa hết. Nếu nặng là địa ngục, nếu nhẹ là trâu, bò, chó, ngựa, để mình cày trả nợ.
Minh Thành thưa với đại chúng, có một chuyện gần nhất để các thầy nghe, không nói gì xa xôi, thí dụ các thầy ở dưới quê lên thuê nhà trọ thì một tháng tốn bao nhiêu tiền, rồi tiền xăng, tiền xe, điện, nước, ăn uống, học mỗi ngày – cộng hết bốn năm lại thì rất nhiều tiền. Ở ngoài đời người ta phải đi lo những thứ đó, còn mình nếu nói tu thì không cần lo gì nữa hết là chết. Tu phải lo gấp 1.000 lần người ở bên ngoài, nói rằng tu thì khỏe không cần lo là sai. Tu của mình là diệt tham, sân, si, thành tựu của giới, định, huệ – chỉ có như vậy thì mới đền đáp được nợ, còn nếu không có giới, không có thiền định, không có trí tuệ thì hoàn toàn không thể đáp đền. Nếu làm nghề thầy cúng thì khác, nghề thầy cúng thì đỡ hơn thầy tu, do người ta biết ông đó làm nghề, còn thầy tu thì dáng, tướng, hình, giới không đúng thì là kẻ lừa đảo, quả cuả nó rất khủng khiếp. Minh Thành không dám nói nhiều, chỉ mới nói nhẹ một phần, nói ít các thầy hiểu nhiều. Đó chỉ mới nói phần sinh hoạt phí, còn phần người ta cung kính, quỳ lạy dâng lên dù mình chỉ đáng tuổi cháu.
Sét đánh chỉ cho lợi đắc cung kính, danh vọng chạm đến.
5) Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
6) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu học
VIII. Bài kinh Trúng độc
1) Tại Savathi
2) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
3) Như thế nào, này các Tỷ-kheo, bị mũi tên độc bắn trúng, được ví như người hữu học với tâm trí nhiệt thành, khi bị các lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến. Giống như bị mũi tên độc bắn trúng.
4) Mũi tên này các Tỷ-kheo chỉ cho các lợi đắc, cung kính và danh vọng.
5) Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
6) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu học
“Người hữu học với tâm trí nhiệt thành”, tức là người này chưa chứng A-la-hán gọi là hữu học – tâm trí nhiệt thành trong tu học, mà người này bị lợi đắc, cung kính, cúng dường chạm tới thì giống như bắn trúng một mũi tên tẩm độc. “Thật là đắng cay ác độc, thật là đau khổ hệ lụy, này các Tỷ-kheo các Ông cần phải học tập như vậy.”
VIII. Bài kinh Con giả can
1) Tại Savathi
2) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3) Này các Tỷ-kheo các ông có nghe chăng, trong ban đêm, khi trời gần sáng có con giả cang tru lớn tiếng?
- Thưa có, Bạch Thế Tôn.
4) Đó là con giả can già, này các Tỷ-kheo, nó bị mắc bệnh ghẻ lở, không thoải mái trong chỗ hoang vắng, không thoải mái dưới những gốc cây, không thoải mái tại những chỗ lộ thiên ngoài đất trốn; chỗ nào nó đi, chỗ nào nó đứng, chỗ nào nó ngồi, chỗ nào nó nằm, tại chỗ ấy, nó cảm thấy bất hạnh và tai họa.
5) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, không thoải mái ở chổ hoang vắng, không thoải mái dưới những gốc cây, không thoải mái dưới dất trống lộ thiên; chỗ nào vị ấy đi, chỗ nào vị ấy đứng, chỗ nào vị ấy ngồi, vị ấy cảm thấy bất an và tai họa.
Ở chỗ hoang vắng không thoải mái, vào tịnh thất nhập không được, về quê buồn quá không chịu được. Tâm vị ấy bị lợi dưỡng xâm chiếm, nói rộng là dục ái tham, sân, si xâm chiếm nên chỗ vị ấy đi, đứng, ngồi, nằm tại đó vị ấy cảm thấy bất hạn, tai họa, thiếu thốn. Vị ấy đòi hỏi, khát khao, làm nô lệ cho tham, ái, dục cho nên phải đi tìm kiếm để đáp ứng, làm thỏa mãn những đòi hỏi, khát khao, phải cung phụng cho dục, cho ái, cho tham. Vị này một mình không được, độc cư thiền định không được, ở chỗ xa vắng không được, ở chỗ a lan nhã không được, ở chỗ núi rừng không được vì trong tâm là sự thúc giục, thèm khát, khát ái quậy bên trong tâm. Ở chỗ nào đi, đứng, nằm, ngồi, tại chỗ ấy vị ấy dễ cảm thấy bất hạnh và tai họa, trong tâm rất bức xúc. Hữu lậu làm cho bức xúc, làm cho khó chịu, làm cho buồn phiền, làm cho chán nản, không thể tu tập, không thể nhập thất, không thể độc cư thiền định, không thể ở yên một mình, vị này đi đến đâu cũng cảm thấy bất hạnh và tai họa.
6) Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
7) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu học
IX. Bài kinh Cuồng phong
1) Tại Savathi
2) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3) Trên thượng tầng hư không, này các Tỷ-kheo, gió thổi mạnh gọi là cuồng phong. Con chim bay đến chỗ ấy, bị cuồng phong thổi bạt đi, các chân đi một ngả, các cánh đi một ngả, đầu bay một ngả và thân rơi xuống một chỗ khác.
Con chim này bay trúng cuồng phong lốc xoáy gió dữ, bị thổi tung hết đầu chân tay mình.
4) Cũng vậy này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm. Buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào làng khất thực,thân không chế ngự, tâm không chế ngự, niệm không an trú, các căn không chế ngự.
Lời nói không chế ngự, tâm không chế ngự, niệm không an trú tức là không an trú trong Tứ Niệm Xứ, không có quán tâm, quán thọ, quán thân, quán pháp, các căn không chế ngự.
5) Vị ấy thấy phụ nữ, mặc y phục không đứng đắn, không khéo che đậy, bị tham dục công phá thân tâm vị ấy. Do tham dục công phá tâm vị ấy, vị ấy từ bỏ học tập, trở lại hoàn tục. Rồi có người lấy y phục, có người lấy bình bát, có người lấy tọa cụ, có người lấy ống đựng kim của vị ấy, chẳng khác gì con chim bị cuồng phong thổi bạt.
Minh Thành xin thưa với đại chúng, ở những chỗ có những khóa tu nhiều, phải cẩn thận tiếp xúc khi tiếp khách và tiếp xúc với Phật tử. Khi giao tiếp, khi ứng xử, khi tiếp duyên xúc cảnh, khi làm việc: thân không chế ngự, lời nói không chế ngự, tâm không chế ngự, chánh niệm Tứ Niệm Xứ không an trú; các căn buông lung phóng dật, không có hộ trì con mắt, không có hộ trì lỗ tai, không hộ trì lỗ mũi, không hộ trì lưỡi, không hộ trì thân, không hộ trì ý; khi tiếp xúc với hình bóng, nghĩ tưởng bên trong dù cho đang ngồi một mình hoặc thả lỏng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý để cho các dục, tham, ái, cảm giác sân hận, bực bội, khó chịu dẫn dắt, xâm chiếm, áp đảo; để cho một bản ngã, một cái tôi, một cái ta trùm phủ, bao phủ thì mình sẽ chết không toàn thây.
Minh Thành xin thưa quý thầy, chỉ cần ánh mắt là đã có thể giết người. Các thầy có nghe bài Ánh mắt người xưa không? Một ánh mắt mà mười năm chưa quên, tại vì không hộ trì nhãn căn, không có phòng hộ, không bảo vệ, không chế ngự để cho các căn buông lung phóng dật. Khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, khi duyên với pháp, khi ngồi một chỗ mà những hình bóng nghĩ tưởng cứ hiện lên trong tâm, nếu mình không có nội tâm tỉnh giác thì những nghe thấy, tiếp xúc đó sẽ xâm chiếm áp đảo, khi ngồi thiền thì hình bóng hiện ra. Không chỉ giống như Ông thầy Tỷ-kheo đi vào làng khất thực trong bài kinh, mà cả ngay khi ở trong chùa cũng có thể bị tấn công, thậm chí chùa còn phải để bảng “mặc quần áo chỉnh tề khi vào chùa”.
Nếu mình không phòng hộ, không bảo vệ thì sự tu của mình khó vô vàn, không như suy nghĩ của một tâm phàm phu, buông lung, biếng nhác. Sự tu đúng với Thánh đạo của Đức Phật bao gồm nhiều sự bảo bọc, hộ trì, bảo vệ, quán chiếu, hành trì, dùng Bát Chánh Đạo diệt Bát Tà Đạo. Cho nên sự tu tập của mình còn rất xa so với khi Đức Thế Tôn còn tại thế. Thậm chí có khi trái ngược mà mình không biết, với cái nhìn cạn cợt thiển cận, với cái thấy, sự hiểu biết hạn hẹp, hài lòng chấp nhận những thiện pháp nhỏ nhặt, nhỏ bé, lợi ích trước mắt thì không thể thấy Thánh đạo dài xa. Nếu không bằng tâm chân thành, cung kính, tha thiết, khát khao, học hỏi thì không thể hiểu được thật sự các bậc Thánh Tăng, các Tỷ-kheo ngày xưa tu tập như thế nào. Tại vì mình quá dễ dàng đơn giản, hết sức hạn hẹp chấp nhận những thứ cho là đúng trước mắt, nhưng thật sự không phải vậy. Chúng ta thấy trò chơi Tam sao thất bổn trên truyền hình, chỉ cần người này nói qua người kia thì đã sai. Cũng vậy, giáo pháp của Phật đã hoằng truyền 3.000 ngàn năm nay, nếu mình không có tâm tha thiết, chân thành, cung kính, không có lòng khắc khoải, nhiệt thành, nóng bỏng, cháy rực, không để cả sinh mạng của mình để đánh đổi thì mình không bao giờ thành tựu Chánh Tri Kiến thật sự. Sự tu học mà Đức Phật dạy hết sức sâu sắc, cẩn trọng, hết sức bài bản, tuần tự, chặn đứng hết tất cả dục, tham, ái, vô minh, tham, sân, si và bản ngã – chúng bị 37 Phẩm Trợ Đạo tấn công triệt để, toàn diện.
Đã ba mươi năm Minh Thành xuất gia, phát hiện ra sự thật về giáo pháp thì Minh Thành rất sốc. Bất cứ lúc nào tâm không an trú trong 37 Phẩm Trợ Đạo, Tứ Niệm Xứ, Tứ Như Ý Túc, Tứ Chánh Cần, Ngũ Căn, Ngũ Lực cà Bát Chánh Đạo Phần thì lúc đó mình buông lung, phóng dật. Cho nên lúc nào pháp cũng vận hành trong thân tâm, ta phải an trú trong các pháp, nếu mình không an trú trong các pháp thì tâm buông lung phóng dật, ở trong vô minh, tham ái, chỉ cần buông pháp thì sẽ trở về vị trí vô minh, khát ái, chấp thủ ngũ uẩn. Khi trú trong pháp thì mình mới rời khỏi, còn buông pháp thì sẽ trở về vị trí phàm phu, toàn là tham ái, vô minh, kiết sử, bản ngã, sân si.
Mỗi ngày chúng ta trú trong pháp được bao nhiêu? Nhiều khi ngay cả trong giờ đáng lẽ phải trú trong pháp mà còn không trú thì huống chi là giờ không trú trong pháp.
6) Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
7) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu học
X. Kinh với bài kệ
1) Tại Savathi.
2) Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta thấy có người bị sự cung kính chi phối, tâm bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào khổ xứ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta thấy có một người bị sự không cung kính chi phối, tâm bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào khổ xứ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
5) Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta thấy có người bị cả hai cung kính và không cung kính chi phối, tâm bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào khổ xứ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Điều này tức là người được cung kính, lợi dưỡng, cúng dường cũn bị sa đọa và người không được cung kính vẫn bị đọa địa ngục là vì không được cung kính thì sanh tâm sân hận, ganh tỵ, ghét người được cung kính cúng dường. Thật là đau khổ, đắng cay, ác độc, bất hạnh, sẽ rơi vào địa ngục hết. Cho nên ta thấy người không được cung kính thì tâm bị chi phối, bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung sẽ rơi vào khổ xứ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Không được cung kính nên bực bội, không được cúng dường thì ganh tỵ, không được đảnh lễ thì khó chịu. Thấy Phật tử vào cúng chỉ có một người, còn người kế bên không cúng thì sân hận, bực bội.
6) Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
7) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập
“Ai khi được cung kính,
Khi không được cung kính,
Trong cả hai trường hợp,
Tâm định, không lay chuyển,
Sống hạnh không phóng dật,
Tâm thường nhập thiền tư,
Với tâm tưởng tế nhị,
Chánh quán các sở kiến,
Không còn rơi chấp thủ,
Không còn lạc chấp thủ,
Được gọi bậc chơn nhơn”.
Vì vậy, chúng ta phải sống hạnh không buông lung phóng dật, thường hộ trì căn, thường thu nhiếp, thường giữ gìn, thường cẩn thận. “Tâm thường nhập thiền tư” tức là tâm luôn luôn đi vào chỗ tư duy quán sát, thiền định xem trong tâm có dục, tham, sân, si, đam mê, dính mắc, bản ngã, hơn thua, đố kỵ, có rác bẩn, cấu uế, lậu hoặc không? “Tâm thường nhập thiền tư – Với tâm tưởng tế nhị” là tâm tưởng nhỏ nhiệm, vi tế, sâu sắc trong trí tuệ chánh quán. “Chánh quán các sở kiến” tức là nhìn một cách chân chánh bằng tất cả trí huệ với những thứ mình thấy. Từ hoàn cảnh, từ thân thể, từ nội tâm đều cần có sự chánh quán, quán chiếu chơn chánh theo tinh thần của Bát Chánh Đạo. “Không còn rơi chấp thủ” là không bám chặt trong sắc, cảm giác, nghĩ tưởng, hành, nhận thức rõ biết của mình. Như vậy mới “được gọi bậc chơn nhơn”, mới là bậc tu hành chân chánh, mới là con người chân tu, mới là thành tựu chân pháp, mới gọi là người chân thật đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, mới là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Chương này tuyệt đối quan trọng với người xuất gia, đây là cẩm nang, là bảo bối, là lá bùa hộ mệnh, là những điều tâm niệm để chúng ta tu tập mỗi khi nhận những sự cung kính, lợi dưỡng, cúng dường của mọi người.
Đầu tiên Đức Phật nói đau khổ và hệ lụy là những sự lợi dưỡng, cung kính.
Thứ hai Đức Phật dùng hình ảnh lưỡi câu, dính vào những thứ đó giống như con cá nhìn thấy miếng mồi trên lưỡi câu mà đớp, sẽ bị tai họa bất hạnh.
Tiếp theo là con rùa thân mến, nó không nghe con rùa kia nói, nó hiếu kỳ muốn đi đến chỗ lạ, cuối cùng trở về nó mang theo sợi dây, mà sợi dây đó cha của nó, ông của nó cũng bị mắc vào. Sợi dây đó chính là lợi đắc, cúng dường, cung kính, danh vọng. Chúng ta có thể nhìn thấy ngay tự thân chúng ta, trước mắt chúng ta, xung quanh chúng ta thấy rất nhiều.
Hình ảnh không bao giờ quên được đó là đống phân, mỗi khi tâm mình tham mê sự cúng dường, tôn trọng, đảnh lễ, mình phải nghĩ đây là đống phân, phẩn tiểu, đừng có ham, nó nhơ nhướp lắm, chẳng có gì đáng để ta đây vênh váo.
Đây là bài ấn tượng nhất, không được quên. Phải nhớ đến lưỡi câu; nhớ đống phân; nhớ tiếng sấm sét; nhớ con chim bị cuồng phong thổi bay nát hết; nhớ sét đánh; nhớ bị trúng độc; nhớ con chó rừng, con giả cang bị lở loét, bị bệnh; nhớ con chó ghẻ, con chó già đi đến đâu bị cắn, bị ngứa, bị côn trùng cắn, nó không ở được chỗ hoang vắng. Cũng vậy người bị tâm xâm chiếm vào dục, vào lợi dưỡng thì ở một mình không tu được, bị đau khổ.
Cuối cùng Đức Phật nhấn mạnh dù cho được cung kính hay không được cung kính thì cũng phải cẩn thận. Nếu không được cung kính thì tham dục, dính mắc, tham, sân, si đều bị vướng phải; còn nếu được cung kính thì tham, sân, lúc không có thì si.
Cho nên sự tu học của mình là dùng giới, định, huệ để diệt tham, sân, si; thành tựu cứu cánh phạm hạnh; là bậc đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
./.