Sám Hối Diệt Ngã 9 - Bản Ngã Là Gì - Ở Đâu
Tinh Hoa Nikāya
Giảng Giải Bài Sám Hối Diệt Ngã 9
Bản Ngã Là Gì? Ở Đâu?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán chiếu bản ngã PAGEREF _Toc177919530 \h 1
II. Văn tài PAGEREF _Toc177919531 \h 4
III. Cần trọng trong đời sống hằng ngày PAGEREF _Toc177919532 \h 5
IV. Không tư lường PAGEREF _Toc177919533 \h 7
V. Quán chiếu bản ngã 2 PAGEREF _Toc177919534 \h 10
I. Quán chiếu bản ngã
Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, chúng ta tiếp tục học các bài kệ trong sám hối diệt ngã.
Bản ngã ẩn mình trong ngũ uẩn,
Bản ngã ẩn mình trong tâm mê,
Sắc, thọ, tưởng, hành và thức biết
Trước ngũ uẩn này bản ngã sanh.
Bản ngã chính là tâm chấp thủ,
Uẩn nào cũng gọi đó là mình.
Bởi vì chấp trước vào năm uẩn,
Nên cái mình, ta mới hình thành.
Bản ngã cho mình là năm uẩn,
Nhưng vì năm uẩn là duyên sanh,
Và cái duyên sanh thì tạm bợ,
Nên cái mình, ta dễ vỡ tan.
Khi ngũ uẩn tàn, ngã khổ đau.
Tâm mê than khóc, vỡ tan lòng.
Đâu ngờ nghiệp đẩy tâm mê đến
Sanh cảnh tương đồng nghiệp tâm mê.
Tâm mê lại có năm uẩn mới,
Rồi thì bản ngã mới lại sanh,
Lại tranh giành dục, tham, sân, ái
Lại ngã mạn, rồi lại ra đi.
Bao nhiêu ngũ uẩn đã được sanh,
Bấy nhiêu bản ngã đã hình thành,
Bấy nhiêu bản ngã đều diệt tận,
Vậy bản ngã nào thật là ta.
Chẳng qua vì chấp vào năm uẩn,
Mà bản ngã ta đã hình thành,
Chẳng may ngũ uẩn này tan rã
Thì bản ngã ta cũng vỡ tan.
Vỡ tan, tan vỡ đã bao lần,
Bao lần bản ngã hợp rồi tan,
Bao lần bản ngã sanh rồi diệt,
Bao lần bản ngã đã khóc than.
Khóc than, than khóc đã bao lần
Bao lần than khóc hỡi tâm mê,
Bao lần say đắm theo danh, lợi,
Bao lần gục ngã trước chức, quyền.
Chúng ta cần nhớ rằng sự học tu này phải cẩn thận, thận trọng, vi tế, sâu sắc, kĩ lưỡng, tinh minh, tinh anh, tinh tế. Chúng ta phải quý trọng từng bài kệ bốn câu, mỗi một câu trong đó cho đến mỗi chữ, mỗi dấu phẩy, dấu chấm đều là thiền quán chứ không phải thơ văn, đó là tinh hoa Phật trí, tinh hoa của Nikāya, là cốt lõi của Thánh pháp. Có khi trong cả buổi thiền chỉ lấy bốn câu hoặc tám câu để chiêm nghiệm, đọc tới đọc lui những câu đó rồi nghiền ngẫm, quay trở lại thân tâm của mình hồi tưởng lại, hồi ức lại những ngôn ngữ, hành vi, ý niệm có bản ngã thì lôi nó ra để quở trách, la mắng cái đầu si mê, cái tâm ngu muội, vô minh đó để nhìn thấy trong quá khứ mình đã như vậy.
Tu theo dòng pháp này vô cùng nghiêm khắc thì nó mới sâu sắc, mình làm lỗi một chuyện gì đó thì sau khi chuyện đó xảy ra rồi nếu có người chỉ hoặc tự mình nhìn nhận lại thấy đó đúng là lỗi của mình thì không được để yên, phải ngồi thiền lôi chuyện đó ra mổ xẻ, phân tích, giải phẫu nó, thậm chí là phải ghi ra để mình nhớ vì lần sau gặp có khi mình lại quên nữa, đó là nhật kí tu học của mình.
Cần phải ghi ra để thấy con người mình là như vậy, ghi ra rồi lấy đó làm đề mục thiền quán suốt ngày, suốt tuần, suốt tháng, nếu quên thì lấy tập ra đọc rồi tụng như tụng kinh, đọc tới đọc lui để nhắc nhở bản thân "nhà ngươi là như vậy đó, bản ngã của ngươi là ở đây nè". Vì nếu không nhắc thì sẽ quên vì bản ngã là thứ ngấm ngầm trong khi tâm vô minh, tâm mê của mình lại rất hay quên, những chuyện trong ngũ dục lại nhớ rất sắc bén, điêu luyện, bén nhạy nhưng chuyện pháp, chuyện trí, chuyện tuệ lại rất hay quên. Học rất nhiều lần nhưng lại không để tâm, chính vì vậy phải ghi ra, đọc nhiều lần để nhắc nhở bản thân không được quên, cũng như bài kệ số 10 dưới đây.
Bản ngã chính là tên gian xảo,
Quanh co, xảo quyệt, lắm kế mưu.
Bản ngã chính là tên thâm độc,
Âm thầm đâm thọc, não hại người.
Mình cần đọc lầm thầm để nhớ, thuộc lòng rồi để có phần văn thì sau đó mới đến phần tư, vì nếu không sanh khởi được thì không thể có phần tư. Đến khi tư thì mình xem lại bản ngã gian xảo như thế nào, xem nó quanh co thế nào, kiểm tra bản ngã này lắm kế mưu âm thầm, thâm độc như thế nào, não hại người như nào. Bình thường mình đã có văn, có tư khắc sâu vào trí não, mình suy tư, quán sát nhiều, tầm tứ trong đó thì trí tuệ về bản ngã được thành tựu, được thiết lập trong tư duy, cảm thọ, nó an trú trong đó, còn khi học phớt qua thì nó sẽ mất đi, không có chỗ đứng.
II. Văn tài
Khi đọc Cửa vào bất tử không thấy được nghĩa lý trong đó, đối với đọc tụng sám hối diệt ngã cũng vậy là do không nhớ, Thế Tôn đã nói sau khi nghe phải ghi nhớ, phải quán xét, phải suy tư, quán chiếu, phải tư sát nghĩa lý.
"- Này các Tỳ-kheo, có bảy tài sản này. Thế nào là bảy?
Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là văn tài?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Thánh đệ tử nghe nhiều, gìn giữ những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe, những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh; những pháp ấy, vị ấy nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ tụng đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là văn tài". (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, I. Phẩm Tài Sản, (VI). Các Tài Sản Rộng Thuyết)
Chúng ta đã nghe nhiều rồi, chúng ta đã đọc tụng nhiều lần rồi nhưng chúng ta có nắm giữ, ghi nhớ không? Chỉ cần thiếu một phần là pháp sẽ không vận hành đúng trình tự của nó. Chúng ta phải nắm giữ, ghi nhớ bằng cách phải ghi chép lại rồi sau đó đọc tụng nhiều lần, vì có khi đọc quá nhiều sẽ không nhớ nhưng nếu chỉ có một vài bài mà đọc nhiều lần rồi nghiền ngẫm, quán chiếu trong các thời thiền thì chúng ta sẽ ghi nhớ. Chúng ta chọn những bài tâm đắc nhất, cốt lõi nhất, nghĩa lý thâm sâu, chữ ít nghĩa nhiều để học thuộc lòng, chuyên ý quán sát để xem nó quanh co, xảo ngụy như thế nào, nó âm thầm đâm thọc ra sao, nó não hại người ra sao.
III. Cần trọng trong đời sống hằng ngày
Chỉ một câu nói phớt qua thấy thì bình thường nhưng soi vào bên trong thì không bình thường, nó âm thầm đâm thọc, ví dụ người ta hỏi lỗi của người mà mình không thích thì mình nói "chị mới biết vậy thôi chứ tôi biết còn hơn vậy nữa", một câu đó rất bình thường nhưng đó lại là âm thầm đâm thọc, não hại người. Đó là đặc tính của phi chân nhân, của ác nhân, vì thế những điều này cần phải được soi chiếu, cần phải được quán sát, nhìn ngó nhưng vấn đề là nó ngủ ngầm làm mình không thấy được nó, không biết được hết đặc tính của nó.
Đối với bài này phải thường tỉnh giác, thường soi chiếu mới thấy được hết những tập tính của nó rồi mới ghi ra được hết, tức là quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của nó để mình ghê sợ nó, nếu không đọc chỉ nhớ chút ít, xếp sách lại là sống với bản ngã, sống với thói quen, sống với cái ta, trong cách phát ngôn của mình người ta nghe sẽ biết được mình có bản ngã hay không, trong khẩu khí đó có thể hiện bản ngã hay không.
Người ta nghe cách nói chuyện trong điện thoại của mình sẽ biết cái thọ lúc đó của mình đang như thế nào vì thế khi học mà không để tâm, không gặp được những bậc thiện xảo thấy biết về bản ngã thì chính người dạy mình còn không thấy được bản ngã thì làm sao dạy mình nhiếp phục được bản ngã. Sư phụ của mình còn không thấy được bản ngã thì làm sao dạy mình nhiếp phục, đoạn tận bản ngã?
Vấn đề ở đây là phải để tâm học hỏi, người ta muốn truyền trao mà mình không nhận thì cũng như không, cái bình rót nước qua mà cái chung úp xuống thì làm sao rót, trong Mật Tông có từ "đệ tử rót bình", tức là những gì mà thầy truyền thụ thì người đệ tử này sẵn sàng học hết giống như nước từ bình này rót qua bình kia vẫn y nguyên, không hề rơi rớt ra ngoài, nhưng muốn như vậy thì phải để tâm học hỏi rất nhiều. Đằng này có khi được hướng dẫn nhưng không muốn học, tức là cái bình đậy nắp hoặc là cái chung úp xuống, "học vừa vừa thôi, học nhiều mệt lắm".
Tâm mình có tham, có sân hoặc lúc đó bị si, trạo hối, nghi ngờ hoặc bản ngã che mờ làm mình không học được một cách trọn vẹn cho nên một người tu thiền quán là một bác sĩ phẫu thuật, dám mổ xẻ cơ thể của mình và dám để cho người khác giải phẫu. Ngược lại người ta vừa chạm đến đã giãy nảy thì làm sao mổ được, thậm chí chưa chạm vào mà chỉ nói thôi đã đổi thái độ hoặc là quay lưng bỏ xuống núi, như vậy thì làm sao học được, những người như vậy có tu suốt đời cũng là phàm phu vì họ quá yêu bản ngã của chính họ, quá thương cái tôi, chấp thủ vào tự ngã quá sâu dày.
Người học đạo phải luôn nhớ đến hình ảnh nùi giẻ rách, những vị nào hướng dẫn mình là phải để cho những vị đó dạy dỗ, huấn luyện, thậm chí là chà đạp mình nhiều chừng nào thì công năng, tác dụng của nùi giẻ mới được phát huy, phải để cho bậc đạo sư, sư phụ của mình làm như vậy vì khi học đạo là phải từ bỏ bản ngã thì mới học được Thánh pháp, nếu không chỉ học được phàm phu pháp, hạ liệt pháp chứ không phải thượng nhân pháp. Ngày nào cũng đọc "nguyện an trú tâm như nùi giẻ rách" nhưng có thực tập không? Học là phải đi đôi với hành, tu cái này rất thú vị, đa diện và rất tuyệt vời.
Chúng ta cần để ý bản ngã ẩn mình trong năm uẩn, đó là chỗ trú ẩn của nó. Chỗ trú ẩn thứ hai là trong tâm mê, bản ngã sanh khởi ở nơi năm uẩn "sắc tôi là như vầy", "mũi tôi là như vầy", "mặt tôi là như vầy", "nhà tôi như vậy", "chồng con tôi như vậy"… Thứ tư bản ngã chính là tâm chấp thủ, qua đây chúng ta thấy được bốn góc cạnh, bốn khía cạnh của bản ngã. Tâm chấp thủ chính là tâm nắm giữ, khi được học và ghi nhớ rồi thì mình sẽ nương theo định lý này, khẩu quyết, trí tuệ này để nhìn vào thì mình sẽ phát hiện ra bản ngã, đó được gọi là "đến để mà thấy", phải nhìn vào tâm chấp thủ để thấy nó như thế nào, nó nắm giữ ra sao.
Ở đây chúng ta sẽ nhấn mạnh vào tâm chấp thủ, tâm nắm giữ, bản ngã chính là tâm nắm giữ. Tâm nắm giữ có nghĩa là "ngôi nhà này của tôi", "ngôi chùa này của tôi", "ruộng vườn này của tôi", "xe này của tôi"… Mình mang giày mới đi chùa, vào đốt nhang xong trở ra thì mất đôi giày, lúc đó mình nói "giày của tôi đâu rồi?", nếu người kế bên mình thì mất thì mình dửng dưng xem như không có gì xảy ra, thế nhưng giày mình mất thì mình buồn, la lên, hốt hoảng là do mình xem nó là "của tôi", đó là tâm nắm giữ mà hễ nắm giữ cái nào thì đau khổ với cái đó, bản ngã chính là tâm nắm giữ, tâm chấp thủ.
Có một người vô tình cắt trúng mái tóc dưỡng mười năm của mình thì lúc đó mình đau khổ, sầu bi, sân hận, hoặc có người đánh mình gãy răng hoặc xảy ra tai nạn mất tay, mất chân thì khổ đến dường nào. Ở đây chỉ mới nói đến sắc uẩn đã như vậy, cái khổ đó chính là ý nghĩ cho rằng đó là mình, là của mình, còn giờ sám hối diệt ngã là dẹp phá những tư tưởng đó, những suy nghĩ đó. Đánh phá, phá tan, phá nát, diệt tận những suy nghĩ cho rằng đó là tôi, là của tôi.
IV. Không tư lường
Từ trước đến nay đều suy nghĩ theo tâm mê cho rằng đây là mình, là của mình, là tự ngã của mình, bây giờ muốn chuyển đổi suy nghĩ này thì phải nghĩ ngược lại, tác ý ngược lại.
"-- Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường (sabbamannità). Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không tư lường con mắt, không tư lường trên con mắt, không tư lường từ con mắt, không tư lường: 'Con mắt là của ta'. Vị ấy không tư lường các sắc, không tư lường trên các sắc, không tư lường từ các sắc, không tư lường: 'Các sắc là của ta'. Vị ấy không tư lường nhãn thức, không tư lường trên nhãn thức, không tư lường từ nhãn thức, không tư lường: 'Nhãn thức là của ta'. Vị ấy không tư lường nhãn xúc, không tư lường trên nhãn xúc, không tư lường từ nhãn xúc, không tư lường: 'Nhãn xúc là của ta'. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: 'Cảm thọ ấy của ta'.... Tai... Mũi..."
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VIII. Thích Hợp (1))
Tư lường là sự suy tư, suy xét, suy nghĩ, bài kinh này hướng dẫn cho chúng ta cách tác ý, tư duy. Đức Phật dạy dừng suy nghĩ con mắt này là của mình, đừng suy nghĩ trên con mắt này nghĩa là đừng ở trên con mắt đó mà phân tích, phân biệt, đối chiếu với con mắt khác, đừng so sánh con mắt mình với người kia đẹp hơn hay xấu hơn, dễ nhìn hơn hay khó nhìn hơn, so sánh mặt mình đen mặt người kia trắng, mặt mình tròn còn mặt người kia dài. Không suy nghĩ con mắt này, gương mặt này, hình hài này là của ta, nghĩ ngược lại những cái đó không phải của ta, vì thế khi đọc kinh phải cực kì thiện xảo, phải hiểu được ý nghĩa Đức Phật dạy mình tác ý.
"Vị ấy không tư lường như vậy nên không chấp thủ một vật gì ở đời". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VIII. Thích Hợp (1))
Trong tâm được gỡ ra hết tất cả những suy nghĩ ta và của ta trong năm uẩn này cho nên không còn nắm giữ, không chấp thủ bất cứ gì cả, vì thế phá hoàn toàn bản ngã.
"Do không chấp thủ nên không ái luyến. Do không ái luyến nên tự mình được hoàn toàn tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VIII. Thích Hợp (1))
Do không còn chấp thủ nên không còn sự ái luyến, lưu luyến. Đối với những đồ đạc, sắc pháp, những cảnh trí, hình hài phải gỡ bỏ những suy nghĩ của tâm mê, những suy nghĩ của bản ngã, của chấp thủ, tu như vậy là tu trong từng ý niệm, từng sự tác ý. Chớ có suy nghĩ hình hài này, gương mặt này, nhà cửa, ruộng vườn, đất đai này, chớ có suy nghĩ từ nơi đó, chớ có suy nghĩ ở trên đó, chớ có suy nghĩ ở trong đó, hãy suy nghĩ tất cả những cái đó không có gì là ta, không có gì của ta, không có gì là tự ngã của ta, có như vậy mới mở ra được tâm chấp thủ, nắm giữ.
Do không nắm giữ, không yêu thích nên tự mình được hoàn toàn vắng lặng tịch tịnh. Những từ này chính là định lý, khẩu quyết, là bí kíp của chánh pháp cho nên cần học thuộc để quán chiếu, hễ có nắm giữ, chấp thủ cái gì thì gỡ ra cái đó, gỡ cho đến chừng nào không còn nữa là đại thành công. Dù cho mình có làm bất cứ nhiệm vụ gì thì cũng đừng để nhiệm vụ đó làm tâm bị chấp thủ, nắm giữ, dù cho mình có được cái gì trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì cũng phải tháo gỡ ra hết.
Do vì đã suy nghĩ từ lâu ngày, trong nhiều tháng nhiều năm, nhiều đời nhiều kiếp, nhiều trăm kiếp, nhiều trăm ngàn kiếp, nhiều triệu tỉ kiếp cho nên bản ngã hình thành trong năm uẩn. Suy nghĩ đó trở thành cố hữu, trở thành tự hữu, bản hữu và trong lòng có sự xác quyết là có tôi và của tôi, tâm chấp thủ được thiết lập, được an trú, có hang ổ, sào huyệt, nó đứng vững trong tâm. Chỉ cần thấy hay nghe một cái gì làm bực bội là bản ngã sanh khởi lên ngay, chưa cần nói gì cả nhưng cảm thọ đã khó chịu, trong năm uẩn đó nó chấp thủ khủng khiếp.
Năm uẩn này là thứ duyên sanh, là đồ lắp ráp, kết hợp, chắp vá, nương dựa như bó lau sậy, đứng một mình là ngã nên cây này dựa vào cây kia. Trời mưa xuống có những bọt bong bóng nổi lên dưới mái hiên nhà ở chỗ nước trũng, những bọt nước đó lấp lánh dưới ánh nắng nhưng chút sau là nó tan biến, bản ngã cũng vậy, nó là duyên sanh, là thứ tạm bợ. Một Phật tử bên Châu Âu gửi một tấm hình cho Minh Thành, "em của con có người chồng chức cao (đại tá) nhưng bị Covid đã qua đời", tuổi đời còn rất trẻ nhưng có bệnh nền là bệnh phổi, đến khi nhiễm Covid thì hai mươi ngày sau là mất, người vợ rất đau khổ, cả gia đình xót xa, bàng hoàng. Một điều may mắn là sau khi đã xin bác sĩ nhiều lần thì được vào thăm trong giây phút cuối, cô vợ trấn an bằng tất cả khả năng để khuyên bảo và mở bài pháp mà vị đại tá này thích nghe, sau khi nghe được bảy phút thì qua đời.
V. Quán chiếu bản ngã 2
Bản ngã cho mình là năm uẩn,
Nhưng vì năm uẩn là duyên sanh,
Và cái duyên sanh thì tạm bợ,
Nên cái mình, ta dễ vỡ tan.
Có những đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ trong đại dịch Covid 19 này, thậm chí cả gia đình cùng chết vì dịch bệnh, ngay cả thầy trò cùng tu trong một ngôi chùa cùng nhiễm dịch bệnh và ra đi. Như vậy cái vô thường, sự vỡ tan này không có chọn lựa cũng không nể nang người đó có chức vụ gì, quyền uy ra sao, hình tướng thế nào mà nó đến thì phải rã tan. Cái tư duy, ý niệm cho rằng ta và của ta đau khổ vô cùng lúc ngũ uẩn này tàn tạ, tan nát, hoại diệt, con mắt này là sắc thân ái, sắc khả ái, mình thương biết bao đôi mắt này, yêu biết bao cái lỗ tai, lỗ mũi này, thân ái biết bao đôi môi này, cái miệng này vậy mà giờ nó tàn tạ, tan nát, tan hoại, tan vỡ.
"Khi ngũ uẩn tàn, ngã khổ đau", cái ý niệm về bản ngã, tư tưởng về bản ngã đó, nhận thức về bản ngã đó đau khổ vô cùng, hình hài, thể xác thân thương, thân yêu này sắp sửa rã nát, mình sắp ra đi mà không biết mình đi đâu, thân xác yêu dấu chuẩn bị tàn hoại nên đau khổ, thống khổ, buồn thương, tiếc nuối, hối hận. Thậm chí chưa cần nói đến thân xác này mà chỉ cần mất chiếc dép, mất món đồ, mất nắm tóc của mình hoặc là gương mặt bị trầy trụa thì buồn khổ đến dường nào, hôm qua làm lễ có Phật tử không dám chụp hình vì mặt nổi mụn, sợ chụp xấu, chỉ vậy thôi mà khổ rồi thì đến khi thân xác này tan rã sẽ khổ đến mức độ nào.
Khi Minh Thành hỏi mọi người hôm nay có muốn học nữa không vì hôm qua đã học hai buổi thì mọi người nói học nữa nhưng Minh Thành nói chưa chắc. Chưa chắc ở đây có nghĩa là có thể nằm xuống ngủ rồi không dậy nữa thì sáng nay đâu có thời pháp này, đó chính là niệm tử. Nếu thường nhớ nghĩ như vậy thì mới xem thường những tham, sân, si, hơn thua của cuộc đời này, mới vứt bỏ được sự tranh giành, tranh đấu trên thế gian này, không bao giờ quên cái chết dù ở trong hoàn cảnh nào. Nếu thường nhớ nghĩ như vậy thì trong những lúc cấp bách, gấp rút tâm mình vẫn có thể an tịnh, lắng dịu vì mình biết không có gì gấp bằng cái chết, công việc này có gì đâu mà mình phải tất bật, trạo cử, vội vàng. Chính vì thế nên Minh Thành mới trả lời mọi người là "chưa chắc", mọi người thấy lạ nên Minh Thành giải thích chưa chắc ở đây nghĩa là chưa chắc ngày mai Minh Thành còn sống để tiếp tục chia sẻ pháp cho chúng ta.
Khi ngũ uẩn tàn, ngã khổ đau.
Tâm mê than khóc, vỡ tan lòng.
Đâu ngờ nghiệp đẩy tâm mê đến
Sanh cảnh tương đồng nghiệp tâm mê.
Tâm mê nắm giữ trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, nói đơn giản là nắm giữ trong hình hài, thân xác này rất đau khổ, than vãn, khóc lóc, trong lòng đau đớn, khổ sở. Nó rất yêu thương, thân ái xác thân này vậy mà lại chuẩn bị mất đi, biết bao người thân ngồi xung quanh biết làm gì ngoài việc bóp tay chân, còn người nằm đó thì nước mắt lưng tròng, hai khóe mắt rơi lệ. Trước sau gì mình cũng phải từ bỏ những cái mình thân yêu nhất, nếu bình thường không thực tập quán chiếu thì đến khi xảy ra sự việc tâm mình không thể nào an tịnh, lắng dịu được. Hình ảnh chiếc xe cấp cứu mở cửa sau lên để những người thân trong gia đình đứng từ xa cầm di ảnh, lư hương của mẹ mình, của vợ mình lạy trong dòng nước mắt đầy đau khổ, kêu gào đến thấu cả trời xanh sự đau khổ này, niềm đau này, sự chia ly tử biệt này.
Tâm chấp thủ, tâm mê muội trong ngũ uẩn này nếu sâu nặng sẽ không chấp nhận rằng bản thân đã chết nên sẽ trở thành cô hồn, những người chết bất ngờ như bất thình lình bị tai nạn giao thông, bất ngờ bị bắn chết hoặc rơi lầu cao do trượt chân thì có những vong linh không chấp nhận mình chết, họ cứ sống đời sống như vậy mãi, đó là do sự chấp thủ trong ngũ uẩn quá nặng nề, cứng chắc, họ cứ lang thang vất vơ vất vưởng như vậy. Đừng nghĩ rằng nhắm mắt là xong mà đâu ngờ nghiệp sẽ đẩy tâm mê đi, sức mạnh của nghiệp, mãnh lực của thói quen, của những ác nghiệp, sức mạnh của những dòng cảm thọ, nghĩ tưởng trong tâm sẽ đẩy mình đi vào những cảnh tương đồng của tâm mê.
Một tâm thù hằn, ác độc sẽ sanh vào loài rắn độc, một tâm chỉ biết dục vọng sẽ sanh làm con heo, một tâm nhỏ mọn, nhỏ hẹp sẽ sanh vào những loài kiến, muỗi, ruồi nhặng, giòi, vi trùng, một bản ngã to lớn, tâm sân hận hung tàn sẽ sanh vào loài cọp, sư tử, beo để xé xác những chúng sanh khác ăn máu tươi, tâm đam mê trong luyến ái, tình ái thoát ra không được phải làm cô hồn đi theo người con gái đó. Đó là làm loài ngạ quỷ, cô hồn vì yêu, vì tâm tham ái, chấp thủ, tâm mê nắm giữ trong cái thương yêu đó không nhả ra, không giải tỏa được cảm thọ đó.
Những cảnh giới của chư thiên, quỷ thần có thời gian sống dài hơn loài người rất nhiều nhưng cũng vì tâm tham ái hay là tâm sân hận cho nên chư thiên với A-tu-la đánh nhau triền miên, hoặc vì tâm yêu đó có khi đợi nhau tám chín ngàn năm, có khi cả vạn năm, tỉ năm, cảm thọ ái luyến, thương mến đó không thoát ra khỏi được vì đã chấp thủ cứng chắc trong đó. Yêu thương cũng vậy mà oán thù cũng vậy, đó là "sanh cảnh tương đồng nghiệp tâm mê", vì thế đừng oán trách chồng, vợ của mình, đừng oán trách đứa em mình tại sao nó được thương nhiều hơn mình, đừng oán trách đứa con này có hiếu còn đứa kia thì không, tất cả là sanh cảnh tương đồng với cái nghiệp đó, một đứa sanh ra là để trả nợ, một đứa sanh ra là để đòi nợ.
Đứa sanh ra để trả nợ rất có hiếu, làm mọi việc cho gia đình, còn đứa sanh ra để đòi nợ thì mình mệt mỏi với nó, khi đã hiểu pháp rồi chỉ có cách làm sao để chấp nhận trả và dùng nghiệp thiện, tâm hiền, tâm từ chuyển hóa người đó từ từ, hướng người đó vào pháp, còn oán hờn, trách móc thì càng nặng hơn thôi, nghiệp cũ trả chưa xong mà mình trả đũa lại thì vay thêm nghiệp mới, thế là nghiệp chồng nghiệp. Đối với vợ chồng, cha con, bạn bè, cô bác, mẹ chồng nàng dâu cũng vậy.
Khi sanh ra sẽ sanh với cái nghiệp tương đồng của tâm mê đó. Tâm mê đó theo lề thói, cấu trúc nào, tạo ra nghiệp gì thì sẽ sanh ra với chỗ tương ứng nghiệp đó. Nếu tâm mê đó hiền thiện thì sanh ra làm người phúc hậu, giàu sang nhưng phúc hậu, giàu sang vẫn chưa xong mà lại bản ngã, tham lam, thế là lại bị đọa. Tâm mê đó biết tu tập, làm phước, sanh lên chư thiên nhưng trong đó còn tham, sân, si, bản ngã, ganh tỵ, đố kỵ, chiến đấu với A-tu-la, sân hận, hơn thua trong những cái sắc vi tế, hết phước cũng bị rơi xuống đọa ba đường ác, cứ luẩn quẩn như thế.
Tâm mê lại có năm uẩn mới,
Rồi thì bản ngã mới lại sanh,
Lại tranh giành dục, tham, sân, ái
Lại ngã mạn, rồi lại ra đi.
Chụp vào cái thân kêu "gâu gâu" cũng ngã mạn, ta đây, Minh Thành đi thiền hành cách đó mấy căn nhà con chó vẫn cứ sủa, cho nên Minh Thành trải tâm từ "Thôi, bản ngã cái gì, sân hận cái gì, mình mẩy lông lá như vậy mà còn chưa tỉnh nữa hay sao? Hãy quay về nương tựa Phật, Pháp, Tăng đi, hãy nhìn thấy sự nguy hại của bản ngã sân hận đó. Hãy nương tựa, quy y Tam bảo đi, thoát khỏi thân súc sanh này, an tịnh, lắng dịu đi, dễ chịu đi". Minh Thành trải tâm từ liên tục với nó, thế là mấy ngày sau nó hết sủa, cho nên nếu sanh vào thân con rắn thì phùng mang, phun nọc độc ra, như vậy là chụp trúng tấm thân nào là ta đây với tấm thân đó.
Chụp vào thân con giòi thì cho rằng con giòi này đẹp, nghèo hèn, què đi ăn xin mà hung dữ vô cùng, xin không cho là chửi, đó là bản ngã của người ăn mày, có khi vào trúng cây cổ thụ được người ta tôn làm thần, cúng kiếng đủ thứ nên thích thú cứ ở trong đó đến mấy trăm năm, ai chặt cây đó là về nhà bị bệnh hoặc bị tai nạn, do chấp thủ vào cây đó cho đó là mình, là của mình, là tự ngã của mình rồi không siêu thoát được. Hễ chấp thủ vào cái nào thì dính chặt vào cái đó, cho cái đó là của nó, là tự ngã của nó rồi đau khổ, sân hận trong đó. Học những cái này rồi mới thấy thấm thía, run sợ, khiếp sợ dòng luân hồi sanh tử này, dòng nghiệp quả này, dòng luẩn quẩn của tâm mê, tâm chấp thủ này vô cùng khủng khiếp. Hết giành dục lại giành tham, hơn thua với người ta, yêu cái này thích cái kia ghét cái nọ, rồi lại ngã mạn, rồi lại ra đi.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Thế mà vỗ ngực nói ta đây
Như một bao rác đầy hôi thối
Lại vỗ vào bao nói ta tôi.
Sanh ra rồi lại tranh giành, hơn thua, chảy nước mắt rồi ra đi, cứ như vậy hoài cho nên khi Thế Tôn chứng được tam minh thấy được vô lượng đời sống của ngài và của các chúng sanh, đầy rẫy tham, sân, si, hơn thua, dục ái, sanh ra là đấu tranh, bản ngã, sân hận, cứ tiếp diễn như vậy cho nên ngài kêu lên "đây là khổ, khổ là đây".
Bao nhiêu ngũ uẩn đã được sanh,
Bấy nhiêu bản ngã đã hình thành,
Bấy nhiêu bản ngã đều diệt tận,
Vậy bản ngã nào thật là ta.
Bao nhiêu hình thái của ngũ uẩn, bao nhiêu thân lông lá bù xù, đội sừng trên đầu, bao nhiêu sự nhai nghiến xé xát nhau trong máu thịt, bao nhiêu sự chém giết, mưu hại thâm độc, bao nhiêu đời sống, hình thù dị dạng, dị hình dị tật. Bản ngã nào thật sự là ta trong thiên hình vạn trạng này? Cần đọc thật kĩ, suy tư, nghiền ngẫm cho sâu sắc chứ đừng đọc ào ào cho xong, cần nghiền ngẫm để thấm vào cảm thọ để não nề, ngao ngán, chán chê tâm chấp thủ ngu muội này, tâm ích kỷ, nhỏ mọn này. Hãy từ bỏ nó, hạ gục nó, buông xả nó, nhàm chán nó, trong thời buổi dịch bệnh này không có gì là chắc chắn cho nên cần cố gắng hết sức, làm được việc thiện nào là cố gắng làm để rồi giây phút sau không có hối hận và tiếc nuối.
Chúc tất cả quý vị an lành trong ngày mới./.
Giảng Giải Bài Sám Hối Diệt Ngã 9
Bản Ngã Là Gì? Ở Đâu?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán chiếu bản ngã PAGEREF _Toc177919530 \h 1
II. Văn tài PAGEREF _Toc177919531 \h 4
III. Cần trọng trong đời sống hằng ngày PAGEREF _Toc177919532 \h 5
IV. Không tư lường PAGEREF _Toc177919533 \h 7
V. Quán chiếu bản ngã 2 PAGEREF _Toc177919534 \h 10
I. Quán chiếu bản ngã
Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, chúng ta tiếp tục học các bài kệ trong sám hối diệt ngã.
Bản ngã ẩn mình trong ngũ uẩn,
Bản ngã ẩn mình trong tâm mê,
Sắc, thọ, tưởng, hành và thức biết
Trước ngũ uẩn này bản ngã sanh.
Bản ngã chính là tâm chấp thủ,
Uẩn nào cũng gọi đó là mình.
Bởi vì chấp trước vào năm uẩn,
Nên cái mình, ta mới hình thành.
Bản ngã cho mình là năm uẩn,
Nhưng vì năm uẩn là duyên sanh,
Và cái duyên sanh thì tạm bợ,
Nên cái mình, ta dễ vỡ tan.
Khi ngũ uẩn tàn, ngã khổ đau.
Tâm mê than khóc, vỡ tan lòng.
Đâu ngờ nghiệp đẩy tâm mê đến
Sanh cảnh tương đồng nghiệp tâm mê.
Tâm mê lại có năm uẩn mới,
Rồi thì bản ngã mới lại sanh,
Lại tranh giành dục, tham, sân, ái
Lại ngã mạn, rồi lại ra đi.
Bao nhiêu ngũ uẩn đã được sanh,
Bấy nhiêu bản ngã đã hình thành,
Bấy nhiêu bản ngã đều diệt tận,
Vậy bản ngã nào thật là ta.
Chẳng qua vì chấp vào năm uẩn,
Mà bản ngã ta đã hình thành,
Chẳng may ngũ uẩn này tan rã
Thì bản ngã ta cũng vỡ tan.
Vỡ tan, tan vỡ đã bao lần,
Bao lần bản ngã hợp rồi tan,
Bao lần bản ngã sanh rồi diệt,
Bao lần bản ngã đã khóc than.
Khóc than, than khóc đã bao lần
Bao lần than khóc hỡi tâm mê,
Bao lần say đắm theo danh, lợi,
Bao lần gục ngã trước chức, quyền.
Chúng ta cần nhớ rằng sự học tu này phải cẩn thận, thận trọng, vi tế, sâu sắc, kĩ lưỡng, tinh minh, tinh anh, tinh tế. Chúng ta phải quý trọng từng bài kệ bốn câu, mỗi một câu trong đó cho đến mỗi chữ, mỗi dấu phẩy, dấu chấm đều là thiền quán chứ không phải thơ văn, đó là tinh hoa Phật trí, tinh hoa của Nikāya, là cốt lõi của Thánh pháp. Có khi trong cả buổi thiền chỉ lấy bốn câu hoặc tám câu để chiêm nghiệm, đọc tới đọc lui những câu đó rồi nghiền ngẫm, quay trở lại thân tâm của mình hồi tưởng lại, hồi ức lại những ngôn ngữ, hành vi, ý niệm có bản ngã thì lôi nó ra để quở trách, la mắng cái đầu si mê, cái tâm ngu muội, vô minh đó để nhìn thấy trong quá khứ mình đã như vậy.
Tu theo dòng pháp này vô cùng nghiêm khắc thì nó mới sâu sắc, mình làm lỗi một chuyện gì đó thì sau khi chuyện đó xảy ra rồi nếu có người chỉ hoặc tự mình nhìn nhận lại thấy đó đúng là lỗi của mình thì không được để yên, phải ngồi thiền lôi chuyện đó ra mổ xẻ, phân tích, giải phẫu nó, thậm chí là phải ghi ra để mình nhớ vì lần sau gặp có khi mình lại quên nữa, đó là nhật kí tu học của mình.
Cần phải ghi ra để thấy con người mình là như vậy, ghi ra rồi lấy đó làm đề mục thiền quán suốt ngày, suốt tuần, suốt tháng, nếu quên thì lấy tập ra đọc rồi tụng như tụng kinh, đọc tới đọc lui để nhắc nhở bản thân "nhà ngươi là như vậy đó, bản ngã của ngươi là ở đây nè". Vì nếu không nhắc thì sẽ quên vì bản ngã là thứ ngấm ngầm trong khi tâm vô minh, tâm mê của mình lại rất hay quên, những chuyện trong ngũ dục lại nhớ rất sắc bén, điêu luyện, bén nhạy nhưng chuyện pháp, chuyện trí, chuyện tuệ lại rất hay quên. Học rất nhiều lần nhưng lại không để tâm, chính vì vậy phải ghi ra, đọc nhiều lần để nhắc nhở bản thân không được quên, cũng như bài kệ số 10 dưới đây.
Bản ngã chính là tên gian xảo,
Quanh co, xảo quyệt, lắm kế mưu.
Bản ngã chính là tên thâm độc,
Âm thầm đâm thọc, não hại người.
Mình cần đọc lầm thầm để nhớ, thuộc lòng rồi để có phần văn thì sau đó mới đến phần tư, vì nếu không sanh khởi được thì không thể có phần tư. Đến khi tư thì mình xem lại bản ngã gian xảo như thế nào, xem nó quanh co thế nào, kiểm tra bản ngã này lắm kế mưu âm thầm, thâm độc như thế nào, não hại người như nào. Bình thường mình đã có văn, có tư khắc sâu vào trí não, mình suy tư, quán sát nhiều, tầm tứ trong đó thì trí tuệ về bản ngã được thành tựu, được thiết lập trong tư duy, cảm thọ, nó an trú trong đó, còn khi học phớt qua thì nó sẽ mất đi, không có chỗ đứng.
II. Văn tài
Khi đọc Cửa vào bất tử không thấy được nghĩa lý trong đó, đối với đọc tụng sám hối diệt ngã cũng vậy là do không nhớ, Thế Tôn đã nói sau khi nghe phải ghi nhớ, phải quán xét, phải suy tư, quán chiếu, phải tư sát nghĩa lý.
"- Này các Tỳ-kheo, có bảy tài sản này. Thế nào là bảy?
Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là văn tài?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Thánh đệ tử nghe nhiều, gìn giữ những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe, những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh; những pháp ấy, vị ấy nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ tụng đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là văn tài". (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, I. Phẩm Tài Sản, (VI). Các Tài Sản Rộng Thuyết)
Chúng ta đã nghe nhiều rồi, chúng ta đã đọc tụng nhiều lần rồi nhưng chúng ta có nắm giữ, ghi nhớ không? Chỉ cần thiếu một phần là pháp sẽ không vận hành đúng trình tự của nó. Chúng ta phải nắm giữ, ghi nhớ bằng cách phải ghi chép lại rồi sau đó đọc tụng nhiều lần, vì có khi đọc quá nhiều sẽ không nhớ nhưng nếu chỉ có một vài bài mà đọc nhiều lần rồi nghiền ngẫm, quán chiếu trong các thời thiền thì chúng ta sẽ ghi nhớ. Chúng ta chọn những bài tâm đắc nhất, cốt lõi nhất, nghĩa lý thâm sâu, chữ ít nghĩa nhiều để học thuộc lòng, chuyên ý quán sát để xem nó quanh co, xảo ngụy như thế nào, nó âm thầm đâm thọc ra sao, nó não hại người ra sao.
III. Cần trọng trong đời sống hằng ngày
Chỉ một câu nói phớt qua thấy thì bình thường nhưng soi vào bên trong thì không bình thường, nó âm thầm đâm thọc, ví dụ người ta hỏi lỗi của người mà mình không thích thì mình nói "chị mới biết vậy thôi chứ tôi biết còn hơn vậy nữa", một câu đó rất bình thường nhưng đó lại là âm thầm đâm thọc, não hại người. Đó là đặc tính của phi chân nhân, của ác nhân, vì thế những điều này cần phải được soi chiếu, cần phải được quán sát, nhìn ngó nhưng vấn đề là nó ngủ ngầm làm mình không thấy được nó, không biết được hết đặc tính của nó.
Đối với bài này phải thường tỉnh giác, thường soi chiếu mới thấy được hết những tập tính của nó rồi mới ghi ra được hết, tức là quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của nó để mình ghê sợ nó, nếu không đọc chỉ nhớ chút ít, xếp sách lại là sống với bản ngã, sống với thói quen, sống với cái ta, trong cách phát ngôn của mình người ta nghe sẽ biết được mình có bản ngã hay không, trong khẩu khí đó có thể hiện bản ngã hay không.
Người ta nghe cách nói chuyện trong điện thoại của mình sẽ biết cái thọ lúc đó của mình đang như thế nào vì thế khi học mà không để tâm, không gặp được những bậc thiện xảo thấy biết về bản ngã thì chính người dạy mình còn không thấy được bản ngã thì làm sao dạy mình nhiếp phục được bản ngã. Sư phụ của mình còn không thấy được bản ngã thì làm sao dạy mình nhiếp phục, đoạn tận bản ngã?
Vấn đề ở đây là phải để tâm học hỏi, người ta muốn truyền trao mà mình không nhận thì cũng như không, cái bình rót nước qua mà cái chung úp xuống thì làm sao rót, trong Mật Tông có từ "đệ tử rót bình", tức là những gì mà thầy truyền thụ thì người đệ tử này sẵn sàng học hết giống như nước từ bình này rót qua bình kia vẫn y nguyên, không hề rơi rớt ra ngoài, nhưng muốn như vậy thì phải để tâm học hỏi rất nhiều. Đằng này có khi được hướng dẫn nhưng không muốn học, tức là cái bình đậy nắp hoặc là cái chung úp xuống, "học vừa vừa thôi, học nhiều mệt lắm".
Tâm mình có tham, có sân hoặc lúc đó bị si, trạo hối, nghi ngờ hoặc bản ngã che mờ làm mình không học được một cách trọn vẹn cho nên một người tu thiền quán là một bác sĩ phẫu thuật, dám mổ xẻ cơ thể của mình và dám để cho người khác giải phẫu. Ngược lại người ta vừa chạm đến đã giãy nảy thì làm sao mổ được, thậm chí chưa chạm vào mà chỉ nói thôi đã đổi thái độ hoặc là quay lưng bỏ xuống núi, như vậy thì làm sao học được, những người như vậy có tu suốt đời cũng là phàm phu vì họ quá yêu bản ngã của chính họ, quá thương cái tôi, chấp thủ vào tự ngã quá sâu dày.
Người học đạo phải luôn nhớ đến hình ảnh nùi giẻ rách, những vị nào hướng dẫn mình là phải để cho những vị đó dạy dỗ, huấn luyện, thậm chí là chà đạp mình nhiều chừng nào thì công năng, tác dụng của nùi giẻ mới được phát huy, phải để cho bậc đạo sư, sư phụ của mình làm như vậy vì khi học đạo là phải từ bỏ bản ngã thì mới học được Thánh pháp, nếu không chỉ học được phàm phu pháp, hạ liệt pháp chứ không phải thượng nhân pháp. Ngày nào cũng đọc "nguyện an trú tâm như nùi giẻ rách" nhưng có thực tập không? Học là phải đi đôi với hành, tu cái này rất thú vị, đa diện và rất tuyệt vời.
Chúng ta cần để ý bản ngã ẩn mình trong năm uẩn, đó là chỗ trú ẩn của nó. Chỗ trú ẩn thứ hai là trong tâm mê, bản ngã sanh khởi ở nơi năm uẩn "sắc tôi là như vầy", "mũi tôi là như vầy", "mặt tôi là như vầy", "nhà tôi như vậy", "chồng con tôi như vậy"… Thứ tư bản ngã chính là tâm chấp thủ, qua đây chúng ta thấy được bốn góc cạnh, bốn khía cạnh của bản ngã. Tâm chấp thủ chính là tâm nắm giữ, khi được học và ghi nhớ rồi thì mình sẽ nương theo định lý này, khẩu quyết, trí tuệ này để nhìn vào thì mình sẽ phát hiện ra bản ngã, đó được gọi là "đến để mà thấy", phải nhìn vào tâm chấp thủ để thấy nó như thế nào, nó nắm giữ ra sao.
Ở đây chúng ta sẽ nhấn mạnh vào tâm chấp thủ, tâm nắm giữ, bản ngã chính là tâm nắm giữ. Tâm nắm giữ có nghĩa là "ngôi nhà này của tôi", "ngôi chùa này của tôi", "ruộng vườn này của tôi", "xe này của tôi"… Mình mang giày mới đi chùa, vào đốt nhang xong trở ra thì mất đôi giày, lúc đó mình nói "giày của tôi đâu rồi?", nếu người kế bên mình thì mất thì mình dửng dưng xem như không có gì xảy ra, thế nhưng giày mình mất thì mình buồn, la lên, hốt hoảng là do mình xem nó là "của tôi", đó là tâm nắm giữ mà hễ nắm giữ cái nào thì đau khổ với cái đó, bản ngã chính là tâm nắm giữ, tâm chấp thủ.
Có một người vô tình cắt trúng mái tóc dưỡng mười năm của mình thì lúc đó mình đau khổ, sầu bi, sân hận, hoặc có người đánh mình gãy răng hoặc xảy ra tai nạn mất tay, mất chân thì khổ đến dường nào. Ở đây chỉ mới nói đến sắc uẩn đã như vậy, cái khổ đó chính là ý nghĩ cho rằng đó là mình, là của mình, còn giờ sám hối diệt ngã là dẹp phá những tư tưởng đó, những suy nghĩ đó. Đánh phá, phá tan, phá nát, diệt tận những suy nghĩ cho rằng đó là tôi, là của tôi.
IV. Không tư lường
Từ trước đến nay đều suy nghĩ theo tâm mê cho rằng đây là mình, là của mình, là tự ngã của mình, bây giờ muốn chuyển đổi suy nghĩ này thì phải nghĩ ngược lại, tác ý ngược lại.
"-- Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường (sabbamannità). Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không tư lường con mắt, không tư lường trên con mắt, không tư lường từ con mắt, không tư lường: 'Con mắt là của ta'. Vị ấy không tư lường các sắc, không tư lường trên các sắc, không tư lường từ các sắc, không tư lường: 'Các sắc là của ta'. Vị ấy không tư lường nhãn thức, không tư lường trên nhãn thức, không tư lường từ nhãn thức, không tư lường: 'Nhãn thức là của ta'. Vị ấy không tư lường nhãn xúc, không tư lường trên nhãn xúc, không tư lường từ nhãn xúc, không tư lường: 'Nhãn xúc là của ta'. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: 'Cảm thọ ấy của ta'.... Tai... Mũi..."
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VIII. Thích Hợp (1))
Tư lường là sự suy tư, suy xét, suy nghĩ, bài kinh này hướng dẫn cho chúng ta cách tác ý, tư duy. Đức Phật dạy dừng suy nghĩ con mắt này là của mình, đừng suy nghĩ trên con mắt này nghĩa là đừng ở trên con mắt đó mà phân tích, phân biệt, đối chiếu với con mắt khác, đừng so sánh con mắt mình với người kia đẹp hơn hay xấu hơn, dễ nhìn hơn hay khó nhìn hơn, so sánh mặt mình đen mặt người kia trắng, mặt mình tròn còn mặt người kia dài. Không suy nghĩ con mắt này, gương mặt này, hình hài này là của ta, nghĩ ngược lại những cái đó không phải của ta, vì thế khi đọc kinh phải cực kì thiện xảo, phải hiểu được ý nghĩa Đức Phật dạy mình tác ý.
"Vị ấy không tư lường như vậy nên không chấp thủ một vật gì ở đời". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VIII. Thích Hợp (1))
Trong tâm được gỡ ra hết tất cả những suy nghĩ ta và của ta trong năm uẩn này cho nên không còn nắm giữ, không chấp thủ bất cứ gì cả, vì thế phá hoàn toàn bản ngã.
"Do không chấp thủ nên không ái luyến. Do không ái luyến nên tự mình được hoàn toàn tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VIII. Thích Hợp (1))
Do không còn chấp thủ nên không còn sự ái luyến, lưu luyến. Đối với những đồ đạc, sắc pháp, những cảnh trí, hình hài phải gỡ bỏ những suy nghĩ của tâm mê, những suy nghĩ của bản ngã, của chấp thủ, tu như vậy là tu trong từng ý niệm, từng sự tác ý. Chớ có suy nghĩ hình hài này, gương mặt này, nhà cửa, ruộng vườn, đất đai này, chớ có suy nghĩ từ nơi đó, chớ có suy nghĩ ở trên đó, chớ có suy nghĩ ở trong đó, hãy suy nghĩ tất cả những cái đó không có gì là ta, không có gì của ta, không có gì là tự ngã của ta, có như vậy mới mở ra được tâm chấp thủ, nắm giữ.
Do không nắm giữ, không yêu thích nên tự mình được hoàn toàn vắng lặng tịch tịnh. Những từ này chính là định lý, khẩu quyết, là bí kíp của chánh pháp cho nên cần học thuộc để quán chiếu, hễ có nắm giữ, chấp thủ cái gì thì gỡ ra cái đó, gỡ cho đến chừng nào không còn nữa là đại thành công. Dù cho mình có làm bất cứ nhiệm vụ gì thì cũng đừng để nhiệm vụ đó làm tâm bị chấp thủ, nắm giữ, dù cho mình có được cái gì trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì cũng phải tháo gỡ ra hết.
Do vì đã suy nghĩ từ lâu ngày, trong nhiều tháng nhiều năm, nhiều đời nhiều kiếp, nhiều trăm kiếp, nhiều trăm ngàn kiếp, nhiều triệu tỉ kiếp cho nên bản ngã hình thành trong năm uẩn. Suy nghĩ đó trở thành cố hữu, trở thành tự hữu, bản hữu và trong lòng có sự xác quyết là có tôi và của tôi, tâm chấp thủ được thiết lập, được an trú, có hang ổ, sào huyệt, nó đứng vững trong tâm. Chỉ cần thấy hay nghe một cái gì làm bực bội là bản ngã sanh khởi lên ngay, chưa cần nói gì cả nhưng cảm thọ đã khó chịu, trong năm uẩn đó nó chấp thủ khủng khiếp.
Năm uẩn này là thứ duyên sanh, là đồ lắp ráp, kết hợp, chắp vá, nương dựa như bó lau sậy, đứng một mình là ngã nên cây này dựa vào cây kia. Trời mưa xuống có những bọt bong bóng nổi lên dưới mái hiên nhà ở chỗ nước trũng, những bọt nước đó lấp lánh dưới ánh nắng nhưng chút sau là nó tan biến, bản ngã cũng vậy, nó là duyên sanh, là thứ tạm bợ. Một Phật tử bên Châu Âu gửi một tấm hình cho Minh Thành, "em của con có người chồng chức cao (đại tá) nhưng bị Covid đã qua đời", tuổi đời còn rất trẻ nhưng có bệnh nền là bệnh phổi, đến khi nhiễm Covid thì hai mươi ngày sau là mất, người vợ rất đau khổ, cả gia đình xót xa, bàng hoàng. Một điều may mắn là sau khi đã xin bác sĩ nhiều lần thì được vào thăm trong giây phút cuối, cô vợ trấn an bằng tất cả khả năng để khuyên bảo và mở bài pháp mà vị đại tá này thích nghe, sau khi nghe được bảy phút thì qua đời.
V. Quán chiếu bản ngã 2
Bản ngã cho mình là năm uẩn,
Nhưng vì năm uẩn là duyên sanh,
Và cái duyên sanh thì tạm bợ,
Nên cái mình, ta dễ vỡ tan.
Có những đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ trong đại dịch Covid 19 này, thậm chí cả gia đình cùng chết vì dịch bệnh, ngay cả thầy trò cùng tu trong một ngôi chùa cùng nhiễm dịch bệnh và ra đi. Như vậy cái vô thường, sự vỡ tan này không có chọn lựa cũng không nể nang người đó có chức vụ gì, quyền uy ra sao, hình tướng thế nào mà nó đến thì phải rã tan. Cái tư duy, ý niệm cho rằng ta và của ta đau khổ vô cùng lúc ngũ uẩn này tàn tạ, tan nát, hoại diệt, con mắt này là sắc thân ái, sắc khả ái, mình thương biết bao đôi mắt này, yêu biết bao cái lỗ tai, lỗ mũi này, thân ái biết bao đôi môi này, cái miệng này vậy mà giờ nó tàn tạ, tan nát, tan hoại, tan vỡ.
"Khi ngũ uẩn tàn, ngã khổ đau", cái ý niệm về bản ngã, tư tưởng về bản ngã đó, nhận thức về bản ngã đó đau khổ vô cùng, hình hài, thể xác thân thương, thân yêu này sắp sửa rã nát, mình sắp ra đi mà không biết mình đi đâu, thân xác yêu dấu chuẩn bị tàn hoại nên đau khổ, thống khổ, buồn thương, tiếc nuối, hối hận. Thậm chí chưa cần nói đến thân xác này mà chỉ cần mất chiếc dép, mất món đồ, mất nắm tóc của mình hoặc là gương mặt bị trầy trụa thì buồn khổ đến dường nào, hôm qua làm lễ có Phật tử không dám chụp hình vì mặt nổi mụn, sợ chụp xấu, chỉ vậy thôi mà khổ rồi thì đến khi thân xác này tan rã sẽ khổ đến mức độ nào.
Khi Minh Thành hỏi mọi người hôm nay có muốn học nữa không vì hôm qua đã học hai buổi thì mọi người nói học nữa nhưng Minh Thành nói chưa chắc. Chưa chắc ở đây có nghĩa là có thể nằm xuống ngủ rồi không dậy nữa thì sáng nay đâu có thời pháp này, đó chính là niệm tử. Nếu thường nhớ nghĩ như vậy thì mới xem thường những tham, sân, si, hơn thua của cuộc đời này, mới vứt bỏ được sự tranh giành, tranh đấu trên thế gian này, không bao giờ quên cái chết dù ở trong hoàn cảnh nào. Nếu thường nhớ nghĩ như vậy thì trong những lúc cấp bách, gấp rút tâm mình vẫn có thể an tịnh, lắng dịu vì mình biết không có gì gấp bằng cái chết, công việc này có gì đâu mà mình phải tất bật, trạo cử, vội vàng. Chính vì thế nên Minh Thành mới trả lời mọi người là "chưa chắc", mọi người thấy lạ nên Minh Thành giải thích chưa chắc ở đây nghĩa là chưa chắc ngày mai Minh Thành còn sống để tiếp tục chia sẻ pháp cho chúng ta.
Khi ngũ uẩn tàn, ngã khổ đau.
Tâm mê than khóc, vỡ tan lòng.
Đâu ngờ nghiệp đẩy tâm mê đến
Sanh cảnh tương đồng nghiệp tâm mê.
Tâm mê nắm giữ trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, nói đơn giản là nắm giữ trong hình hài, thân xác này rất đau khổ, than vãn, khóc lóc, trong lòng đau đớn, khổ sở. Nó rất yêu thương, thân ái xác thân này vậy mà lại chuẩn bị mất đi, biết bao người thân ngồi xung quanh biết làm gì ngoài việc bóp tay chân, còn người nằm đó thì nước mắt lưng tròng, hai khóe mắt rơi lệ. Trước sau gì mình cũng phải từ bỏ những cái mình thân yêu nhất, nếu bình thường không thực tập quán chiếu thì đến khi xảy ra sự việc tâm mình không thể nào an tịnh, lắng dịu được. Hình ảnh chiếc xe cấp cứu mở cửa sau lên để những người thân trong gia đình đứng từ xa cầm di ảnh, lư hương của mẹ mình, của vợ mình lạy trong dòng nước mắt đầy đau khổ, kêu gào đến thấu cả trời xanh sự đau khổ này, niềm đau này, sự chia ly tử biệt này.
Tâm chấp thủ, tâm mê muội trong ngũ uẩn này nếu sâu nặng sẽ không chấp nhận rằng bản thân đã chết nên sẽ trở thành cô hồn, những người chết bất ngờ như bất thình lình bị tai nạn giao thông, bất ngờ bị bắn chết hoặc rơi lầu cao do trượt chân thì có những vong linh không chấp nhận mình chết, họ cứ sống đời sống như vậy mãi, đó là do sự chấp thủ trong ngũ uẩn quá nặng nề, cứng chắc, họ cứ lang thang vất vơ vất vưởng như vậy. Đừng nghĩ rằng nhắm mắt là xong mà đâu ngờ nghiệp sẽ đẩy tâm mê đi, sức mạnh của nghiệp, mãnh lực của thói quen, của những ác nghiệp, sức mạnh của những dòng cảm thọ, nghĩ tưởng trong tâm sẽ đẩy mình đi vào những cảnh tương đồng của tâm mê.
Một tâm thù hằn, ác độc sẽ sanh vào loài rắn độc, một tâm chỉ biết dục vọng sẽ sanh làm con heo, một tâm nhỏ mọn, nhỏ hẹp sẽ sanh vào những loài kiến, muỗi, ruồi nhặng, giòi, vi trùng, một bản ngã to lớn, tâm sân hận hung tàn sẽ sanh vào loài cọp, sư tử, beo để xé xác những chúng sanh khác ăn máu tươi, tâm đam mê trong luyến ái, tình ái thoát ra không được phải làm cô hồn đi theo người con gái đó. Đó là làm loài ngạ quỷ, cô hồn vì yêu, vì tâm tham ái, chấp thủ, tâm mê nắm giữ trong cái thương yêu đó không nhả ra, không giải tỏa được cảm thọ đó.
Những cảnh giới của chư thiên, quỷ thần có thời gian sống dài hơn loài người rất nhiều nhưng cũng vì tâm tham ái hay là tâm sân hận cho nên chư thiên với A-tu-la đánh nhau triền miên, hoặc vì tâm yêu đó có khi đợi nhau tám chín ngàn năm, có khi cả vạn năm, tỉ năm, cảm thọ ái luyến, thương mến đó không thoát ra khỏi được vì đã chấp thủ cứng chắc trong đó. Yêu thương cũng vậy mà oán thù cũng vậy, đó là "sanh cảnh tương đồng nghiệp tâm mê", vì thế đừng oán trách chồng, vợ của mình, đừng oán trách đứa em mình tại sao nó được thương nhiều hơn mình, đừng oán trách đứa con này có hiếu còn đứa kia thì không, tất cả là sanh cảnh tương đồng với cái nghiệp đó, một đứa sanh ra là để trả nợ, một đứa sanh ra là để đòi nợ.
Đứa sanh ra để trả nợ rất có hiếu, làm mọi việc cho gia đình, còn đứa sanh ra để đòi nợ thì mình mệt mỏi với nó, khi đã hiểu pháp rồi chỉ có cách làm sao để chấp nhận trả và dùng nghiệp thiện, tâm hiền, tâm từ chuyển hóa người đó từ từ, hướng người đó vào pháp, còn oán hờn, trách móc thì càng nặng hơn thôi, nghiệp cũ trả chưa xong mà mình trả đũa lại thì vay thêm nghiệp mới, thế là nghiệp chồng nghiệp. Đối với vợ chồng, cha con, bạn bè, cô bác, mẹ chồng nàng dâu cũng vậy.
Khi sanh ra sẽ sanh với cái nghiệp tương đồng của tâm mê đó. Tâm mê đó theo lề thói, cấu trúc nào, tạo ra nghiệp gì thì sẽ sanh ra với chỗ tương ứng nghiệp đó. Nếu tâm mê đó hiền thiện thì sanh ra làm người phúc hậu, giàu sang nhưng phúc hậu, giàu sang vẫn chưa xong mà lại bản ngã, tham lam, thế là lại bị đọa. Tâm mê đó biết tu tập, làm phước, sanh lên chư thiên nhưng trong đó còn tham, sân, si, bản ngã, ganh tỵ, đố kỵ, chiến đấu với A-tu-la, sân hận, hơn thua trong những cái sắc vi tế, hết phước cũng bị rơi xuống đọa ba đường ác, cứ luẩn quẩn như thế.
Tâm mê lại có năm uẩn mới,
Rồi thì bản ngã mới lại sanh,
Lại tranh giành dục, tham, sân, ái
Lại ngã mạn, rồi lại ra đi.
Chụp vào cái thân kêu "gâu gâu" cũng ngã mạn, ta đây, Minh Thành đi thiền hành cách đó mấy căn nhà con chó vẫn cứ sủa, cho nên Minh Thành trải tâm từ "Thôi, bản ngã cái gì, sân hận cái gì, mình mẩy lông lá như vậy mà còn chưa tỉnh nữa hay sao? Hãy quay về nương tựa Phật, Pháp, Tăng đi, hãy nhìn thấy sự nguy hại của bản ngã sân hận đó. Hãy nương tựa, quy y Tam bảo đi, thoát khỏi thân súc sanh này, an tịnh, lắng dịu đi, dễ chịu đi". Minh Thành trải tâm từ liên tục với nó, thế là mấy ngày sau nó hết sủa, cho nên nếu sanh vào thân con rắn thì phùng mang, phun nọc độc ra, như vậy là chụp trúng tấm thân nào là ta đây với tấm thân đó.
Chụp vào thân con giòi thì cho rằng con giòi này đẹp, nghèo hèn, què đi ăn xin mà hung dữ vô cùng, xin không cho là chửi, đó là bản ngã của người ăn mày, có khi vào trúng cây cổ thụ được người ta tôn làm thần, cúng kiếng đủ thứ nên thích thú cứ ở trong đó đến mấy trăm năm, ai chặt cây đó là về nhà bị bệnh hoặc bị tai nạn, do chấp thủ vào cây đó cho đó là mình, là của mình, là tự ngã của mình rồi không siêu thoát được. Hễ chấp thủ vào cái nào thì dính chặt vào cái đó, cho cái đó là của nó, là tự ngã của nó rồi đau khổ, sân hận trong đó. Học những cái này rồi mới thấy thấm thía, run sợ, khiếp sợ dòng luân hồi sanh tử này, dòng nghiệp quả này, dòng luẩn quẩn của tâm mê, tâm chấp thủ này vô cùng khủng khiếp. Hết giành dục lại giành tham, hơn thua với người ta, yêu cái này thích cái kia ghét cái nọ, rồi lại ngã mạn, rồi lại ra đi.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Thế mà vỗ ngực nói ta đây
Như một bao rác đầy hôi thối
Lại vỗ vào bao nói ta tôi.
Sanh ra rồi lại tranh giành, hơn thua, chảy nước mắt rồi ra đi, cứ như vậy hoài cho nên khi Thế Tôn chứng được tam minh thấy được vô lượng đời sống của ngài và của các chúng sanh, đầy rẫy tham, sân, si, hơn thua, dục ái, sanh ra là đấu tranh, bản ngã, sân hận, cứ tiếp diễn như vậy cho nên ngài kêu lên "đây là khổ, khổ là đây".
Bao nhiêu ngũ uẩn đã được sanh,
Bấy nhiêu bản ngã đã hình thành,
Bấy nhiêu bản ngã đều diệt tận,
Vậy bản ngã nào thật là ta.
Bao nhiêu hình thái của ngũ uẩn, bao nhiêu thân lông lá bù xù, đội sừng trên đầu, bao nhiêu sự nhai nghiến xé xát nhau trong máu thịt, bao nhiêu sự chém giết, mưu hại thâm độc, bao nhiêu đời sống, hình thù dị dạng, dị hình dị tật. Bản ngã nào thật sự là ta trong thiên hình vạn trạng này? Cần đọc thật kĩ, suy tư, nghiền ngẫm cho sâu sắc chứ đừng đọc ào ào cho xong, cần nghiền ngẫm để thấm vào cảm thọ để não nề, ngao ngán, chán chê tâm chấp thủ ngu muội này, tâm ích kỷ, nhỏ mọn này. Hãy từ bỏ nó, hạ gục nó, buông xả nó, nhàm chán nó, trong thời buổi dịch bệnh này không có gì là chắc chắn cho nên cần cố gắng hết sức, làm được việc thiện nào là cố gắng làm để rồi giây phút sau không có hối hận và tiếc nuối.
Chúc tất cả quý vị an lành trong ngày mới./.