Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Trách Nhiệm Của Vị Khất sĩ

2026-03-03 00:52:27
Kinh Nikāya Giảng Giải

TRÁCH NHIỆM CỦA VỊ KHẤT SĨ

                                                     Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.An trú cha mẹ vào Chánh Pháp PAGEREF _Toc113196264 \h 1

II.Bổn phận người xuất gia PAGEREF _Toc113196265 \h 2

III.Những lời tâm huyết PAGEREF _Toc113196266 \h 9

An trú cha mẹ vào Chánh Pháp

Minh Thành đang hướng tâm về mẹ mình đang trong bệnh viện sau một tháng phát hiện bà bị ung thư gan. Minh Thành khuyến khích mẹ đi cúng dường, bố thí và phóng sanh. Minh Thành dẫn mẹ ra Thiền Viện Trúc Lâm để cúng dường, sau đó về nhà ở dưới quê để tiếp tục làm các thiện pháp, tất cả đều là tiền của bà bỏ ra. Đầu tiên là mua hết chợ cá và đem đi phóng sanh. Minh Thành không có báo trước gì cả, hừng sáng là mua hết chợ cá và nhờ mua hàng ngàn con chim phóng sanh cho bà. Minh Thành khuyến khích mẹ còn nhiêu tiền mang hết để ấn tống kinh sách, sắp tới đây chúng ta sẽ nhận được một quyển nghi thức tu học trong kinh Nikāya để hồi hướng công đức cho bà cụ.

Ba Minh Thành lúc trước cũng vậy, lúc Minh Thành đang hoằng pháp ở bên Úc thì nghe ông Năm ở nhà bị ung thư cuống bao tử. Vì những buổi giảng trên khắp bốn năm thành phố lớn của Úc Châu đã được lên lịch, nên khi nghe tin đó Minh Thành không thể huỷ để trở về được. Lúc đó Minh Thành cũng làm như  bây giờ và ba Minh Thành sống hơn năm năm, sau đó khám bệnh lại là hết bệnh ung thư luôn.

Bây giờ đến mẹ Minh Thành thì mới phát hiện bệnh được một tháng, đây cũng là phước duyên của bà. Lúc đầu bệnh thường thôi nhưng có chú Phật tử này rất kĩ, chú đi xét nghiệm hết sức cẩn thận thì phát hiện ra hai khối chứ không phải một. Nhưng có một khối tự động sanh ra rồi tự động huỷ luôn, nếu không thì đã chết từ lâu mà không biết lí do vì không đi xét nghiệm. Giờ khối thứ hai lớn hơn khối đầu tiền, lớn bằng tròng mắt kiếng đang nằm trong gan. Bởi vì bà ngày xưa bà sát sanh, ở gia đình có bán một tiệm đồ mặn, bà hằng ngày phải mổ những con chim, lấy những bộ lòng ra. Quán đó là quán khìa, đem khìa những con chim rô ti và bây giờ đó là quả báo của bà. Minh Thành đích thân đưa bà đi mổ là bốn năm lần, cắt túi mật bỏ một cái, đến bệnh ở lỗ tai, sau đó là hai mắt bị đục thuỷ tinh thể, bây giờ là đến gan, phải nội soi chích thuốc vào để khối u đó không phát triển lên và được tiêu huỷ.

Trong năm ngày nay mỗi một ngày Minh Thành giảng pháp ba buổi liên tục, tổng cộng mười năm buổi pháp thoại, đây là buổi thứ mười năm. Minh Thành nguyện đem mười năm buổi pháp thoại Chánh pháp của Đức Phật để hồi hướng cho mẹ già. Nếu như bà thọ mạng còn thì nương nhờ công đức này để bình an, tu tập trong cuối đời. Nếu thọ mạng hết thì sẽ ra đi ở trong phúc lạc. Bà đã thấu hiểu được năm uẩn, ba Minh Thành cũng vậy. Trong bài giảng “Ơn nghĩa xin nguyện đền”, ba Minh Thành tuyên bố một câu: nếu giờ ba chết ông cũng mãn nguyện, ông không còn lo sợ gì nữa, tại vì hai ông bà thấy được năm uẩn, thành tựu niềm tin đối với Phật, Pháp, Tăng và Thánh Giới.

Bây giờ ba và mẹ đã lên trên núi ở, Minh Thành đã gieo duyên cho ba được xuất gia, thọ giới gieo duyên. Còn khoảng một năm hơn là mẹ cũng lên núi tu luôn. Giờ đây Minh Thành đang ở đây thì mẹ Minh Thành đang ở bệnh viện, Minh Thành nhờ các Phật tử lo giúp. Buổi pháp thoại này là buổi thứ mười năm trong vòng năm ngày. Vấn đề này Minh Thành muốn nêu ra để chia sẻ cùng các huynh đệ, cũng như để khuyến khích mọi người tu học chứ không có ý khoe khoang gì cả. Minh Thành vừa nghe trường sắp ngăn phòng để cho tăng sinh mới, tăng ni mới học, Minh Thành có phát tâm cúng dường 50 triệu để hồi hướng công đức cho mẹ.

Bổn phận người xuất gia

Qua sự kiện này để chúng ta thấy rằng, người xuất gia có bổn phận hết sức nặng, chúng ta đừng quên, đừng nghĩ mình cạo tóc đi vào chùa rồi thì tất cả mọi việc đã xong. Hãy luôn luôn nhớ đến cha mẹ ở nhà, chúng ta đã bỏ một gánh nặng của thường tình thế gian và giờ đây phải gánh lên một gánh nặng của thiện pháp. Đức Phật dạy người tu chúng ta không được từ bỏ gánh nặng của Thiện Pháp. Chúng ta không phải đi tu để cho mình được an nhàn, thảnh thơi và trở thành một người không có trách nhiệm đối với người thân. Mình đi tu là phải có trách nhiệm lớn hơn người không đi tu và tránh niệm này rất nặng.

Đúng ra Minh Thành chưa nghĩ sẽ chia sẻ về vấn đề này nhưng khi lên đây thì những thọ tưởng, cảm giác, hành sanh khởi, vì vậy chia sẻ những điều này với huynh đệ. Bởi vì có khi chúng ta ở trong chùa lâu rồi quên mất bổn phận làm con nhưng lại thân thiện, gần gũi, tình cảm với những người xa lạ, đối với cha mẹ thì không chăm sóc được sức khoẻ tinh thần và cũng không hướng dẫn được đạo pháp. Như vậy là mình thiếu bổn phận và trách nhiệm rất là lớn.

Nhiều khi Minh Thành nói gì quý huynh đệ không vui, xin huynh đệ thông cảm, Minh Thành xin sám hối. Minh Thành rất nhiệt tâm, nhiệt huyết trong sự tu học giáo pháp, có lẽ sẽ có những huynh đệ buồn, không vui khi Minh Thành nói, nhưng huynh đệ biết không, thực sự chúng ta gánh một gánh hết sức là nặng và nếu không làm tròn bổn phận này thì việc đi tu của mình thật sự trở thành tai hoạ của đời sau.

Chúng ta giờ đang ngồi đây, không biết rằng mẹ già của mình đang nhớ mong, cha của mình đang hy vọng, ông bà của mình đang mong đợi từng ngày và chúng ta vào trong chùa để chúng ta làm những gì? Khi học chúng ta có đem hết tất cả tấm lòng để cầu pháp không? Giờ tu chúng ta có đem tất cả trái tim để thực tập pháp không? Giờ công quả, phục vụ tam bảo, đại chúng có làm thực sự bằng một niềm hoan hỷ, biết ơn và cung kính hay là không? Hay chúng ta lơ đãng qua ngày, bắt đầu lơ là, lãng quên và sống một đời sống thả lỏng, không còn ý thức mục đích thật sự khiến mình bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ ông bà, cô bác, người thân, xóm làng để xuất gia. Giờ đây, thử nhìn lại xem, thời gian qua mình vào chùa để làm gì?

Chúng ta dần dần phôi phai và quên lãng, mất phương hướng. Chúng ta hãy nhìn lại những suy nghĩ, những cảm giác, những thứ chất chứa bên trong tâm là những gì? Chúng ta có nhiệt tâm, chuyên cần và chánh niệm tỉnh giác thật sự và tu hết sức chưa? Hay vừa buông ra là bị ngũ triền cái che đậy; bị tâm dục tham, sân, hôn trầm, trạo cử, hoài nghi chiếm ngự hết toàn bộ thân tâm. Ai đụng tới là sân si, bản ngã.

Có một câu hết sức đau lòng nhân gian thường nói “càng tu lâu, bản ngã càng cao” câu này thật sự làm đau nhói tim. Khi chúng ta còn là một người tập sự, chúng ta rất hiền lành, dễ thương, dễ mến, dễ nghe, dễ dạy, dễ sai, dễ biểu và sau đó chúng ta được cạo tóc đắp y, thọ giới và lại trở thành một người tự cho mình là bề trên. Chúng ta bắt đầu tưới tẩm, nuôi lớn và tăng trưởng bản ngã một cách ngấm ngầm, không còn kính trên nhường dưới, không còn hiền lành, dễ thương, dễ dạy, dễ sai, dễ biểu. Chúng ta khen mình chê người, cống cao ngã mạng, dương dương tự đắc. Lâu dần rồi ở bên trong cảm giác, nghĩ, tưởng của mình tạo thành một khối u, rất là to lớn của một cái ta, một cái tôi. Khối u này mình không thấy nhưng tất cả người xung quanh đều thấy. Thật là đáng thương cho ta, quá đáng thương cho những người xuất gia và cuối cùng kết quả mình nhận được là “tu càng lâu bản ngã càng cao”. Xem thường những người mới đến, không còn cung kính những bậc trưởng thưởng, ngoài mặt, ngoài miệng như vậy mà trong lòng biết bao cấu nhiễm, nhìn đời bằng “mục hạ vô nhân” – không có ai trong mắt mình.

Thật là khổ đau cho một người xuất gia, thật là cay đắng cho một đời sống tu hành, thật là tiếc nuối, thật là hối hận! Chúng ta đem bản ngã đó về cứu độ cha mẹ mình được không? Chẳng lẽ lại cứu độ ông bà chú bác mình bằng một cái ta to lớn chình ìng như vậy sao? Ngay cả khi gặp được bậc thiện tri thức, bậc chánh tri kiến mà chúng ta vẫn là ương ngạnh, không chịu hạ thấp cái tôi xuống để cầu học, bên trong là sự kiêu căng, ngạo mạn, không chấp nhận học pháp.

Đáng thương cho chúng ta, thật là đáng thương cho chúng ta! Bên trong là một bản ngã to lớn, bên ngoài là một sự gom góp và tích luỹ. Ngày đầu vào chùa chỉ có hai, ba bộ đồ, thậm chí là có một bộ đồ, còn bây giờ mở tủ là tràn đồ ra, chất không hết mà không chịu thí xả, không chịu bố thí, không chịu cúng dường mà nghĩ rằng bố thí là việc của hàng Phật tử, cư sĩ. Điện thoại thì không biết là mấy cái, nếu không biết tu, đi đâu thấy cái gì đẹp là đem về, chất lên và lãng quên mục đích thật sự của đời sống phạm hạnh là ly tham. Như vậy thì chúng ta lấy gì để làm sự nghiệp của người tu nếu không thấy trí tuệ ly tham, không lấy sự chấm dứt, từ bỏ đối với ngũ uẩn để là tư lương, mà lại xem sự bành trướng của vật chất, tiền tài, cơ sở, địa vị mới là thành công. Thật hết sức là đau lòng, hết sức là đau lòng. Chúng ta đi lạc đường và mình được hướng dẫn theo kiểu đó. Trong kinh Nikāya gọi là một kẻ mù dẫn một đám mù đi xuống vực sâu.

Các huynh đệ phải xác nhận kỹ con đường tu của mình không ngoài hai chữ “ly tham” và phải thực hiện cho bằng được, nếu không, cả cuộc đời của mình chỉ thêm gánh nặng của nợ nần, nghiệp quả trong tương lai. Có nhiều Phật tử đến nói chuyện mà Minh Thành thấy đau lòng và thương xót nhiều lắm, họ nói “chùa thầy đẹp, thầy giàu, có nguyên ngọn núi”, Minh Thành nghe hết sức là đau lòng. Nếu là người không hiểu biết, mình nghe và thọ nhận những thứ đó là của riêng mình, như vậy là chết, vì đó là gánh nặng, là mang nợ. Nếu xem những thứ tài vật là của mình thì mình chẳng khác gì là kẻ ăn cướp, là “vô đao đại tặc” – giặc dữ không dao, tức là không dùng dao nhưng vẫn có thể cướp của người khác.

Chúng ta phải nhớ mình đang sống đời sống của người xuất gia. Đức Phật đã nói, người ngoài đời khi người nói về một người tu, họ nói rằng ông là kẻ ăn xin, ông cầm bình bát, ông cầm cái lon, ông đi tới từng nhà này, nhà kia, như vậy ông là kẻ ăn xin:

Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên:

- Này các Tỷ-kheo, đây là nghề sinh sống hèn hạ nhất, tức là nghề khất thực. Đây là một lời nguyền rủa trong đời, này các Tỷ-kheo, khi nói: " Ông, kẻ khất thực với bát trên bàn tay, Ông đi chỗ này, chỗ kia và đấy là nghề sinh sống ". (trích Tương Ưng Bộ Kinh III, bài kinh Người khất thực)

Đây là lời nói sỉ nhục thậm tệ nhất ở ngoài đời. Chúng ta là những kẻ ăn xin, phải xác nhận thật là rõ hai chữ “khất sĩ”, bằng không, cả cuộc đời mình đặt tâm sai hướng, đặt tâm sai hướng thì làm sao có thể thọ nhận những món đồ, đồng bạc mà người ta bỏ ra để cúng dường. Vậy mà lại tham đắm, say mê trong những thứ người ta quăng bỏ ra. Vì vậy, hãy nhớ thật sâu sắc hai chữ “ăn xin”, hãy nhìn những người ăn xin ngoài đường kia, đó cũng chính là mình, không có gì khác hơn, chỉ có điểm khác biệt là được tu học trong Thánh giáo, Thánh pháp. Thế nên, luôn luôn lúc nào giục đầu xuống mà đi. 

Mình là cái gì trong cái gì trong cuộc đời này? Mình không làm được cái gì hết. Đối với xã hội, nếu không tu thì mình là kẻ ăn bám như dây chùm gửi là dây leo ăn bám. Đối với sự tu học, nếu không thành tựu tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học thì Đức Thế Tôn nói rằng:

Ví như, này các Tỷ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng đàn bò, nghĩ rằng: “Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò”, nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: “Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò”.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: “Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo”. Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tâm học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỷ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: “Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo”.

(Tăng Chi Bộ Kinh I, chương Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-môn, bài kinh Sa-môn)

Nếu không nỗ lực tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học, dù có đi sau lưng các Tỳ-kheo, tự xưng mình là Tỳ-kheo thì các vị đó cũng không phải sa môn hạnh, không phải phạm hạnh, không phải tịnh hạnh, mà chỉ là mạo danh sa môn hạnh. Bên trong nội tâm của người này là một đống rác, là đầy rẫy dục và tham, đó là một sự nhục nhã vô cùng, vô cùng nhục nhã. Đầy rẫy bên trong là tham dục, sân hận, si mê, bản ngã, làm sao có thể đem những thứ này đền ơn đáp nghĩa mẹ cha?

Thật sự đau lòng và xót xa. Chúng ta tự nhìn lại mình sẽ thấy xấu hổ vô cùng. Nhìn lại đi hãy nhìn lại đi! Ngày nào cũng phải soi gương, đừng quên soi gương, hãy thực hành Chánh pháp, soi rọi lại thân  tâm của mình. Nhìn lại bao nhiêu năm qua, từ ngày cạo tóc cho đến bây giờ, mình đã nhiếp phục được bao nhiêu lòng dục, bao nhiêu lòng ái, bao nhiêu lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng? Đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc mình đã nhiếp phục được bao nhiêu phần? Mỗi ngày phải soi gương, mỗi ngày phải phản tỉnh, mỗi ngày phải đóng cửa lại, trong những giây phút một mình càng phải soi rọi lại sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Bằng không, sau khi tu mười năm, hai mươi năm, ba bốn chục năm, tu hết cả cuộc đời, cái chúng ta có được là chỉ là bản ngã khủng khiếp, cùng với tâm tham không có giới hạn và lòng sân, si to lớn. Tu như vậy thì đời sống xả ly, đời sống không nhà của chúng ta là một sự lãng phí và chúng ta là những kẻ nợ.

Hoà Thượng Trúc Lâm nói người tu là kẻ nợ, phải nhớ mình là kẻ nợ, là người mang nợ của tất cả. Chúng ta đang thiếu những món nợ hết sức nặng như đang vay nóng. Vậy mà hằng ngày chỉ biết ăn chơi, vui vẻ, cười nói, không biết suy nghĩ, lo lắng, sợ hãi. Chúng ta bị màn đêm của dục, tham, ái che phủ; bị năm thứ triền cái che hết mắt, tai của mình. Dần dần, chúng ta thấy hài lòng và thoả mãn với những thứ vô thường, ảo mộng, với những thứ trống không, vô nghĩa. Chúng ta bằng lòng làm nô lệ cho dục, tham, ái. Chúng ta chấp nhận gục ngã dưới tay của tử thần.

 Chúng ta phải dành thời gian thiền quán, chiêm nghiệm những điều này, chiêm nghiệm thật là sâu sắc và làm cho bên trong phát sanh một cảm giác xấu hổ, nhục nhã và rúng động toàn bộ những tế bào trong cơ thể. Chính những cảm xúc trí huệ, những cảm xúc thức tỉnh, sám hối này sẽ tẩy rửa những cảm giác chai lì, trơ trơ, không biết run sợ, không biết sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp. Người tu phải biết lo sợ, rùng mình trước những ác và bất thiện pháp.

Chúng ta phải thường xuyên nhớ lại mục đích tu tập để biết lo lắng trong đời tu này. Thế nhưng chúng ta quên lãng đi lý tưởng xuất gia ban đầu, không thèm suy nghĩ, sống vô tư. Thậm chí, có những Tăng Ni lại chụp hình tạo dáng này nọ kia rồi đăng lên mạng xã hội, đó là sự nhục nhã. Chúng ta quên mình là ai, có tự rờ đầu trọc của mình không? Những việc đó là để cho người đời làm, tại sao mình là người tu nhưng lại làm như vậy? Chẳng lẽ đã quên bản thân mình đang mang một cái đầu trọc hay sao? Tại sao có thể tự nhiên đứng tạo dáng, sau đó đưa lên làm trò hề cho hàng thức giả. Ngày đầu xuất gia, chúng ta đã hủy hoại thân này để đi tu mình có nhớ không? Chẳng lẽ tu một thời gian thì hình dáng này lại là thứ đáng cho mình khoe khoang, đáng cho mình tham thích, luyến ái hay sao?

Thân thể này nếu không có sự thực tập thân hành niệm, không học pháp, không hành pháp thì mình sẽ làm ra những chuyện hoại pháp, hư pháp và sụp đổ toàn bộ Chánh pháp. Phải tập xấu hổ với thân lủng lổ này. Cái thân chín lỗ này chảy ra những cái dơ bẩn, hôi thối nhất. Chúng ta phải tập quán bất tịnh, ý thức sâu sắc bổn phận đời tu. Nếu bên trong này còn lậu hoặc thì tập chấp nhận, dần dần nhiếp phục, bằng mọi giá không làm những điều hư hoại, khiến người khác mất lòng tin đối với Tam bảo. Những phiền não, lậu hoặc là riêng của mình, chúng ta không được làm ảnh hưởng chung đến Phật Giáo. Chúng ta phải nhìn lại và thật sự cảm thấy lo sợ đối với đời tu của mình.

Khoá tu Nikāya trên Linh Quy Pháp Ấn dài một tuần lễ, một ngày tu khoảng mười bốn tiếng, cư sĩ một trăm người ăn cơm không nghe một tiếng động của đũa, muỗng. Một trăm người mà tưởng như không có một người nào hết trong suốt bảy ngày. Ngay ở Bửu Liên cũng vậy, cả một trăm người ăn mà cũng không nghe tiếng khua của muỗng, đũa.

Nếu không nhìn tự thân mình thật sâu sắc, tưởng mình tu được rồi, chấp nhận hiện tại, không nỗ lực tu học thì không thể nào tu thành tựu được. Đức Phật có nói, Ngài không tán thán người đứng lại đối với thiện pháp. Thân hành, khẩu hành, ý hành của người tu lúc nào cũng phải an tịnh, phải lắng dịu, phải khoan thai, thong thả, thư thái và có sự trầm mặc. Đó là phong thái của người xuất gia. Khoan nói những pháp tu thâm sâu, ít nhất những ngôn ngữ, hành động của mình phải ra dáng người tu, nếu không, dù tu mấy chục năm, tu cuối đời cũng vậy. Bởi lẽ, mình không thấy lỗi, không thấy sai mà mình còn chấp nhận cái sai và như thế cuộc đời tu sẽ đi về đâu. Học xong bước ra khỏi trường này là ai dạy mình được nữa. Khi đã làm trụ trì, làm sư phụ, làm tỳ-kheo rồi ai nói mình nghe? Những điều nhỏ xíu mà còn không làm được thì nói gì tới những cái hết sức thâm sâu như sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Những sắc, thọ, tưởng, hành, thức bên trong sanh khởi chỉ trong tích tắc, nếu không có sự tu sâu sắc thì chỉ trong tích tắc là có thể bị đoạ xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Vì mình không thể nào chống cự được thọ, tưởng, hành sanh khởi và hoạt động. Hơn nữa, những dục, tham, ái, vô minh sanh khởi vô cùng khủng khiếp. Nếu không nhiếp phục được những cái dễ trước thì những cái khó làm sao làm nổi. Đó là trái tim của thánh pháp, thánh trí, thánh đạo và quý huynh đệ chịu đi theo là đạt đến thánh quả, điều này nắm chắc trong nằm bàn tay. Đây là con đường thực sự của Đức Phật, là con đường độc nhất đưa chúng sanh vượt khỏi sầu bi, thành tựu thánh trí, chứng ngộ Niết-bàn, không có con đường thứ hai, nếu không tự đi thì không ai có thể giúp mình.

Nhìn xung quanh hiện trạng ngày nay, tương lai chúng ta sẽ đi đến đâu nếu cứ tu chơi chơi, không chịu thay đổi và cải cách, không chịu cố gắng tìm tòi, để tìm ra đạo lộ thật sự của Đức Phật. Nếu đi sai đường thì chúng ta sẽ bế tắc, bế tắc hàng ngàn năm chứ không phải trăm năm. Vì chúng ta không có con đường thoát ra tham, sân, si bản ngã, không có con đường xuất ly thì sao đi ra.

Đồng thời, chúng ta phải nhớ đến cha mẹ, nhớ những người thân thương nhất, nhớ những người có ân nghĩa ân tình với mình. Ngoài trách nhiệm bổn phận đối với tự thân, chúng ta còn có một trách nhiệm rất là lớn đối với những người ân nghĩa nhất trong cuộc đời của mình. Cần phải đặt để, khuyến khích an trú, khích lệ họ vào Tam bảo. Trong kinh Đức Phật còn dùng từ “áp đặt” những người thân của mình đạt được lòng tin bất động đối với Phật, lòng tin bất động đối với Pháp, lòng tin bất động đối với Tăng, lòng tin đối với Thánh giới. Phải đặt để, khuyến khích, áp đặt làm cho họ an trú vào bốn dự lưu phần, đó là đền ơn, đó là báo ơn. Như vậy, nếu chính bản thân mình còn không an trú vào được thì sao có thể đặt để người thân mình. Cho nên, trước hết chúng ta phải có lòng tin bất động đối với Thánh trí năm uẩn này. Lúc nào cũng phải quay lại cảm giác toàn thân, phát hiện ra những tham, sân, si, dục, vô minh và bản ngã. Sau đó dùng tất cả các phương pháp để tẩy sạch, đoạn tận chúng, đó là con đường duy nhất của tất cả bậc Chánh Đẳng Giác đã đi qua.

Những lời tâm huyết

Đây là tất cả những lời thiết tha và chân thành nhất Minh Thành xin chia sẻ với mọi người, bằng tất cả tấm lòng chân thành mong muốn cho các vị thành tựu. Các vị ơi là các vị đừng ngủ nữa, hãy mở con mắt ra để mà nhìn đi. Giờ này mẹ Minh Thành đang nhập viện, bổn phận Minh Thành làm con nhưng không lo lắng được, phải giao cho Phật tử và ngồi đây hầu chuyện cho các vị. Xin các vị hãy chứng minh cho lòng con, lòng con thiết tha chân thành mong muốn các vị thành tựu chánh tri kiến. Mong muốn các vị đạt được Hướng dự lưu, hướng đến chỗ ly tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Có như vậy mới báo hiếu được cho cha mẹ của các vị. Nếu không, tương lai các vị khổ lắm.

Phải cố gắng tu học, phải thành tựu cho bằng được ba chữ “Chánh Tri Kiến”, tức là thấy được ngũ uẩn. Thường trực nhìn lại để thấy được ngũ uẩn, thấy trong ngũ uẩn không có cái tôi, của tôi và tự ngã của tôi, thấy được như vậy hướng đến dự lưu, hướng vào bốn đôi tám vị, là Đa văn Thánh đệ tử của Đức Phật. Ngược lại, không nhìn nhận ngũ uẩn, không thấy ngũ uẩn, lúc nào cũng thấy tôi và của tôi thì chúng ta mãi mãi đứng ngoài cổng chùa. Dù suốt đời tu tập thì cũng chưa nhập hộ khẩu vào trong Dự lưu, bốn đôi tám vị Hiền Thánh Tăng.

Mỗi ngày ra sức tu tập để thấy được năm uẩn, thấy được tính chất tan hoại, biến hoại, khổ sở của nó để nhàm chán, yểm ly, muốn từ bỏ, muốn chấm dứt, một khi xác quyết như vậy thì Hướng dự lưu Thánh quả. Khi đạt được niềm tin bất động, không lung lay nữa là Nhập lưu. Những gì huynh đệ được học từ tạng kinh Nikāya sẽ được sử dụng đến hết cuộc đời, cho đến kiếp sau, vì đây là Chánh pháp, Thánh pháp, Thánh trí, Thánh đạo, Thánh quả. Chỉ nhìn vào tâm là thấy được những cảm giác, nghĩ, tưởng, những tham, sân, si, bản ngã trú ẩn trong cảm giác một cách rõ ràng, thiết thực, hiện tại, không trải qua thời gian, không có thời gian, có hiệu quả tức thì, có khả năng hướng thượng, người trí tự mình giác hiểu.  Hãy có một lòng tin bất động vào Thánh pháp này, hãy có một lòng tin vững chắc vào Thánh trí này, hãy có một lòng tin kiên định vào sự chứng ngộ này của Như Lai.

Hai mươi bốn giờ mỗi ngày, Minh Thành nghĩ rằng cái chết có thể đến với mình bất cứ lúc nào. Bản thân Minh Thành sẽ sẵn sàng chấp nhận. Ngày nào cũng nuôi dưỡng niệm tử, ngày nào cũng nuôi dưỡng khổ, vô ngã đối với năm uẩn. Năm uẩn này tan hoại là lẽ đương nhiên, không có gì lạ. Mỗi ngày mỗi giờ chúng ta phải nuôi dưỡng sự tu tập, quán chiếu, cứ nuôi dưỡng từ từ thì sẽ thành tựu được sự thấy biết chân xác. Đến giờ phút này, đối với Thánh pháp này, đối với trí huệ này, bản thân Minh Thành không còn một chút gì ngờ vực. Minh Thành cứ đi tiếp trong dòng pháp này cho đến ngày tới nơi, không còn tìm bất cứ một pháp hành nào nữa ngoài con đường này, cũng không muốn cầu xin bất cứ thứ gì trong cuộc đời này. Minh Thành chỉ cầu xin duy nhất một điều là thành tựu được sự ly tham đối với năm uẩn. Cầu xin chính mình hãy nỗ lực phấn đấu, hãy mở con mắt để nhìn thấy thực chất của cuộc đời này chẳng có là gì.

Khi đến Nha Trang giảng pháp cho đạo tràng Nikāya, Minh Thành nghe một tin hết sức đau lòng. Có một thầy ở trong thất dưới chân núi bị núi lở sạc từ trên xuống kéo đi luôn chùa và thầy. Cuộc đời này đầy bất thường, đột ngột, không thể biết được mình sẽ chết ở đâu, khi nào và bao giờ mới chết. Vậy mà chúng ta không lo gì cả, suốt ngày chỉ lo “ăn gì, đi đâu, làm gì”, chứ không lo đại sự của sanh tử, chuyện quan trọng nhất mình để qua một bên, nghĩ rằng chuyện đó còn xa lắm, đó là một sự u mê hết sức to lớn của tự thân nhưng chúng ta lại không lo.

Sáng thức dậy là không biết nay ăn món gì, nay làm cái gì, chứ không lo là mất hết một ngày, cái chết gần kề, vô thường sắp đến. Mở lên tin tức lên là bao nhiêu vụ án xảy ra, tai nạn giao thông cũng không ngừng. Sau khi đi ra khỏi nhà là không chắc có thể trở về. Nhưng mình cứ nghĩ những chuyện đó là chuyện của người ta, không dính dáng gì đến mình, tưởng rằng mình sẽ an ổn đều đều qua ngày, đó là vô minh, si mê, u mê. Cần phải hiểu rằng những trường hợp bất ngờ, vô thường đó có thể xảy ra đối với mình. Từ đóphấn đầu làm những chuyện cần phải làm.

Cần phải làm, nên làm

Làm cùng tận khả năng,

Xuất gia sống phóng đãng,

Chỉ tăng loạn bụi đời.

(Kinh Pháp Cú – phẩm Địa Ngục)

Việc cần làm nên làm, làm cùng tận khả năng của mình, vậy việc gì là việc cần làm? Đoạn tận tham, đoạn tận dục, đoạn tận ái, đoạn tận sân, đoạn tận si, đoạn tận tham, chấp ngã đối với ngũ uẩn; đoạn tận lòng dục, tham, ái đối với những thứ vô thường… đó là việc cần làm và phải làm bằng cùng tận khả năng. Nếu xuất gia mà sống phóng đãng thì chỉ tăng loạn thêm bụi trần.

Thật sự có những lúc Minh Thành giảng pháp, mấy trăm người bên dưới ngồi nghe một cách yên tịnh làm Minh Thành muốn chảy nước mắt. Thương thật là thương hình ảnh trang nghiêm, thanh tịnh và đó là sự yên lặng của bậc thánh. Trong thời đại này, trong môi trường này, trong hoàn cảnh xung quanh đầy tham, sân, si, dục, ái…. chúng ta lại được tu tập theo Chánh Pháp của Đức Thế Tôn, giống như ở trong một đống lửa nhưng hoa sen vẫn nở, điều này khiến Minh Thành vô cùng xúc động. Tất cả chúng ta đang ở trong thành phố ồn ào, náo nhiệt, bị bủa vây bởi năm dục trưởng dưỡng; xung quanh là những dục lạc ngày càng tăng cường mãnh liệt nhưng chúng ta có thể ngồi đây với một sự an tịnh, bình an, nhận diện lại cảm giác toàn thân, thực tập ba pháp, nhận diện năm uẩn và học tạng kinh nguyên chất từ 2600 năm trước của Đức Phật, được đi trên một đạo lộ Thánh trí. Thật hạnh phúc và phước báu vô cùng! Có những người được nghe Chánh pháp thì thấy rất là hạnh phúc, còn những người không hạnh phúc thì sẽ phải đau khổ. Bây giờ không hạnh phúc thì đau khổ tự chịu, không ai có thể giúp mình thêm được nữa.

Minh Thành có những lần rưng rưng nước mắt, vì biết rằng những vị đang nghe pháp ở đây, sau này sẽ có những bậc hiền thánh, bốn đôi tám vị. Nơi đây sẽ có những vị đáng được chắp tay, đáng được đảnh lể, đáng được cung kính, cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời nếu chúng ta đi đúng con đường này.

./.