Thiền Quán - Sự Tìm Cầu Của Bậc Thánh 3
Kinh Nikāya Giảng Giải
Thiền Quán
SỰ TÌM CẦU CỦA BẬC THÁNH 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bao lâu nay chúng ta tìm cầu điều gì? PAGEREF _Toc65766986 \h 1
II. Câu chuyện sự tìm cầu của Đức Phật PAGEREF _Toc65766987 \h 1
1. Sự ăn PAGEREF _Toc65766988 \h 3
2. Thánh Pháp ấn của Như Lai: nhàm chán, ly tham PAGEREF _Toc65766989 \h 4
3. Thánh pháp ấn của Như Lai 2 PAGEREF _Toc65766990 \h 7
4. Bài kệ thành đạo của Đức Thế Tôn PAGEREF _Toc65766991 \h 8
5. Pháp chấp thủ PAGEREF _Toc65766992 \h 9
III. Sự chứng ngộ của Đức Phật PAGEREF _Toc65766993 \h 13
I. Bao lâu nay chúng ta tìm cầu điều gì?
Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc Chánh Biến Tri thấy biết cùng tột.
Kính thưa đại chúng, chúng ta tiếp tục tìm hiểu về sự tầm cầu của bậc Thánh. Chúng ta phải xác định rõ mục tiêu, chỗ hướng đến, cái cần đạt tới là gì. Nếu chúng ta không nắm vững được, không nắm chắc, không thấy rõ được thì chúng ta sẽ đi sai đường mà không hay biết. Trước đây chúng ta đã tầm cầu rất nhiều thứ nhưng lại tìm cầu những thứ buồn lo, buồn đau, buồn phiền, buồn bực và buồn khổ, những cái mà chúng ta tìm trước nay không đem lại hạnh phúc, lợi ích, an lạc dài lâu thật sự cho chúng ta.
Chúng ta đã để dành rất nhiều thời gian tìm kiếm, tìm cầu, đuổi hình bắt bóng, chẳng những những thứ mình tìm kiếm không đem lại an lạc, vui vẻ mà còn đem lại đau khổ và bất an. Chúng ta đã tìm sai rồi, chúng ta đi tu là muốn tìm cái gì cao thượng giải thoát an lạc nhưng tại sao chúng ta đã tìm vài chục năm, có khi cả cuộc đời mà chỉ tìm thấy toàn những thứ phiền não, trói cột trong vòng lẩn quẩn được trá hình là những việc thiện lành, Phật sự, vì chúng sanh vì mọi người.
Chúng ta đã đặt tâm sai hướng, bài kinh này chính là xác quyết sự tìm cầu của người xuất gia, của người tu hành, của bậc trí tuệ, sự tìm cầu của bậc Thánh cho nên con muốn đại chúng phải lắng nghe thật kĩ, cảm nhận thật sâu sắc, khắc ghi vào tim, vào cảm thọ và không bao giờ cho phép mình quên tại sao mình vào chùa, tại sao mình lại lên núi lạnh lẽo, cô quạnh để tìm cầu cái gì.
Chúng ta không phải tìm cảnh đẹp, không đơn thuần tìm không khí trong lành mà chúng ta đang tìm cái gì cao thượng, tối thắng hơn, chúng ta đi tìm cái gì vượt ra ngoài những thứ khổ sầu này. Chúng ta đã tìm thấy chưa? Nếu không thì cả đời tu chúng ta chỉ là trống không, vô tích sự, trống rỗng, sự ra đi của chúng ta là một chuyến đi không thành tích, không có lợi ích, không có thu hoạch.
II. Câu chuyện sự tìm cầu của Đức Phật
Chúng ta thấy rằng Thái Tử Tất-đạt-đa khi tìm học các vị thầy đã chứng được các tầng thiền rất thâm sâu cho đến phi tưởng và phi phi tưởng xứ, phi tưởng là không phải tưởng, phi phi tưởng là không phải là không phải tưởng, những tầng thiền định rất thâm sâu và vi tế mà ngài đã chứng đắc nhưng ngài nghĩ:
Rồi này các Tỳ-kheo, Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ có Alara Kalama có lòng tin, Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy Ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Alara Kalama tuyên bố: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta an trú".
Rồi này các Tỳ-kheo, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Tự tri là tự ngài biết, tự ngài chứng đắc trạng thái đó, tự ngài đạt được, tự ngài đặt mình vào tình trạng đó gọi là tự an trú, tức là trú luôn trong trạng thái thiền định đó. Vị thầy dạy ngài rất quý trọng ngài, xem như ngang hàng với nhau.
--"Thật lợi ích thay cho chúng tôi, Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!" (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Hiền giả chính là Thái Tử Tất-đạt-đa.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, Alara Kalama là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này các Tỳ-kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ". Như vậy này các Tỳ-kheo, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.
Rồi này các Tỳ-kheo, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Câu này được Thế Tôn lặp lại rất nhiều lần trong bài kinh này. Pháp phải đưa đến sự yểm ly, hướng đến ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thượng trí, giác ngộ Niết-bàn là pháp mà ngài đang đi tìm, gọi là chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Hằng ngày chúng ta tu nếu những suy nghĩ, cảm giác, những sự tu tập không đúng với những cái này là không đi đúng đường của Đức Phật vì pháp phải đưa đến sự yểm ly, nhàm chán, xa lìa, đây là chỗ tuyệt đối quan trọng nếu không sự tu của mình sẽ không đi đúng như Thế Tôn đã chỉ dạy.
1. Sự ăn
Trong khi ăn cơm mình có hướng đến yểm ly, ly tham không? Trong khi ăn tu như thế nào? Trong khi ăn mà hương vị, sắc của thức ăn và ăn trong sự đam mê, thích thú thì cái ăn đó không hướng đến sự ly tham, nhàm chán, xa rời, đó không phải là cái ăn của người xuất gia, cho nên Đức Phật dạy quán thức ăn – đoàn thực như sau:
Ví như, này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quãng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.
Rồi này các Tỳ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.
Rồi này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: "Ðồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng ta đều bị chết hại".
Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực, than khóc: "Ðứa con một ở đâu? Ðứa con một ở đâu?"
Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?
-- Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.
-- Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)
Bây giờ chúng ta ăn trong cảm thọ như thế nào? Có quán chiếu như lời Đức Phật dạy không? Đây là lý do mà chúng ta tu không thành tựu, cái ăn được Đức Phật dạy trong kinh Nikāya sẽ đưa đến sự xa lìa, ly tham, tức là không còn tham muốn gì nữa, chính cái ăn đó lần lần mới đi đến chỗ nhàm chán các thức ăn và giải thoát khỏi các thức ăn. Tại sao lại phải giải thoát khỏi các thức ăn? Vì thân này tồn tại là nhờ có thức ăn.
Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
2. Thánh Pháp ấn của Như Lai: nhàm chán, ly tham
Dùng Thánh Pháp Ấn này sẽ soi chiếu ra tất cả lời dạy của Đức Phật, những pháp hành rồi mọi người sẽ thấy mình tu có đúng không, tại sao tu không có kết quả. Trong bài kinh Thông Điệp, ngài Upàli đã xin Thế Tôn dạy cho cái pháp vắn tắt, rồi ngài sẽ tìm một chỗ xa vắng thực tập tinh cần, tinh tấn, Đức Phật dạy pháp nào đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ Niết-bàn thì hãy thọ trì đây là pháp, là luật của Như Lai, còn ngược lại không phải là pháp và luật của Như Lai.
Rồi Tôn giả Upàli đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upàli bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con một cách vắn tắt, sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
- Này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này không được đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây không phải Pháp, đây không phải Luật, đây không phải lời dạy Thế Tôn". Và này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này đưa đến nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy Thế Tôn". (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VIII. Phẩm Về Luật, (IX) Thông Điệp)
Bây giờ mình nhìn giảng đường nơi mình đang ngồi thì có thấy nhàm chán, muốn rời xa nó không hay chỉ thấy nó đẹp? Ở bên Ni xá, hằng ngày nhìn chỗ mình đang ở có thấy nhàm chán không? Có thấy nó là sắc pháp, tứ đại vô thường, tan hoại, không có gì đáng ưa thích không? Nếu mình thấy đúng vậy là đang đi đúng con đường của Đức Phật. Khi nhìn bàn tay, đôi chân, gương mặt, cái miệng, thân xác, hình hài này có thấy yêu thích nó không? Có thấy hoan hỉ, hài lòng không hay thấy đây là tứ đại do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tan nát, hoại diệt, là cái không đáng yêu thích, đây là một gánh nặng, hệ lụy?
Mình phải tác động tâm ý nhàm chán, xa lìa, chấm dứt, không muốn những đời sống vô thường, tham sân si, dục ái như vầy nữa, chính sự tác ý, suy xét, suy nghĩ, cái nhìn thấy đó là tương ưng với Thánh Pháp Ấn, đó là pháp hướng đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, chấm dứt, an tịnh, thượng trí, giác ngộ Niết-bàn.
Hằng ngày mình sanh khởi được bao nhiêu suy nghĩ, cảm thọ như vậy? Mỗi lần suy nghĩ nhàm chán, từ bỏ, chấm dứt sanh khởi lên là mỗi lần tương ứng với trí tuệ, tương ứng với giác ngộ, giải thoát. Bất cứ pháp hành nào tu mà không có những thứ này thì Thế Tôn không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi. Vì trong những tầng thiền định thâm sâu không đưa đến sự nhàm chán, ly tham, không đưa đến sự chấm dứt mà lại ái rồi thích trú trong đó, có ngã trong đó, có ta và của ta, còn những trạng thái của thọ; tưởng; thức, còn cái kiến chấp về thân (thân kiến), dù thọ; tưởng; thức an tịnh, lắng dịu nhưng thâm sâu trong đó vô minh và tham ái vẫn còn.
Ngài bỏ đi không tôn kính pháp đó vì không thấu hiểu được ngũ uẩn tức là vô minh, ưa thích tham đắm trong đó là tham ái, còn vô minh không thấy ngũ uẩn thì còn yêu thích ngũ uẩn trong khi ngũ uẩn lại là thứ vô thường, tan hoại, phiền não, khổ đau, ưa thích phiền não thì làm sao đi đến chỗ chấm dứt, an tịnh Niết-bàn?
Đây là chỗ thâm sâu của Thánh Pháp Ấn, Đức Phật đã nói Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ, tức là ngài muốn đi tìm cái cùng tột sự an tịnh, tối thắng vô thượng thì đó là Niết-bàn, là sự bình an tuyệt đối tối thượng, hạnh phúc tối thượng vĩnh cửu. Nói đơn giản dễ hiểu là tham ái cái nào thì cái đó làm khổ mình, thích chiếc xe thì chiếc xe đó làm mình khổ, đi đâu cũng lo lắng, sợ mất xe, nếu nó bị hư hỏng thì mình khổ sầu. Thích món đồ nào đó cũng giống vậy, thích ngôi chùa thì đi đâu cũng suy nghĩ về ngôi chùa đó, sợ mất đồ quý trong chùa.
Ái luyến sinh sầu ưu,
Ái luyến sinh sợ hãi.
Ai giải thoát ái luyến
Không sầu, đâu sợ hãi?
(Kinh Pháp Cú 16 – Phẩm Hỷ Ái, kệ 213)
Mình có yêu thích thân xác, hình hài này không? Quá là yêu thích, say mê và suy nghĩ lo lắng, sợ hãi cho hình hài này, nếu hình hài này xảy ra chuyện bất trắc tàn tật, bị tai nạn thì mình có sầu bi khổ ưu não không? Đó là lý do tại sao chúng ta phải quán Thân Hành Niệm, tứ đại, ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn phân hủy của một tử thi, đó là lý do tại sao trong mỗi buổi thiền đều phải giải phẫu cơ thể, phanh phui cơ thể đầy mủ máu, xương da để sự thật được phơi bày, từ đó mới phá trừ tâm tham ái đối với thể xác vì mình tham ái nó là sẽ đau khổ, sầu bi với nó.
3. Thánh pháp ấn của Như Lai 2
Còn nếu thấy bản chất nó là bất tịnh, vô thường, vô ngã, chín lỗ chảy ra những thứ hôi dơ, chúng ta thường tư niệm, tư duy thì chúng ta có sanh khởi lên sự nhàm chán không? Nhất định sẽ sanh khởi lên sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, yểm ly, giác ngộ Niết-bàn. Chúng ta đã thấy rõ Thánh Pháp Ấn chưa? Đó là con đường, là đạo lộ tối thắng, an tịnh. Bất cứ tham ái với cái gì là sẽ sầu đau, khổ não cho nên dì mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề lớn tuổi mới được xuất gia sau năm lần bảy lượt cầu xin và đã trở thành tổ sư của Ni chúng.
Sau khi được xuất gia bà đã đến bạch Thế Tôn vì đã già cả, tuổi cao sức yếu không còn nhiều thời gian nên xin Thế Tôn dạy cho pháp vắn tắt, sau đó sẽ trở về sống một mình độc cư thiền định để đoạn trừ các lậu hoặc thì Thế Tôn nói ái ở đâu đoạn ở đó, ái ở đâu là diệt ở đó, không lâu sau khi nỗ lực tu tập, dì mẫu đã thành tựu Thánh quả, sau đó lãnh đạo Ni chúng.
Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Mahàvana, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Mahàpajàpatì Gotamì đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Mahàpajàpatì Gotamì bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, sau khi Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
- Này Gotamì, những pháp nào bà biết: "Những pháp này đưa đến tham dục, không phải ly tham; đưa đến hệ phước, không đưa đến ly hệ phước; đưa đến tích tập, không đưa đến không tích tập; đưa đến dục lớn, không đưa đến ít dục; đưa đến không biết đủ, không đưa đến biết đủ; đưa đến tụ hội, không đưa đến nhàn tịnh; đưa đến biếng nhác, không đưa đến tinh tấn; đưa đến khó nuôi dưỡng, không đưa đến dễ nuôi dưỡng". Này Gotamì, hãy thọ trì nhứt hướng rằng: "Ðó là không phải Pháp, đó là không phải Luật, đó là không phải lời dạy của bậc Ðạo sư".
Và này Gotamì, những pháp nào bà biết: "Những pháp đưa đến ly tham, không đưa đến tham dục; đưa đến ly hệ phước, không đưa đến hệ phước; đưa đến không tích tập, không đưa đến tích tập; đưa đến ít dục, không đưa đến dục lớn; đưa đến biết đủ, không đưa đến không biết đủ; đưa đến nhàn tịnh, không đưa đến tụ hội; đưa đến tinh tấn, không đưa đến biếng nhác; đưa đến dễ nuôi dưỡng, không đưa đến khó nuôi dưỡng". Này Gotamì, hãy thọ trì nhứt hướng rằng: "Ðó là Pháp, đó là Luật, đó là lời dạy của bậc Ðạo sư". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, VI. Phẩm Gotamì, (III) Pháp Tóm Tắt)
Nếu không thấy tham ái thì làm sao đoạn? Muốn thấy tham ái đầy đủ, tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của tham ái thì phải nhìn từ nơi ngũ uẩn, nếu không thấy ngũ uẩn thì không thấy được đầy đủ khía cạnh, góc độ, sự vận hành và thao túng của nó, chính vì vậy khi các cô lên đây tu phải nắm vững được ngũ uẩn, nếu không sự tu chúng ta sẽ không đi đến chỗ Đức Phật đã chỉ dạy, con chỉ mới nói đến sắc uẩn chứ chưa nói đến thọ; tưởng; hành.
Chúng ta có ưa thích cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm không? Sự rõ biết ở nơi sáu căn có nhận đây là tôi, đây là tự ngã của tôi không? Nếu chúng ta không đi đến con đường yểm ly, ly tham, đoạn diệt, thắng trí chứng ngộ Niết-bàn này thì làm sao chúng ta gặp được Đức Thế Tôn?
4. Bài kệ thành đạo của Đức Thế Tôn
Tất cả sự tu tập của chúng ta trong mọi cảm giác, suy tưởng đều phải hướng tâm đến sự nhàm chán, xa lìa, chấm dứt những trạng thái dục tham ái, sân hận, vô minh và chấp ngã, làm cho nó tàn tạ, rã rời. Cái tham ái sâu thẳm trong những cảm giác, nghĩ tưởng đó mà không thấy được nó thì chúng ta sẽ vĩnh kiếp trầm luân, sau khi thành tựu dưới cội Bồ-đề thì Thế Tôn đã đọc lên bài kệ khải hoàn ca, là bài ca chiến thắng của người.
Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng không gặp
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh.
(Kinh Pháp Cú 11, Phẩm Già, kệ 153)
Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa.
Ðòn tay ngươi bị gẫy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong.
(Kinh Pháp Cú 11, Phẩm Già, kệ 154)
Trong bài khải hoàn ca này Đức Thế Tôn đã nói lên sự thật bao nhiêu kiếp lang thang trong vòng luân hồi sanh tử này, ngài đi tìm nhưng không gặp tác giả làm căn nhà ngũ uẩn, căn nhà tứ đại này nên đau khổ vì phải tái sanh mãi, sanh sanh tử tử trong vòng quay cuồng lập tới lập tui bất tận nên gọi là luân hồi. Nhưng nay ngài đã thấy được bộ mặt thật sự của ngươi nên tâm ta đạt tịch tịnh, đó là an tịnh tối thắng, khi sạch hết tham ái thì lúc đó tâm mới an lạc, tối thắng, vô thượng tịch tịnh. Vì còn ái là còn dao động, còn dao động thì còn chấp trước, còn chấp trước thì còn đau khổ trong luân hồi sanh tử.
Cho nên bài khải hoàn ca này nói lên con đường chứng ngộ của Đức Phật bằng con đường diệt tận tham ái, muốn diệt tham ái cho đến tận cùng thì phải phá vô minh. Thế nào gọi là vô minh? Đó là không thấy được năm uẩn, không thấy rõ được thân tâm được cấu tạo từ cái gì, vận hành như thế nào, hoạt động ra sao, chi phối, xâm chiến thế nào thì gọi là vô minh. Tất cả sự hành trì của chúng ta là nhiếp phục và đoạn tận tham ái và vô minh.
5. Pháp chấp thủ
Khi nãy con nói có người thích chiếc xe, thích ngôi chùa, thích thân thể họ với một người không ưa thích, tham đắm, dính mắc gì nữa, chỉ là những thứ vô thường, trống rỗng, và nếu những thứ đó bị biến đổi, tan nát thì ai là người đau khổ? Người nào không đau khổ thì tâm người đó đạt tịch diệt, sự an tịnh hoàn toàn tất cả dục tham ái, tất cả sự chấp thủ trên cuộc đời này, trong kinh Tứ Niệm Xứ có câu không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời, đó là con đường của sự yểm ly, ly tham, đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, an tịnh, thắng trí chứng ngộ Niết-bàn chứ không phải Niết-bàn là một nơi nào đó để mình về đó hưởng thụ, Niết-bàn là sự an tịnh, tịnh chỉ tất cả hành, sự đoạn diệt sanh y, phá trừ kiêu mạn, diệt tận kiết sử, sự tiêu vong tất cả tham ái trong cuộc đời này, tu đến đây là bất động tâm giải thoát, không còn gì trên đời này có thể làm mình đau khổ nữa.
Có một người lên rừng bẻ cành, bẻ nhánh đốt cây thì mình có nghĩ rằng người ta bẻ tay, bẻ chân, đốt mình không? Không bao giờ, vì cành nhánh đó không liên quan đến mình, nhưng nếu họ đến bẻ tay, bẻ chân mình thì có chuyện vì sắc thủ uẩn, trong suy nghĩ, cảm thọ, nhận thức của mình đó là cánh tay của mình, đó là tôi, là của tôi và là tự ngã của tôi, chấp thủ vào cái nào thì phiền não khổ đau cái đó.
Ví như, này các Tỳ-kheo, có người mang lại cỏ, củi, cành cây, lá của Jetavana này, và đốt chúng hay tùy theo duyên sử dụng chúng. Các Ông có nghĩ rằng: "Người ấy mang chúng tôi, hay đốt, hay tùy theo duyên sử dụng chúng tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì sao như vậy? Vì cái ấy không phải chúng con. Bạch Thế Tôn, cái ấy không phải thuộc tự ngã của chúng con.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Thọ không phải của các Ông... Tưởng không phải của các Ông. Các hành không phải của các Ông... Thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), IV. Phẩm Không Phải Của Các Ông, I. Không Phải Của Các Ông)
Đức Phật đã nói chỗ nào có dục và tham chỗ ấy có chấp thủ. Mình có chấp thủ vào vóc dáng, hình hài, gương mặt, con mắt, làn da… này không? Đó gọi là sắc thủ uẩn, sự nắm chặt vào trong tổ hợp của sắc thân, sắc pháp này và trong cảm thọ, suy nghĩ, nhận thức thì những thứ này là tôi, là của tôi, đó là kiến chấp, bản ngã nên chắc chắn sẽ đau khổ, có chấp thủ sẽ có dục tham, muốn thêm nữa. Khi mình tu mà nghĩ đời sau sẽ sung sướng hơn là dục tham, chấp thủ, đó là chỗ dựa của tái sanh (sanh y), mình không nghĩ rằng đây sẽ là đời sống cuối cùng, không trở lại trạng thái tứ đại ngũ uẩn bất tịnh, nhơ nhớp, mình không có suy nghĩ không muốn trở lại trạng thái này nữa mà muốn đạt đến tâm an tịnh trầm lặng, vượt ra khỏi những thứ vô thường, hư ảo, tạm bợ mong manh nên sanh y còn, thành ra vẫn cứ tiếp tục những trạng thái này nữa.
Mình còn ưa thích, còn ham thích nên không đưa đến yểm ly, ly tham, sự đoạn diệt, chấm dứt, không đưa đến sự an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn, đây gọi là vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ, một con đường an tịnh hơn hết chính là con đường nhàm chán, xa lìa, chấm dứt ngũ uẩn để đạt được tâm trí tuệ bất động, giải thoát khỏi sanh tử thật sự. Đó là chỗ cần hướng đến của người xuất gia chúng ta.
Có ai đạp lên rồi kéo lê nùi giẻ rách dơ bẩn của quý vị rồi quăng đi thì quý vị có tiếc nuối, sân hận không hay còn cảm ơn? Tôn giả Phú-lâu-na muốn đi qua vùng đó nhưng Thế Tôn nói người dân ở đó hung dữ, đi qua đó người ta chửi mắng thì sao? Nếu người ta chửi mắng thì con nghĩ người này còn hiền vì họ chưa đánh đập, chưa ném đá con.
Nếu người ta ném đá ông thì sao? Dạ, con nghĩ họ vẫn còn tốt vì chưa đánh con bằng gươm đao. Nếu họ đánh ông bằng gậy gộc, gươm đao thì sao? Bạch Thế Tôn, có những vị Tỳ-kheo khi quán chiếu về thân xác bất tịnh vô thường này, thậm chí hủy hoại sinh mạng mình, nhàm chán thân xác vô giá trị nên nếu họ đến dùng dao gậy giết con thì con cảm ơn họ đã giải thoát cho con. Thế Tôn đồng ý và ngài tới đó chỉ trong ba tháng an cư đã chứng đắc Thánh quả A-la-hán, độ cho 500 vị thiện nam tử, và nhập Niết-bàn ngay trong ba tháng an cư đó.
Phú Lâu Na! Ông nói đúng, làm đệ tử ta, hoằng pháp là việc tu hành trọng yếu thứ nhất. Nhưng ta hỏi ông, ông đến nước Du Lô Na, nếu họ không chấp nhận ông mà lớn tiếng chửi mắng thì ông làm sao?
Phú Lâu Na thưa:
- Bạch Thế Tôn! Họ chửi mắng con, con vẫn thấy họ còn tốt vì họ chưa lỗ mãng đến nỗi dùng roi gậy đánh đập con.
Phật hỏi tiếp:
- Nếu họ dùng nắm tay, gạch ngói, roi gậy đánh đập ông thì sao?
Ngài đáp rằng:
- Con vẫn thấy họ còn tốt, chưa đến nỗi đâm chém con.
Phật lại hỏi:
- Nếu như họ dùng dao búa thì làm sao?
Phú Lâu Na thưa:
- Con cũng cho họ rất tốt vì họ còn tình người chưa đến nỗi giết con.
Phật lại hỏi:
- Nếu như họ giết ông chết?
Phú Lâu Na bạch Phật rằng:
- Nếu thế con cám ơn họ đã giết sắc thân của con để hỗ trợ cho đạo nghiệp của con. Họ giúp con đem sanh mạng báo đáp ân đức của Thế Tôn. Điều ấy đối với con tuy không có trở ngại chỉ sợ di hại ảnh hưởng không tốt cho họ mà thôi.
Vì thế khi đã nắm vững được Thánh Pháp Ấn rồi sẽ soi chiếu được tất cả sự tu hành, từ đó thấy được tổng cương lĩnh thâu nhiếp tất cả đạo lộ của sự tu. Họ giết con chết thì con cảm ơn vì đã giúp con giải thoát khỏi thân bất tịnh, vô thường này, ngài đã thâm quán, quán chiếu hằng ngày về thân vô ngã này không có gì là tôi, là của tôi, lúc nào cũng ở trong trạng thái yểm ly, ly tham, đoạn diệt nên ngài mới có tâm bất động như thế, còn mình không tu theo đường lối đó, suốt ngày hướng ra bên ngoài làm cái này cái kia, ai động vào là nổi sân lên, hoặc là tôi hay, tôi giỏi, tôi học cao… vậy là mình không đi theo hướng yểm ly, nhất hướng nhàm chán, đoạn diệt nên phiền não có căn cứ để trú ẩn, làm sào huyệt, tồn chỉ trong tâm mình.
Còn mình hướng đến sự ly tham, từ bỏ, quán nhàm chán, đời sống vô nghĩa, "hơn thua với nhau làm gì", không cần nhiếp phục sân mà sân tự lắng dịu xuống, "tôi đã hướng đến sự từ bỏ, chấm dứt nên hơn thua, đúng sai, thị phi để làm gì", tranh đua cao thấp để rồi được cái gì ngoài hủ cốt, bàn thờ, ngoài tai nạn, hoạn nạn, ách nạn, nguy nan, cho nên nhàm chán, xa lìa, làm cho tất cả cảm thọ lắng dịu, đó là vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Lúc nào cũng ghi nhớ Thánh Pháp Ấn này để nhàm chán, gặp gì cũng niệm nhàm chán, từ bỏ, xa lìa, chấm dứt, sanh khởi lên sự bực bội thì "nhàm chán sự bực bội này quá đi, mày đã hành hạ tao nhiều quá rồi. Đoạn diệt, chấm dứt cái hơn thua này", la mắng, quở trách tâm của mình để xả ly.
III. Sự chứng ngộ của Đức Phật
Thái Tử Tất-đạt-đa sau khi từ bỏ các vị thầy thì ngài tuần tự du hành tại nước Magadha (Ma kiệt đà) và đến tại tụ lạc Uruvela (Ưu lâu tần loa). Tại đây, Ta thấy một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Này các Tỳ-kheo, rồi Ta tự nghĩ: "Thật là một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Thật là một chỗ vừa đủ cho một Thiện nam tử tha thiết tinh cần có thể tinh tấn". Và này các Tỳ-kheo, Ta ngồi xuống tại chỗ ấy và nghĩ: "Thật là vừa đủ để tinh tấn". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Trong kinh Nikāya không nói Đức Phật ngồi thiền trong 49 ngày rồi đắc đạo, chỉ nói ngài ngồi tu tập, hằng ngày đi khất thực, trú trong thiền định và ngày đêm tinh cần tinh tấn nỗ lực.
(Giác Ngộ)
Rồi này các Tỳ-kheo, Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tà đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị sầu, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sầu, tìm cầu cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái vô sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Và tri kiến khởi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Bồ-tát đã chứng ngộ cái không sanh, không già, không bệnh, không chết, không sầu, vô nhiễm vô thượng an ổn khỏi các khổ ách của Niết-bàn. Chúng ta cần nhớ kĩ chỗ này, Đức Phật nhấn mạnh sau khi biết rõ sự nguy hiểm và tác hại của cái bị sanh, bị già, bị chết, bị sầu, bị ô nhiễm thì ngài đã chứng ngộ cái không sanh, không già, không chết, không sầu, không bị ô nhiễm. Hằng ngày đừng ảo tưởng là hạnh phúc, là thường còn, là sạch sẽ, là tôi và của tôi trong cái sầu bi, chấp thủ, dục tham, sân hận, vô minh, bản ngã này.
Chiêm nghiệm, tư duy, nghiền ngẫm, thẩm thấu, quán chiếu triệt để sự nguy hiểm và tác hại của ngũ uẩn này, của tham dục, khát ái, vô minh này chỉ là đau khổ và phiền não, không có gì sung sướng trong này nên đừng mộng mơ, cứ quán chiếu, thẩm thấu và chứng đạt rồi chúng ta sẽ có một con đường an tịnh và chúng ta sẽ thấy được đạo lộ an lạc, thanh tịnh, chúng ta sẽ được vào đầu đường Niết-bàn, rồi chúng ta sẽ òa khóc vì vui mừng đã tìm thấy đầu đường của Niết-bàn ở trước mắt, đại triệt, đại ngộ chính là con đường hướng đến sự nhàm chán, yểm ly, ly tham, đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, an tịnh thắng trí chứng ngộ Niết-bàn.
Thật sự rất hạnh phúc, rất tuyệt diệu và tối thượng, sự tu tập này rất xứng đáng nhưng khi Bồ-tát chứng thành Chánh Đẳng Chánh Giác, thành tựu bậc Chánh Biến Tri, thấy biết cùng tột, chứng được bất tử thì:
Này các Tỳ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý Idapaccàyata Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp); sự kiện này thật khó thấy; tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự trừ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Tịnh chỉ tất cả hành nghĩa là tất cả sự vận hành của dục tham ái, vô minh, bản ngã của năm uẩn đều dừng lại hết, không còn tham ái, chấp thủ, không còn chấp ngã nữa. Tất cả những thứ đó đều an tịnh, tịnh chỉ, không còn sanh khởi lên dù chỉ một chút ít, không còn thấy một phân tử nhỏ nhoi nào có ái trong đó nữa, vô minh hoàn toàn bị phá sạch, phá tan, khát ái hoàn toàn chấm dứt.
Từ bỏ sanh y tức là chỗ dựa cho tái sanh đều bị phá sập, chỗ dựa cho tái sanh là ưa thích đời sống vô thường, tham dục trong ngũ uẩn này bị sụp đổ hoàn toàn, toàn bộ hệ thống của vô minh, tham ái, chấp thủ trong năm uẩn sụp đổ triệt để, diệt tận thì gọi là từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn.
Không còn ưa thích dù chỉ chút ít đối với sắc, những vật chất, tứ đại, hình hài này, không còn ưa thích đối với những cảm giác, nhận thức, nghĩ tưởng, không còn cho rằng bất kì cái nào trong năm uẩn này là tôi và của tôi, không còn ái, thích với bất kì cái gì trong năm uẩn này, hoàn toàn nhất hướng nhàm chán, ly tham, từ bỏ. Sự kiện này Đức Thế Tôn nói là khó thấy, chỉ có một chúng sanh duy nhất là Thái Tử Tất-đạt-đa, là Bồ-tát Chánh Đẳng Giác, không có người thứ hai ngang hàng mà chỉ có duy nhất bậc tối tôn, tối thượng giữa chư Thiên và loài người chứng đạt được trạng thái này đầu tiên, cho nên:
Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta! (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Ngài bắt đầu suy nghĩ nay ngài đã chứng đạt đến cảnh giới tịnh chỉ tất cả ngũ uẩn, dập tắt hoàn toàn tham sân si, vô minh, bản ngã. Cảnh giới thâm sâu này nếu ngài thuyết pháp không ai hiểu thì thật là khổ sở cho ngài. Quần chúng ưa ái dục, thích ái dục còn cảnh giới ngài chứng là ái tận, tất cả ái đều sụp đổ, ngài nói về việc chấm dứt các dục thì sẽ không có người hiểu nên thật là khổ não, thật là bực mình. Quần chúng ở đây là tất cả chúng sanh.
Này các Tỳ-kheo, rồi những kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta:
Sao Ta nói Chánh pháp,
Ðược chứng ngộ khó khăn?
Những ai còn tham sân,
Khó chứng ngộ pháp này.
Ði ngược dòng, thâm diệu,
Khó thấy, thật tế nhị,
Kẻ ái nhiễm vô minh,
Không thấy được pháp này. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Làm sao ta có thể nói ra Chánh Pháp mà ta đã chứng ngộ được hết sức khó khăn, gian khổ này. Chánh Pháp này thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu thì làm sao có thể dễ nói để mọi người hiểu được, để chấp nhận, để cùng tu tập theo lời nói này. Những ai còn tham lam, sân giận sẽ rất khó chấp nhận pháp này vì pháp này đi ngược dòng thâm sâu và vi diệu, sâu xa và màu nhiệm. Những người còn ái nhiễm, vô minh sẽ không thể thấy được pháp này.
Rồi này các Tỳ-kheo, với những suy tư như vậy, tâm của Ta hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Vì pháp này quá thâm sâu, siêu lý luận, tịch tĩnh trong khi quần chúng đam mê, chìm đắm, điên đảo trong ái dục mà lại nói pháp ly dục thì ai có thể hiểu được. Chính vì vậy tâm ngài hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp nữa. Lúc đó Phạm thiên Sahampati, là vị trời tối cao mà ngoài đời gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế đã biết được tâm tư của Thế Tôn.
Này các Tỳ-kheo, lúc bấy giờ Phạm thiên Sahampati khi biết được tâm tư của Ta; với tâm tư của mình, liền suy nghĩ: "Than ôi, thế giới sẽ tiêu diệt, thế giới sẽ bi hoại vong, nếu tâm của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp". Rồi này các Tỳ-kheo, Phạm thiên Sahampati, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co, hay co cánh tay đang duỗi; cũng vậy, vị ấy biến mất từ thế giới Phạm thiên, và hiện ra trước mặt Ta. Này các Tỳ-kheo, rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y một bên vai chắp tay hướng vái Ta và bạch với Ta: "Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bi nguy hại nếu không được nghe Chánh pháp. (Nếu được nghe), những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi đây, chư vị nghe hiểu được âm thanh này cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, trong đó có người thân của con. Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần dễ chịu, an lạc và bình yên, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện an lạc, bình yên, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.
./.
Thiền Quán
SỰ TÌM CẦU CỦA BẬC THÁNH 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bao lâu nay chúng ta tìm cầu điều gì? PAGEREF _Toc65766986 \h 1
II. Câu chuyện sự tìm cầu của Đức Phật PAGEREF _Toc65766987 \h 1
1. Sự ăn PAGEREF _Toc65766988 \h 3
2. Thánh Pháp ấn của Như Lai: nhàm chán, ly tham PAGEREF _Toc65766989 \h 4
3. Thánh pháp ấn của Như Lai 2 PAGEREF _Toc65766990 \h 7
4. Bài kệ thành đạo của Đức Thế Tôn PAGEREF _Toc65766991 \h 8
5. Pháp chấp thủ PAGEREF _Toc65766992 \h 9
III. Sự chứng ngộ của Đức Phật PAGEREF _Toc65766993 \h 13
I. Bao lâu nay chúng ta tìm cầu điều gì?
Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc Chánh Biến Tri thấy biết cùng tột.
Kính thưa đại chúng, chúng ta tiếp tục tìm hiểu về sự tầm cầu của bậc Thánh. Chúng ta phải xác định rõ mục tiêu, chỗ hướng đến, cái cần đạt tới là gì. Nếu chúng ta không nắm vững được, không nắm chắc, không thấy rõ được thì chúng ta sẽ đi sai đường mà không hay biết. Trước đây chúng ta đã tầm cầu rất nhiều thứ nhưng lại tìm cầu những thứ buồn lo, buồn đau, buồn phiền, buồn bực và buồn khổ, những cái mà chúng ta tìm trước nay không đem lại hạnh phúc, lợi ích, an lạc dài lâu thật sự cho chúng ta.
Chúng ta đã để dành rất nhiều thời gian tìm kiếm, tìm cầu, đuổi hình bắt bóng, chẳng những những thứ mình tìm kiếm không đem lại an lạc, vui vẻ mà còn đem lại đau khổ và bất an. Chúng ta đã tìm sai rồi, chúng ta đi tu là muốn tìm cái gì cao thượng giải thoát an lạc nhưng tại sao chúng ta đã tìm vài chục năm, có khi cả cuộc đời mà chỉ tìm thấy toàn những thứ phiền não, trói cột trong vòng lẩn quẩn được trá hình là những việc thiện lành, Phật sự, vì chúng sanh vì mọi người.
Chúng ta đã đặt tâm sai hướng, bài kinh này chính là xác quyết sự tìm cầu của người xuất gia, của người tu hành, của bậc trí tuệ, sự tìm cầu của bậc Thánh cho nên con muốn đại chúng phải lắng nghe thật kĩ, cảm nhận thật sâu sắc, khắc ghi vào tim, vào cảm thọ và không bao giờ cho phép mình quên tại sao mình vào chùa, tại sao mình lại lên núi lạnh lẽo, cô quạnh để tìm cầu cái gì.
Chúng ta không phải tìm cảnh đẹp, không đơn thuần tìm không khí trong lành mà chúng ta đang tìm cái gì cao thượng, tối thắng hơn, chúng ta đi tìm cái gì vượt ra ngoài những thứ khổ sầu này. Chúng ta đã tìm thấy chưa? Nếu không thì cả đời tu chúng ta chỉ là trống không, vô tích sự, trống rỗng, sự ra đi của chúng ta là một chuyến đi không thành tích, không có lợi ích, không có thu hoạch.
II. Câu chuyện sự tìm cầu của Đức Phật
Chúng ta thấy rằng Thái Tử Tất-đạt-đa khi tìm học các vị thầy đã chứng được các tầng thiền rất thâm sâu cho đến phi tưởng và phi phi tưởng xứ, phi tưởng là không phải tưởng, phi phi tưởng là không phải là không phải tưởng, những tầng thiền định rất thâm sâu và vi tế mà ngài đã chứng đắc nhưng ngài nghĩ:
Rồi này các Tỳ-kheo, Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ có Alara Kalama có lòng tin, Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy Ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Alara Kalama tuyên bố: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta an trú".
Rồi này các Tỳ-kheo, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Tự tri là tự ngài biết, tự ngài chứng đắc trạng thái đó, tự ngài đạt được, tự ngài đặt mình vào tình trạng đó gọi là tự an trú, tức là trú luôn trong trạng thái thiền định đó. Vị thầy dạy ngài rất quý trọng ngài, xem như ngang hàng với nhau.
--"Thật lợi ích thay cho chúng tôi, Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!" (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Hiền giả chính là Thái Tử Tất-đạt-đa.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, Alara Kalama là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này các Tỳ-kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ". Như vậy này các Tỳ-kheo, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.
Rồi này các Tỳ-kheo, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Câu này được Thế Tôn lặp lại rất nhiều lần trong bài kinh này. Pháp phải đưa đến sự yểm ly, hướng đến ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thượng trí, giác ngộ Niết-bàn là pháp mà ngài đang đi tìm, gọi là chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Hằng ngày chúng ta tu nếu những suy nghĩ, cảm giác, những sự tu tập không đúng với những cái này là không đi đúng đường của Đức Phật vì pháp phải đưa đến sự yểm ly, nhàm chán, xa lìa, đây là chỗ tuyệt đối quan trọng nếu không sự tu của mình sẽ không đi đúng như Thế Tôn đã chỉ dạy.
1. Sự ăn
Trong khi ăn cơm mình có hướng đến yểm ly, ly tham không? Trong khi ăn tu như thế nào? Trong khi ăn mà hương vị, sắc của thức ăn và ăn trong sự đam mê, thích thú thì cái ăn đó không hướng đến sự ly tham, nhàm chán, xa rời, đó không phải là cái ăn của người xuất gia, cho nên Đức Phật dạy quán thức ăn – đoàn thực như sau:
Ví như, này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quãng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.
Rồi này các Tỳ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.
Rồi này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: "Ðồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng ta đều bị chết hại".
Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực, than khóc: "Ðứa con một ở đâu? Ðứa con một ở đâu?"
Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?
-- Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.
-- Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)
Bây giờ chúng ta ăn trong cảm thọ như thế nào? Có quán chiếu như lời Đức Phật dạy không? Đây là lý do mà chúng ta tu không thành tựu, cái ăn được Đức Phật dạy trong kinh Nikāya sẽ đưa đến sự xa lìa, ly tham, tức là không còn tham muốn gì nữa, chính cái ăn đó lần lần mới đi đến chỗ nhàm chán các thức ăn và giải thoát khỏi các thức ăn. Tại sao lại phải giải thoát khỏi các thức ăn? Vì thân này tồn tại là nhờ có thức ăn.
Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
2. Thánh Pháp ấn của Như Lai: nhàm chán, ly tham
Dùng Thánh Pháp Ấn này sẽ soi chiếu ra tất cả lời dạy của Đức Phật, những pháp hành rồi mọi người sẽ thấy mình tu có đúng không, tại sao tu không có kết quả. Trong bài kinh Thông Điệp, ngài Upàli đã xin Thế Tôn dạy cho cái pháp vắn tắt, rồi ngài sẽ tìm một chỗ xa vắng thực tập tinh cần, tinh tấn, Đức Phật dạy pháp nào đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ Niết-bàn thì hãy thọ trì đây là pháp, là luật của Như Lai, còn ngược lại không phải là pháp và luật của Như Lai.
Rồi Tôn giả Upàli đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upàli bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con một cách vắn tắt, sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
- Này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này không được đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây không phải Pháp, đây không phải Luật, đây không phải lời dạy Thế Tôn". Và này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này đưa đến nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy Thế Tôn". (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VIII. Phẩm Về Luật, (IX) Thông Điệp)
Bây giờ mình nhìn giảng đường nơi mình đang ngồi thì có thấy nhàm chán, muốn rời xa nó không hay chỉ thấy nó đẹp? Ở bên Ni xá, hằng ngày nhìn chỗ mình đang ở có thấy nhàm chán không? Có thấy nó là sắc pháp, tứ đại vô thường, tan hoại, không có gì đáng ưa thích không? Nếu mình thấy đúng vậy là đang đi đúng con đường của Đức Phật. Khi nhìn bàn tay, đôi chân, gương mặt, cái miệng, thân xác, hình hài này có thấy yêu thích nó không? Có thấy hoan hỉ, hài lòng không hay thấy đây là tứ đại do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tan nát, hoại diệt, là cái không đáng yêu thích, đây là một gánh nặng, hệ lụy?
Mình phải tác động tâm ý nhàm chán, xa lìa, chấm dứt, không muốn những đời sống vô thường, tham sân si, dục ái như vầy nữa, chính sự tác ý, suy xét, suy nghĩ, cái nhìn thấy đó là tương ưng với Thánh Pháp Ấn, đó là pháp hướng đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, chấm dứt, an tịnh, thượng trí, giác ngộ Niết-bàn.
Hằng ngày mình sanh khởi được bao nhiêu suy nghĩ, cảm thọ như vậy? Mỗi lần suy nghĩ nhàm chán, từ bỏ, chấm dứt sanh khởi lên là mỗi lần tương ứng với trí tuệ, tương ứng với giác ngộ, giải thoát. Bất cứ pháp hành nào tu mà không có những thứ này thì Thế Tôn không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi. Vì trong những tầng thiền định thâm sâu không đưa đến sự nhàm chán, ly tham, không đưa đến sự chấm dứt mà lại ái rồi thích trú trong đó, có ngã trong đó, có ta và của ta, còn những trạng thái của thọ; tưởng; thức, còn cái kiến chấp về thân (thân kiến), dù thọ; tưởng; thức an tịnh, lắng dịu nhưng thâm sâu trong đó vô minh và tham ái vẫn còn.
Ngài bỏ đi không tôn kính pháp đó vì không thấu hiểu được ngũ uẩn tức là vô minh, ưa thích tham đắm trong đó là tham ái, còn vô minh không thấy ngũ uẩn thì còn yêu thích ngũ uẩn trong khi ngũ uẩn lại là thứ vô thường, tan hoại, phiền não, khổ đau, ưa thích phiền não thì làm sao đi đến chỗ chấm dứt, an tịnh Niết-bàn?
Đây là chỗ thâm sâu của Thánh Pháp Ấn, Đức Phật đã nói Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ, tức là ngài muốn đi tìm cái cùng tột sự an tịnh, tối thắng vô thượng thì đó là Niết-bàn, là sự bình an tuyệt đối tối thượng, hạnh phúc tối thượng vĩnh cửu. Nói đơn giản dễ hiểu là tham ái cái nào thì cái đó làm khổ mình, thích chiếc xe thì chiếc xe đó làm mình khổ, đi đâu cũng lo lắng, sợ mất xe, nếu nó bị hư hỏng thì mình khổ sầu. Thích món đồ nào đó cũng giống vậy, thích ngôi chùa thì đi đâu cũng suy nghĩ về ngôi chùa đó, sợ mất đồ quý trong chùa.
Ái luyến sinh sầu ưu,
Ái luyến sinh sợ hãi.
Ai giải thoát ái luyến
Không sầu, đâu sợ hãi?
(Kinh Pháp Cú 16 – Phẩm Hỷ Ái, kệ 213)
Mình có yêu thích thân xác, hình hài này không? Quá là yêu thích, say mê và suy nghĩ lo lắng, sợ hãi cho hình hài này, nếu hình hài này xảy ra chuyện bất trắc tàn tật, bị tai nạn thì mình có sầu bi khổ ưu não không? Đó là lý do tại sao chúng ta phải quán Thân Hành Niệm, tứ đại, ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn phân hủy của một tử thi, đó là lý do tại sao trong mỗi buổi thiền đều phải giải phẫu cơ thể, phanh phui cơ thể đầy mủ máu, xương da để sự thật được phơi bày, từ đó mới phá trừ tâm tham ái đối với thể xác vì mình tham ái nó là sẽ đau khổ, sầu bi với nó.
3. Thánh pháp ấn của Như Lai 2
Còn nếu thấy bản chất nó là bất tịnh, vô thường, vô ngã, chín lỗ chảy ra những thứ hôi dơ, chúng ta thường tư niệm, tư duy thì chúng ta có sanh khởi lên sự nhàm chán không? Nhất định sẽ sanh khởi lên sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, yểm ly, giác ngộ Niết-bàn. Chúng ta đã thấy rõ Thánh Pháp Ấn chưa? Đó là con đường, là đạo lộ tối thắng, an tịnh. Bất cứ tham ái với cái gì là sẽ sầu đau, khổ não cho nên dì mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề lớn tuổi mới được xuất gia sau năm lần bảy lượt cầu xin và đã trở thành tổ sư của Ni chúng.
Sau khi được xuất gia bà đã đến bạch Thế Tôn vì đã già cả, tuổi cao sức yếu không còn nhiều thời gian nên xin Thế Tôn dạy cho pháp vắn tắt, sau đó sẽ trở về sống một mình độc cư thiền định để đoạn trừ các lậu hoặc thì Thế Tôn nói ái ở đâu đoạn ở đó, ái ở đâu là diệt ở đó, không lâu sau khi nỗ lực tu tập, dì mẫu đã thành tựu Thánh quả, sau đó lãnh đạo Ni chúng.
Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Mahàvana, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Mahàpajàpatì Gotamì đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Mahàpajàpatì Gotamì bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, sau khi Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
- Này Gotamì, những pháp nào bà biết: "Những pháp này đưa đến tham dục, không phải ly tham; đưa đến hệ phước, không đưa đến ly hệ phước; đưa đến tích tập, không đưa đến không tích tập; đưa đến dục lớn, không đưa đến ít dục; đưa đến không biết đủ, không đưa đến biết đủ; đưa đến tụ hội, không đưa đến nhàn tịnh; đưa đến biếng nhác, không đưa đến tinh tấn; đưa đến khó nuôi dưỡng, không đưa đến dễ nuôi dưỡng". Này Gotamì, hãy thọ trì nhứt hướng rằng: "Ðó là không phải Pháp, đó là không phải Luật, đó là không phải lời dạy của bậc Ðạo sư".
Và này Gotamì, những pháp nào bà biết: "Những pháp đưa đến ly tham, không đưa đến tham dục; đưa đến ly hệ phước, không đưa đến hệ phước; đưa đến không tích tập, không đưa đến tích tập; đưa đến ít dục, không đưa đến dục lớn; đưa đến biết đủ, không đưa đến không biết đủ; đưa đến nhàn tịnh, không đưa đến tụ hội; đưa đến tinh tấn, không đưa đến biếng nhác; đưa đến dễ nuôi dưỡng, không đưa đến khó nuôi dưỡng". Này Gotamì, hãy thọ trì nhứt hướng rằng: "Ðó là Pháp, đó là Luật, đó là lời dạy của bậc Ðạo sư". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, VI. Phẩm Gotamì, (III) Pháp Tóm Tắt)
Nếu không thấy tham ái thì làm sao đoạn? Muốn thấy tham ái đầy đủ, tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của tham ái thì phải nhìn từ nơi ngũ uẩn, nếu không thấy ngũ uẩn thì không thấy được đầy đủ khía cạnh, góc độ, sự vận hành và thao túng của nó, chính vì vậy khi các cô lên đây tu phải nắm vững được ngũ uẩn, nếu không sự tu chúng ta sẽ không đi đến chỗ Đức Phật đã chỉ dạy, con chỉ mới nói đến sắc uẩn chứ chưa nói đến thọ; tưởng; hành.
Chúng ta có ưa thích cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm không? Sự rõ biết ở nơi sáu căn có nhận đây là tôi, đây là tự ngã của tôi không? Nếu chúng ta không đi đến con đường yểm ly, ly tham, đoạn diệt, thắng trí chứng ngộ Niết-bàn này thì làm sao chúng ta gặp được Đức Thế Tôn?
4. Bài kệ thành đạo của Đức Thế Tôn
Tất cả sự tu tập của chúng ta trong mọi cảm giác, suy tưởng đều phải hướng tâm đến sự nhàm chán, xa lìa, chấm dứt những trạng thái dục tham ái, sân hận, vô minh và chấp ngã, làm cho nó tàn tạ, rã rời. Cái tham ái sâu thẳm trong những cảm giác, nghĩ tưởng đó mà không thấy được nó thì chúng ta sẽ vĩnh kiếp trầm luân, sau khi thành tựu dưới cội Bồ-đề thì Thế Tôn đã đọc lên bài kệ khải hoàn ca, là bài ca chiến thắng của người.
Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng không gặp
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh.
(Kinh Pháp Cú 11, Phẩm Già, kệ 153)
Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa.
Ðòn tay ngươi bị gẫy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong.
(Kinh Pháp Cú 11, Phẩm Già, kệ 154)
Trong bài khải hoàn ca này Đức Thế Tôn đã nói lên sự thật bao nhiêu kiếp lang thang trong vòng luân hồi sanh tử này, ngài đi tìm nhưng không gặp tác giả làm căn nhà ngũ uẩn, căn nhà tứ đại này nên đau khổ vì phải tái sanh mãi, sanh sanh tử tử trong vòng quay cuồng lập tới lập tui bất tận nên gọi là luân hồi. Nhưng nay ngài đã thấy được bộ mặt thật sự của ngươi nên tâm ta đạt tịch tịnh, đó là an tịnh tối thắng, khi sạch hết tham ái thì lúc đó tâm mới an lạc, tối thắng, vô thượng tịch tịnh. Vì còn ái là còn dao động, còn dao động thì còn chấp trước, còn chấp trước thì còn đau khổ trong luân hồi sanh tử.
Cho nên bài khải hoàn ca này nói lên con đường chứng ngộ của Đức Phật bằng con đường diệt tận tham ái, muốn diệt tham ái cho đến tận cùng thì phải phá vô minh. Thế nào gọi là vô minh? Đó là không thấy được năm uẩn, không thấy rõ được thân tâm được cấu tạo từ cái gì, vận hành như thế nào, hoạt động ra sao, chi phối, xâm chiến thế nào thì gọi là vô minh. Tất cả sự hành trì của chúng ta là nhiếp phục và đoạn tận tham ái và vô minh.
5. Pháp chấp thủ
Khi nãy con nói có người thích chiếc xe, thích ngôi chùa, thích thân thể họ với một người không ưa thích, tham đắm, dính mắc gì nữa, chỉ là những thứ vô thường, trống rỗng, và nếu những thứ đó bị biến đổi, tan nát thì ai là người đau khổ? Người nào không đau khổ thì tâm người đó đạt tịch diệt, sự an tịnh hoàn toàn tất cả dục tham ái, tất cả sự chấp thủ trên cuộc đời này, trong kinh Tứ Niệm Xứ có câu không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời, đó là con đường của sự yểm ly, ly tham, đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, an tịnh, thắng trí chứng ngộ Niết-bàn chứ không phải Niết-bàn là một nơi nào đó để mình về đó hưởng thụ, Niết-bàn là sự an tịnh, tịnh chỉ tất cả hành, sự đoạn diệt sanh y, phá trừ kiêu mạn, diệt tận kiết sử, sự tiêu vong tất cả tham ái trong cuộc đời này, tu đến đây là bất động tâm giải thoát, không còn gì trên đời này có thể làm mình đau khổ nữa.
Có một người lên rừng bẻ cành, bẻ nhánh đốt cây thì mình có nghĩ rằng người ta bẻ tay, bẻ chân, đốt mình không? Không bao giờ, vì cành nhánh đó không liên quan đến mình, nhưng nếu họ đến bẻ tay, bẻ chân mình thì có chuyện vì sắc thủ uẩn, trong suy nghĩ, cảm thọ, nhận thức của mình đó là cánh tay của mình, đó là tôi, là của tôi và là tự ngã của tôi, chấp thủ vào cái nào thì phiền não khổ đau cái đó.
Ví như, này các Tỳ-kheo, có người mang lại cỏ, củi, cành cây, lá của Jetavana này, và đốt chúng hay tùy theo duyên sử dụng chúng. Các Ông có nghĩ rằng: "Người ấy mang chúng tôi, hay đốt, hay tùy theo duyên sử dụng chúng tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì sao như vậy? Vì cái ấy không phải chúng con. Bạch Thế Tôn, cái ấy không phải thuộc tự ngã của chúng con.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Thọ không phải của các Ông... Tưởng không phải của các Ông. Các hành không phải của các Ông... Thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), IV. Phẩm Không Phải Của Các Ông, I. Không Phải Của Các Ông)
Đức Phật đã nói chỗ nào có dục và tham chỗ ấy có chấp thủ. Mình có chấp thủ vào vóc dáng, hình hài, gương mặt, con mắt, làn da… này không? Đó gọi là sắc thủ uẩn, sự nắm chặt vào trong tổ hợp của sắc thân, sắc pháp này và trong cảm thọ, suy nghĩ, nhận thức thì những thứ này là tôi, là của tôi, đó là kiến chấp, bản ngã nên chắc chắn sẽ đau khổ, có chấp thủ sẽ có dục tham, muốn thêm nữa. Khi mình tu mà nghĩ đời sau sẽ sung sướng hơn là dục tham, chấp thủ, đó là chỗ dựa của tái sanh (sanh y), mình không nghĩ rằng đây sẽ là đời sống cuối cùng, không trở lại trạng thái tứ đại ngũ uẩn bất tịnh, nhơ nhớp, mình không có suy nghĩ không muốn trở lại trạng thái này nữa mà muốn đạt đến tâm an tịnh trầm lặng, vượt ra khỏi những thứ vô thường, hư ảo, tạm bợ mong manh nên sanh y còn, thành ra vẫn cứ tiếp tục những trạng thái này nữa.
Mình còn ưa thích, còn ham thích nên không đưa đến yểm ly, ly tham, sự đoạn diệt, chấm dứt, không đưa đến sự an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn, đây gọi là vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ, một con đường an tịnh hơn hết chính là con đường nhàm chán, xa lìa, chấm dứt ngũ uẩn để đạt được tâm trí tuệ bất động, giải thoát khỏi sanh tử thật sự. Đó là chỗ cần hướng đến của người xuất gia chúng ta.
Có ai đạp lên rồi kéo lê nùi giẻ rách dơ bẩn của quý vị rồi quăng đi thì quý vị có tiếc nuối, sân hận không hay còn cảm ơn? Tôn giả Phú-lâu-na muốn đi qua vùng đó nhưng Thế Tôn nói người dân ở đó hung dữ, đi qua đó người ta chửi mắng thì sao? Nếu người ta chửi mắng thì con nghĩ người này còn hiền vì họ chưa đánh đập, chưa ném đá con.
Nếu người ta ném đá ông thì sao? Dạ, con nghĩ họ vẫn còn tốt vì chưa đánh con bằng gươm đao. Nếu họ đánh ông bằng gậy gộc, gươm đao thì sao? Bạch Thế Tôn, có những vị Tỳ-kheo khi quán chiếu về thân xác bất tịnh vô thường này, thậm chí hủy hoại sinh mạng mình, nhàm chán thân xác vô giá trị nên nếu họ đến dùng dao gậy giết con thì con cảm ơn họ đã giải thoát cho con. Thế Tôn đồng ý và ngài tới đó chỉ trong ba tháng an cư đã chứng đắc Thánh quả A-la-hán, độ cho 500 vị thiện nam tử, và nhập Niết-bàn ngay trong ba tháng an cư đó.
Phú Lâu Na! Ông nói đúng, làm đệ tử ta, hoằng pháp là việc tu hành trọng yếu thứ nhất. Nhưng ta hỏi ông, ông đến nước Du Lô Na, nếu họ không chấp nhận ông mà lớn tiếng chửi mắng thì ông làm sao?
Phú Lâu Na thưa:
- Bạch Thế Tôn! Họ chửi mắng con, con vẫn thấy họ còn tốt vì họ chưa lỗ mãng đến nỗi dùng roi gậy đánh đập con.
Phật hỏi tiếp:
- Nếu họ dùng nắm tay, gạch ngói, roi gậy đánh đập ông thì sao?
Ngài đáp rằng:
- Con vẫn thấy họ còn tốt, chưa đến nỗi đâm chém con.
Phật lại hỏi:
- Nếu như họ dùng dao búa thì làm sao?
Phú Lâu Na thưa:
- Con cũng cho họ rất tốt vì họ còn tình người chưa đến nỗi giết con.
Phật lại hỏi:
- Nếu như họ giết ông chết?
Phú Lâu Na bạch Phật rằng:
- Nếu thế con cám ơn họ đã giết sắc thân của con để hỗ trợ cho đạo nghiệp của con. Họ giúp con đem sanh mạng báo đáp ân đức của Thế Tôn. Điều ấy đối với con tuy không có trở ngại chỉ sợ di hại ảnh hưởng không tốt cho họ mà thôi.
Vì thế khi đã nắm vững được Thánh Pháp Ấn rồi sẽ soi chiếu được tất cả sự tu hành, từ đó thấy được tổng cương lĩnh thâu nhiếp tất cả đạo lộ của sự tu. Họ giết con chết thì con cảm ơn vì đã giúp con giải thoát khỏi thân bất tịnh, vô thường này, ngài đã thâm quán, quán chiếu hằng ngày về thân vô ngã này không có gì là tôi, là của tôi, lúc nào cũng ở trong trạng thái yểm ly, ly tham, đoạn diệt nên ngài mới có tâm bất động như thế, còn mình không tu theo đường lối đó, suốt ngày hướng ra bên ngoài làm cái này cái kia, ai động vào là nổi sân lên, hoặc là tôi hay, tôi giỏi, tôi học cao… vậy là mình không đi theo hướng yểm ly, nhất hướng nhàm chán, đoạn diệt nên phiền não có căn cứ để trú ẩn, làm sào huyệt, tồn chỉ trong tâm mình.
Còn mình hướng đến sự ly tham, từ bỏ, quán nhàm chán, đời sống vô nghĩa, "hơn thua với nhau làm gì", không cần nhiếp phục sân mà sân tự lắng dịu xuống, "tôi đã hướng đến sự từ bỏ, chấm dứt nên hơn thua, đúng sai, thị phi để làm gì", tranh đua cao thấp để rồi được cái gì ngoài hủ cốt, bàn thờ, ngoài tai nạn, hoạn nạn, ách nạn, nguy nan, cho nên nhàm chán, xa lìa, làm cho tất cả cảm thọ lắng dịu, đó là vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Lúc nào cũng ghi nhớ Thánh Pháp Ấn này để nhàm chán, gặp gì cũng niệm nhàm chán, từ bỏ, xa lìa, chấm dứt, sanh khởi lên sự bực bội thì "nhàm chán sự bực bội này quá đi, mày đã hành hạ tao nhiều quá rồi. Đoạn diệt, chấm dứt cái hơn thua này", la mắng, quở trách tâm của mình để xả ly.
III. Sự chứng ngộ của Đức Phật
Thái Tử Tất-đạt-đa sau khi từ bỏ các vị thầy thì ngài tuần tự du hành tại nước Magadha (Ma kiệt đà) và đến tại tụ lạc Uruvela (Ưu lâu tần loa). Tại đây, Ta thấy một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Này các Tỳ-kheo, rồi Ta tự nghĩ: "Thật là một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Thật là một chỗ vừa đủ cho một Thiện nam tử tha thiết tinh cần có thể tinh tấn". Và này các Tỳ-kheo, Ta ngồi xuống tại chỗ ấy và nghĩ: "Thật là vừa đủ để tinh tấn". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Trong kinh Nikāya không nói Đức Phật ngồi thiền trong 49 ngày rồi đắc đạo, chỉ nói ngài ngồi tu tập, hằng ngày đi khất thực, trú trong thiền định và ngày đêm tinh cần tinh tấn nỗ lực.
(Giác Ngộ)
Rồi này các Tỳ-kheo, Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tà đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị sầu, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sầu, tìm cầu cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái vô sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Và tri kiến khởi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Bồ-tát đã chứng ngộ cái không sanh, không già, không bệnh, không chết, không sầu, vô nhiễm vô thượng an ổn khỏi các khổ ách của Niết-bàn. Chúng ta cần nhớ kĩ chỗ này, Đức Phật nhấn mạnh sau khi biết rõ sự nguy hiểm và tác hại của cái bị sanh, bị già, bị chết, bị sầu, bị ô nhiễm thì ngài đã chứng ngộ cái không sanh, không già, không chết, không sầu, không bị ô nhiễm. Hằng ngày đừng ảo tưởng là hạnh phúc, là thường còn, là sạch sẽ, là tôi và của tôi trong cái sầu bi, chấp thủ, dục tham, sân hận, vô minh, bản ngã này.
Chiêm nghiệm, tư duy, nghiền ngẫm, thẩm thấu, quán chiếu triệt để sự nguy hiểm và tác hại của ngũ uẩn này, của tham dục, khát ái, vô minh này chỉ là đau khổ và phiền não, không có gì sung sướng trong này nên đừng mộng mơ, cứ quán chiếu, thẩm thấu và chứng đạt rồi chúng ta sẽ có một con đường an tịnh và chúng ta sẽ thấy được đạo lộ an lạc, thanh tịnh, chúng ta sẽ được vào đầu đường Niết-bàn, rồi chúng ta sẽ òa khóc vì vui mừng đã tìm thấy đầu đường của Niết-bàn ở trước mắt, đại triệt, đại ngộ chính là con đường hướng đến sự nhàm chán, yểm ly, ly tham, đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, an tịnh thắng trí chứng ngộ Niết-bàn.
Thật sự rất hạnh phúc, rất tuyệt diệu và tối thượng, sự tu tập này rất xứng đáng nhưng khi Bồ-tát chứng thành Chánh Đẳng Chánh Giác, thành tựu bậc Chánh Biến Tri, thấy biết cùng tột, chứng được bất tử thì:
Này các Tỳ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý Idapaccàyata Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp); sự kiện này thật khó thấy; tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự trừ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Tịnh chỉ tất cả hành nghĩa là tất cả sự vận hành của dục tham ái, vô minh, bản ngã của năm uẩn đều dừng lại hết, không còn tham ái, chấp thủ, không còn chấp ngã nữa. Tất cả những thứ đó đều an tịnh, tịnh chỉ, không còn sanh khởi lên dù chỉ một chút ít, không còn thấy một phân tử nhỏ nhoi nào có ái trong đó nữa, vô minh hoàn toàn bị phá sạch, phá tan, khát ái hoàn toàn chấm dứt.
Từ bỏ sanh y tức là chỗ dựa cho tái sanh đều bị phá sập, chỗ dựa cho tái sanh là ưa thích đời sống vô thường, tham dục trong ngũ uẩn này bị sụp đổ hoàn toàn, toàn bộ hệ thống của vô minh, tham ái, chấp thủ trong năm uẩn sụp đổ triệt để, diệt tận thì gọi là từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn.
Không còn ưa thích dù chỉ chút ít đối với sắc, những vật chất, tứ đại, hình hài này, không còn ưa thích đối với những cảm giác, nhận thức, nghĩ tưởng, không còn cho rằng bất kì cái nào trong năm uẩn này là tôi và của tôi, không còn ái, thích với bất kì cái gì trong năm uẩn này, hoàn toàn nhất hướng nhàm chán, ly tham, từ bỏ. Sự kiện này Đức Thế Tôn nói là khó thấy, chỉ có một chúng sanh duy nhất là Thái Tử Tất-đạt-đa, là Bồ-tát Chánh Đẳng Giác, không có người thứ hai ngang hàng mà chỉ có duy nhất bậc tối tôn, tối thượng giữa chư Thiên và loài người chứng đạt được trạng thái này đầu tiên, cho nên:
Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta! (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Ngài bắt đầu suy nghĩ nay ngài đã chứng đạt đến cảnh giới tịnh chỉ tất cả ngũ uẩn, dập tắt hoàn toàn tham sân si, vô minh, bản ngã. Cảnh giới thâm sâu này nếu ngài thuyết pháp không ai hiểu thì thật là khổ sở cho ngài. Quần chúng ưa ái dục, thích ái dục còn cảnh giới ngài chứng là ái tận, tất cả ái đều sụp đổ, ngài nói về việc chấm dứt các dục thì sẽ không có người hiểu nên thật là khổ não, thật là bực mình. Quần chúng ở đây là tất cả chúng sanh.
Này các Tỳ-kheo, rồi những kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta:
Sao Ta nói Chánh pháp,
Ðược chứng ngộ khó khăn?
Những ai còn tham sân,
Khó chứng ngộ pháp này.
Ði ngược dòng, thâm diệu,
Khó thấy, thật tế nhị,
Kẻ ái nhiễm vô minh,
Không thấy được pháp này. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Làm sao ta có thể nói ra Chánh Pháp mà ta đã chứng ngộ được hết sức khó khăn, gian khổ này. Chánh Pháp này thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu thì làm sao có thể dễ nói để mọi người hiểu được, để chấp nhận, để cùng tu tập theo lời nói này. Những ai còn tham lam, sân giận sẽ rất khó chấp nhận pháp này vì pháp này đi ngược dòng thâm sâu và vi diệu, sâu xa và màu nhiệm. Những người còn ái nhiễm, vô minh sẽ không thể thấy được pháp này.
Rồi này các Tỳ-kheo, với những suy tư như vậy, tâm của Ta hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Vì pháp này quá thâm sâu, siêu lý luận, tịch tĩnh trong khi quần chúng đam mê, chìm đắm, điên đảo trong ái dục mà lại nói pháp ly dục thì ai có thể hiểu được. Chính vì vậy tâm ngài hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp nữa. Lúc đó Phạm thiên Sahampati, là vị trời tối cao mà ngoài đời gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế đã biết được tâm tư của Thế Tôn.
Này các Tỳ-kheo, lúc bấy giờ Phạm thiên Sahampati khi biết được tâm tư của Ta; với tâm tư của mình, liền suy nghĩ: "Than ôi, thế giới sẽ tiêu diệt, thế giới sẽ bi hoại vong, nếu tâm của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp". Rồi này các Tỳ-kheo, Phạm thiên Sahampati, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co, hay co cánh tay đang duỗi; cũng vậy, vị ấy biến mất từ thế giới Phạm thiên, và hiện ra trước mặt Ta. Này các Tỳ-kheo, rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y một bên vai chắp tay hướng vái Ta và bạch với Ta: "Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bi nguy hại nếu không được nghe Chánh pháp. (Nếu được nghe), những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi đây, chư vị nghe hiểu được âm thanh này cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, trong đó có người thân của con. Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần dễ chịu, an lạc và bình yên, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện an lạc, bình yên, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.
./.