Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

BỐN TÂM VÔ LƯỢNG

2026-03-03 00:55:28
BỐN TÂM VÔ LƯỢNG

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bốn Tâm Vô Lượng: PAGEREF _Toc68942744 \h 1

II.Phát Khởi Từ Và Bi: PAGEREF _Toc68942745 \h 1

III. Phát Khởi Hỷ Và Xả: PAGEREF _Toc68942746 \h 2

IV. Lợi Ích Khi Tu Tập Bốn Tâm Vô Lượng: PAGEREF _Toc68942747 \h 3

V.Trưởng Dưỡng Thiện Pháp: PAGEREF _Toc68942748 \h 5

Bốn Tâm Vô Lượng:

Trên bước đường tu tập, mỗi hành giả đều tạo cho mình những dòng năng lượng nhằm chuyển hóa các trạng thái tiêu cực dần thành tích cực và sâu rộng hơn thế nữa. Trong nhiều pháp môn đưa đến bến bờ giải thoát khỏi những cội rễ phiền não thì không thể không có bài thực hành bốn tâm vô lượng của người tu. Bốn tâm ấy là: Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm, Hỷ vô lượng tâm, Xả vô lượng tâm. Ngay giây phút này, chúng ta cùng thực hành nhận diện cảm giác toàn thân. Mọi người cùng lắng lòng trước không gian bao la của núi rừng, rõ biết những gì đang hiện hữu trong giây phút hiện tại. Bốn tâm này là nguồn gốc cho tất cả chư Thiên và vua Trời tu tập để được trở thành Thiên, chúng Thiên. Bây giờ, chúng ta đang ngồi ngồi tại Quán Chiếu Đường lắng lòng thanh tịnh để đón chào buổi sớm mai đầy năng lượng yêu thương và cùng nhau thực tập phương pháp của vua Trời, đức Phật đã truyền trao.

Phát Khởi Từ Và Bi:

Từ là thương, bi là xót xa. Ngay tại đây hãy làm cho mình phát ra cảm giác tình thương, sanh trưởng lòng từ, nghĩ đến sự xót xa của tự thân. Hãy dũng mãnh phát khởi tình thương thật nhiều đối với tâm của mình, nhìn lại để thấy rằng bao nhiêu năm qua chúng ta đã lăng xăng, tất bật, sầu, bi, khổ, ưu, não, phiền muộn, sợ hãi và mình đã gây ra nhiều sự sai quấy, lỗi lầm trong vô minh, điên đảo. Nay chính là lúc phải mở cửa lòng từ, nghĩ đến nỗi thương xót chính mình, thương bản thân thật nhiều những người xung quanh mình. Bởi, họ cũng giống như mình, những người ấy cũng rất cần một tình thương, trông chờ sự đồng cảm, mong mỏi được tha thứ, hoan hỷ trong sự mến yêu.

Như vậy, mỗi người chúng ta mở rộng biên độ tình cảm, cảm xúc toàn thân và tâm, tiếp đó lan tỏa đến những người đang ngồi bên cạnh mình, rồi lan ra đối với những người thân yêu nhất của mình là cha mẹ, ông bà, vợ chồng, con cái, cô bác cho đến bạn bè, đồng nghiệp,… Sự thương yêu này được lan tỏa rộng khắp, không phân biệt đối tượng. Chúng ta thương cả những người không thương mình, vì họ cũng là nạn nhân của phiền não, là bệnh nhân của sân, si, của tham muốn, dục vọng trong vô minh, mê lầm. Giờ đây chúng ta cùng trải tấm lòng vô biên tha thứ những chúng sanh không biết giáo pháp.

Kế đến, chúng ta thực tập trải tình thương. Hãy mở rộng biên độ về không gian, trải lòng thương tưởng đến khắp không gian núi đồi Bảo Lộc, lan rộng tình thương này khắp tỉnh Lâm Đồng, trải dài tình thương ra đến miền Trung, miền Bắc, hướng đến Thành phố Hồ chí Minh, đi xuống các tỉnh miền Tây, đồng bằng sông Cửu Long cho tới các tỉnh miền Đông Nam bộ, duyên hải miền Trung, đến địa đầu Tổ quốc, các vùng lãnh hải, mở rộng tình thương khắp bản đồ chữ S của đất nước Việt Nam.

Tình thương này không chỉ dừng lại trong một quốc độ mà phải hướng rộng khắp không gian vô tận, thời gian vô tận, trải lòng thương yêu khắp loài người (thương, yêu, thân, sơ, bạn, thù, ganh, ghét…) cho đến tất cả muôn loài. Những loài vật đã hy sinh thân mạng để nuôi sống mình, chỉ vì vị giác, miếng ngon của lưỡi mà chúng ta đã sát hại biết bao nhiêu loài vật. Nghĩ tới đó, hành giả khởi tâm từ đến những loài thực vật, động vật mà mình đã từng ăn nuốt, giết hại dù cố ý hay vô tình, dù vui nghe hay chẳng nghe. Đem tâm cảm ơn, biết ơn đến các loài vật từ bé nhỏ như con kiến, con trùn cho tới con vật to lớn, đến khắp cỏ cây hoa lá vạn vật đã mang lại dưỡng chất, dưỡng khí cho mình. Trải tình thương đến khắp không gian, nhờ có không khi mới đem lại cho chúng ta sự tốt lành, hơi thở nhẹ nhàng, ấm áp, ngọt ngào. Mỗi người chúng ta thật tâm hành trì tình thương yêu sâu sắc của mình đến người thù hận, kẻ đã từng ghét mình, đã oán hận mình, làm cho mình khổ sở,… giờ đây, chúng ta hãy thương họ, hãy tha thứ cho họ vì chúng ta cùng ở trong sự mê lầm, chưa có trí huệ. Hôm nay, chúng ta đã có sự tỉnh thức của Phật pháp nên tha thứ cho họ, bi mẫn đối với họ, xót thương họ, mỉm cười với những người đã làm cho mình khổ đau, bởi họ đã giúp cho ta thêm trưởng thành để hiểu thấu hơn cuộc đời này, nhờ vậy mà hành giả đã có dịp nếm đủ hương vị của thế gian.

Phát Khởi Hỷ Và Xả:

Chúng ta lắng lòng, cảm nhận niềm hạnh phúc, ngay bây giờ mọi người đang rất an lạc vì mình đã trút bỏ gánh nặng tục lụy ở dưới phố thị, bỏ xuống những sự lo toan, phiền muộn trong đời thường để lên núi tu tập, làm người vô sự. Giờ phút này giữa non thiêng, chúng ta đang ngồi trong thế ngồi hoa sen, ngồi trong thế ngồi hàng ma giống như đại hồng chung. Chúng ta đang cảm nhận được không gian thanh tịnh, mát mẻ, an lành tâm ta tịnh lại, buông xuống chấp trước, khổ đau. Quý vị đang có Phật, có Pháp, có Tăng, đó là phúc lành, là kho báu mà mình nên mở ra, hãy học và thực hành cho sáng dần trí huệ từ bi trong mỗi chúng sanh hiện hữu. Hãy luôn nghĩ rằng, chúng ta có những người bạn đạo, đồng nghiệp thật dễ thương, rất hiền hòa. Hãy hít sâu vào rồi thở ra, cảm nhận cảm giác toàn thân và mỉm miệng cười. Hạnh phúc thay khi chúng ta đã buông hết những phiền lụy của thế gian để cùng sống trong hạnh phúc thực tại mà rất nhiều người mong muốn nhưng không có được. Chúng ta đang sở hữu một hạnh phúc tuyệt vời, mầu nhiệm, hãy phát sanh hạnh phúc đó tràn ngập từ đỉnh đầu xuống đến vai, rồi đến toàn thân cho đến gót chân được sung mãn, dạt dào cảm giác của hạnh phúc, an vui, sung sướng. Đây là niềm hoan hỷ mà có khi trong suốt cuộc đời người khác không thể có được. Do đó, mỗi người cần phát huy từ, bi, hỷ, xả ngay bây giờ cho mình, cho người, cho khắp tất cả, làm cho cảm giác này dào dạt lên, mạnh mẽ lên! Cùng nhau mở rộng cảm giác hoan hỷ này lan tỏa ra những người còn rất khổ đau trong gia đình của mình, lan tỏa ra những người bạn thân thương nhất vì họ còn đang phiền hận, hãy chia tâm vui sướng này đến cho họ, trao gởi tình thương này đến những người cùi hủi, mắc phải tật bệnh nan y, những ông cụ bà lão đang lượm ve chai phế liệu, những cô nhi, những ai vô gia cư,… Cùng nhau mở lòng đến tất cả chúng sanh đang khổ đau, bị đày đọa trong địa ngục, phải uống dầu sôi, ôm cột đồng cháy đỏ, nằm trên bàn chông… Mong tất cả chúng sanh đều được sự hoan hỷ, giải thoát khỏi khổ đau về thân và tâm. Lại nữa, hành giả chí thành hướng tâm tốt lành đến khắp mười phương trên, dưới, Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, lan tỏa sự hoan hỷ này đến tất cả các châu lục, châu Phi, châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Úc. Chúng ta cùng mỉm cười lên, lan tỏa tình thương này, đó là hỷ vô lượng tâm.

Quý vị hãy quán chiếu những tâm bám chặt vào giận hờn, buồn phiền, cố chấp đã và đang làm cho mình khổ đau. Hãy nhận thức sâu sắc những điều đó! Những tâm này chỉ có hại, không có lợi, thế nên chúng ta hãy buông bỏ những tâm chấp thủ đó xuống. Buông xuống cho nhẹ! Buông xuống thật là khỏe! Quăng nó xuống để được thoải mái, chuyên chú vào hơi thở điều hòa thân và tâm. Khi buông được những tham, sân, si, buồn lo thì chúng ta sẽ sanh ra sự thoải mái, an lạc. Cùng nhau xả tâm ra bởi không có gì thật sự để mình nắm níu. Mở rộng tâm buông xả này ra mong muốn cho tất cả mọi người cũng có tâm hỷ xả như vậy, được thế thì tất cả những người thân thương của ta sẽ được rụng rơi dần những phiền muộn, sầu bi, mọi người được chuyển hóa từ khổ đau đến an lạc, từ vô minh đến ánh sáng trí huệ.

Lợi Ích Khi Tu Tập Bốn Tâm Vô Lượng:

Chúng ta thực tập tứ vô lượng tâm để có được những phút giây thật sự thảnh thơi, tự tại, hoan hỷ cho mình, cho người, cho muôn loài chúng sanh. Cùng nhau nuôi dưỡng dòng năng lượng này cho nó phát sanh mãi, sáng chiếu mãi.

Mỗi khi gia đình chúng ta có những việc không được như ý, quý vị có thể cùng nhau ngồi lại năm, mười phút quán từ bi hỷ xả vô lượng tâm. Hoặc thấy người nào đó khó chịu, gây sự với mình, sau khi trở về nhà, mình tìm một nơi yên tĩnh để thực hành trải tâm từ, bi, hỷ, xả vô lượng tâm, chắc chắn trong mười phút sau quý vị sẽ thấy bình an một cách kỳ diệu. Đây là phương pháp chánh truyền của Đức Phật, là liều thuốc bổ tâm linh, là diệu dược, là Thánh dược của Phật chứ không phải thuốc bình thường, bởi lẽ, Thánh dược của Phật trị được hết tất cả tâm bệnh. Lúc nào hành giả thấy xuất hiện buồn bã, bực bội, khó chịu cho mình và người thì nên xoay trở lại thực tập phát khởi lòng từ bi vô lượng. Nếu được, mỗi sáng thức dậy hoặc tối trước khi đi ngủ, mình trải tâm từ đến tất cả chúng sanh. Đức Phật nói người đem bố thí thức ăn xuyên suốt cả hàng tháng liên tục không phước đức bằng người quán từ bi vô lượng tâm trong khoảnh khắc khảy móng tay. Vì từ bi tâm là vua của tất cả công đức.

Khi Đức Thế Tôn còn là một người tu chưa thành Phật, chưa giác ngộ trọn vẹn, Ngài đã thực hành thành thục pháp tu tâm từ bi trong bảy năm, sau đó Đức Phật hưởng phước cho tới trăm triệu ngàn lần, cho tới trái đất này thành hoại. Ngài sanh ra chỗ nào là làm vua chỗ đó, sanh trên trời làm vua trời, sanh ở dân gian làm vua ở dân gian, bất cứ sanh ở loài nào là thống lãnh loài đó. Công đức của từ bi tâm không gì sánh nổi, nên vị Bồ-tát được tất cả mọi người cung kính lễ bái còn được gọi là mẹ hiền Quán Thế Âm, bởi Ngài tu đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn khắp chúng sanh. Người nào tu tâm từ thì khi thức khỏe mạnh, ngủ an lành; tất cả tai nạn không xâm nhập vào cơ thể của mình; súng đạn, lửa, nước những thứ nguy hiểm không thâm nhập được; đi đến đâu ai cũng thương cũng mến. Vì trong tâm mình có đức từ lan tỏa, nên thấy được chữ từ. Người không tu tâm từ, có đôi khi nhìn mặt là thấy chữ dữ. Do vậy, tu tâm từ rất tuyệt vời! Đây là pháp tu tình thương yêu khắp mười phương, thậm chí con chim, con cá cho đến cỏ cây muôn loài cũng cảm nhận được từ trường của tâm từ.

Người tu tâm từ còn được sự quý mến của chư Thiên, thậm chí các vị phi nhân là những vị không phải người, thiên thần và các vị hộ pháp cũng ủng hộ. Ngày xưa, có một vị Tôn giả chuyên tu về hạnh tâm từ. Ngài thường lưu trú một thời gian ngắn ở mỗi nơi, vài tháng rồi đi nơi khác. Lần nọ, Ngài chuẩn bị rời khu rừng đã an trú ít tháng qua thì nghe tiếng khóc của phi nhân, thiên thần. Sau đó, họ đến năn nỉ vị Tôn giả ấy đừng đi khỏi khu rừng đó, vì nơi đây Ngài đã tu tập, hành thiền tâm từ, nếu Ngài đi thì chúng sanh nơi đây tiếp tục gây cãi nhau, đánh nhau, sân hận sanh khởi, trú xứ này sẽ không còn bình yên nữa. Phi nhân và chư Thiên nơi đó năn nỉ mãi, cuối cùng vị Tôn giả kia ở lại khu rừng ấy tu tập, hành thiền tâm từ mỗi ngày cho tới lúc Ngài nhập Niết-bàn ngay nơi đó.

Người có từ tâm, có bi tâm thì đi đến nơi nào, nơi đó có an lành, tình thương được phát khởi. Cũng như chỗ nào có nước thì nơi đó cây cối mọc được, đâm hoa kết trái. Thế giới này không có nước thì trái đất không được tồn tại. Nếu như đời sống của chúng ta không có tình thương thì mình chẳng thể sống tốt hơn. Do vậy, tâm từ rất quan trọng, thực tập tâm từ sẽ giúp chuyển biến thân, thay đổi tâm, xây dựng lại cách nói chuyện, ứng xử, suy nghĩ của mỗi bản thân. Những chuyển biến ấy sẽ được những người thân của mình cảm nhận, thậm chí cây trước nhà sẽ mọc tốt hơn lúc xưa. Trước nay chúng ta phát ra dòng năng lượng, từ trường căng thẳng, mệt nhọc của sân hận, phiền não, còn bây giờ chúng ta thì chuyển hóa thân, tâm bằng từ, bi, hỷ, xả. Ví dụ, hồi trước, cây trổ có bốn trái, khi mình tu tâm từ, nó trổ được tám trái. Thuở xưa, những vị A-la-hán, Thánh tăng thấy các con chim bay lại gần bên Phật, ở đó có một cảm giác rất bình an vây quanh, thậm chí chúng đậu trên người Phật thản nhiên, nhưng khi các vị A-la-hán lại gần đưa tay để chúng đậu lên thì nó bay hết, hoặc người còn phàm phu chưa chứng Thánh thì chim cũng bay hết. Thế Tôn nói các vị A-la-hán tuy tu thành tựu rồi nhưng hơi hám, mùi của sự sát sanh còn chưa hết, cho nên chim chóc nghe thấy mùi đó thì hoảng sợ, không dám lại gần. Như Lai không còn mùi của nghiệp sát, quanh Ngài toàn bộ là từ tâm, bi tâm nên nó bay lại gần, vì ở đó có dòng từ trường ấm áp, nên chúng nó có cảm giác rất an toàn.

Chúng ta cũng cần thường xuyên thực tập mỉm cười, cười an nhiên, cười với nhau bằng chân thật, bằng cả tấm lòng. Hỷ vô lượng tâm trải ra rộng khắp muôn loài chúng sanh! Chúng ta thực tập hỷ xả, có chuyện gì giải quyết xong rồi thì thôi, đừng có đổ lỗi, la rầy, rồi sang bữa sau gặp nói nữa. Phải tập cho được, lần sau có gặp lại người đó, việc đó, lỗi đó đã qua rồi thì mình xem là bình thường, không còn gì phải bực tức, nhắc lại. Xả ở đây không phải là bỏ hết mà là xả đúng chuyện, xả xong rồi thì thôi.

Người học Phật là người luôn quay về với chính mình, tự bản thân thường xuyên thực tập bốn vô lượng tâm cho thân, tâm, cho năm uẩn này trước tiên. Bởi có từ, bi, hỷ, xả với chính mình thì mới có thể mang tâm ấy ra với người khác, vật khác được. Đối trị tham, sân, si cũng vậy, chúng ta phải thực tập cho mình trước, khi có được sự thực tập tương đối thì lúc đó mình sẽ có sức lan tỏa và ảnh hưởng đến người khác, có khi chúng ta chưa nói mà họ cũng cảm nhận được. Khi người khác đang sân si thì mình hít thở, cảm giác toàn thân, khi đó họ thấy không có chỗ bắt mồi, củi không bắt lửa thì không cháy được, ngược lại, nếu mình có chất cháy thì sẽ dễ bắt được lửa sân từ họ phát ra. Cho nên, điều quan trọng là mình không có chất gây cháy, khi chúng ta thực tập được trải rộng tình thương yêu này tương đối thì người sân hận khi thấy mình sẽ giảm bớt sự sân hận đó.

Trưởng Dưỡng Thiện Pháp:

Có một điều trong bài kinh “Song tầm” Minh Thành muốn chia sẻ đến quý vị Phật tử (tầm tức là suy tầm, suy tư, nghĩ ngợi, hướng tâm). Trong bài kinh này có nói đến khi Đức Phật chưa chứng Vô Đẳng Chánh Giác, Ngài đã từng chia tư tưởng làm hai loại: một loại là tham muốn, nóng giận, si mê, suy nghĩ không tốt với người khác; một loại là không có tham muốn, không có nóng giận, không có si mê, đây là loại tư tưởng thiện lành.

Sau khi chia làm hai nhóm, đối với loại nào có hại, tương ưng với tham, sân, si thì Đức Phật tìm cách hóa giải, dập tắt, không cho nó tiếp tục tồn tại, phát triển. Những tư tưởng tiêu cực, ví như, tư tưởng buồn giận người khác, phiền trách người khác rồi héo khô tiều tụy thì chúng ta phải nhận ra liền, nhờ có cảm nhận cảm giác toàn thân, thường xuyên thực tập nên khi nó xuất hiện thì lập tức mình thấy liền và dập tắt. Đức Phật gọi là từ bỏ chúng, diệt tận chúng, làm cho chúng không còn sanh khởi trở lại, giống như chặt cây cau, cây dừa không cho mọc lại được. Đối với bất thiện pháp hoặc tư tưởng tiêu cực thì phải thẳng tay đoạn diệt. Còn đối với những tư tưởng tích cực, là thiện pháp phát khởi thì nên duy trì, phát huy, làm cho nó tăng trưởng. Cần nhận rõ thiện pháp và bất thiện pháp, suy tư rạch ròi đễ chế ngự và duy trì, trưởng dưỡng, chớ nhầm lẫn đi lạc vào nẻo vô minh, tà kiến.

Bài kinh “Song Tầm” chỉ ra hai sự suy tư, hai hướng suy nghĩ và đối với ý nghĩ nào tương ưng với từ bi, tình thương thì chúng ta cần phát huy lên. Ví dụ, thấy đứa nhỏ ăn xin tội nghiệp, mình cho nó năm chục ngàn, khi đưa tiền ra lại nghĩ là uổng nên rút lại chỉ cho ba chục ngàn. Lúc đầu là thiện pháp nhưng lúc sau thì có sự phân biệt sanh khởi. Mỗi ý thiện sanh khởi tạo ra phước rất quan trọng, vì chúng ta còn trong cõi sanh tử luân hồi nên phước đi theo mình. Chẳng hạn sanh ra trong một gia đình cùi hủi, sanh ra không cha mẹ, sanh ra được vài tuổi đã mắc bệnh nan y, sanh ra vùng không phát triển,… đó là không có phước. Kinh “Phân Biệt Cúng Dường” Đức Phật có nói, , bố thí cho người phàm phu ác thì phước được trăm phần, một người phàm phu thiện phước được ngàn phần, cho người lìa tham dục nhưng vẫn còn phàm phu thì phước được mười ngàn, cho cúng dường , giúp ích cho một người đệ tử Phật, hoặc mới bắt đầu tu tập thì phước lên tới hàng ngàn, hàng vạn và nếu cúng dường, giúp được người Hướng Dự lưu, hướng vào trí huệ của Phật thì hư không trong mười phương này cũng không so sánh nổi công đức đó.

Trong kinh A-hàm và Pàli tạng nói phước đức có sự tăng trưởng, chỉ là mình không biết thôi. Ví dụ một người cúng dường cái chuông, biết cúng chuông thì có phước nhưng không biết phước đó như thế nào. Thật ra là mỗi lần nghe tiếng chuông này mà tâm mình lắng lặng, thanh tịnh thì người cúng được thêm chút phước. Một trăm người nghe người đó được trăm phần phước, một ngàn người nghe thì người đó được tăng ngàn phần phước. Cứ mỗi lần bất cứ ai nghe một tiếng chuông này giúp tâm thật lắng dịu, thanh tịnh thì người cúng dường đó được tăng phước. Cũng như con đường không biết bao nhiêu người đi mà bất cứ người nào đi trên con đường đó thì người cúng dường làm đường sẽ được tăng phước lên. Nếu con đường đó tốt, họ chết đời này, sanh đời sau, con đường đó vẫn còn thì họ hưởng không biết chừng nào mới hết phước. Hoặc một người cúng tượng Phật thì bất cứ ai vào lạy tượng Phật đó thì họ đều được chút phước. Ví dụ, người nào đó cúng một giếng nước, bất cứ người nào uống nước từ giếng ấy thì người cúng giếng nước đó được tăng trưởng phước báu. Cúng dường cho phàm phu thì phước đã nhiều, vì vậy cúng dường cho bậc Dự lưu Thánh quả hay đã vào Thánh quả, trí huệ thì phước đó không thể tưởng tượng được. Có một vị cư sĩ cúng dường bữa ăn cho một vị Tỳ-kheo, người cư sĩ này rất nghèo nhưng dám nhín phần ăn của mình đem cúng dường. Vị Tỳ-kheo đó là một vị Thánh tăng Bích Chi Phật, nhờ vậy, vị cúng dường này hưởng phước lành tới năm trăm kiếp, cho tới khi vị cư sĩ này chứng thánh quả A-la-hán thì luôn hưởng phước tràn ngập đồ ăn, đi tới đâu cũng tràn ngập đồ ăn, thậm chí ở trong Tịnh xá rừng sâu núi thẳm mấy ngàn vị Tăng cũng có người đem đến cúng dường.

Cho nên, phước người cư sĩ rất quan trọng. Đức Phật thường dạy người cư sĩ hai điều, ai muốn chắc chắn làm người, muốn chắc chắn vui sướng, giàu sang, đầy đủ, thậm chí sanh lên cõi Trời thì người này phải giữ giới và làm phước – đây là hai phương pháp của người cư sĩ tại gia. Ai giữ năm giới đã thọ và làm phước thì chắc chắn sẽ được sanh làm người hoặc sanh cõi Trời, người này được hưởng phước nên luôn giàu có, sung sướng, sức khỏe, trường thọ, uy tín, trí huệ thông minh thì phải giữ giới. Do vậy, hãy phát huy tư tưởng thiện, trưởng dưỡng lòng từ. Chúng ta nhớ phát huy thiện pháp, những suy nghĩ nào tương ưng với thiện, phù hợp với trí huệ, tăng trưởng từ, bi, hỷ, xả, thương người, giúp người, làm những việc nghĩa lợi, những việc công đức, học đạo, tu tập thiền định,… thì cố gắng phát huy cho bằng được, tức là giữ gìn thiện pháp, không cho nó mất đi, mà còn làm cho thiện pháp phát triển, lớn mạnh lên thêm, đó mới là người siêu thông minh. Chúng ta hãy nhớ kỹ điều này, vì thông thường chúng ta thường chỉ nhớ về vật chất, mà quên đi phước đức về mặt tâm linh. Vì vậy, bây giờ nhớ thêm được điều này là chúng ta sẽ giàu có về cả vật chất lẫn tinh thần, có như vậy mới bền lâu, cân đối. Bằng không, khi hết phước chúng ta sẽ rất khổ, còn người biết làm phước thì phước luôn được tích lũy lên thêm.

Như vậy, chúng ta cố gắng phước huệ song tu, bi trí song vận, tu tập từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm. Bốn vô lượng tâm này nên luôn thường trực, phát khởi trong mỗi hành giả trên bước đường tu hành, chuyển hóa thân tâm chính mình, như vậy rồi sẽ chuyển hóa được người khác. Vượt qua bản ngã, cố chấp sẽ thấy lời dạy Như Lai luôn chắc thật, không hư dối. Rõ biết khổ, vô thường, vô ngã, không sẽ đạt tới tịch tịnh Niết-bàn./.