Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nghiệp & Quả Báo 33 - Không Biết Đủ Với Thiện Pháp

2026-03-03 00:55:28
Kinh Nikāya Giảng Giải

Nghiệp Và Quả Báo 33

Không Biết Đủ Với Thiện Pháp

Thích Minh Thành

Ngày 20 tháng 07 năm 2023

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lời giới thiệu PAGEREF _Toc150369592 \h 1

II. Đau khổ vì bất thiện pháp PAGEREF _Toc150369593 \h 2

III. Hướng về thiện pháp PAGEREF _Toc150369594 \h 4

IV. Tinh cần tu tập tâm PAGEREF _Toc150369595 \h 6

V. Không buông lung PAGEREF _Toc150369596 \h 15

I. Lời giới thiệu

(Lời giới thiệu) Kính chúc sức khỏe của chư tôn đức trong ban tổ chức luôn luôn được thân an, tâm lạc, Phật sự viên thành. Luôn là cọi bồ đề che mát cho chúng con, cùng chúng sanh trên con đường tu học. Kính chúc quý Phật tử tại gia học Phật online luôn đầy đủ sức khỏe, tinh tấn tu học, bồ đề tâm kiên cố. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính bạch chư tôn đức Tăng Ni, kính thưa toàn thể quý Phật tử. Rất vui và hân hoan chào mừng quý Phật tử, đang tham dự diễn đàn học Phật online tối hôm nay. Hôm nay ngày 20 tháng 7 năm 2023, nhằm ngày mùng 3 tháng 6 năm Quý Mão. Tại diễn đàn học Phật online chúng con, được cung đón bước chân hoan hỉ của thượng tọa giảng sư Thích Minh Thành, đã đến với lớp học chúng con trong thời pháp thoại của chúng con tối hôm nay.

Chào mừng quý Phật tử đang xem trực tiếp qua kênh Phật Sự Online. Chúng ta đến với chương trình học Phật online do ban Hoằng pháp trung ương, giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp với kênh thông tinh tổng hợp của Phật sự online tổ chức. Nằm trong chuỗi chương trình phát sóng vào thứ 3, thứ 5 và thứ 7 tại diễn đàn học Phật online. Với nhiều nội dung đáp ứng nhu cầu tu học, hành trì và những nghi lễ sinh hoạt trong nếp sống thiền môn. Giúp cho Phật tử có được sự an vui, hạnh phúc trong sự tu tập của mình. Kính thưa toàn thể quý Phật tử, trong chương trình học Phật online tối hôm nay. Ban tổ chức giới thiệu quý Phật tử thượng tọa giảng sư Thích Minh Thành, sẽ tiếp tục đến với diễn đàn của chúng ta bản kinh Nikāya – Nghiệp và giảng giải phần tiếp theo.

Kính thưa quý Phật tử, bản kinh Nikāya chúng ta đã được thượng tọa giảng sư giảng xuyên suốt đến hôm nay đã đến phần thứ 23, bản tin này là bản tin rất là quý và thiết thực. Giúp cho Phật sự của quý Phật tử chúng ta, ứng dụng trong đời sống tu tập của mình. Và hôm nay tại diễn đàn của chúng con lại được diện kiến thượng tọa giảng sư Thích Minh Thành, được nghe những lời pháp thoại từ thượng tọa giảng sư. Kính bạch thượng tọa giảng sư, giờ đây lớp học chúng con đã trang nghiêm, thanh tịnh, duyên pháp.

Thay mặt cho toàn thể hội chúng diễn đàn học Phật online kính cung thỉnh giảng sư khởi niệm hồng danh Đức Phật Bổn Sư, cầu gia bị cho buổi học hôm nay thành tựu viên mãn. Kính mời quý Phật tử trong diễn đàn chúng ta cùng chấp tay trang nghiêm, cùng thượng tọa giảng sư niệm Phật cầu gia bị. Con kính cung thỉnh trên thượng tọa giảng sư khởi niệm, kính chúc lớp học chúng ta có 1 buổi học pháp được nhiều lợi lạc. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

II. Đau khổ vì bất thiện pháp

Bạch chư tôn hiền đức, kính thưa toàn thể quý nam nữ Phật tử. Hôm nay chúng ta tiếp theo với nội dung Đức Thế Tôn dạy về sự không biết đủ đối với thiện pháp. Đức Thế Tôn nói rằng: “Có hai pháp ta đã được học và được biết. Pháp thứ nhất là không biết đủ với thiện pháp. Pháp thứ hai là không có phối chuyển đối với tinh cần tinh tấn”. Thường thường là chúng ta không biết đủ, nhưng mà là đối với những tham muốn ở đời. Đức Thế Tôn gọi là năm cái thứ nuôi lớn lòn tham muốn: Không biết đủ đối với dục lạc, không biết đủ đối với tiền của, vật chất, tài sản, sắc đẹp, món ăn, rượu chè, những thú vui tầm thường, thấp kém, phàm tục. Thì đa số con người không biết đủ đối với những thứ đó, chính vì vậy cho nên cả cuộc đời của của người không biết tu là cả cuộc đời theo đuổi, chạy tìm, thèm muốn, khao khát, đòi hỏi.

Trong kinh Nikāya Đức Phật dùng từ rất là sâu sắc là “khát ái”. Khát là khao khát, ái ở đây là yêu thích, yêu thương, tham ái, ái luyến. Trong trạng thái của các chúng sanh phàm phu, bên trong tâm mình là 1 sự thiếu thốn. Sâu thẩm bên trong cảm thọ là 1 sự thiếu thốn, luôn luôn lúc nào cũng thiếu thốn, thèm muốn, đòi hỏi, tìm kiếm, khát khao. Mà chính chỗ này là chỗ tất cả chúng sanh khổ đâu, vì không thấy, không biết. Cho nên cái khát ái này nó cộng với cái vô minh, không thấy không biết trạng thái của cái tâm khao khát, thèm muốn. Không biết cái thọ này nó luôn luôn thiếu thốn, đòi hỏi. Không thấy không biết cảm xúc mà lúc nào cũng nghèo, cũng đòi, cũng hỏi, cũng thèm khát.

Và cứ như thế, chính sự thèm khát, tham muốn này làm cho túi không có đáy. Cho nên người đời gọi là túi tham không đáy, bỏ bao nhiêu cũng không đầy. Và như vậy là người ta sống 1 trạng thái không hài lòng, không vừa lòng, không thỏa lòng, không mãn nguyện. Trong kinh dùng từ bất toại nguyện, giải thích cái nguyên nhân của khổ. Thì như vậy tất cả hữu tình chúng sanh, điều luôn luôn ở trong trạng thái bất toại nguyện, không có hài lòng, không có vừa lòng, không có bằng lòng, luôn luôn bất mãn, bất bình. Đây là 1 trong những nguyên nhân hết sức là quan trọng, để cho chúng sanh đau khổ. Chúng sanh luôn luôn nghĩ, nhớ, tìm, kiếm, thèm khát và luôn luôn chạy đuổi, chạy tìm, đi kiếm.

Rồi tranh giành, đấu đá, đánh đấm, ghanh tị, ghanh đua, để mà tìm lấy, giật lấy những tham muốn đó mà họ cho là, họ thấy là những thứ mà họ có nó sẽ làm cho họ hạnh phúc, nhưng không phải. Chúng ta thấy không, bây giờ người giàu nhất trên hành tinh này thỏa mãn chưa? Họ luôn ở trong trạng thái bất toại nguyện. Thì đừng nói chi là 1 người ăn xin nghèo hèn đói rách thì họ càng không hài lòng. Thì người ăn xin trong trạng thái bất toại nguyện, người giàu nhất hành tinh cũng trong trạng thái bất toại nguyện, thì đương nhiên người trong khoảng giữa đó cũng trong trang thái bất toại nguyện, tức là khổ đau. Chỉ có những bậc đệ tử của Như Lai, các bậc Thánh và Đức Như Lai là cái tâm hoàn toàn, không còn đói thiếu nữa, hoàn toàn no đủ.

Một nội tâm phong phúc, giàu có, sung túc, sung mãn. Các Ngài không có chạy tìm những cái bên ngoài, không có tìm kiếm những cái vô thường, hư ảo, giả tạo, giả dối, giả ngụy. Cho nên các Ngài có 1 nội tâm hoàn toàn an tịnh, lắng dịu. Thì như vậy chúng sanh hữu tình đau khổ vì không biết đủ đối với bất thiện pháp. Thì Đức Phật dạy mình lấy cái tâm không biết đủ đó, xoay ngược trở về để mà tu tập cái tâm không biết đủ đối với thiện pháp. Chúng ta thấy chỗ này là chỗ thiện xảo, vi diệu tối thượng của Đức Như Lai. Đem cái tâm chạy đuổi, thèm khát, khao khát, khát ái, chạy theo những thú vui thấp hèn, những cái ác, những cái không biết đủ đó. Quay trở về sử dụng cái tâm đó đối với các pháp lành, pháp thiện, các pháp hiền, các pháp thánh. Đó là cái thứ nhất, không biết đủ đối với thiện pháp.

III. Hướng về thiện pháp

Bây giờ chúng ta tu sao? Mình mới học kinh được chút chút, học thuộc 5 giới sơ sơ là nói học rồi, biết năm giới rồi. Mới đi thọ bát được mấy kỳ là mình nói: “Tôi biết rồi, tôi hiểu rồi, tôi có tu rồi”. Mình mới nghe giới thập thiện được chừng vài buổi à: “Rồi, biết rồi, hiểu rồi, tu rồi, đang thực hành đây”. Thì như vậy, chính vì 1 cái tâm không có khao khát, không có muốn tăng thượng, phát triển, viên mãn tròn đầy đối với tất cả các thiện pháp. Cho nên mình đạt được tất cả cái giới đi nữa, thì cái giới đó rất là nhỏ bé, cạn cợt, hẹp hòi, thấp kém. Ở đây Đức Phật khuyên mình đối với các thiện pháp, trong đây mình đang ví dụ về cái giới. Mình phải khao khát, thèm khát, mong muốn giống như đói mình tìm thức ăn, khát mình tìm nước uống vậy.

Mỗi khi mình nghe giới, mỗi khi mình nghe pháp, mỗi khi mình nghe về trí tuệ của Đức Phật bao nhiêu cũng được, càng nhiều càng tốt, không bao giờ mình thấy chán, không bao giờ mình thấy đủ, không bao giờ mình thấy như vậy là hài lòng, vừa lòng. Cho đến khi nào mình thành tựu Chánh kiến viên mãn, nhập lựu của bậc Tu Đà Hoàn, đắc pháp nhãn tịnh. Thì lúc đó Chánh tri kiến mới được viên mãn, đó gọi là minh kiến, thánh tri kiến, tri kiến bậc Thánh. Cho nên đối với cái pháp cũng vậy, mình học chẳng hạn như tứ Thánh đế, đọc khổ tập diệt đạo mình biết rồi. Khổ thì có 3 khổ, 8 khổ mình nói ro ro vậy đó. Thì như vậy chính vì cái tâm không có khao khát, không có sự mạnh mẽ tìm cầu, cho nên cái hiểu về tứ Thánh đế của mình nó cạn cợt, thấp kém, hiểu ngoài da, trên chữ, trên sách.

Chứ nếu mình hiểu tinh tế, tứ Thánh đế mà mình thất sự hiểu mình có 2 cấp độ hiểu. Cấp thừ nhất chính là kiến đế, là thánh quả thứ nhất. Cấp độ thứ 2 mà hiểu tứ Thánh đế tức là diệt tận khổ đâu, chứng nhập thánh quả thứ 4, A-la-hán. Vì Thế Tôn không biết đủ đối với thiện pháp, cho nên pháp nào Ngài tu là trí cực cùng tột, đại viên mãn. Chính vì vậy cho nên Ngài thành đạo gọi là đại viên mãn giác, tức là cái thấy biết, thấu triệt chứng đạo của Ngài nó tròn đầy, đồng đều, viên mẫn tất cả các phương diện, khía cạnh về khổ ở trong thân tâm thế giới ngũ uẩn. Tại vì Ngài có đẵ tính là không biết đủ đối với thiện pháp, phải đạt đến cái thiện pháp nào mà Ngài tu tới cứu cánh, cùng cực, đại viên mãn. Thành ra cái đặc tính này là đặt tính hết sức quan trọng cho người học Phật, từ cư sĩ cho đến xuất gia.

Không có hài lòng, không có chấp nhận, không có học hay là hiểu 1 cách sơ sơ, lơ tơ mơ, hời hợt, cạn cợt. Mà phải học cho tới nơi tới chốn, làm là phải làm trọn vẹn, viên mãn. Cho nên Đức Thế Tôn khi mà Ngài chứng tứ giới thì Ngài thành bậc tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người. Mình bây giờ học tứ thánh đế nhóc hết trơn, mà khổ vẫn khổ à. Tập đế tức là những nguyên nhân của khổ vẫn còn nguyên, có khi nó tăng trưởng lên mà mình không thấy không biết. Là tại vì sao? Cái học và cái tu của mình hời hợt, cạn cợt, qua loa, không có cẩn trọng, không có thấu suốt viên mãn. Và đây cũng chính là 1 trong những cái pháp mà đóng cửa dự lưu, tức là không thể nào nhập lưu, không thể nào thành tựu Chánh kiến, tức là cái tâm cẩu thả, qua loa, ẩu.

Thành ra chỗ này là chỗ chúng ta để ý rất là kỹ trong sự tu học. Cho nên không biết đủ đối với thiện pháp, đó là Minh Thành chỉ đưa ra 1 vài cái cho chúng ta thấy về giới, ngoài ra còn rất nhiều pháp khác. Chẳng hạn như giờ chúng ta học tứ niệm xứ cũng vậy nữa, chúng ta học thân bất tịnh, thọ thì khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã rồi ra tứ niệm xứ là xong rồi đó. Chúng ta học như vậy, là chúng ta không có cái tính không biết đủ đối với thiện pháp. Cho nên chúng ta dừng lại, chúng ta thỏa mãn, hài lòng, bằng lòng, vừa lòng. Chúng ta không có sự khao khát, không có 1 ước muốn sắt bén trong 1 trái tim rực lửa. Để làm sao mà thấu triệt, thấu suốt, thấu đạt 1 cách triệt để, toàn vẹn, khía cạnh, viên mãn thực sự của tứ niệm xứ.

IV. Tinh cần tu tập tâm

Tại sao Đức Phật nói là một con đường độc nhất đưa chúng sanh đi đến thanh tịnh, tại sao lại như vậy? Cho nên khi chúng ta có đặc tính này, thì chúng ta tu học mới đi tới chỗ cứu cánh viên mãn. Đó là mình mới nói về phương diện học, còn phương viên tu thì sao? Đức Thế Tôn nói cái pháp thứ 2: “Không có thoái chuyển đối với tinh cần”. Tức là không có lui, không có lùi lại đối với sự tiến lên, không có dừng lại đối với sự tinh tấn. Thì Thế Tôn giải thích phần này rất là kỹ: “Không có thoái chuyển, ta cố gắng như sau: Ta sẵn sàng dầu chỉ còn da, gân và xương. Dầu thịt và máu trên thân bị khô kiệt, mong rằng sẽ có tinh tấn, kiên trì chứng đắc những gì chưa chứng đắc. Nhờ sức mạnh của người, nhờ tinh tấn của người, nhờ cần dõng của người. Ta nhờ không có buông lung phóng dật, chứng được chánh giác, chứng được vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.

Và này các vị, nếu các vị không có thối chuyển, cố gắng như Ta. Sẵn sàn dầu chỉ còn da bọc xương, dầu chỉ còn gân, dầu thịt máu trên thân này có khô héo hết. Mong rằng sẽ tinh tấn, kiên trì để chứng đắc những gì chưa chứng đắc. Nhờ sức mạnh của bản thân mình, nhờ sự nỗ lực của chính mình, nhờ sự mạnh mẽ của tự thân. Thời không bao lâu các vị cũng đạt được mục đích mà các người thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình đạt được. Đó chính là vô thượng cứu cánh phạm hạnh ngay trong hiện tại, các vị với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú.”

Không có thối chuyển, chúng ta cố gắng, chúng ta sẵn sàng dù chỉ còn da, gân và xương, dù thịt và máu trên thân này có khô kiệt. Mong rằng sẽ có sự nỗ lực, kiên trì, tinh tấn, dõng mãnh chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Đó là nhờ vào sức mạnh của tự thân, nhờ vào sự nỗ lực của của bản thân, nhờ vào sự mãnh mẽ, cần dõng của bản thân, do vậy các vị cần phải học tập, đây là cái pháp thứ 2 Đức Phật nói. Tức là không có dừng lại, không có lùi lại, phải tiến lên và tiến lên, đây là đặc điểm thứ 2. Trong sự tu học của chúng ta, từ cư sĩ cho đến tu sĩ, chúng ta coi lại gương của Đức Thế Tôn. Một thái tử mà Ngài tu cho đến rõ ràng, Ngài nói là những lời Ngài đã thực hành, thực chứng. Ngài nói dù chỉ còn da bọc xương, gân thịt máu trên thân dù khô héo hết.

Thì chúng ta thấy hình tượng 6 năm khổ hạnh của Bồ Tát không ạ? Quý vị về đọc bài kinh “Khiếp Đãm Và Sợ Hãi”, thì chúng ta sẽ thấy được sự khổ hạnh của Bồ Tát, sự khổ hạnh của thái tử. Không thể tưởng tượng được, Ngài 1 ngày ăn 1 bữa, 3 ngày ăn 1 bữa, 7 ngày ăn 1 bữa, cho đến có khi nửa tháng mới ăn 1 bữa. Mà Ngài có phải ngồi ăn cơm như mình không? Ăn mấy trái cây rụng, thậm chí là mấy hạt mè. Hồi xưa Ngài chưa chứng ngộ cho nên Ngài học theo những cái đạo của những người khác, thậm chí là ăn phân bò. Cho đến cái khổ hạnh cùng cực, là Ngài phải tự dùng những cái phân của chính mình và nước tiểu. Khổ hạnh đệ nhất, độc như đệ nhất, tinh tấn đệ nhất. Mình thấy cái gương của Ngài để chúng ta tinh tấn lên, nhiều khi mình nghe pháp 1 chút là mình mỏi chân, 1 chút là mình phải quay người.

Hay ngồi 1 hồi là đơ đơ như con gà mờ, rồi sụp mắt xuống. Mà khi hỏi nãy giờ nghe cái gì thì nói hay lắm, nhưng hỏi lại nghe cái gì thì không biết. Chúng ta thấy như vậy là mình xấu hổ với Đức Phật không? Mình nói mình con Phật, con của Phật mà mình không có giống Phật. Đức Phật là hy sinh cả sanh mạng để thành đạo, mà mình yêu cái thân này, quý cái thân này, trọng cái thân này, ái cái thân này, chấp cái thân này. Chúng ta thấy không? Mình xấu hổ, mình vô mình lạy Phật mình phải nhớ những đức hạnh của Đức Phật. Ngài là chết cũng không sợ, chịu không biết bao nhiêu cái gian khổ, xem thường cả sanh mạng. Còn mình bây giờ mình tu học với 1 thái độ như thế nào? Mình thấy mình xấu hổ, nhục nhã, thấp hèn, thấp kém trước Đức Phật.

Và mỗi lần mình vô là mình nhớ tới cái khổ hạnh của Đức Phật, sự độc cư của Đức Phật, tinh cần, dõng mãnh của Đức Phật, sự từ bỏ vĩ đại của Đức Phật. Bây giờ mình nói chẳng hạn như mình lỡ thất thoát cái gì 1 chút, mất mát cái gì 1 chút đi nữa thì mình nhớ Đức Thế Tôn bỏ cả ngai vàng điện ngọc mà, mình mất cái này 1 chút thôi có cái gì đâu, coi như mình bố thí đi. Cái gì mình cũng nhớ Phật tức là niệm ân Đức Phật, niệm trí tuệ Phật, niệm đức hạnh Phật, niệm oai lực Phật, thì như vậy mình tiến mạnh mẽ. Nhiều khi lúc mình vô tụng, vô kêu niệm thì lúc đó mình mới niệm, còn bình thường mình không nhớ niệm. Cho nên mình nhớ, chữ “niệm” tức là nhớ. Mà mình nhớ cái gì? Mình nhớ hạnh của Phật.

“Hạnh” tức là gì? Là những cái mà Đức Phật đã thi hành, nhớ công đức của Phật, công phu, công lao mà Ngài đã tìm ra được thánh pháp tối thượng này. Rồi mình nhớ mình niệm cái gì? Nhớ trí của Phật đã thấy được vô thường, khổ, vô ngã của tất cả cuộc đời này. Như vậy mình niệm Phật, mình nhớ Phật, mình có thể từ bỏ được những lòng tham. Mình nhớ Phật có thể giảm bớt được cái tâm sân hận, nóng bứt. Mình nhớ Phật có thể phá tan được những cái tâm lờ mơ, lơ mơ, ngơ ngơ, si mê, ám muội. Như vậy niệm Phật là lìa tham sân si là vậy, nhiếp phục, chế ngự tham sân si là vậy đó, mọi thứ xả hết trơn. Tại sao mình lại tham, mình tham như vậy thì mình có giống Phật không? Lúc đó là mình nói: “À như vậy là mình không giống Phật rồi, bây giờ mình muốn giống Phật thì mình phải li tham”, như vậy niệm Phật từ bỏ tham.

Rồi bây giờ mình đang nóng giận lên: “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Mô Phật, con xin quay về với Đức Phật”. Đức Thế Tôn là 1 bậc diệt tận hoàn toàn sân hận, tại sao mình nói mình là con Phật mà mình đang nổi sân lên đây. Như vậy mình có giống Phật hay không? Mình nhìn lại cảm thọ, cảm xúc đó giờ mình sao. Thì mình quở trách, rầy la những cảm xúc đó. Mình chửi mắng cái cảm xúc giận này, mình nói: “Nhà người ngu si qúa, tối ngày cứ thiêu đốt cái tâm này làm cái gì, cảm giác nóng giận này hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, hãy tan thành mây khói đi. Diệt tận 1 cách hoàn toàn, đừng bao giờ sanh khởi trở lịa trong tương lai nữa”. Thì lúc đó mình nhớ Đức Phật, thì mình lìa sân, từ bỏ sân.

Khi cái tâm mình lờ mờ, không có tỏ, không có nhớ vô thường, không có nhớ khổ, vô ngã. Mình nhìn thấy 1 cái tâm to chình ình, to tướng, thì lúc đó mình liền nhớ tới Đức Phật. “Phật là chứng nhập Thánh trí vô ngã, tại sao cái ngã mình to lớn, cái ta mình bự như vầy. Mình có thấy mình xấu hổ, mình si mê, mình vô minh không? Thôi từ bỏ cái ta này đi”. Cúi đầu, chấp tay, quỳ xuống, lạy xuống, khiêm cung, khiêm hạ, khiên nhường, khiêm tốn, khiêm nhã. Thì ngay lúc đó mình niệm Phật mình diệt được cái si mê, chấp ngã, chúng ta thấy tuyệt với chưa? Mà mình luôn luôn siêng năng, nổ lực niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng. Phải thường nhớ cuộc đời này là khổ, cho nên khi mình gặp cái vui, mình không có để cho cái vui đó nhận chìm mình.

Khi mình gặp cái buồn, mình không có để cho cái buồn đau đó nó xâm chiếm tâm mình. Tại vì mình biết cái buồn đó nó là đương nhiên phải vậy rồi, khi mình gặp cái tai nạn, tai họa, mình vẫn chấp nhận đây là nghiệp quả. Như vậy mình niệm Phật, niệm pháp, tâm mình an nhiên, bình thản chấp nhận mọi sự việc đến với mình. Mình đều có 1 thái độ chấp nhận nhẹ nhàng điềm tĩnh, bình an. Tuyệt vời không? Niệm Tăng là niệm sự thanh tịnh, hòa hợp, niệm sự trong sạch. Niệm đời sống trong sạch, thanh tịnh, thanh cao, cao thượng, thánh thiện. Luôn luôn hướng tới sự trong sạch, thanh cao, cao thượng, thánh thiện, tốt đẹp, thanh tịnh, hòa hợp, hòa ái, hòa kính, hài hòa đối với mọi người.

Bây giờ anh chị em, vợ chồng nói 1 câu bắt đầu muốn gây với nhau. Thì cái này là bất thiện pháp, cái này là không có niệm Tăng, không có nhớ sự hòa hợp gì hết trơn. “Gia hòa vạn sự hưng”, bây giờ gia bất hòa thì tất cả đều suy sụp hết. Cho nên ngay lúc đó mình nhớ mình niệm Tăng, niệm sự hòa hợp, hòa kính, hòa ái, hòa đồng, hòa vui. Thì như vậy chúng ta thấy hiệu của nó tuyệt vời không? Giải quyết được cơ giận, giải quyết được sự bất mãn, bất hòa. Giúp đỡ mình lắng dịu hết những gì bất trắc, sự bất bình, bất ổn ở trong cuộc sống. Chúng ta thấy những chỗ đó là chỗ mà mình có sự tinh cần, tinh tấn, hay là sự niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng 1 cách gần gũi.

Còn cái mà Đức Phật dạy cho người xuất gia là cái tiến mãi không lùi, tiến về phía trước dù cho chết cũng phải tiến. Chúng ta nhớ đến câu chuyện Đường Tăng đi thỉnh kinh, ai cũng biết hết phải không? Ngài phát nguyện đó: “Thà bước về phía trước mà chết, chứ không có lùi lại, chết cũng bước về phía trước”, thì như vậy thỉnh kinh mới được. Mình bây giờ tu 3 năm, 5 năm, 10 năm, 20 năm, tu tới bạc đầu mà mình biết mình tiến tới đâu chưa? Dậm chân tại chỗ, hay lùi lại, hay tiến lên? Mà tiến lên là tiến tới đâu? Hướng dự lưu chưa? Nhập lưu chưa? Thì mình mù tịt không biết. Thì phải thứ hỏi, phải đi tìm cầu, phải đi học hỏi. Cho nên Đức Phật nói với mình là mình phải xem thường cái tư mạng này, “xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo”.

Xả cái bản ngã này để mà chứng nhập cái vô ngã, xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo. Tức là khi mình đến chùa, đi đến đạo tràng, khi đến pháp thoại, đi đến khóa tu thì mình không có chứng tỏ gì tôi là người giàu có, thành đạt. Mà mình mặc 1 bộ đồ lam, vẫn đi xuống rửa chén với mọi người, vẫn phụ quét sân với mọi người, mình vẫn hòa đồng với tất cả mọi người, đó gọi là xả phú cầu bần. Không phải mình cúng dường, rồi là mình yêu cầu tất cả mọi người phải xem trọng mình thì cái đó chưa gọi là xả phú cầu bần. Khi mình đi vào cái cửa không rồi là bình đẳng như nhau hết, tất cả là con Phật. “Mỗi người, mỗi nước, mỗi non. Bước vào trong đạp như con một nhà”. Tất cả là con của Đức Phật, tất cả là tham sân si, là đau khổ hết.

Tất cả trở về với người cha, trở về mái nhà Như Lai để mà cùng nhau tu học, để mà thấy khổ, tìm ra cái nguyên nhân của khổ, diệt cái khổ để hết cái khổ. Chứ không phải vô đây để mình khoe cái giàu có, cho nên khi mình “xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo”, thì Đức Thế Tôn nói: “Dầu cho còn da bọc xương, máu huyết có khô kiệt đi nữa, mà sự tinh cần tinh tấn của mình không có lùi”. Nhiều khi mình đang ăn chay mấy năm vậy đó, rồi nghe người ta nói bác sĩ nói bây giờ ăn mặn đi không thôi bệnh rồi cái bỏ. Thì như vậy là mình không có 1 lòng kiên định, không có sự mạnh mẽ. Bây giờ mình nói: “Dù chết bây giờ tôi cũng ăn chay nữa”, mình dám không? Mạnh mẽ như vậy đó.

Mình bênh bao nhiêu thứ, mình bệnh bao nhiêu lần, mình bệnh bao nhiêu đời, mình chết bao nhiêu đời. Nếu mình chết mà mình thành tựu được thiện pháp, thì mình sanh thiên, mình ở trong đỉnh cao của nhân thiên phước báo. Hay là mình đạt tới những bậc cao hơn nữa là Thánh đệ tử thiên, để mình đạt tới Niết-bàn tối thượng, chấm dứt sanh tử, xuất ly 3 cỏi. Cho nên ngồi thiền cũng vậy, ngồi tê chân tê cẳng 1 chút cũng phải quyết tâm phải ngồi cho được. Rồi bây giờ những cái chướng ngại, cảm thọ bên trong của mình thì mình phải chịu khó, quyết tâm kiên trì. Toàn trí nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận những lậu hoặc, phiền não, cấu uế, rác bẩn, ô nhiễm bên trong. Khó đó chứ không phải là dễ, nhưng mình không chịu thua, mình có sự kiên trì, quyết tâm, dõng mãnh, tinh tấn, nổ lực.

Mình nhất định sẽ thành công, mà là thành công lớn. Còn cái này mình yếu đuối, mình nghĩ thôi làm không được, thì như vậy là uổng cho 1 kiếp người, uổng cho 1 cơ hội mình gặp Chánh pháp. Uổng cho 1 cơ hội mà con rùa mù 100 năm từ dưới đáy biền mới nổi lên, nay lúc đó có 1 cái bọng cây nổi trôi qua. Mà lúc đó con rùa mù chui vô được cái bọng cây, cái bọng cây đó đưa con rùa được vào trong đất liền, và con rùa này được lên bờ. Hết sức là khó như vậy đó, mà còn không khó bằng sanh được được làm người, gặp được thánh pháp, mà nhất là thánh pháp tối thượng Nikāya. Cho nên mình phải nỗ lực, phải quyết tâm, phải dõng mãnh, phải có 1 tinh thần chiến sĩ, dũng sĩ. Một tinh thần quyết tử đi theo bậc vương thượng sĩ, chứ không có tu mà gieo duyên, không tu chơi chơi chờ đời qua đời.

Mà phải tu 1 cách quyết liệt, dũng mãnh, tu liều mạng, tu chết bỏ. Không tu cũng chết, mà tu cũng chết, vậy thôi bây giờ tu chết, mà tu thì không có chết đâu, tu sẽ đạt đến bất tử. Mạnh mẽ lên như vậy đó, tinh tấn lực, dũng mãnh lực, mãnh hổ lực, oai thần lực, hung hang lực, tự vương lực, sư vương lực, sư tử chúa. Dùng cái sức mạnh như vậy đó, cho nên trong kinh Đức Phật hay dùng hình ảnh sư tử rất nhiều như bài kinh “Sư Tử Hống”, tiếng gầm của con sư tử. Tự mình phải biết tác ý trong tâm mình như vậy đó: “Mày làm biếng làm nhát vô lượng vô biên kiếp rồi, mày bị đọa trong tam đồ địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ ác đạo. Mà may mắn trong kiếp này mày như con rùa mù, được nổi lên sau 1 trăm năm mà trúng cái bọng cây nổi đưa mày vô mà bây giờ mày còn làm biếng hả? Mày muốn chìm xuống biển nữa phải không?”

Mình nhắc cái tâm mình, mình rầy la, mình quở trách, mắng nhiết cái tâm mình mỗi khi nó làm biếng, buông lung phống dật, thoái lui. Mà mình nhớ cái từ tu liều mạng, tu chết bỏ, tu phải thành công, phải thành tựu. Bây giờ mình đi làm ăn, buôn bán thì mình muốn lời hay lỗ? Bây giờ mình nấu ăn mình muốn món ăn mình ngon hay dở? Mình cất nhà thì muốn nhà đẹp hay xấu? Tại sao mình tu mà mình không quyết tu cho thành tựu. Cái quan trọng nhất mà lại không quan trọng, cái không quan trọng thì lại quan trọng. Cái tu là cái quan trọng nhất, cái món ăn đó nuốt cái “ọt” vô rồi nó ra cái gì? Cái mùi nó ra làm sao? Cái căn nhà đó mà mai mốt mình tắt thở rồi thì nó là của ai? Cái thân thể này khi nó nằm dài trên đất rồi thì lúc đó là ai?

Cái tâm tu, cái phước đức, công đức, phước báo, trí tuệ đó là tối tôn, tối thượng, quý báu nhất trên cuộc đời. Mà mình không có lo cho cái đó, mình chỉ lo cho những cái thấp kém, vật chất, tầm thường, phàm phu. Sau này mình đi thì khi trời chạng vạng rồi, mưa gió, bão bùng, sìn lầy, trơn trợt qua đến là những cái gương mặt 60, 70 không à. Tức là mình là chạng vạng mưa gió bão bùng, sìn lầy trơn trợt là có giai đoạn mấy nữa rồi đó. Mang những chứng bệnh mà bác sĩ kêu là giai đoạn mấy đó, khi té là giai đoạn cuối. Cho nên phải đi cho mau, đi cho nhanh, đi cho lẹ, đi cho cẩn thận, đi cho đúng đường, phải tu chánh tính chánh diệt. Phải gặp minh sư thiện hữu đúng chánh pháp, thánh pháp, chứ không phải nghe đâu là đi theo đó.

Bằng sự nỗ lực, tinh cần, tinh tấn, cộng với sự chánh kiến thấy đúng con đường thì mình sẽ đi đến nhanh mau, lẹ thôi. Cho nên Đức Thế Tôn nói: “Khi mình nỗ lực, tinh cần, tinh tấn như vậy rồi thì không bao lâu các vị sẽ đạt được mục đích. Những gì chưa chứng đắc sẽ chứng đắc, những gì chưa chứng ngộ sẽ chứng ngộ, những gì chưa chứng đạt sẽ chứng đạt. Nhờ sự không buông lung phóng dật mà chứng được vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách”. Không có sự buông lung phóng dật, tức là sự phòng hộ, thâu nhiếp, bảo hộ các căn để giữ gìn thân, niệm, ý. Chứ không phải muốn nói gì thì cho nó nói, không phải muốn nghĩ gì thì cho nó nghĩ, muốn làm gì cho nó làm nó tự tung tự tác.

Mà phải quản thúc, kiểm soát, chế ngự, quản lý thân tâm của mình. “Cái nào ta cho mi làm thì mới được làm, đừng có hó hé, hó hé ta xử mi”, phải không? Mình phải quản lý thân tâm của mình. “Cái nào ta cho ngươi nói thì mới được nói, chứ không có nói bậy bạ lung tung. Cái y hành nghe kỹ nha, cái nào ta cho phép ngươi nghĩ thì ngươi mới được nghĩ. Ngươi nghĩ xấu ác ta trị tội ngươi, ta cho ngươi ăn roi mây. Cái cảm thì nghe cho kỹ nha không? Cảm thọ ngươi là phải biết ngoan hiền, ngọt ngào, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương nghe. Cảm thọ phải có 1 lòng từ, 1 tâm thương rộng lớn, bao la, bình đẳng nha. Nuôi lớn tâm hiền, đừng làm cho khổ nữa nha không?

Nè cái tưởng nghe rõ không? Hình bóng da thịt gân xương, bao tử, lá lách, ruột non, ruột già, tim, gan, tỳ, phế, thận nhớ cho kỹ những thứ này nó nằm trong bao máu mủ này đây nè. Đừng có bị lớp da trơn láng nó bao phủ, rồi nó che mắt mù nha. Rồi nó si mê, tham ái nha không?” Dạy cho cái tưởng đó, dùng 32 thể trượt, 9 giai đoạn tử thi, bộ xương, nắm tro tàn, cái quyệt, cái hòm để phá đi hình bóng ảo tưởng về tự ngã của thân kiến. Mỗi khi mà nó ưỡn cái ngực nó lên, mình đưa nó nhìn bộ xương là nghĩ à: “Bộ xương mày đang ưỡn ngực phải không? Mày đang vỗ ngực ta đây hả? Nè bộ xương có nhớ không?” Dạy cái tưởng cho nó tu: “Ngươi có nhớ ngươi là bộ xương không? Muốn chui vô hòm sớm phải không? Muốn chui xuống cái quyệt đó nằm lẹ lẹ, nhanh nhanh, mau mau phải không?

Muốn đi vô lò thiêu để được 1 hủ cốt để nóc tủ phải không? Hay sao mà ngươi cứ hất mặt, ưỡn ngực, vênh váo, ta đây, kiêu căng, kiêu ngạo vậy?” Dạy cái tưởng đó nó cúi đầu khiêm hạ xuống, dập cái đầu, gục cái đầu cúi xuống lễ mà lạy Phật, lạy Pháp, lạy Tăng, lạy cha mẹ, ông bà, cô chú, lễ lạy các bậc hiền trí, hiền Thánh, hiền thiện. Dạy cái tưởng đó phá đi cái ảo tưởng về tự ngã, 1 cái ảo tưởng về 1 gương mặt. Lột cái lớp da của gương mặt đó ra là nó lộ ra 1 cái đầu sọ, cưa cái đầu sọ đó ra bên trong là 1 khối óc. Rọc cái đường xuống, banh nó ra là bên trong này là máu mủ, gan, phèo, phổi, không có cái gì là cái tôi, tự ngã, cái ta trong này hết trơn.

“Nè tưởng mày nhìn cho kỹ nha không? Mày đừng có ảo tưởng về tự ngã nghe không? Mày đừng có ta đây, kiêu căng, hách dịch, cống cao ngã mạng, dương dương tự đắc, khen mình chê người nghe không? Mày biết rằng ở trong này là trống không, trống rỗng. Nhìn cho kỹ đi lớp áo này nè, nhìn qua cái tấm vải sâu bên trong là cái lớp gì? Là lớp da. Banh cái lớp da này ra trong đó là cái gì? Gan, ruột, phân, nước tiểu, phèo, phổi, là 1 cái đống bầy nhầy, không có ai trong đây hết đó”. Không có 1 Thích Mình Thành nào trong đây hết, không có 1 thằng nào trong đây hết. Không có cái ta, tôi, tao, mi nào ở đây hết. Đây chỉ là tứ đại: Đất, nước, gió lửa. Là những thứ lắp ráp bộ phận khi nó hư rồi gắn vô, đắp vô, gắn mấy con ốc vô. Khi nó hư rồi lấy của người ta lắp đỡ vô, gắn được thì còn xài đỡ, còn không được thì chết.

Nó là đồ giả, đồ dơ, đồ vay, đồ mượn, đồ xài tạm, phá vỡ cái ảo tưởng tự ngã trong tâm, phá vỡ những cái thân kiến, những kiến chấp về thân này. Phá tan, phá nát, phá sạch, phá vỡ, phá tung nó lên, không còn 1 hình ảnh về tự thân nữa. Mà mỗi lần nhớ cái “mình” một cái thì hiện bộ xương lên, nói “mình” một cái là hiện cái hòm ra, “mình” một cái là hiện ra 1 cái hủ để trên nóc tủ, nói tới “mình” 1 cái là hiện ra 1 nắm tro tàn, nói “mình” 1 cái là hiện ra 1 đống da, gân, máu mủ, phèo, phổi. Dạy cho sắc, thọ, tưởng, hành, thức này cho nó tu.

V. Không buông lung

Dạy cho nó hành, dạy cho nó hiền, dạy cho nó lành. Bằng 1 sự nỗ lực, tinh cần, tinh tấn như vậy, không có buông lung phóng dật.

Không có buông thả, buông trôi, buông lung, buông lơi, buông rơi. Mà phải nắm pháp, phải hành pháp, phải sống với pháp. Cho nên bài kinh “Không Phóng Dật”, Tương Ưng Bộ I, vua Ba Tư Nặc đi đến Đức Thế Tôn hỏi Đức Thế Tôn có 1 cái pháp nào mà hạnh phúc cả 2 đời này và đời sau luôn. Đức Phật nói: “Thưa đại vương, có một pháp đưa đến chứng đắc và tồn tại cả 2 hạnh phúc cho đời này lẫn đời sau”. Vua Ba Tư Nặc hỏi tiếp là pháp gì, Đức Phật đáp: “Thưa đại vương, không có buông lung phóng dật. Là một pháp có thể đưa đến chứng đắc cả hai hạnh phúc, hạnh phúc đời này và hạnh phúc đời sau. Thưa đại vương cũng như con voi trong tất cả loài hữu tình có chân đứng, tóm thâu tất cả đặc tướng của chân trong bàn chân của nó.

Bàn chân của con voi được xem là đệ nhất về phương diện to lớn, trong tất cả các loại chân. Cũng vậy thưa đại vương, không có buông lung phóng dật là một pháp có thể đưa đến chứng đắc tồn tại cả hai hạnh phúc, hạnh phúc đời này và hạnh phúc đời sau. Cái pháp không có buông lung phóng dật là cái pháp gom hết tất cả những thiện lành, công đức. Từ chỗ tâm không có buông lung phóng dật, tinh cần, tinh tấn, không có xem thường, không có khinh thường, cẩn trọng dòm chừn, coi ngó thọ, tưởng, hành của mình, coi ngó thân thể này, coi ngó những cảm giác, nghĩ tưởng của mình. Một cách cẩn trọng, sâu sắc, sát xao, khít khao, miên mật, tinh tường, tinh vi, tinh anh.

“Như vậy là hạnh phúc cho cả đời này và đời sau. Như vậy ai có ước nguyện tuổi thọ, không bệnh, có sắc đẹp, được sanh lên cõi trời, sanh các nhà quý tộc, phải liên tục tăng thượng, tinh tấn không dừng nghỉ.

Người hiền triết khen ngợi

Hạnh lành không buông lung

Đối với những người lành

Làm các hạnh công đức

Người hiền không buông lung

Được cả hai lợi ích

Lợi ích trong đời này

Lợi ích cả đời sau

Những anh hùng được gọi

Là bậc chơn hiền triết

Nếu biết nắm chụp lấy

Hạnh phúc cho chính mình”

Như vậy thì hôm nay chúng ta thấy là có 3 pháp rất là quan trọng trong 2 bài kinh. Pháp thứ 1 là không biết đủ đối với thiện pháp, pháp thứ 2 là không có lùi lai đối với sự tiến lên, tinh cần, tinh tấn. Cái pháp thứ 3 là không có buông lung phóng dật, hạnh phúc cho đời này và cả đời sau. Đầu tiên là mình phải nhận thứ được rằng vì sự khao khát, khát ái, không biết đủ đối với các dục lạc làm cho chúng sanh đau khổ. Bây giờ chúng ta chuyển cái tâm đó, đem cái tâm ham thích, khao khát đối với dục lạc quay trở lại ham thích, khao khát đối với thiện pháp, đối với chánh pháp, thánh pháp, học pháp và hành pháp của bậc Chánh đẳng chánh giác.

Cái thứ 2 là phải nỗ lực, siêng năng tiến về phía trước, tiến mãi không lùi dù có chết cũng quyết chiến, tu quyết tử, tu quyết liệt, tu cho mạnh mẽ, oai hùng. Ngay chánh điện có đề chữ “oai hùng bảo điện”, điện báu thờ Phật, đại anh hùng. Vô đó mình phải nhắc mình, mình phải là người mạnh mẽ, tiến lên trong thiện pháp, chánh pháp, thánh pháp. Cuối cùng là hãy cận trọng, chớ có buông lung phóng dật, thâu nhiếp các căn, kiểm soát 3 nghiệp của mình. Để ý thân thể, cảm giác và tư tưởng, suy tư, nghĩ tưởng, nhận thức của mình. Phải luôn luôn an trú trong tứ niệm xứ, đó là đem lại hạnh phúc, an lạc, tốt lành hoàn toàn cho mình trong đời này và nhiều đời sau.

“(Lời kết) Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Xin được thay lời cho ban tổ chức pháp học, cũng như toàn thể hội chúng trong buổi học pháp hôm nay. Chúng con thành kính tri ân thượng tọa giảng sư, đã có thời pháp thoại chia sẻ đến cho đại chúng. Hai bài kinh thượng tọa đã chia sẻ, sau khi chúng con đã nghe thượng tọa chia sẻ trong hơn 1 tiếng đồng hồ. Thì chúng con thấy 3 pháp đưa đến được an lạc, hạnh phúc trong đời này và đời sau. Thứ nhất là trong quý Phật tử chúng ta lưu ý là, không biết đủ tức là không đủ đối với các thiện pháp, cái pháp lành. Chúng ta đừng có nhớ những cái tham muốn bên ngoài, mà chúng ta phải nhớ các thiện pháp và siêng năng học hỏi.

Pháp thứ 2 là chúng ta phải tinh tấn, không lùi lại, không thoái lui mà chúng ta phải tiến lên, tinh tấn, dõng mãnh tu tập được hạnh phúc cho mình. Pháp thứ 3 là chúng không buông lung, không phóng dật. Ba pháp học hôm nay sẽ mang đến cho chúng ta hạnh phúc, an lạc đời này và đời sau. Quý Phật tử thấy là bài pháp mặc dù nghe rất là đơn giản, nhưng mà trong sự tu tập của quý Phật tử phải cố gắng tu tập rất là nhiều. Kính bạch trên thượng tọa, 1 bài pháp rất là thực tế giupsc ho chúng con trên con đường tu tập của mình càng phải nỗ lực, tinh tấn. Và với những cái thiện pháp mà hôm nay chúng con được học, quý Phật tử trong diễn đàn của con sẽ cố gắng tinh tấn thực hành theo lời Phật dạy và lời dạy của thượng tọa giảng sư đã chia sẻ đến cho đại chúng hôm nay.

Thay mặt cho toàn thể hội chúng trong lớp học tối hôm nay, chúng con thành kính tri ân thượng tọa giảng sư. Kính chúc thượng tọa giảng sư luôn được pháp thể khinh an, chúng sanh dị độ và có những bài pháp từ lời Đức Phật dạy qua bản kinh Nikāya. Đã đem đến cho lớp học chúng con có những hành trang trên con đường tu học của mình được lợi lạc, hạnh phúc. Kính chúc quý Phật tử trong diễn đàn chúng ta, sau những buổi học pháp càng tăng them năng lượng, tinh tấn. Chúng ta thêm kiên cố bồ đề tâm, để chúng ta tu tập trên con đường học pháp của mình được lợi lạc, hạnh phúc trong đời này và đời sau. Giờ này lớp học chúng con đã được đến thời viên mãn, kính cung thỉnh trên thượng tọa giảng sư khởi niệm hồi hướng. Kính mời quý Phật tử trong diễn đàn chúng ta chấp tay hồi hướng, cho buổi học pháp hôm nay đã được thành tựu viên mãn. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”